Vi DU MINH HOA VE THUC TIEN THANH CONG TRONG CHIEN LUQC DAI DUONG XANH CUA CONG TY RUQU VANG CASELLA WINES UC Để tìm hiểu một cách hệ thống thành công trong việc áp dụng chiến lược đại
Trang 11.4 Vi DU MINH HOA VE THUC TIEN THANH CONG TRONG CHIEN LUQC DAI DUONG XANH CUA CONG TY RUQU VANG
CASELLA WINES (UC)
Để tìm hiểu một cách hệ thống thành công trong việc áp dụng chiến lược đại
dương xanh của công ty Casella Wines khi tung sản phẩm vào thị trường Mỹ, trước hết xin tóm lược về thị trường rượu vang của Mỹ
1.4.1 Tinh hinh thi trường rượu vang nước Mỹ
Mỹ là nước tiêu thụ rượu vang đứng thứ ba trên thế giới nhưng ngành này đang
phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt Mặc dù, có khá nhiều loại rượu vang được
nhập khẩu từ nước khác như Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Chi Lê rượu vang California đang chiếm lĩnh dần thị trường nội địa, chiếm 2/3 thị phần cả nước Mỹ Các nhà sản xuất Tượu vang phải nỗ lực cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường, vì tình trạng cung thường vượt quá cầu Rõ ràng thị trường rượu vang Mỹ đang là một đại dương đỏ
đầy thách thức đối với nhiều hãng sản xuất nhỏ hoặc mới tham gia thị trường này
Nhìn chung tình hình cạnh tranh trên thị trường rượu vang Mỹ có thể quy tụ vào 7 yếu tố cơ bản sau:
e Cạnh tranh bằng mức giá bán để giành giật thị trường
e Cạnh tranh bằng thương hiệu vượt trội của từng nhà cung cấp, trước hết là chất lượng tin cậy, bí quyết công nghệ pha chế, bao bì trang nhã, sang trọng e© Cạnh tranh bằng quảng cáo và các hoạt động truyền thông hiện đại, kế cá hệ thống phân phối đến tận tay người tiêu dùng Khích lệ những nhà phân phối
và người bán lẻ dành những vị trí nổi bật đề trưng bày các loại rượu
e_ Cạnh tranh bằng độ lâu năm của rượu
e Cạnh tranh bằng uy tín của trang trại trồng nho dùng để sản xuất ra rượu, vùng trồng nho và lịch sử của nó
e©_ Cạnh tranh bằng trình độ cao cấp và sự tinh tế trong hương vị của rượu vang,
bao gồm cả những đặc điểm như độ chát của thùng gỗ sồi
e© Cạnh tranh bằng nhiều chủng loại rượu rất đa dạng để đáp ứng tất cả những thị hiếu khác nhau của người tiêu dùng
26
Trang 2Dười đây là hình ảnh minh họa chiến lược của ngành sản xuất rượu vang ở Mỹ vào cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX ( hình 1.7)
Euen vans đất tien
Ản6eSSe«¿ss dÀ<26s¿=<ase^ s4 ~-~~~“ sà ~*~***~** VÀ s=sseszsc Pere F Ÿ
Gia Gmöi lluệu rượu bằng qua truyen ` 5 4 Đô lân : của vung a ‘ Hương vị È : loai mou y
€# nhmølhuậtngữve lunh báo = M4 UR trong ho sun tiga
cong nghé pha che — chi au
Hình 1.5: Sơ đồ chiến lược ngành sản xuất rượu vang trên thị tường Mỹ Theo như sơ đồ chiến lược ngành sản xuất rượu vang trên thị trường Mỹ, những công ty rượu vang cao cấp tập trưng vào tất các các yếu tố cạnh tranh trên
thị trường và đặt các yếu tố cạnh tranh này ở mức cao Ngược lại những công ty
sản xuất rươu vang bình dân lại đặt các yếu tố cạnh tranh này ở mức thấp Nhưng có thể thấy rõ sự cạnh tranh trên thị trường rượu vang Mỹ chia làm 2 phía
rõ rệt: một bên đặt giá sản phẩm cao và cung cấp sản phẩm chất lượng cao; bên kia đặt giá sản phẩm thấp và cung cấp sản phẩm chất lượng thấp hơn
1.4.2 Các công cụ phân tích
Sô lượng hơn 6500 nhà sản xuât rượu vang trên thị trường Mỹ khiên tình
hình cạnh tranh càng trở nên gay gắt, thể hiện tính cấp thiết của việc áp đụng chiến lược đại dương xanh để đạt được mức tăng trưởng cao Các nhà hoạch định chiến lược của Casella Wines có những nhận định tổng quan về thị trường tiêm năng này để trả lời các câu hỏi trong khuôn khổ 4 hành động như sau:
27
Trang 3e Các chủng loại rượu quả nhiều và các thuật ngữ phức tạp trên bao bì đã gây không ít khó khăn cho người tiêu dùng khi lựa chọn Đây là yếu tố cần foa¡ bỏ vì không mang lai giá trị thực sự cho giới tiêu dùng
e_ Khách hàng mục tiêu của các nhà sản xuất rượu vang trên thị trường Mỹ
là những người có học thức, thu nhập cao nên hầu hết các công ty đều có một định hướng chiến lược chung là phải vượt qua đối thủ trên phân đoạn thị trường cao cấp Với tư duy này, đại đa số các công ty đầu tư nhiều tiền bạc vào các chiến dịch marketing trên các phương tiện truyền thông (above-the-line marketing) và chú trọng đến uy tín và chất lượng của rượu vang, tăng thêm sự phức tạp trong công thức pha chế dẫn đến giá thành tăng Đây là những yêu tố mà Casella Wines quyết định cần cát giảm
e Những yếu tố mà công ty gia tăng ở đây chính là sự tham gia của hệ thống bán lẻ và sự hợp tác của các đối tác Giá bán của sản phẩm cũng là yếu tô được gia tăng Giá bán một chai lúc bây giờ là 6.55S nhưng được các chuyên gia nhận định là có chất lượng ngang loại rượu gia 60-70 § Trong khi đó dòng rượu vang bình dân giá 2-3 $ một chai nhưng chất lượng không cao Còn các loại rươu cao cấp thì giá lai tir 200-1000$/ chai
và chỉ phủ hợp với tầng lớp thượng lưu
e_ Bên cạnh đó, công ty cũng chú trọng thôi “hồn” vào sản phẩm thông qua các thiết kế về logo, slogan của sản phẩm: “Tinh chất của đại lục Châu Úc” Khi nhận thấy sản lượng tiêu thụ rượu vang chỉ băng 1/3 sản lượng tiêu thụ những đồ uống có cồn khác như rượu mạnh, bia, coctail pha sẵn
vì mùi vị dễ uống dễ thưởng thức của những loại đồ uống này Công ty
đã hình thành hương vị mới cho rượu vang: mùi vị trái cây mới lạ, hương vị nhẹ nhàng, mang lại hơi thở thơm mát và yên tâm không sợ mùi côn
Sau khi hoàn thành được các câu hỏi trong khuôn khô 4 hành động, các chiên lược gia của Casella Wines tiên hành điện câu trả lời vào mô hình mạng:
28
Trang 41 Loại bỏ
Những thuật ngữ và những danh
hiệu đạt được
Độ lâu năm của rượu
Marketing trên báo , truyền hình
2 19 kiếu ng vn Mail ậ Marketing qua ¬ | Chung loại 4 Du chon Cam giặc re hi `
40411 bao cha Ba trong nho Aiureng THẾ tong sufi Do lau vì cầu now weve va
pan cua
mou
Hình 1.6: Sơ đồ chién luge cha Yellow Tail
(Nguon: Séch “ Chién loc dai duong xanh”, ban dich trang 65)
Trang 51.4.3 Vẽ lại ranh giới thị trường
Nghiên cứu về cách thức hình thành chiến lược đại đương xanh, Casella Wines đã chọn cách thức thứ nhất và thứ năm để vẽ lại ranh giới thị trường (trong phần 1.2.1) Họ nhận thấy thị trường rượu vang đang thu hẹp dần, cũng đồng thời với nó là tiềm năng của thị trường đồ uống nhẹ (soft drink: bia, cocktail pha sẵn) Đặc biệt khi nhận thấy doanh số bán hàng của các mặt hàng đồ uống này có lượng tiêu thụ gấp 3 lần doanh số bán rượu vang, Casella Wines đã
cho ra đời sản phẩm mang nhãn hiệu Yellow Tail, một loại đồ uống có hương vị
dễ uống thích hợp với nhiều người và phù hợp cho các bữa tiệc Có thể nói công
ty rượu vang này đã vận dụng thành công cách thức thứ 1: “Định hướng về các ngành sản phẩm thay thế” vào con đường tìm ra đại dương xanh cho riêng mình Tìm ra yếu tố cơ bản khiến cho khách hàng chọn lựa các loại đồ uống thay thế khác chứ không phải là rượu vang đã khiến cho hãng rượu này pha chế ra một sản phẩm khác biệt so với các loại rượu vang khác trên thị trường: rượu vang mang hương vị cocktail Bên cạnh đó công ty cũng khéo léo áp dụng cách thức thứ 5: Chú trọng đến mức độ hấp dẫn đối với người mua Trong khi các công ty khác cố sức cường điệu hóa sự tinh tế và đẳng cấp của loại rượu vang mình cung cấp bằng những thuật ngữ pha chế rượu hay những huy chương về chất lượng mà mình đạt được, họ không nhận thức được rằng việc làm đó không hề gây hứng thú đối với khách hàng, trong số đó không phải ai cũng là một người thưởng thức sành điệu và am hiều về rượu vang Có thể nói, cách làm này đã bổ xung qua nhiều chức năng vào một sản phẩm mà không thực sự mang lại nhiều gia tri cho người! sử dụng Nhận ra điều này, Casella Wines đã có cách làm hoàn toàn khác
Thay vì bổ xung “chức năng” cho sản phẩm họ đã thổi “hồn” vào sản phẩm dé thu hút người tiêu dùng Điều này thê hiện rõ trong các logo quảng cáo, slogan, nhãn mác đơn gián không in các thuật ngữ pha chế mà chỉ đơn giản là hình một chú kangaroo màu vàng nổi bật trên nền đen gây ấn tượng về châu Úc Đại dương Tại thời điểm bấy giờ, Yellow tail là sản phẩm rượu đầu tiên đưa hình ảnh một loại động vật lên nhãn mác
30
Trang 61.4.4 Vươn ra ngoài như cầu hiện tại
Đối tượng khách hàng mà Yellow tail nhắm tới cũng khác hoàn toàn với các
công ty rượu vang khác Họ nhận ra đòi hỏi vươn ra ngoài nhu cầu tồn tại Không chỉ hạn chế đối tượng khách hàng là những người tiêu thụ rượu vang, Yellow tail còn hướng tới những đối tượng khách hàng thuộc lớp thứ hai và thứ ba Đó là những người sử dụng các đồ uống có cồn thay thế khác là bia, cocktail pha sẵn và những người trước đây không uống sản phẩm đồ uống có cồn Vì Yellow Tail có hương vị nhẹ và dễ uống như cocktail pha sẵn và bia nhưng lai có vị rượu vang và
mủi trái cây nên nó dễ dàng thu hút những người ưa thích bia và cocktail pha sẵn
(thuộc lớp thứ hai) Sản phẩm này thậm chí còn thu hút những người trước này không sử dụng đồ uống có cồn (thuộc lớp thứ ba) vì sự độc đáo trong hương vị
Trong quá trình thực hiện chiến lược đại dương xanh, từ ý tưởng về một đại dương xanh ban đầu, Casalle Wines cũng gặp phải không ít khó khăn
Casella Wines là một công ty gia đình và sẽ không có khó khăn gì khi truyền đạt
ý tưởng về chiền lược kinh đoanh đến các thành viên khác trong gia đình nhưng khó khăn lớn nhất mà họ gặp phải đó chính là tham vọng mang sản phẩm đến một thị trường tiềm năng nhưng cũng quá khó tính và cạnh tranh gay gắt như thị trường
Mỹ Nỗ lực thâm nhập thị trường Mỹ lần đầu của hãng rượu gia đình này là vào
31
Trang 7năm 1999, Và dòng rượu mà họ cho ra đời lúc đó là Carramar Estate Nhưng san
phẩm này gặp thất bại khi bị lẫn vào rất nhiều sản phẩm rượu vang giá rẻ khác trên
thị trường Phải cho đến năm 2000, với sự hợp tác của nhà phân phối Deutsch & Sons và những thay đổi trong sản phẩm, họ đã thành công trong việc mang sản phẩm này vào thị trường Mỹ Hãng rượu vang của Úc đã có được sự giúp đỡ chân thành và hợp tác tốt nhất từ phía đối tác của mình Doanh số bán hàng của Yellow Tail năm 2001 là 225.000 thùng và đạt tới 1,2 triệu thùng trong năm 2002 Tới năm
2003 doanh số bán hàng đã đạt mức 4,2 triệu thùng và tăng lên 6,5 triệu thùng trong năm 2004 Doanh số bán hàng năm 2005 đạt tới mức 7,5 triệu thùng và còn tiếp tục
tăng trưởng Các con số thê hiện sự tăng trướng thần kỳ của dòng sản phẩm Yellow Ta1l ngay khi mới được đưa vào thị trường
Hình 1.8: Một số hình ánh về nhãn mác và kiểu dáng đóng chai của Vellow Tail
Trang 8CHƯƠNG 2 THỰC TIEN ÁP DỤNG CHIẾN LƯỢC ĐẠI DƯƠNG XANH
VÀO VIỆT NAM
2.1 BÓI CẢNH NÈN KINH TE VIET NAM SAU HON 2 NAM GIA NHAP WTO
Sau 11 nim dàm phán, Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thé giới (WTO) ngày 11/1/2007 Sự kiện trọng đại này đã mở cửa con đường hội nhập sâu rộng hơn của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới Với những cam kết mở cửa thị trường cho các doanh nghiệp trong khối WTO cững như định hướng kinh
tế hướng về xuất khâu, nền kinh tế Viêt Nam sau hơn 2 năm có những nét chính
cụ thể như sau: Thứ nhất, cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn trên thị trường nội địa (sân nhà) cũng như thị trường nước ngoài trên quy mô toàn Thứ hai, kinh tế Viêt Nam khi hướng mạnh vào xuất nhập khẩu sẽ chịu ảnh hưởng nhiều hơn tử những biến động của nền kinh tế thế giới Cụ thể năm 2008, Việt Nam chịu ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và tác động này được dự đoán sẽ kéo dài hết năm 2009
2.1.1 Sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường
2.1.1.1 Cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu khiến cạnh tranh càng khó khăn hơn Một trong những điều kiện cơ bản để được gia nhập WTO chính là lộ trình cắt giảm thuế nhập khâu trong vòng 12 năm từ năm 2007 đến năm 2019 Viêt Nam không những phải thực hiện cam kết với các nước thành viên WTO mà còn phải thực hiện cam kết với 26 nước thành viên WTO theo hiệp định song phương về mở cửa thị trường đã ký với 26 nước này Tổng hợp chung các kết quả đàm phán cho toàn bộ biểu thuế nhập khâu (10.600 dòng thuế), Việt Nam đã cam kết cắt giảm trung bình 3% thuế nhập khẩu so mức thuế hiện hành từ 17,4% xuống 13,4 %, thực hiện chủ yếu trong vòng năm năm kể từ khi gia nhập WTO
33
Trang 9Thuế suất cam kết bình quân tính theo ngành nông nghiệp và công nghiệp cụ thé như sau: mặt hàng nông nghiệp Việt Nam bị cắt giảm 3% từ 23,5% xuống còn
20,9% trong vòng 5 năm, hàng công nghiệp là từ 16,8% xuống còn 12,6% trong
thời gian từ 5-7năm Mức cắt giảm bình quân thuế nhập khâu Việt Nam tuân thủ mức cắt giảm thuế chung tại vòng Urugoay là 27% (30% cho hàng nông sản, 24% cho hàng công nghiệp) đối với các nước đang phát triển Những ngành cắt giảm thuế nhiều nhất gồm: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc thiết bị điện
Theo cam kết cắt giảm thuế từ những hiệp định tự do theo ngành của WTO, yêu cầu giảm thuế phải xuống còn 0% hoặc ở mức thấp Đây là hiệp định tự
nguyện, nhưng các nước mới gia nhập đều phải tham gia một số ngành Việt
Nam cam kết tham gia ngành công nghệ thông tin, dệt may và thiết bị y tế, tham gia một phần với thời gian thực hiện là 3-5 năm đối với ngành thiết bị máy bay, hóa chất và thiết bị xây dựng
Theo cam kết của VN với WTO, kể từ ngày 1/1/2007, trong 10.600 dòng thuế nhập khẩu hiện hành sẽ có khoảng 3.800 dòng thuế, chiếm 35,5%, được cắt giảm ngay Trong đó, các mặt hàng đang có mức thuế suất cao từ 30% trở lên sẽ được cắt giảm ngay từ đầu năm 2007, với 1.812 dòng thuế, chiếm 17% biểu thuế, với mức cắt giảm bình quân 44% Cụ thể, hàng dệt may giảm 63%; giày dép mũ các loại giảm 20%; hoa, cây cảnh giảm 25%; một số loại rau như cà, nắm, ớt giảm 40%; dầu thực vật giảm 20% - 40%; mỹ phẩm các loại, xà phòng giảm 20% - 40%; san phẩm nhựa gia dụng giảm 20%; bánh kẹo các loại giảm 20% - 30%; thịt chế biến giảm 20%; giấy giảm 10% - 20%; sản phẩm liên quan đến thiết bị điện giảm 20%, một số hàng tạp hóa khác giảm 20% - 25% Với những cam kết kể trên, chậm nhất đến năm 2019, người tiêu dùng Việt Nam có thể vưi mừng được mua hàng nhập khẩu chất lượng cao giá rẻ Ước lượng mức giảm bình quân có thể rẻ hơn thời điểm trước năm 2007 khoảng 30%
Và với tâm lý sính ngoại thì phần đông trong số người tiêu dùng Việt Nam sẽ chọn các mặt hàng có xuất xứ nước ngoài Điều này cũng đồng nghĩa với việc
34
Trang 10cạnh tranh trên thị trường nội địa của các doanh nghiệp trong nước trở nên khó khăn hơn bao giờ hết Nếu không am hiểu tâm lý người tiêu dùng trong nước
hoặc tìm cách giảm thiểu cạnh tranh thì đến trước năm 2019, các doanh nghiệp
Việt Nam sẽ có nguy cơ để mất thị trường của trên 90 triệu người tiêu dùng vào tay những công ty nước ngoài hoặc những công ty đa quốc gia
2.1.1.2 Hàng Việt Nam xuất khẩu ra thị trường thế giới sẽ cạnh tranh trực tiếp với hàng của cúc nước khúc
Gia nhập WTO cũng mở ra cơ hội xuất khâu cho các doanh nghiệp Viêt Nam Hàng Việt Nam không bị phân biệt đối xử và có cơ hội ngang bằng với hàng của các hóa sản xuất từ nước khác Hiện này cơ cấu hàng xuất khẩu của Viét Nam vẫn thiên về các loại sử dụng nhiều lao động đơn giản, nông lâm nghiệp và khoáng sản thô Với cơ cấu xuất khẩu như vậy, hàng Việt Nam sẽ cạnh tranh trực tiếp với hàng của các nước có điều kiện kinh tế, xã hội tương tự như Trưng Quốc, Băngladesh, An Dé, Campuchia, Thai Lan Cac mat hang khoáng sản thô dễ bị ép giá trong khủng hoảng kinh tế thế giới Nhìn chung, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nhự dệt may, ca phê, cao su, thủy sản đã có mặt ở hầu khắp các nước trên thế giới, nhưng sức cạnh tranh thấp, chủ yếu cạnh tranh dựa trên chiến lược chỉ phí thấp Một số mặt hàng mới
nổi như rau củ quả, đồ thủ công mỹ nghệ cũng đang vất cả dé tìm chỗ đứng trên
thị trường Với những khó khăn, cạnh tranh và nguy cơ bị lép về trên thị trường trong nước cũng như quốc tế nói trên, các doanh nghiệp Việt Nam cần mau chóng tìm cách đổi mới giá trị sản phâm của mình bằng việc tìm kiếm một đại dương xanh
2.1.2 Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của khúng hoảng kinh tế toàn cầu Nền kinh tế Việt Nam đạt được tăng trưởng cao trong giai đoạn từ năm 2001 -
2006 với tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 7,5% Đặc biệt trong năm 2007, sau khi vừa gia nhập WTO, Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng kỷ lục 8,44% đứng thứ 3 châu Á sau Trung Quốc 11,3% và Ấn Độ 9% Tuy nhiên, khi khủng hoảng
35
Trang 11kinh tế thế giới bắt đầu từ Mỹ năm 2008, nền kinh tế Việt Nam đã chịu ảnh hưởng nặng nề Tốc độ tăng trưởng GDP xụt xuống mức 6,18%; lạm phát tăng cao ở mức 19,9% và thâm hụt cán cân thương mại lên đến 18 tỷ USD (theo con
số mới nhất của Tổng cục Thống kê) Triển vọng kinh tế năm 2009 không may sáng sủa Theo Tổng cục thống kê, GDP của qưí I năm 2009 chỉ tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2008, thấp hơn nhiều so với mức tăng của những năm gần đây (bảng 2.1), trong đó sản xuất nông nghiệp ước giảm 0,1%
Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam những năm qua (%)
Gây sốc nhất cho đến nay là dự báo của Economist Intelligence Unit (EIU), theo đó mức tăng trưởng kinh tế của Việt nam năm 2009 chỉ đạt 0.3% Ông Justin Wood — Giám đốc khu vực Đông Nam Á của EIU giải thích rang, ba động lực cho tăng trưởng của kinh tế là xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng sẽ giảm mạnh trong năm nay ở Việt Nam
Do thị trường tiêu thụ thế giới thu hẹp, nhu cầu nhập khẩu của Mỹ, EU, Nhật Bản dự tính giảm khoảng 52% trong năm nay nên chắc chắn xuất khẩu của Việt nam sẽ bị ảnh hưởng nặng nề Vì vậy số lượng hợp đồng xuất khẩu giảm sút, và những khoản hỗ trợ doanh nghiệp xuất khấu như tài trợ tín dựng, cho vay ngăn
hạn cũng không còn
36
Trang 12Theo EIU, tiêu dùng trong nước cũng giảm theo mức độ lây lan của khủng hoảng Có hai nhân tố chủ yếu quyết định tiêu dùng: thu nhập và của cải Trong thời
gian khủng hoảng kinh tế, những khoản thu nhập sau khi trừ thuế của người lao
động có khuynh hướng giảm rõ rệt; thu nhập thường xuyên cũng trở nén bap bênh
do không biết được doanh nghiệp có khả năng ngưng hoạt động bất kỳ lúc nào Thị trường chứng khoán sút giảm và giao động quanh ngưỡng 300 điểm, bất
động sản rớt giá, làm cho của cải của những người g!àu có trong xã hội giảm giá
trị, những người chỉ tiền mạnh tay nhất cho tiêu dùng cũng sẽ tiết kiệm hơn và cắt giảm những khoản chỉ tiêu xa xỉ
Như vậy, cả hai nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tiêu dùng là thu nhập và
của cải đều sụt giảm đang làm cho như cầu tiêu đừng trong nước thu hẹp
Trên thị trường nội địa hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với tình trạng tiêu dùng sụt giảm, tương tự như vấn đề họ phải đối mặt ở các thị trường khác như Mỹ và châu Âu
Với những dự báo không mấy khả quan đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam luôn phải sẵn sàng dé đối đầu với hàng loạt khó khăn Vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp phải làm gì để tồn tại ? Việc tìm ra một đại dương xanh mới bằng các phương pháp đã nêu ở chương l như: xác định lại thị trường mục tiêu, định vị khách hàng, đôi mới giá trị, đổi mới quy trình kinh doanh, tìm ra nhu cầu đích thực của khách hàng và thỏa mãn nó sẽ là chiếc chìa khóa dẫn đến thành công cho các doanh nghiệp hiện nay
2.2 THUC TIEN AP DUNG THANH CONG CHIEN LUQC DAI DUONG XANH TAI VIET NAM
2.2.1 Khái quát tình hình áp dụng chiến lược đại đương xanh ở Việt Nam Mặc dù cuốn sách “Chiến lược đại dương xanh” mới được giới thiệu vào Việt Nam từ năm 2006 và không phải nhà quản lý nào cũng có điều kiện tiếp cận với
hệ thống luận chứng luận cứ của chiến lược đại dương xanh, nhưng chiến lược đại dương xanh đã được áp dụng ở một số ngành nghề và lĩnh vực ở Việt Nam
37
Trang 13Việt Nam là một thị trường chưa phát triển, nên việc mang những công nghệ mới, phương pháp quản lý mới từ nước ngoài vào Việt Nam cũng giúp cho
doanh nghiệp mở ra được chiến lược đại dương xanh cho riêng mình Một ví dụ
phải kể đến là những doanh nghiệp áp dụng công nghệ thông tin, Internet vào việc kinh doanh, Những siêu thị trực tuyến hay những tranh web tải nhạc, trò chơi cũng trở thành những doanh nghiệp cung cấp quảng cáo Trường hợp của Phé 24 mang mé hinh franchising vé Viét Nam cũng tạo ra một đại dương xanh cho riêng mình Những cửa hàng một giá có mặt từ rất lâu trên thế giới khi du nhập vào Việt Nam cũng mở ra “môi trường kinh doanh không có cạnh tranh”
trong một thời gian tương đối dài Tư duy đổi mới sáng tạo cũng còn được áp
dụng vào nhiều lĩnh vực trong đó có quảng cáo Mỳ ăn liền là một sản phẩm được ưa chuộng tại Việt Nam vì khâu vị phù hợp với người tiêu dùng Việt Nam
và tính tiện lợi của nó Nhưng bên cạnh đó, họ cũng lo ngại về tính không bỗ dưỡng của những sản phẩm ăn liền này Các doanh nghiệp sản xuất mỳ gói cạnh tranh nhau chủ yếu thông qua giá bán và sự phong phú của các loại gia vị trong
gói mỳ Tuy nhiên, thương hiệu mỳ Tiến vua với mẫu quảng cáo cam kết không
sử dựng dầu ăn chiên nhiều lần dé chế biến mỳ (dầu ăn chiên nhiều lần có màu vàng nâu và có thể gây ung thư) đã tạo cho mình một chỗ đứng riêng Những người tiêu dùng trước đây lo ngại về chất lượng của các loại mỳ gói đã yên tâm
sử dụng sản phẩm này Hay như mỳ Omachi với khâu hiệu “ rất ngon mà không
sợ nóng” đã đánh vào tâm lý của chị em phụ nữ lo ngại ăn mỳ nhiều gây nóng,
dễ nỗi mụn Thương hiệu mỳ này không những được nữ giới tin dùng mà họ còn
mua về để cho gia đình sử dụng Tương tự, sản phẩm thạch đừa cam kết đóng
gói trong những bao bì sạch, không dùng sản phẩm nhựa tái chế, một loại nhựa không an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng
Tiếp theo, phải kể đến các làng nghề truyển thống ở nước ta Nhiều năm
trước đây, làng nghề truyền thống của Việt Nam sản xuất những mặt hàng gốm
sứ, tranh thêu hay đồ gỗ với mẫu mã và kiểu dáng tương tự nhau Sản phẩm của nhà nào cũng giống nhà nào, sản phẩm của năm này không khác là mấy so
38