1.1.2.1.Người trần thuật, ngôi trần thuật, vai trần thuật Văn học vốn là thực thể tinh thần, tái hiện cuộc sống bằng nghệ thuật ngôn từ.Nếu như trong tác phẩm trữ tình, hiện thực cuộc s
Trang 1TRONG NHẬT KÝ ANNE FRANK
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận Văn học
HÀ NỘI, 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Thạc sĩ Hoàng Thị Duyên - người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình để tôi có thể hoàn thành khóa luận
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong khoa Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Lý luận Văn học, các bạn sinh viên và người thân
đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này
Trong quá trình nghiên cứu, khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo từ thầy cô để khóa luận hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 11 tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Thảo
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung trình bày trong khóa luận là kết quả nghiên cứu của tôi, không trùng với bất cứ công trình nghiên cứu nào khác Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 11 tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Thảo
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của khóa luận 4
7 Câu trúc của khóa luận 4
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRẦN THUẬT VÀ VÀI NÉT VỀ CUỐN NHẬT KÝ ANNE FRANK 6
1.1 Những vấn đề lý luận chung về trần thuật 6
1.1.1 Khái niệm trần thuật 6
1.1.2 Các yếu tố cơ bản của trần thuật 8
1.1.2.1.Người trần thuật, ngôi trần thuật, vai trần thuật 8
1.1.2.2 Điểm nhìn trần thuật 15
1.1.2.3 Ngôn ngữ trần thuật 18
1.1.2.4 Giọng điệu trần thuật 19
1.1.2.5 Không gian, thời gian trần thuật 21
1.2 Vài nét về Nhật ký Anne Frank 22
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời, quá trình biên tập và xuất bản: 22
1.2.2 Giá trị của cuốn nhật ký 23
CHƯƠNG 2: NGƯỜI TRẦN THUẬT GẮN VỚI NGÔI TRẦN THUẬT VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT 24
2.1 Người trần thuật từ ngôi thứ nhất 24
2.1.1 Người trần thuật là hình tượng trung tâm của tác phẩm 32
2.1.2 Người trần thuật là người trực tiếp tham gia vào câu chuyện 35
Trang 52.1.3 Người trần thuật là người quan sát cuộc sống 37
2.1.4 Người trần thuật là người đánh giá 39
2.2 Điểm nhìn trần thuật 41
2.2.1 Điểm nhìn của người trần thuật 41
2.2.2 Điểm nhìn không gian và điểm nhìn thời gian 44
2.2.3 Điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài 48
2.2.4 Điểm nhìn đánh giá tư tưởng cảm xúc 50
KẾT LUẬN 53 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Người trần thuật là khái niệm trung tâm của tự sự học.Trong mỗi tác phẩm, người trần thuật đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn dắt, thuật lại toàn bộ câu chuyện.Từ đó, bạn đọc có thể cảm nhận và đi sâu vào tìm hiểu các lớp nghĩa văn bản ẩn sau từng con chữ Việc xây dựng hình tượng người trần thuật vì thế được coi là một trong những phương diện quan trọng thể hiện nội dung tác phẩm cũng như sức sáng tạo nghệ thuật của mỗi nhà văn Nghiên cứu người trần thuật sẽ mở ra cánh cửa đi vào tìm hiểu sâu tác phẩm đặc biệt với thể loại nhật ký
Trong những năm gần đây, nhật ký đã và đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của dư luận nhất là đối với những trang nhật ký viết về đề tài chiến tranh.Xã hội càng hiện đại, con người càng có xu hướng ghi chép lại những tâm tư cá nhân, những gì đã nếm trải hay diễn ra trong cuộc sống thường nhật.Blog các nhân, facebook, zalo…được coi là một dạng của nhật ký nhằm phục vụ nhu cầu ghi lại những sự việc, tâm tư cảm xúc ấy Điều đó tạo điều kiện cho thể loại nhật ký ngày càng được chú trọng trong dạy học cũng như trong nghiên cứu văn học
Nhật ký Anne Frank đã đem đến cho bạn đọc cái nhìn mới mẻ về con
người cũng như các vấn đề xã hội Ngay từ khi mới được công bố, cuốn nhật
ký này đã thu hút được sự đón nhận của đông đảo độc giả với thái độ trân trọng, với niềm cảm kích, cảm thương dành cho cô bé Do Thái 13 tuổi vui tươi đầy nhựa sống bị cầm tù bởi chiến tranh phải sống trong nỗi lo sợ thường xuyên, bị gặm nhấm, mài mòn bởi những toan tính nhỏ mọn, tầm thường xung quanh Qua lăng kính của cô bé ấy, những vấn đề nhức nhối của xã hội thời chiến được ghi lại một cách sống động Bạn đọc cùng trải nghiệm, đồng cảm với những trạng thái cảm xúc của nhân vật: vui, buồn, suy tư, hài
Trang 7hước…Nhật ký Anne Frank được coi là bức chân dung tự họa của về một cô
gái trẻ thông minh, nhạy cảm đầy dũng cảm
Tìm hiểu cuốn nhật ký này, chúng tôi hi vọng sẽ đóng góp một cái nhìn mới, sâu sắc hơn về thể loại nhật ký đặc biệt ở phương diện người trần thuật
2 Lịch sử vấn đề
Nghệ thuật trần thuật nói chung và người trần thuật nói riêng là một trong những vấn đề được giới nghiên cứu quan tâm.Có rất nhiều công trình nghiên cứu về người trần thuật trong tác phẩm tự sự.Với thể loại nhật ký, những năm gần đây, nó đang là một trong những vấn đề có sức nóng.Bởi nhật
ký là “hình thức tự sự ở ngôi thứ nhất”, ghi lại những sự kiện, sự việc xảy ra hằng ngày mang tính cá nhân Khi thế giới nội tâm con người được chú trọng cùng với nhu cầu bộc bạch tự ý thức, tự quan sát thì nhật ký được nghiên cứu sâu rộng và có mảnh đất để phát triển Đặc biệt là những cuốn nhật ký viết về
đề tài chiến tranh ngày càng nhận được sự quan tâm của công chúng cũng như giới nghiên cứu trong và ngoài nước.Các nhà nghiên cứu đặt nhật ký với tư cách là một thể loại văn học để nghiên cứu lý luận song song với các thể loại khác
Ở Việt Nam, bạn đọc đã quen thuộc với Nhật ký Đặng Thùy Trâm, nhật
ký Mãi mãi tuổi hai mươi( Nguyễn Văn Thạc), Nhật ký chiến trường (Dương Thị Xuân Qúy), Những năm tháng ấy (Vũ Tú Nam) – nhật ký của những
người anh hùng trên chiến trường chống quân xâm lược, ghi lại các sự kiện ác liệt, những ước mơ cùng ý chí kiên cường của người trong cuộc Độc giả cũng
tìm đọc những cuốn nhật ký thế giới như Nhật ký của người tinh Kisinger (DanièleHunebelle), Nhật ký Diên An (P.P Vlađimirốp)…
Ngay từ khi xuất bản, Nhật ký Anne Frank đã tạo ra một làn sóng văn
học, gây ấn tượng mạnh mẽ tới bạn đọc, nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu qua các bản dịch với hơn 30 thứ tiếng cùng hàng loạt những bài
Trang 8viết trên các trang sách, trang mạng Qua những bài viết đó, bạn đọc có cái nhìn chân thực hơn về chiến tranh, nạn phân biệt chủng tộc và cuộc sống của những người dân bất hạnh đó
Đã có rất nhiều những bài viết nghiên cứu về người trần thuật như Người
trần thuật trong văn xuôi Đặng Thân – từ Ma Net đến 3.3.3.9 [Những mảnh hồn trần] (luận văn của thạc sĩ Trần Thị Ban Mai nghiên cứu về người trần
thuật trên các phương diện ngôi kể, điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật) Với thể loại nhật ký, phải kể đến các công trình nghiên cứu
như: Đặc trưng ngôn từ nghệ thuật trong nhật ký Nguyễn Huy Tưởng - khai
thác bình diện ngôn từ trong nhật ký (bài viết đăng trên báo của thạc sĩ Hoàng
Thị Duyên), Người trần thuật trong nhật ký Nguyễn Huy Tưởng - khai thác
người trần thuật trong nhật ký Nguyễn Huy Tưởng trên các phương diện ngôi
kể, điểm nhìn trần thuật (bài nghiên cứu của ThS.Hoàng Thị Duyên và
SV.Phùng Mai Anh trích trong cuốn Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng từ khởi
nguồn Dục Tú – Đông Anh) Với mong muốn góp một phần làm phong phú
thêm cho diện mạo của thể loại, chúng tôi chọn đề tài người trần thuật trong
nhật ký Anne Frank.Với đề tài khóa luận này, chúng tôi tập trungkhai thác đặc
trưng nghệ thuật của nhật ký ở phương diện người trần thuật
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Thể loại nhật ký đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh những vấn
đề cốt lõi của xã hội, những góc cạnh đa chiều của hiện thực đời sống.Từ đó,
độc giả có cái nhìn chân thực và sâu sắc hơn về con người và xã hội.Nhật ký
Anne Frank là bức tranh hiện thực phản ánh đầy đủ những khía cạnh của xã
hội thời chiến qua lăng kính của cô bé 13 tuổi Đồng thời đó còn là bức tranh tâm lý độc đáo của một cô bé với tâm hồn trong sáng, nhạy cảm, đầy suy tư khi nhìn nhận, đánh giá cuộc sống và con người
Trang 9Bên cạnh đó, khi nghiên cứu cuốn nhật ký này, chúng tôi hi vọng những vấn đề đầy tính nhân văn tác giả phản ánh, bạn đọc sẽ đồng cảm, sẻ chia để có tiếng nói chung lên án chiến tranh, nạn phân biệt chủng tộc…cùng nhau xây dựng một môi trường hòa bình, công bằng, lành mạnh
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong khóa luận này, chúng tôi tập trung tìm hiểu cuốn Nhật ký Anne
Frank trên phương diện người trần thuật
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận này bên cạnh đi sâu khảo sát cuốn Nhật ký Anne Frank còn
tham khảo một số cuốn nhật ký khác cùng đề tài để làm nổi bật giá trị nhân văn mà cuốn nhật ký mang lại
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong khóa luận này, chúng tôi đưa ra các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp thống kê, so sánh
Phương pháp hệ thống
6 Đóng góp của khóa luận
Với đề tài Người trần thuật trong Nhật ký Anne Frank, chúng tôi mong
muốn khóa luận sẽ mang lại cái nhìn toàn diện về những đóng góp của cuốn nhật ký này trên phương diện người trần thuật cũng như những vấn đề đầy nhân văn mà cuốn nhật ký phản ánh, góp phần phát triển thể loại nhật ký nói riêng và văn học đương đại nói chung
7 Câu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 02 chương
Trang 10CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRẦN
THUẬT VÀ VÀI NÉT VỀ CUỐN NHẬT KÝ ANNE FRANK
CHƯƠNG 2: NGƯỜI TRẦN THUẬT TRONG NHẬT KÝ ANNE
FRANK
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRẦN THUẬT VÀ VÀI NÉT
VỀ CUỐN NHẬT KÝ ANNE FRANK
1.1 Những vấn đề lý luận chung về trần thuật
1.1.1 Khái niệm trần thuật
Ngay từ đầu thế kỷ XX, trần thuật đã là một trong những vấn đề mang tính thời sự, nó thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này.Thuật ngữ trần thuật (narration) còn có tên gọi khác là kể chuyện
Theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán - Trần Đình Sử chủ biên
có đưa ra định nghĩa: “Trần thuật là phương diện cơ bản của phương thức tự
sự, là việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh theo cách nhìn của người trần thuật nhất định” “Thành phần của trần thuật không chỉ là lời thuật, chức năng của nó không chỉ là kể việc
Nó bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời trữ tình ngoại đề, lời ghi chú của tác giả”
[8,tr.364]
Nói về kể chuyện, J.Linveltcũng cho rằng: “Kể là một hành vi trần thuật,
và theo nghĩa rộng là cả một tình thế hư cấu bao gồm cả người trần thuật và người kể…” [23,tr.32]
Bàn về thuật ngữ này, tác giả Lại Nguyên Ân trong cuốn 150 thuật ngữ
văn học cho rằng: “Trần thuật bao gồm cả việc kể và miêu tả các hành động
và biến cố trong thời gian, mô tả chân dung hoàn cảnh của hành động, tả ngoại hình, tả nội thất… bàn luận, lời nói bán trực tiếp của nhân vậy Do vậy, trần thuật là phương thức chủ yếu để cấu tạo tác phẩm tự sự hoặc của
Trang 12ngườikể, tức là toàn bộ văn bản tác phẩm tự sự, ngoại trừ lời nói trực tiếp của các nhân vật” [2,tr.324]
Trong cuốnLí luận văn họcxác định: “Trần thuật là một sự trình bày liên
tục bằng lời văn các chi tiết, sự kiện, tình tiết, quan hệ, biến đổi về xung đột
và nhân vật một cách cụ thể, hấp dẫn, theo một cách nhìn, cách cảm nhất định Trần thuật là sự thể hiện của hình tượng văn học, truyền đạt nó tới người thưởng thức Bố cục của trần thuật là sắp xếp, tổ chức sự tương ứng giữa các phương diện khác nhau của hình tượng với các thành phần khác nhau của văn bản” [13,tr.307]
Ngoài ra, còn có rất nhiều quan điểm khác nhau về trần thuật được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, tìm hiểu Nhưng có thể thấy hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng trần thuật là một hoạt động sáng tạo của nhà văn trong việc phản ánh hiện thực Khái niệm này gắn liền với kết cấu và bố cục của tác phẩm văn học.Trần thuật chính là phương thức nghệ thuật đặc trưng của tác phẩm tự sự.Bản chất của trần thuật là kể lại, thuật lại những sự kiện, nhân vật, hoàn cảnh…nhằm dẫn dắt, tổ chức các sự kiện trong tác phẩm.Nó đóng vai trò dẫn dắt bạn đọc, đưa bạn đọc thâm nhập vào chiều sâu của tác phẩm Mỗi tác phẩm dù được kể theo trình tự nào, nhanh hay chậm, tuyến tính hay phi tuyến tính, ngắt quãng hay dàn trải…thì trần thuật trong tác phẩm ấy đều là cả một hệ thống phức tạp nhằm giúp người đọc lĩnh hội dụng ý nhà văn Nhà văn là cầu nối các sự kiện để tạo thành một mạch xuyên suốt Nhà văn khi kể có thể tuân theo hoặc không tuân theo trật tự thông thường phù hợp với dụng ý của mình Vì lẽ đó, trần thuật là phương diện cho thấy tài năng, cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn, sức hấp dẫn của văn bản nghệ thuật Người nghệ sĩ tài năng là người luôn tạo ra những điểm độc
đáo về trần thuật cho đứa con tinh thần của mình Nói như Nam Cao “Văn
chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu
Trang 13đưa cho Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”
Nói tóm lại, trần thuật là một vấn đề thuộc thi pháp thể loại nhất là đối với thể nhật ký – thể loại đã và đang nhân được sự quan tâm lớn
1.1.2 Các yếu tố cơ bản của trần thuật
Bàn về các yếu tố cơ bản của trần thuật, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cũng đưa ra nhiều ý kiến khác nhau GS.Trần Đình Sử cho rằng trần thuật bao gồm sáu yếu tố cơ bản là người trần thuật, ngôi trần thuật, vai trần thuật; điểm nhìn trần thuật; lược thuật; miêu tả chân dung và dựng cảnh; phân tích, bình luận; giọng điệu.Có thể thấy, trần thuật bao gồm nhiều thành phần, chức năng của nó không chỉ để kể việc
Tìm hiểu các yếu tố trần thuật trong tác phẩm tự sự nói chung và thể loại nhật ký nói riêng sẽ giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương diện
cơ bản của thi pháp thể loại, giúp người đọc tiếp cận được những giá trị văn chương đích thực
Trong khóa luận này, chúng tôi tập trung tìm hiểu các yếu tố cơ bản đó
là người trần thuật, ngôi trần thuật, vai trần thuật; điểm nhìn trần thuật; ngôn ngữ trần thuật; giọng điệu trần thuật; không gian, thời gian trần thuật… Nhưng trước hết phải nói đến người trần thuật – chủ thể của hành động kể
1.1.2.1.Người trần thuật, ngôi trần thuật, vai trần thuật
Văn học vốn là thực thể tinh thần, tái hiện cuộc sống bằng nghệ thuật ngôn từ.Nếu như trong tác phẩm trữ tình, hiện thực cuộc sống có thể được tái hiện một cách trực tiếp qua những cảm xúc tâm trạng, ý nghĩ của con người thì với các tác phẩm tự sự và thể loại nhật ký, hiện thực sẽ do một người nào
đó tái hiện lại Người kể lại đó được gọi với nhiều tên gọi khác nhau như: người trần thuật, người kể chuyện, người thuật chuyện, chủ thể kể chuyện … Vấn đề người trần thuật xuất hiện ngay từ đầu thế kỷ XX và sau này ngày
Trang 14càng được giới nghiên cứu quan tâm.Sự xuất hiện của người trần thuật trong tác phẩm tự sự là yếu tố tiên quyết, trở thành vấn đề then chốt.Các thuật ngữ như “người trần thuật”, “người kể chuyện” cho đến nay vẫn tồn tại những quan niệm trái chiều Theo GS Trần Đình Sử, ông quan niệm người kể chuyện
hay người trần thuật là một Nhưng theoTừ điển thuật ngữ văn học thì lại
phân biệt hai khái niệm này
Các tác giả giải thích, người trần thuật là “một nhân vật hư cấu hoặc có
thật mà văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữcủa anh ta tạo thành.Trong khi
kể miệng, người trần thuật là một người sống sinh động Trong trần thuật phi văn học (báo chí, lịch sử), người trần thuật nói chung đồng nhất với tác giả Nhưng trong tác phẩm trần thuật mang tính văn học thì người trần thuật lại khác, nó bị trừu tượng hóa đi, trở thành một nhân vật hoặc ẩn hoặc hiện trong tác phẩm”.Còn người kể chuyện “là hình tượng ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm Đó có thể là hình tượng tác giả,không đồng nhất với tác giả ngoài đời; có thể là một nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra…”[8,tr.221] Dù hiểu theo cách nào thì cho đến nay 2 khái niệm
này vẫn được dùng như đồng nghĩa.Trong khóa luận này, chúng tôi thống nhất sử dụng khái niệm “người trần thuật”
Theo G N Pospelov thì người trần thuật là “người môi giới giữa các
hiện thực được miêu tả và người nghe (người đọc) là người chứng kiến cắt nghĩa các sự việc xảy ra” [7,tr.196]
Phùng Văn Tửu cho rằng: “Nói đến người kể chuyện là nói đến điểm
nhìn được xác định trong hệ đa phương, không gian, thời gian, tâm lí, tạo thành góc nhìn…” [24,tr.206]
Như vậy, qua những khảo sát trên, khái niệm người trần thuật khá phong phú, được hiểu theo nhiều cách khác nhau Song, có thể hiểu một cách đơn
Trang 15giản, người trần thuật là người được nhà văn sáng tạo ra để thực hiện hành vi
kể, hành vi trần thuật Người trần thuật thể hiện rõ cái nhìn, phong cách, tư tưởng của nhà văn về thế giới hiện thực.Tuy nhiên, cần phân biệt hai khái niệm này, không thể đồng nhất người trần thuật với tác giả ngoài đời.Người trần thuật trong tác phẩm là yếu tố thể hiện rõ nhất, trực tiếp nhất quan điểm,
tư tưởng, phong cách của nhà văn.Việc đánh đồng người trần thuật với tác giả là một sai lầm.Người trần thuật chỉ là một trong những hình thức thể hiện quan điểm của tác giả Tác giả sáng tạo ra những người trần thuật để phát ngôn cho mình Tác giả thường được nhận diện qua chính văn bản nghệ thuật của mình.Tác giả và người trần thuật cùng hiện diện trong tác phẩm nghệthuật nhưng sự xuất hiện của tác giả thường là ẩn kín Theo Trần Đình
Sử: “Tác giả không bao giờ hiện diện trong tiểu thuyết như là một người kể,
một người phát ngôn mà chỉ xuất hiện như là một tác giả hàm ẩn, một cái tôi thứ hai của nhà văn với tư cách là người mang hệ thống quan niệm và giá trị trong tác phẩm hoặc là người nghe trộm kể Người trần thuật là kẻ được sáng tạo ra để mang lời kể Và hành vi trần thuật là hành vi của người kể đó
mà sản phẩm là văn bản tự sự Người trần thuật trong văn bản văn học là một hình tượng phức tạp nhất mà ngôi kể chỉ là hình thức biểu hiện ước lệ”
[20, tr.156].Tìm hiểu người trần thuật cũng là cách chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật của tác phẩm, làm cho thế giới đó sống dậy cụ thể và gợi cảm với những sự vật, hiện tượng đời sống, những tính cách, số phận.Mọi ý đồ sáng tạo đều do bản thân tác giả nghĩ ra nhưng tác giả không trực tiếp đứng ra trần thuật mà sáng tạo nên hình tượng người trần thuật và thông qua đó để biểu đạt những sáng tạo cá nhân Bàn về vấn đề này, W Kayser nhấn mạnh:
“Trong nghệ thuật kể, người kể chuyện không bao giờ là tác giả đã hay chưa
từng biết đến, mà là một vai trò tác giả nghĩ và ước định” [21,tr.196]
Trang 16Nói về vai trò của người trần thuật, nhà nghiên cứu T.Z.Tdozov khẳng
định: “Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc tạo ra thế giới tưởng
tượng…không thể có trần thuật mà thiếu người kể chuyện Người kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện.Như vậy, kết hợp đồng thời trong mình cả nhân vật và người kể, nhân vật mà nhân danh nó cuốn sách được kể có một vị thế hoàn toàn đặc biệt” [20,tr.116-117].Người
trần thuật có vai trò đặc biệt trong việc tổ chức tác phẩm, sau đó kể, dẫn dắt người đọc tìm hiểu giá trị tác phẩm.Người trần thuật trong tác phẩm tự sự không chỉ tham gia vào câu chuyện với vị trí của nhân vật trong tác phẩm mà còn tổ chức, đánh giá các nhân vật khác, làm nên giá trị cho tác phẩm
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Người trần thuật nói chung thực hiện
năm chức năng: 1) chức năng kể chuyện, trần thuật; 2) chức năng truyền đạt, đóng vai một yếu tố của tổ chức tự sự; 3) chức năng chỉ dẫn, thuộc phương pháp trần thuật; 4) chức năng bình luận; 5) chức năng nhân vật hóa Cách thức thực hiện chức năng trên ở người trần thuật miệng, trần thuật phi văn học và trần thuật văn học hoàn toàn khác nhau” [8,tr.223] Với chức năng
cũng như tầm quan trọng của người trần thuật, mỗi nhà văn khi sáng tác đều chú ý đến xây dựng hình tượng người trần thuật Điều đó góp phần khẳng định tài năng cá nhân nghệ sĩ và sức sống tác phẩm
Cũng bàn về vấn đề này, G.Genette đã phân biệt người kể chuyện ra làm
ba kiểu cơ bản: người kể chuyện toàn tri, người kể chuyện bên trong, người
kể chuyện bên ngoài Theo các tác giả trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học
“có thể chia thành người trần thuật lộ diện và người trần thuật ẩn tàng”,
người trần thuật lộ diện - ngôi thứ nhất, người trần thuật ẩn tàng - ngôi thứ
ba “Ngoài ra, người trần thuật có thể phân chia thành người trần thuật
“tham gia vào truyện” và người trần thuật “bàng quan”,đứng ngoài”
[8,tr.222-223] Tuy nhiên, khi xét vị trí của người trần thuật trong tác phẩm ta
Trang 17nhận thấy vị trí ấy có thể thay đồi linh hoạt phù hợp với phong cách sáng tác
và dụng ý của tác giả Nhìn chung, có thể phân chia thành: người trần thuật ở ngôi thứ nhất, người trần thuật ngôi thứ hai và người trần thuật ngôi thứ ba Khi người kể chuyện kể về mình (ngôi thứ nhất) cũng có khi kể về một người khác (ngôi thứ hai) hay kể về người nghe (ngôi thứ ba) Người trần thuật gắn với ngôi trần thuật và vai trần thuật Chúng gắn bó và tồn tai không tách rời nhau
Người trần thuật ở ngôi thứ nhất.Đây là hình thức trần thuật quen thuộc và khá phổ biến Với hình thức này,người trần thuật xưng “tôi” hay
“mình” hoặc “chúng tôi” (rất ít khi xuất hiện) Người trần thuật lộ diện trong tác phẩm, trở thành một nhân vật trong truyện, trực tiếp chứng kiến, tham gia vào những sự kiện, sự việc xảy ra và tường thuật lại.Trong trường hợp này, người trần thuật không còn là một người nào đó xa lạ, đứng ở tận đâu đâu trên cao, ngoài xa phóng tầm mắt quan sát mọi chuyện mà là một nhân vật xưng
“tôi”, đảm nhiệm hai vai trò: “Tôi” vừa là một nhân vật trực tiếp hòa mình vào câu chuyện, tham gia vào các sự kiện, biến cố của cốt truyện, vừa giữ vai trò dẫn dắt, kể lại câu chuyện Người trần thuật có điều kiện bộc lộ tình cảm, cảm xúc, suy nghĩ của mình.Câu chuyện được kể sẽ mang tính chủ quan hơn.Với hình thức kể chuyện này, câu chuyện sẽ đáng tin cậy hơn, khi người trần thuật trực tiếp là người tham gia vào câu chuyện, nhất là khi người trần thuật là nhân vật chính trong tác phẩm.Người trần thuật hiện lên rõ hơn khi trực tiếp bày tỏ quan điểm, nhận xét của mình Tuy nhiên, khi câu chuyện được nhìn nhận qua lăng kính chủ quan của người trần thuật dẫn đến một hạn chế về vấn đề dung lượng phản ánh
Người trần thuật ở ngôi thứ ba.Đây là hình thức trần thuật truyền thống.Người trần thuật đóng vai trò là người kể ra sự việc xoay quanh một nhân vật khác Người trần thuật giấu mặt, bao quát hết mọi diễn biến xảy ra
Trang 18và kể lại toàn bộ câu chuyện.Người trần thuật xuất hiện ở ngôi thứ ba luôn có một vị trí tốt nhất để theo dõi, dẫn dắt nhân vật Nhân vật ít có những cơ hội
để phát biểu, suy ngẫm hoặc hồi tưởng.Chủ thể trần thuật chi phối toàn bộ tác phẩm từ lời dẫn chuyện, cách kể, cách tả đến cả lời trữ tình ngoại đề.Ở kiểu trần thuật này, người trần thuật không trực tiếp tham gia câu chuyện nhưng lại
có vai trò toàn năng.Người trần thuật không xuất hiện trong câu chuyện nhưng lại có mặt ở mọi nơi.Người trần thuật ở ngôi thứ ba này giữ vai trò như một nhân vật ẩn tàng, biết tất cả mọi vấn đề liên quan đến câu chuyện như tình tiết, xung đột, những mối quan hệ và kể cả nội tâm nhân vật nhưng tuyệt nhiên không được phép tham gia vào đó.Hình thức kể chuyện này cho phép người trần thuật kể và bao quát được toàn bộ những gì họ biết, câu chuyện mang tính khách quan.Người đọc nhận ra tâm tư, cảm xúc, quan điểm mà tác giả gửi gắm thông qua điểm nhìn của người trần thuật ngôi thứ ba này.Chủ thể trần thuật ngôi thứ ba có thể vắng mặt trong thế giới nhân vật nhưng vẫn bộc lộ được dấu ấn của mình khi trần thuật dựa vào điểm nhìn của nhân vật
Các tác giả cuốn Giáo trình lý luận văn học, tập 1 đã nêu lên chức năng thông báo của ngôi kể “ngôi kể thứ ba cho phép người kể có thể kể tất cả
những gì họ biết, còn ngôi thứ nhất chỉ được kể những gì mà khả năng của một con người có thể biết được, như vậy mới tạo ra cảm giác chân thực”.Khi
kể theo dạng này, tính khách quan của hiện thực được phản ánh rất cao Tuy nhiên, người trần thuật ít để lại những nét riêng biệt trong tác phẩm Hình tượng người trần thuật rất mờ nhạt đồng thời dễ dẫn đến sự đơn điệu trong cách kể Do vậy, theo thời gian, trong tiến trình phát triển của loại hình tự sự, kiểu trần thuật này được các nhà văn vận dụng tài tình, khéo léo với nhiều mức độ khác nhau tạo nên sự phong phú, đa dạng cho lối trần thuật khách quan hóa
Trang 19Sự phân biệt hai hình thức này chỉ mang tính quy ước bởi mọi trần thuật đều xuất phát từ cái tôi hiểu biết các sự việc.Có điều ngôi thứ nhất là hình thức lộ diện, ngôi thứ ba là hình thức ẩn tàng
Người trần thuật ở ngôi thứ hai.Đó là hình thức trung gian giữa ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba.Người trần thuật xưng “anh”.Nó tạo ra một cái tôi được kể.Người đọc khi tìm hiểu tác phẩm sẽ tìm được mối liên hệ giữa nhân vật với chủ thể kể chuyện Song, dù ở bất cứ hình thức nào, người trần thuật cũng chính hình tượng do tác giả sáng tạo ra
Trong quá trình tiếp nhận tác phẩm, độc giả giao tiếp với người trần thuật thông qua những điều người trần thuật trình bày Người trần thuật có mặt ở mọi lúc, mọi nơi trong câu chuyện, có thể xuất hiện ở nhiều góc độ khác nhau trong tác phẩm để kể lại diễn biến câu chuyện, phản ánh hành động, việc làm, tâm trạng của nhân vật Người trần thuật xuất hiện với nhiều dạng khác nhau Dù xuất hiện dưới dạng nào thì cũng luôn in đậm dấu ấn cá nhân của tác giả, thể hiện tài năng nghệ thuật, phong cách của tác giả và cũng là cầu nối để người đọc tiếp nhận tác phẩm một cách trọn vẹn, nắm bắt tác phẩm một cách sâu sắc, quan sát nhân vật ở mọi góc độ… Người trần thuật xuất hiện trong tác phẩm có nhiều dạng, với mỗi dạng xuất hiện khác nhau, người trần thuật dẫn dắt người đọc theo từng cách khác nhau Người trần thuật như là chiếc cầu nối tạo mối quan hệ trung gian giữa tác giả - tác phẩm
- độc giả.Người trần thuật có thể dừng mạch kể để phân tích, bình luận những thay đổi của hoàn cảnh, bộc lộ quan điểm, suy nghĩ
Khái niệm “vai trần thuật” chính là sự hóa thân của người trần thuật và ngôi trần thuật.Người trần thuật là một vai mang nội dung.Vai trần thuật có thể là vai chính, vai phụ, vai nam hay vai nữ.Tất cả đều đó phụ thuộc vào sự lựa chọn của mỗi nhà văn, mang phong cách của từng tác giả cụ thể Vai trần
Trang 20thuật và ngôi trần thuật có ý nghĩa quan trọng góp phần tạo nên giọng điệu thể hiện trong mỗi sáng tác
1.1.2.2 Điểm nhìn trần thuật
Điểm nhìn là một vấn đề cơ bản, then chốt của trần thuật đã được nghiên cứu từ lâu với những nhà nghiên cứu như : Tz Todorov, M Bakhtin… Đặc biệt, sự cách tân của nghệ thuật đương đại càng làm cho vấn đề này trở nên quan trọng và được nhiều người chú ý Các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều thuật ngữ khác nhau về điểm nhìn như nhãn quan (vision), điểm quan sát (post of observation),điểm nhìn tâm lí, phương thức trần thuật, quan điểm trần thuật…
Ở đây chúng tôi thống nhất và xem xét khái niệm điểm nhìn trần thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn họcthì điểm nhìn là “Vị trí từ đó người trần
thuật nhìn ra và miêu tả sự vật trong tác phẩm Không thể có nghệ thuật nếu không có điểm nhìn, bởi nó thể hiện sự chú ý, quan tâm và đặc điểm của chủ thể trong việc tạo ra cái nhìn nghệ thuật.Giá trị của sáng tạo nghệ thuật một phần không nhỏ là do đem lại cho người thưởng thức một cái nhìn mới đối với cuộc sống” [8, tr.113]
Điểm nhìn nghệ thuật sẽ cung cấp một phương diện để người đọc hình dung cấu tạo nghệ thuật và nhận ra đặc điểm phong cách ở đó
Pospelov nói về điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm tự sự: “trong tác
phẩm tự sự, điều quan trọng là tương quan giữa nhân vật với chủ thể trần thuật, hay nói một cách khác, điểm nhìn của người trần thuật đối với những
gì mà anh ta miêu tả” [7, tr.65]
Như vậy,có nhiều quan điểm khác nhau về điểm nhìn trần thuật Có thể hiểu điểm nhìn là vị trí, chỗ đứng của người kể chuyện để xem xét, bình luận, miêu tả các sự vật, sự việc, hiện tượng trong tác phẩm ; là phương thức phát ngôn, trình bày, phù hợp với cách nhìn, cảm thụ thế giới của tác giả.Điểm nhìn trần thuật có thể từ bên ngoài, có thể từ bên trong, có thể từ một phía hay
Trang 21nhiều phía Nó không chỉ là liên quan đến phương diện hình thức đơn thuần
mà còn là một điểm nhìn, một thái độ trần thuật.Trong quan hệ giữa chủ thể trần thuật với người đọc thì chủ thể trần thuật là người chỉ đường, dẫn dắt người đọc thâm nhập vào tác phẩm
Các tác giả trong Từ điển thuật ngữ văn học cũng cho rằng: “điểm nhìn
nghệ thuật có thể được phân chia thành điểm nhìn không gian và thời gian Nhìn xa, gần, trên, dưới, lệch, thẳng…là điểm nhìn không gian.Nhìn từ hiện tại, quá khứ hay tương lai là điểm nhìn thời gian Có điểm nhìn tâm lí khi người trần thuật nhìn theo tầm mắt của nhân vật có đặc điểm giới tính, lứa tuổi hoặc quan hệ thânsơ ; bên trong hay bên ngoài Có điểm nhìn quang học, hoàn toàn khách quan Có điểm nhìn theo một mô hình văn hóa nào đó.” [8,
là điểm nhìn cá tính Thông qua điểm nhìn nhân vật, người trần thuật có thể miêu tả, phản ánh hiện thực theo cảm nhận chủ quan của nhân vật
+ Điểm nhìn không gian, thời gian: thể hiện vị trí của chủ thể trong không gian và thời gian Điểm nhìn của người trần thuật có thể trùng với điểm nhìn của nhân vật, điểm nhìn không gian, thời gian (thông qua các từ chỉ phương vị như ở đây, hôm nay…) hoặc không trùng
+ Điểm nhìn bên trong, bên ngoài: biểu hiện bằng hình thức tự quan sát, tự cảm nhận của nhân vật hoặc người trần thuật tựa vào nhân vật để thể hiện cái nhìn về thế giới hiện thực
Trang 22+ Điểm nhìn đánh giá tư tưởng, cảm xúc: là hệ thống quan điểm cảm nhận thế giới Quan điểm đánh giá thể hiện ở thái độ của chủ thể lời nói với khách thể, bộc lộ qua các từ đánh giá, sự nhấn mạnh
+ Điểm nhìn ngôn từ (mỗi hình thức ngôn từ mang một quan điểm) Theo lý thuyết tự sự học, có ba điểm nhìn gắn với ba kiểu người kể chuyện: điểm nhìn từ đằng sau – zero, điểm nhìn từ bên trong, điểm nhìn từ bên ngoài Người kể chuyện toàn chi ứng với điểm nhìn zero, điểm nhìn từ đằng sau Người kể chuyện có khả năng bao quát hiện thực.Cái nhìn của người trần thuật xoáy sâu vào từng chi tiết sự vật của đời sống hiện thực, phản ánh hiện thực một cách sắc nét Điều này vô hình trung lấp đầy mọi khoảng trống trong tác phẩm, hạn chế khả năng đồng sáng tạo ở độc giả bởi nó tạo tâm lý nhàm chán không tạo nhiều hứng thú trong quá trình tiếp nhận Dạng người kể chuyện này xuất hiện nhiều trong văn học truyền thống, khi người trần thuật là người biết trước số phận nhân vật, sắp xếp, bố trí các chi tiết sự phát triển của cốt truyện
Người trần thuật gắn với điểm nhìn bên trong điểm nhìn của nhân vật Bằng việc tạo nên những nhân vật tự khám phá, tự đánh giá, điểm nhìn của người kể chuyện tương ứng với điểm nhìn của nhân vật Toàn bộ hiện thực được bao quát qua lăng kính nhân vật Có thể chia điểm nhìn này thành ba dạng ứng với ba điểm nhìn bên trong của nhân vật: điểm nhìn bên trong cố định, điểm nhìn bên trong biến đổi và điểm bên trong đa bội
Điểm nhìn bên ngoài gắn với người kể chuyện bên ngoài.Người kể chuyện giấu mình.Độc giả dường như không cảm nhận được sự tồn tại của người kể chuyện.Người kể chuyện không đi sâu vào khám phá nội tâm nhân vật mà chỉ đi sâu vào miêu tả hành động, lời nói của nhân vật
Sự phân biệt trên đây hoàn toàn mang tính tương đối vì hầu như không
có tác phẩm nào chỉ sử dụng một điểm nhìn mà các điểm nhìn được di động,
Trang 23sử dụng linh hoạt, phối hợp với nhau phục vụ cho ý đồ sáng tạo của người nghệ sĩ
Trong tác phẩm tự sự, có thể chỉ có một điểm nhìn xuyên suốt tác phẩm cũng có thể phối ghép nhiều điểm nhìn khác nhau, có thể chuyển tiếp từ điểm nhìn bên ngoài sang điểm nhìn bên trong Điều đó thể hiện dụng ý nghệ thuật của nhà văn.Song việc tạo cho tác phẩm cái nhìn đa chiều, đa diện đang là một lối viết được nhiều nhà văn sử dụng bởi nó tạo hứng thú khám phá cho bạn đọc.Trên thực tế, giá trị của tác phẩm văn học một phần không nhỏ quyết định ở điểm nhìn trần thuật.Và thông qua điểm nhìn trần thuật người đọc có
cơ hội đi sâu vào tìm hiểu kết cấu tác phẩm và đặc điểm phong cách của nhà văn
1.1.2.3 Ngôn ngữ trần thuật
M Gorki khi bàn về văn học đã nhấn mạnh : “ngôn ngữ là công cụ chủ
yếu của văn học” Văn học là nghệ thuật ngôn từ Do đó ngôn ngữ là yếu tố
quan trọng hàng đầu Ngôn ngữ văn học thể hiện tư duy nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của nhà văn.Bằng ngôn ngữ và thông qua ngôn ngữ nhà văn thể hiện cảm xúc, thái độ trước hiện thực
Ngôn ngữ trần thuật là ngôn ngữ đa dạng bao gồm ngôn ngữ của người trần thuật, ngôn ngữ nhân vật và lời nói nước đôi.Trong trần thuật, ngôn ngữ bao giờ cũng là sự song hành giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ người trần
thuật.Trong đó, ngôn ngữ nhân vật được hiểu là “lời nói của các nhân vật
trong tác phẩm thuộc loại hình tự sự và kịch” [8,tr.214].Ngôn ngữ nhân vật là
một trong những phương diện quan trọng mà nhà văn thể hiện quan niệm về cuộc sống Nhà văn có thể cá tính hóa ngôn ngữ nhân vật bằng nhiều cách: nhấn mạnh cách dùng từ, đặt câu, cho nhân vật lặp lại những từ, những câu
mà nhân vật thích nói hoặc trực tiếp miêu tả ngôn ngữ nhân vật
Trang 24Theo Từ điển thuật ngữ văn học, ngôn ngữ người trần thuật là“phần lời
văn độc thoại thể hiện quan điểm tác giả và quan điểm người kể chuyện (sản phẩm sáng tạo của tác giả) đối với cuộc sống được miêu tả”[8,tr.212]
Ngôn ngữ người trần thuật có thể có một giọng (gọi ra sự vật), có hai giọng (lời nhại hoặc lời nửa trực tiếp), cũng có thể bao gồm cả ngôn ngữ nước đôi (vừa là lời nói của tác giả vừa là lời nói của nhân vật).Ngôn ngữ người trần thuật giữ vai trò quyết định
Có thể định nghĩa một cách khái quát ngôn ngữ trần thuật là ngôn ngữ trong tác phẩm văn học được sử dụng như một phương tiện quan trọng để trần thuật.Nó đóng vai trò chỉ đạo và tổ chức ngôn ngữ toàn tác phẩm, dẫn dắt quá trình phát triển cốt truyện, góp phần bộc lộ tư tưởng, chủ đề mà nhà văn muốn thể hiện.Đồng thời, nó tác động đến thái độ của người đọc, thể hiện giọng điệu trần thuật
Trong tác phẩm tự sự, ngôn ngữ trần thuật giữ vai trò then chốt Bởi vậy, khi sáng tạo nghệ thuật mỗi nhà văn luôn quan tâm đến việc lựa chọn ngôn ngữ trần thuật để tạo nên cái hay, cái độc đáo cho tác phẩm của mình Một nhà văn đích thực phải tự ý thức về mình như một nhà ngôn ngữ vì ngôn ngữ
là yếu tố thứ nhất của văn học (M Gorki).Tuy nhiên, ở mỗi thể loại văn học ngôn ngữ lại có những đặc trưng riêng
1.1.2.4 Giọng điệu trần thuật
Giọng điệu trần thuật trong tác phẩm văn học là hiện tượng được quan tâm từ lâu.Nó là một phạm trù quan trọng của thi pháp học và ngôn ngữ học, một trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm và phong cách nhà văn
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, giọng điệu là “thái độ, tình cảm, lập
trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả, thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm,
Trang 25cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm ” [8, tr.134]
Trong Giáo trình dẫn luận thi pháp học của nhà nghiên cứu Trần Đình
Sử nhận định “giọng điệu là một yếu tố đặc trưng của hình tượng tác giả
trong tác phẩm Nếu như trong đời sống ta thường chỉ nghe giọng nói là nhận
ra con người, thì trong văn học cũng vậy Giọng điệu giúp ta tìm ra tác giả, giọng điệu ở đây không đơn giản là một tín hiệu âm thanh có âm sắc đặc thù
để nhận ra người nói, mà là một giọng điệu mang nội dung, tình cảm, thái độ, ứng xử trước các hiện tượng đời sống” [17,tr.132]
Qua việc tìm hiểu các quan niệm khác nhau về giọng điệu trần thuật, có thể đưa ra một cách hiểu đơn giản nhất đó là: giọng điệu là thái độ, tình cảm của nhà văn đối với sự vật, hiện tượng được miêu tả trong tác phẩm mà người đọc có thể cảm nhận được qua các sắc thái biểu cảm của ngôn ngữ quy định cách xưng hô, dùng từ ở những mức độ quan hệ khác nhau: thân sơ, xa lạ, thành kính hay mỉa mai…
Giọng điệu là một phương diện quan trọng góp phần thể hiện quan điểm, thị hiếu thẩm mỹ, cá tính sáng tạo của nhà văn Nói khác đi, trong quá trình sáng tác, mỗi nhà văn đều lựa chọn cho mình một chất giọng riêng, cá tính
góp phần thể hiện cái nhìn cuộc sống.“Chẳng hạn, trong thơ tình yêu của Thế
Lữ, theo Hoài Thanh, có giọng điệu “lẳng lơ mà xa vời và thiếu tình ấm áp” thể hiện qua cách gọi thiếu nữ là cô em; giọng điệu ngọt ngào, êm ái trong Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng; giọng điệu suồng sã, đay nghiến trong Chí Phèo của Nam Cao; giọng điệu mỉa mai, châm biếm trong Thuế máu của Nguyễn Ái Quốc” [8,tr.134]
Đối với tác phẩm tự sự, giọng điệu là phương diện quan trọng cấu thành hình thức nghệ thuật của tác phẩm.Giọng điệu chịu sự chi phối của chủ thể sáng tác, được bộc lộ qua sự kết hợp hài hòa các yếu tố ngôn ngữ trong tác
Trang 26phẩm Do đó, để xác định giọng điệu của tác phẩm, bạn đọc cần căn cứ vào các từ ngữ được dùng, cách xưng hô, kết cấu…Giọng điệu tạo thành âm hưởng chung bao trùm lên toàn bộ tác phẩm Thông qua người trần thuật, mỗi nhà văn xây dựng cho mình một giọng điệu riêng, khác biệt thể hiện phong cách sáng tác, cá tính sáng tạo Đồng thời, nắm được giọng điệu trong tác phẩm, người đọc nắm được “chìa khóa” đi vào tìm hiểu tính cách nhân vật, thái độ tình cảm tác giả gửi gắm cũng như nội dung tư tưởng toàn tác phẩm
Đó là việc qua hình thức để tìm hiểu khám phá nội dung và ngược lại
1.1.2.5 Không gian, thời gian trần thuật
Không gian trần thuật là không gian mà người trần thuật kể lại câu chuyện của mình.Nói đến không gian trần thuât là nói đến khoảng cách giữa người trần thuật và không gian được chiếm lĩnh Nó là một trong những yếu
tố có vai trò quan trọng trongtác phẩm, góp phần tạo nên nội dung tác phẩm, thể hiện dấu ấn sáng tạo của nhà văn
Thời gian trần thuật là thời gian tác giả kể lại câu chuyện trong tác phẩm
Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử “thời gian trần thuật là thời gian vận
động theo dòng tuyến tính một chiều của văn bản ngôn từ Người ta nói văn học là nghệ thuật của thời gian bởi vì văn học diễn đạt các sự vật, hiện tượng theo trật tự thời gian của lời nói liên tục” [17,tr.80] Theo G Genette, thời
gian trần thuật bao gồm bốn hình thức: tỉnh lược, lược thuật, cảnh tượng và dừng lại
Trên đây là những yếu tố cơ bản của trần thuật Chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại và hỗ trợ lẫn nhau giúp nhà văn trong việc thể hiện nội dung tư tưởng, giá trị tác phẩm, giúp người đọc trong quá trình lĩnh hội tác phẩm Trong khóa luận này, chúng tôi tập trung nghiên cứu một trong những phương diện cơ bản của trần thuật đó là người trần thuật
Trang 271.2 Vài nét về Nhật ký Anne Frank
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời, quá trình biên tập và xuất bản:
Anne Franklà một trong những nạn nhân người Do Thái được biết đến
nhiều nhất trong cuộc tàn sát Holocaust Nhật ký Anne Frank là một cuốn
sách bao gồm các trích đọan từ một cuốn nhật ký do Anne Frank viết trong khi cô bé đang trốn cùng gia đình trong thời kỳ Đức Quốc Xã chiếm đóng Hà Lan Gia đình cô bé đã bị bắt năm 1944 và Anne Frank cuối cùng đã chết vì bệnh sốt phát ban ở trại tập trung Bergen-Belsen Sau khi gia đình Anne Frank bị bắt, một người phụ nữ tên là Miep Gies (người đã cung cấp thức ăn, nước uống, sách vở cho gia đình Anne Frank và bốn người Do Thái khác trong 25 tháng khi họ trốn trong văn phòng kinh doanh của ông Otto Frank ở Amsterdam, Hà Lan) đã thấy những trang nhật ký của Anne Frank rơi trên sàn nhà tại nơi gia đình Anne Frank ẩn náu Miep Gies đã lưu giữ những sách vở
và nhật ký của Anne Frank mà mình tìm thấy, khoá chúng trong một ngăn kéo, chờ khi nào Anne Frank trở về sẽ trả lại Sau đó Otto Frank trở lại Hà Lan Khi biết Anne Frank đã chết, Miep Gies đã trao giấy tờ của Anne Frank cho Otto Frank
Bản sao nhật ký của Anne đầu tiên do Otto Frank thực hiện để gửi cho
họ hàng ở Thụy Sĩ Bản thứ hai, bao gồm một bản chép lại của cuốn nhật ký, trích đoạn từ các bài luận của cô, và một số đoạn trong cuốn nhật ký gốc, trở thành bản nháp đầu tiên được gửi đi xuất bản, cùng với phần lời bạt do một người họ hàng viết kể lại số phận của tác giả cuốn sách Mùa xuân năm 1946, cuốn sách thu hút sự chú ý của Tiến sĩ Jan Romein, một nhà sử học người Hà Lan và ông bị xúc động mạnh đến mức đã viết ngay một bài báo gửi cho tờ
Het Parool với tựa đề “Tiếng kêu của một em bé” Bài báo này lại thu hút sự
chú ý của nhà xuất bản Contact Publishing ở Amsterdam Họ đến gặp Otto Frank và đề nghị ông chuyển cho họ bản thảo cuốn nhật ký để xem xét.Họ
Trang 28cũng đề nghị được xuất bản cuốn sách.Theo UNESCO, Nhật ký Anne Frank
là một trong 10 cuốn sách được đọc rộng rãi nhất trên toàn thế giới
Nhật ký Anne Frank đã được dịch ra hơn 70 thứ tiếng, bán được hơn 35
triệu bản Nhật ký Anne Frank là cuốn sách bán chạy nhất ở Nhật Bản năm
1953
Chúng tôi tiếp cận cuốn nhật ký thông qua bản dịch của dịch giả Đặng Kim Trâm
1.2.2 Giá trị của cuốn nhật ký
Nhật ký Anne Frank đã ghi lại đầy đủ và chân thật những góc cạnh của
cuộc sống: nạn phân biệt chủng tộc, chiến tranh phi nghĩa Cuốn nhật ký này không chỉ là tư liệu lịch sử có ý nghĩa quan trọng mà trước hết nó mang giá trị văn học Tác phẩm tiêu biểu cho thể loại nhật ký – ghi chép những sự kiện đời sống mà tác giả là người trực tiếp chứng kiến theo thứ tự ngày tháng
Trang 29CHƯƠNG 2 NGƯỜI TRẦN THUẬT GẮN VỚI NGÔI TRẦN THUẬT VÀ ĐIỂM
NHÌN TRẦN THUẬT
Nhật ký Anne Frank được coi là bức chân dung tự họa tuyệt vời về một
cô gái trẻ thông minh, nhạy cảm Cuốn nhật ký cũng là bằng chứng xác thực
về tội ác diệt chủng
Ngay từ khi xuất bản, Nhật ký Anne Frank đã tạo ra một sức hút lớn đối
với độc giả và giới nghiên cứu.Sức hút ấy thể hiện trước hết ở phương diện người trần thuật Người trần thuật chi phối mạnh mẽ tới mạch vận động trong tác phẩm, bố cục, kết cấu; cho thấy rõ nét từng diễn biến tâm lý, hành động nhân vật cũng như giọng điệu trần thuật, điểm nhìn trần thuật nhất định trong tác phẩm… Độc giả có thể dõi theo từng trang nhật ký và cùng người trần thuật chiêm nghiệm, khám phá những góc cạnh của đời sống hiện thực để đồng cảm, để sẻ chia
2.1 Người trần thuật từ ngôi thứ nhất
Người trần thuật và ngôi kể là hai yếu tố không thể tách rời.Câu chuyện bao giờ cũng được kể bởi người trần thuật ở một dạng nào đó (ở ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai hoặc ngôi thứ ba) Nếu như trong truyện hay tiểu thuyết, người trần thuật tồn tại ở dạng thứ nhấthay thứ ba, là tác giả hay chính nhân vật thì ở nhật ký, người trần thuật xuất hiện ở ngôi thứ nhất, phần lớn là tác giả Người trần thuật kể lại câu chuyện của mình, những gì họ chứng kiến nếm trải Nói về người trần thuật ở ngôi thứ nhất, M Bakhtin đã khẳng định:
“Trần thuật từ ngôi thứ nhất là tương tự với trần thuật của người kể chuyện
Đôi khi, hình thức này do dụng ý dựa trên lời kể của kẻ khác quy định, đôi khi như lối kể của Tuôcghênhiep, nó có thể tiếp cận và cuối cùng là hòa nhập với
Trang 30lời trực tiếp của tác giả, tức là hoạt động với lời một giọng của ngôi thứ hai”
[20,tr.380]
Trần thuật ở ngôi thứ nhất là người kể chuyện lộ diện trực tiếp với đại từ nhân xưng “tôi” (hoặc “ta”, “chúng tôi”) dưới hai dạng: có thể là kể câu chuyện với tư cách là người quan sát, làm chứng hoặc giữ vai trò là một yếu
tố của tổ chức tự sự, đồng thời trực tiếp tham gia vào câu chuyện Hình thức
kể chuyện xưng “tôi” quan tâm tới việc thể hiện những vấn đề của con người
cá nhân Điều này xuất phát từ nhu cầu hướng nội,nhu cầu tự vấn, tự ý thức
về con người cá nhân Vì vậy, sức hút của cuốn nhật ký phụ thuộc vào cái tôi nhiều cảm xúc, cái tôi với cái nhìn sâu sắc trước hiện thực đang diễn ra trong đời sống thường nhật Cái “tôi” trong nhật ký không đơn thuần là người ghi chép, phản ánh hiện thực mà hiện thực ấy đã được tái tạo qua lăng kính người
trần thuật bởi theo Từ điển thuật ngữ văn học “Nhật ký là hình thức tự sự ở
ngôi thứ nhất được thể hiện dưới sự ghi chép hằng ngày theo thứ tự ngày tháng về những sự kiện của đời sống mà tác giả hoặc nhân vật chính là người tham gia hay chứng kiến, khác với hồi ký, nhật ký chỉ ghi lại những sự kiện những cảm nghĩ “vừa mới xảy ra chưa lâu” [8, tr.327]
TrongNhật ký Anne Frank, nhân vật trung tâm là tác giả nhật ký gắn với
ngôi kể thứ nhất.Người trần thuật xưng “mình” Câu chuyện được triển khai theo chiều hướng viết về những trải nghiệm của bản thân Mọi diễn biến của đời sống đều được nhìn nhận qua lăng kính của tác giả - Anne Frank Trong cuốn nhật ký, sự hiện diện của chủ thể trần thuật thể hiện thông qua một loạt
các từ nhân xưng “mình”.“Thứ Hai, ngày 15 tháng 6 năm 1942: Tiệc mừng
của mình diễn ra chiều hôm Chủ nhật Bọn mình xem bộ phim Người giữ ngôi nhà nhẹ có Rin Tin Tin đóng, tất cả các bạn của mình ở trường đều rất thích”
[1,tr.22]
Trang 31Nếu như các tác phẩm nhật ký khác cùng viết về đề tài chiến tranh tập trung phản ánh những các sự kiện, sự việc xảy ra trong chiến tranh: những đợt hành quân, những hi sinh mất mát đau thương trong chiến tranh, những nhiệm
vụ công tác, tình cảm đồng đội đồng chí gắn bó qua bom đạn chiến
trường…(Những năm tháng ấy – Vũ Tú Nam, Nhật ký chiến trường – Dương Thị Xuân Qúy)thì đến với cuốn Nhật ký Anne Frank lại mang những màu sắc
riêng đầy mới lạ, độc đáo Cuốn nhật ký này không chỉ phản ánh sự ác liệt, hung bạo của chiến tranh, của nạn phân biệt chủng tộc mà người đọc còn thấy
ở đó những cảm xúc, những vấn đề riêng tư thầm kín, trạng thái tâm lý phức tạp của chính tác giả
Nhật ký Anne Frank ghi chép một cách sắc nét những vấn đề nhức nhối
của xã hội đương thời.Cái tôi hiện lên trên những trang nhật ký cũng chính là cái tôi “tự thuật”.Người trần thuật trực tiếp tham gia vào câu chuyện, bày tỏ quan điểm thái độ trước hiện thực.Đó là tất cả những gì tác giả chứng kiến và phải gánh chịu.Nạn phân biệt chủng tộc khiến những người dân Do Thái mất
đi những quyền lợi cá nhân, hạnh phúc cá nhân “Tất cả những người còn lại
trong gia đình mình cảm thấy hoàn toàn bị tác động bởi các đạo luật chống người Do Thái của Hitler, vì thế cuộc sống đầy lo âu Năm 1938, sau cuộc tàn sát người Do Thái, hai cậu của mình (em trai của mẹ mình) chạy sang Mỹ… Những đạo luật chống người Do Thái theo nhau ra đời một cánh thành công Người Do Thái buộc phải đeo ngôi sao vàng, người Do Thái phải giao nộp xe đạp Người Do Thái chỉ được phép mua sắm trong thời gian từ ba đến năm giờ chiều và chỉ được đi vào của hàng có treo biển “Cửa hàng cho người Do Thái” [1,tr.25]
Mặc dù những trang nhật ký Anne viết không miêu tả chiến tranh một cách trực tiếp, cụ thể nhưng qua những dòng tâm trạng của Anne và những nhân vật khác trong nhật ký, người đọc cũng có thể cảm nhận được mức độ ác