Khoá luận sẽ đi nghiên cứu các đặc trưng của thơ ca dân gian để góp phần xây dựng quy trình tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong việc dạy học ngữ văn.. Khoá luận thực hiện nh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
BÙI THỊ HẢI YẾN
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO CHO HỌC SINH LỚP 10 QUA ĐỌC HIỂU CHÙM CA DAO
THAN THÂN, YÊU THƯƠNG TÌNH NGHĨA
(NGỮ VĂN 10)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI, 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
BÙI THỊ HẢI YẾN
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO CHO HỌC SINH LỚP 10 QUA ĐỌC HIỂU CHÙM CA DAO
THAN THÂN, YÊU THƯƠNG TÌNH NGHĨA
(NGỮ VĂN 10)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học ThS Nguyễn Thị Mai Hương
HÀ NỘI, 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, phòng Đào tạo, Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khoá luận
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thạc sĩ Nguyễn Thị Mai Hương- người
đã hướng dẫn em trong suốt quá trình làm khoá luận
Hà Nội, ngày….tháng….năm 2016
Tác giả khoá luận Bùi Thị Hải Yến
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khoá luận này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Nguyễn Thị Mai Hương, chưa được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào Nếu có gì sai sót, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm theo quy định của viện nghiên cứu khoa học
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2016
Tác giả khoá luận
Bùi Thị Hải Yến
Trang 5KÍ HIỆU VIẾT TẮT
GV: Giáo viên HS: Học sinh
HĐ TNST: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo Nxb: Nhà xuất bản
VHDG: Văn học dân gian SGK: Sách giáo khoa THPT: Trung học phổ thông Tr: Trang
GS.TS: Giáo sƣ Tiến sĩ GS: Giáo sƣ
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Đóng góp 4
8 Bố cục khoá luận 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Cơ sở lí luận 5
1.1.1 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông của một số nước trên thế giới 5
1.1.2 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông mới của Việt Nam 6
1.1.3 Các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới 7
1.2 Cơ sở thực tiễn 8
1.2.1 Thực trạng tiếp nhận văn bản chùm ca dao than thân yêu thương tình nghĩa trong nhà trường THPT hiện nay 8
1.2.2 HĐTNST qua chùm ca dao than thân yêu thương tình nghĩa ở trường THPT 9 CHƯƠNG 2: TỐ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO CHO HỌC SINH QUA ĐỌC-HIỂU CHÙM CA DAO THAN THÂN, YÊU THƯƠNG TÌNH NGHĨA (LỚP 10, TẬP 1) 11
2.1 Đặc trưng của thơ ca dân gian 11
2.1.1 Tính tập thể 12
2.1.2 Tính truyền miệng 13
Trang 72.1.3 Tính vô danh 14
2.1.4 Tính dị bản 14
2.1.5 Tính nguyên hợp 15
2.1.6 Tính đa chức năng 16
2.2 Các nguyên tắc tổ chức HĐTNST 16
2.2.1 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo 16
2.2.2 Nguyên tắc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh 17
2.2.3 Một số phương pháp tổ chức HĐTNST cho học sinh THPT 20
2.3 Tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh qua chùm ca dao “Than thân, yêu thương tình nghĩa” 22
2 3.1 Hoạt động trải nghiệm 22
2.3.1.1 Hoạt động 1: Đọc tiếp cận văn bản chùm ca dao “Than thân, yêu thương tình nghĩa” (Ngữ văn 10) 22
2.3.1.2 Hoạt động 2: tái hiện hình tượng nhân vật 25
2.3.1.3 Hoạt động 3: Phân tích, cắt nghĩa chùm ca dao “than thân, yêu thương tình nghĩa” 27
2.3.1.4 Hoạt động 4: Đánh giá cảm xúc nhân vật trữ tình 35
2.3.2 Dạy ca dao dân ca là dạy lòng nhân ái và coi tình thương là lẽ sống cao nhất của con người 35
2.3.2.1 Ca dao là phần lời của những bài ca thiên về tình cảm 35
2.3.2.2 Ca dao dân ca là những lời ca giúp con người hoàn thiện nhân cách 38
2.3.2.3 Bài học nhận được từ chùm ca dao “than thân, yêu thương tình nghĩa” 39
CHƯƠNG 3: GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 43
KẾT LUẬN 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử văn học dân tộc, văn học dân gian giữ vị trí và vai trò vô cùng
quan trọng “Văn học dân gian là cội nguồn, là bầu sữa mẹ nuôi dưỡng tâm hồn
dân tộc Việt Nam” Trong kho tàng quý báu ấy, ca dao là những viên ngọc quý, là
cung đàn muôn điệu rung lên những tiếng tơ lòng, gọi thức dậy những miền sâu thẳm, thầm kín nhất trong tâm hồn người dân đất Việt
Trong xu thế hội nhập hiện nay, các quốc gia dân tộc không muốn tự đánh mất mình thì phải giữ gìn được bản sắc dân tộc trong đó có những giá trị truyền thống Đặc biệt đối với thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước càng cần gắn bó với cội nguồn và bồi đắp tâm hồn dân tộc Trong chương trình từ Tiểu học đến Trung học phổ thông, ca dao chiếm số lượng lớn nhất so với các thể loại văn học dân gian khác được đưa vào chương trình giảng dạy Điều ấy minh chứng cho vị trí, vai trò quan trọng của ca dao trong việc bồi dưỡng, xây đắp những tình cảm thẩm
Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi nhận thấy: người giáo viên dạy môn Ngữ văn cần phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học Trong đó tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một việc làm cần thiết để học sinh tự trải nghiệm
Trang 9những giá trị của văn bản Với mục đích ấy, chúng tôi lựa chọn đề tài “Tổ chức
hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh lớp 10 qua đọc hiểu chùm ca dao than thân yêu thương tình nghĩa (Ngữ văn 10)” Qua đề tài này, chúng tôi mong
rằng sẽ góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy học, để những giờ đọc hiểu văn bản trữ tình - phần dân gian trở nên gần gũi, thiết thực và hiệu quả hơn với học sinh trong nhà trường THPT
2 Lịch sử vấn đề
Bàn về hoạt động trải nghiệm sáng tạo đã có từ thế kỉ XX xuất phát từ các nước phương Tây Nhà khoa học giáo dục nổi tiếng người Mĩ, John Dewey, với tác
phẩm Kinh nghiệm và Giáo dục (Experience and Education) đã chỉ ra hạn chế của
giáo dục nhà trường và đưa ra quan điểm về vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục Với triết lí giáo dục đề cao vai trò của kinh nghiệm, Dewey cũng chỉ ra rằng, những kinh nghiệm có ý nghĩa giáo dục giúp nâng cao hiệu quả giáo dục bằng cách kết nối người học và những kiến thức được học với thực tiễn
Kolb (1984) cũng đưa ra một Lý thuyết về học từ trải nghiệm (Experiential
learning), theo đó, học là một quá trình trong đó kiến thức của người học được tạo
ra qua việc chuyển hóa kinh nghiệm, nghĩa là, bản chất của hoạt động học là quá trình trải nghiệm
Ở Việt Nam, tác giả Đinh Thị Kim Thoa vận dụng lí thuyết học từ trải nghiệm của Kolb (1984) để tìm hiểu về hoạt động trải nghiệm sáng tạo Theo tác giả, để phát triển sự hiểu biết khoa học, chúng ta có thể tác động vào nhận thức của người học nhưng để phát triển và hình thành năng lực (phẩm chất) thì người học phải trải nghiệm
Theo tác giả Ngô Thị Thu Dung, trải nghiệm và sáng tạo là bản chất của hoạt động ở người Bản chất hoạt động của người học nói riêng, của con người nói chung
là hoạt động mang tính trải nghiệm, sáng tạo, tính sáng tạo ở đây được hiểu là sự sáng tạo ở cấp độ cá nhân, không phải ở cấp độ xã hội
Ngoài ra còn nhiều bài báo, chuyên đề, chuyên luận như Tạp chí Khoa học
giáo dục , Số 113, tác giả Bùi Ngọc Diệp khẳng định: Hoạt động trải nghiệm sáng
tạo là các hoạt động giáo dục thực tiễn được tiến hành song song với học động dạy
Trang 10học trong nhà trường phổ thông và có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động dạy học
Nhìn chung tất cả các nghiên cứu đều cho rằng: Bản chất của hoạt động hoặc
là quá trình trải nghiệm Các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh vai trò của hoạt động trải nghiệm sáng tạo: Bằng hoạt động trải nghiệm của bản thân, mỗi học sinh vừa là người tham gia, vừa là người kiến thiết và tổ chức các hoạt động cho chính mình nên học sinh không những biết cách tích cực hoá bản thân, khám phá bản thân, điều chỉnh bản thân mà còn biết cách tổ chức hoạt động, tổ chức cuộc sống và biết làm việc có kế hoạch, có trách nhiệm Dựa vào nghiên cứu trên, khoá luận này chúng tôi
xin tiến hành: Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh lớp 10 qua
đọc hiểu chùm ca dao Than thân, yêu thương tình nghĩa (Ngữ văn 10).
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhằm mục đích:
- Xác lập các hoạt động, các bước tổ chức trải nghiệm sáng tạo trong chùm ca
dao Than thân, yêu thương tình nghĩa
- Làm rõ các vấn đề xung quanh việc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo Khoá luận sẽ đi nghiên cứu các đặc trưng của thơ ca dân gian để góp phần xây dựng quy trình tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong việc dạy học ngữ văn
- Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học thể trữ tình ở trường THPT theo hướng dạy văn là dạy học sinh biết cách làm người, giáo dục lòng nhân ái, cách làm người
Khoá luận thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở và quy trình của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong việc dạy học văn bản trữ tình ở nhà trường THPT
- Vận dụng những hiểu biết đó để tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo
trong dạy học chùm ca dao Than thân, yêu thương tình nghĩa
4 Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi tập trung nghiên cứu:
- Phương pháp dạy học ngữ văn
Trang 11- Lý thuyết tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học ngữ văn
- Vận dụng và hướng dẫn học sinh biết cách tự trải nghiệm các hoạt động đọc
hiểu chùm ca dao Than thân, yêu thương tình nghĩa
5 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu các đăc trưng của thơ ca dân gian Đặc biệt đi sâu vào các
nguyên tắc của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo qua chùm ca dao Than
thân, yêu thương tình nghĩa
- Do thời gian và giới hạn của một khoá luận, chúng tôi chỉ tập trung nghiên
cứu thực ngiệm ở chùm ca dao Than thân, yêu thương tình nghĩa (Ngữ văn 10)
sau này có điều kiện, chúng tôi sẽ mở rộng phạm vi nghiên cứu ở những đề tài sau
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp lý thuyết: phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp thực nghiệm: vận dụng lí thuyết tổ chức các hoạt động trải
nghiệm sáng tạo vào thiết kế bài giảng chùm ca dao Than thân, yêu thương tình
Bên cạnh đó, khoá luận bước đầu hình thành và phát triển khả năng tìm tòi, nghiên cứu khoa học của người viết
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
- Singapore: Hội đồng nghệ thuật quốc gia có chương trình giáo dục nghệ
thuật, cung cấp, tài trợ cho nhà trường phổ thông toàn bộ chương trình của các nhóm nghệ thuật, những kinh nghiệm sáng tạo nghệ thuật…
- Netherlands: Thiết lập trang mạng nhằm trợ giúp những học sinh có những
sáng tạo làm quen với nghề nghiệp Học sinh gửi hồ sơ sáng tạo (dự án) của mình vào trang mạng này, thu thập thêm những hiểu biết từ đây; mỗi học sinh nhận được khoản tiền nhỏ để thực hiện dự án của mình
- Vương quốc Anh: Cung cấp hàng loạt tình huống, bối cảnh đa dạng, phong
phú cho học sinh và đòi hỏi phát triển, ứng dụng nhiều tri thức, kĩ năng trong chương trình, cho phép học sinh sáng tạo và tư duy; giải quyết vấn đề làm theo nhiều cách thức khác nhau nhằm đạt kết quả tốt hơn; cung cấp cho học sinh các cơ hội sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ, dám làm…
- Đức: Từ cấp Tiểu học đã nhấn mạnh đến vị trí của các kĩ năng cá biệt, trong
đó có phát triển kĩ năng sáng tạo cho trẻ; phát triển khả năng học độc lập; tư duy phê phán và học từ kinh nghiệm của chính mình
- Nhật: Nuôi dưỡng cho trẻ năng lực ứng phó với sự thay đổi của xã hội, hình
thành một cơ sở vững mạnh để khuyến khích trẻ sáng tạo
- Hàn Quốc: Mục tiêu hoạt động trải nghiệm sáng tạo hướng đến con người
được giáo dục, có sức khỏe, độc lập và sáng tạo Cấp Tiểu học và cấp Trung học cơ
Trang 13sở nhấn mạnh cảm xúc và ý tưởng sáng tạo, cấp Trung học phổ thông phát triển công dân toàn cầu có suy nghĩ sáng tạo
1.1.2 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông mới của Việt Nam
Hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) là những hoạt động có chủ đích, có kế hoạch hoặc có sự định hướng của nhà giáo dục, được thực hiện thông qua những cách thức phù hợp để chuyển tải nội dung giáo dục tới người học nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục
Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành của Việt Nam, kế hoạch giáo dục bao gồm các môn học và hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) Khái niệm hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) dùng để chỉ các hoạt động giáo dục được tổ chức ngoài giờ dạy học các môn học và được sử dụng cùng với khái niệm hoạt động dạy học các môn học Như vậy, hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) bao gồm hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp)
Các hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) gồm:
- Hoạt động tập thể (sinh hoạt lớp, sinh hoạt trường, sinh hoạt Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, sinh hoạt Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh)
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được tổ chức theo các chủ đề giáo dục
- Hoạt động giáo dục hướng nghiệp (cấp Trung học cơ sở và cấp Trung học phổ thông) giúp học sinh tìm hiểu để định hướng tiếp tục học tập và định hướng nghề nghiệp
- Hoạt động giáo dục nghề phổ thông (cấp Trung học phổ thông) giúp học sinh hiểu được một số kiến thức cơ bản về công cụ, kĩ thuật, quy trình công nghệ, an toàn lao động, vệ sinh môi trường đối với một số nghề phổ thông đã học; hình thành và phát triển kĩ năng vận dụng những kiến thức vào thực tiễn; có một số kĩ năng sử dụng công cụ, thực hành kĩ thuật theo quy trình công nghệ để lảm ra sản phẩm đơn giản Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, kế hoạch giáo dục bao gồm các môn học, chuyên đề học tập (gọi chung là môn học) và hoạt động trải nghiệm sáng tạo; hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) bao gồm hoạt động dạy học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Trang 14- HĐTNST hướng đến mục đích chính là hình thành và phát triển ở học sinh những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kỹ năng sống và những năng lực chung cần có ở con người trong xã hội hiện đại Đó là những con người có chí hướng, có đạo đức, có định hướng tương lai, có khả năng sáng tạo, biết vận dụng một cách tích cực những kiến thức đã học vào thực tế, đồng thời biết chia sẻ và quan tâm tới mọi người xung quanh
- HĐTNST phải có nội dung kiến thức thực tiễn gắn bó với đời sống, địa phương, cộng đồng, đất nước, mang tính tổng hợp nhiều lĩnh vực giáo dục, nhiều môn học; dễ vận dụng vào thực tế
- HĐTNST phải được thiết kế thành các chủ điểm mang tính mở, không yêu cầu mối liên hệ chặt chẽ giữa các chủ điểm
1.1.3 Các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới
Trang 15Giáo viên với tư cách là người hướng dẫn, tổ chức các haọt động của học sinh nhằm giúp học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức Trong quá trình dạy, đôi lúc còn gặp những lúng túng khi truyền tải những kiến thức, cảm xúc thẩm mĩ mà văn bản trữ tình đem lại Nguyên nhân một phần là do giáo viên chưa gắn thực tiễn với bài
Trang 16dạy khiến cho học sinh cảm thấy khó hiểu và không có hứng thú tiếp nhận Trên thực tế, dù văn bản trữ tình có được viết ở thời đại nào cũng tái hiện lại một đời sống, một hiện thực nào đó Do vậy, sẽ là thiếu xót nếu dạy đọc hiểu văn bản trữ tình mà không gắn với thực tiễn, không bồi đắp lòng nhân ái cho học sinh
Văn bản chùm ca dao Than thân, yêu thương tình nghĩa là một văn bản trữ
tình trong chương trình SGK Ngữ văn THPT lớp 10 Đây là những câu hát than thân, những lời ca yêu thương tình nghĩa cất lên từ cuộc đời còn nhiều đắng cay, cơ cực nhưng đằm thắm ân tình của người bình dân Việt Nam trong xã hội cũ Trong chương trình Ngữ văn THPT, khi tiếp nhận văn bản chùm ca dao Than thân, yêu thương tình nghĩa, học sinh có thể có thể thấy thích chùm ca dao hoặc thuộc một vài bài nhưng các em chưa nhận thức được hết những giá trị nhân sinh mà văn bản đem lại để xây đắp cho mình những phẩm chất đạo đức hoặc ứng dụng vào giải quyết các tình huống trong đời sống hàng ngày Những điều làm nên sức sống trường tồn cho tác phẩm
Trong khuôn khổ của một khoá luận tốt nghiệp, chúng tôi lựa chọn đề tài
nghiên cứu: Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh lớp 10 qua
đọc hiểu chùm ca dao Than thân, yêu thương, tình nghĩa - Ngữ văn 10 với mục
đích giúp học sinh tiếp nhận văn bản trữ tình và nhận thức được những giá trị thực tiễn, giá trị nhân đạo sâu sắc, mới mẻ chứa đựng trong đó Chúng tôi muốn góp một phần nhỏ vào việc đổi mới dạy học với hi vọng tác phẩm văn học sẽ gần gũi, thiết thực và hứng thú hơn với học sinh THPT
1.2.2 HĐTNST qua chùm ca dao than thân yêu thương tình nghĩa ở trường THPT
Từ thời kì đầu của nền giáo dục nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ phương pháp để đào tạo nên những người tài đức là: “Học đi
đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội” Đây cũng là nguyên lí giáo dục được qui định trong Luật giáo dục hiện hành
của Việt Nam
Một trong những yêu cầu của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
là phải chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển
Trang 17toàn diện năng lực và phẩm chất người học Việc triển khai hoạt động giáo dục trải
nghiệm sáng tạo chính là thực hiện quan điểm, định hướng “học đi đôi với hành” lý
luận gắn với thực tiễn, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,
kỹ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc, chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học
Trong thời gian gần đây, hoạt động trải nghiệm sáng tạo đã được đưa vào thực hiện trong chương trình dạy học Ngữ Văn ở THPT Đặc biệt với việc vận dụng vào dạy học các văn bản trữ tình đã mang lại cho học sinh cơ hội và điều kiện phát triển năng lực, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, vận dụng kiến thức, kỹ năng, đồng thời xây đắp ở các em những phẩm chất đạo đức tốt đẹp Việc đưa hoạt động trải nghiệm sáng tạo vào dạy học các văn bản trữ tình đã giúp hình thức và không gian dạy học được đổi mới, mở rộng ra ngoài lớp học, tạo cơ hội cho học sinh được
tự mình trải nghiệm, được bày tỏ quan điểm, kết nối kinh nghiệm học được trong nhà trường với thực tiễn đời sống, nhờ đó các kinh nghiệm được tích lũy thêm và dần chuyển hoá thành năng lực Bên cạnh đó, hoạt động trải nghiệm sáng tạo mang tính tích hợp nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục; đòi hỏi khả năng phối hợp liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường đó không chỉ là giáo viên trong trường mà có sự tham gia của các thành phần xã hội…Tất cả những điều đó đã góp phần khắc phục những tồn tại của việc dạy học môn Ngữ văn nói chung và đáp ứng yêu cầu cấp thiết của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
Việc tổ chức HĐTNST trong dạy văn bản chùm ca dao than thân yêu thương tình nghĩa ở các trường phổ thông hiện nay bên cạnh những kết quả đã đạt được thì vẫn còn tồn tại một số khó khăn trong khâu lựa chọn, xây dựng kế hoạch hoặc do cơ
sở vật chất, trang thiết bị, tài chính phục vụ cho hoạt động Trong khuôn khổ một bài khoá luận, với đề tài này, chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào việc đổi mới dạy học với hi vọng tác phẩm văn học sẽ gần gũi, thiết thực hơn và tạo được hứng thú, phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh
Trang 18CHƯƠNG 2: TỐ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG
TẠO CHO HỌC SINH QUA ĐỌC - HIỂU CHÙM CA DAO THAN
THÂN, YÊU THƯƠNG TÌNH NGHĨA (LỚP 10, TẬP 1)
2.1 Đặc trưng của thơ ca dân gian
Trong lời giới thiệu cuốn Ca dao Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn
Hoàn khẳng định: “Văn học của bất kì dân tộc nào, dù ở phương Đông hay phương
Tây cũng đều bắt nguồn từ văn học dân gian” Từ xưa đến nay, văn học dân gian
luôn đóng một vai trò rất quan trọng trong sự hình thành và phát triển nền văn học của dân tộc, những sáng tác dân gian luôn là cơ sở nền tảng vững chắc và là cốt lõi của văn học thành văn, văn học viết
Văn học dân gian nảy sinh và tồn tại như một bộ phận hợp thành của sinh hoạt nhân dân Nó được sản sinh ra từ trong môi trường diễn xướng, qua những buổi lao động sinh hoạt văn hóa cộng đồng trên đồng ruộng, bãi lúa, ven sông, những buổi hội làng Có thể nói sinh hoạt nhân dân chính là môi trường sống của tác phẩm thơ
ca dân gian Tính ngẫu hứng đầy thẩm mỹ của thơ ca dân gian thực sự chỉ được thể hiện trọn vẹn khi được đưa vào môi trường sinh hoạt diễn xướng
Không tác động trực tiếp vào cảm giác như nghệ thuật tạo hình và nghệ thuật biểu diễn, văn học dân gian tác động tới con người bằng những ký hiệu ngôn ngữ
Là một bộ phận của văn học dân gian, thơ ca dân gian thông qua những tín hiệu ngôn ngữ, đã thể hiện phong phú và linh hoạt những hình tượng thẩm mỹ văn học, phản ánh mọi mặt của cuộc sống sinh hoạt, những suy tư và diễn biến tình cảm của con người Nghệ thuật ngôn từ trong những sáng tác thơ ca dân gian có mối mối liên hệ mật thiết với các yếu tố khác nhưng lại vừa có tính độc lập tương đối Đó là
sự tổng hợp của nhiều yếu tố nghệ thuật bao gồm âm nhạc, động tác, điệu bộ và thành phần nghệ thuật ngôn từ đó vừa có
Trong nhiều thập kỷ qua việc nghiên cứu văn học dân gian vẫn không ngừng được tiến hành và phát triển.Văn học dân gian là đối tượng quan tâm của nhiều thế hệ các nhà khoa học và những thành tựu đạt được về lĩnh vực nghiên cứu này rất đáng
Trang 19ghi nhận Các nhà nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu tiến trình phát triển của nền văn học dân gian trên cơ sở nghiên cứu sự ra đời của các thể loại văn học dân gian, tiến hành việc phân loại và nhận diện các thể loại, xem xét đặc trưng và tính chất, nội dung và hình thức của chúng; tìm hiểu mối quan hệ, ảnh hưởng giữa văn học dân gian
và văn học thành văn trong từng giai đoạn, từng thời kỳ; tìm hiểu mối quan hệ giữa văn học dân gian với văn nghệ dân gian và văn hoá dân gian, văn học và văn hoá học Nghiên cứu về các thuộc tính (hay còn gọi là các đặc trưng cơ bản) của văn học dân gian các nhà nghiên cứu nhận thấy chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
và tác động qua lại lẫn nhau Trong các công trình của mình, các nhà nghiên cứu phân chia các thuộc tính của văn học dân gian theo nhiều cách khác nhau Có người còn dựa trên mối liên hệ qua lại khá gần gũi của chúng để ghép chung thuộc tính này với thuộc tính khác Việc nghiên cứu các đặc trưng của văn học dân gian đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nền văn học nước nhà Người giáo viên khi dạy học về thơ ca dân gian cũng cần nắm chắc những đặc trưng cơ bản để tổ chức bài dạy một cách hợp lý, sáng tạo
Do điều kiện về thời gian cũng như trong phạm vi của một bài khoá luận,
chúng tôi chỉ trình bày một số đặc trưng cơ bản của văn học dân gian như tính tập
thể; tính truyền miệng; tính dị bản; tính nguyên hợp
Trang 20Tính tập thể thể hiện chủ yếu trong quá trình sử dụng tác phẩm Trong quá trình
đó, tập thể nhân dân tham gia vào công việc đồng sáng tạo tác phẩm Những tác phẩm nào có nội dung và hình thức đi theo truyền thống dân tộc, đáp ứng được nhu cầu thị hiếu, tư tưởng, tình cảm, thẩm mỹ của tập thể , phù hợp với tâm lý tập thể thì sẽ được lưu giữ Bởi đối tượng của những sáng tác thơ ca dân gian là toàn bộ những gì liên quan đến cộng đồng tập thể Đó là những hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội của con người trong những giai đoạn khác nhau Vì thế thơ ca dân gian rất coi trọng tâm lý tập thể Ngược lại nếu sáng tác ấy trái với thuần phong mỹ tục sẽ bị loại trừ
Khác với văn học viết, những tác phẩm thơ ca dân gian được lưu truyền và sáng tác lại, mỗi cá nhân đều có thể sử dụng, sửa chữa, bổ sung tác phẩm theo quan điểm và khả năng nghệ thuật của mình, khiến tác phẩm bị biến đổi và dần được hoàn thiện, phong phú hơn về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật, giúp cho thơ
ca dân gian ngày một phát triển cả về số lượng và chất lượng
Tóm lại, tính tập thể chính là một phương thức đặc thù, là một tiêu chí quan trọng để phân biệt thơ ca dân gian với các tác phẩm văn học thành văn
2.1.2 Tính truyền miệng
Trong giáo trình Văn học dân gian- Sáng tác truyền miệng dân gian Việt
Nam ( ĐHSP TPHCM), ông Nguyễn Tấn Phát cho rằng VHDG là một môn khoa
học chuyên nghiên cứu các sáng tác truyền miệng văn học dân gian Định nghĩa này
đã khẳng định được tầm quan trọng của tính truyền miệng Thơ ca dân gian với tư cách là một bộ phận của VHDG, là một loại nghệ thuật của tập thể nhân dân lao động, được tồn tại và lưu hành theo phương thức truyền miệng Đây là điểm khác biệt rất cơ bản giữa thơ ca dân gian với văn học viết Quá trình truyền miệng vẫn tiếp tục kể cả khi tác phẩm thơ ca dân gian đã được ghi chép lại
Có ý kiến cho rằng tính truyền miệng được ra đời từ thời kỳ chưa có chữ viết Tuy nhiên, ta không thể phủ nhận rằng tính truyền miệng có những hình thức, vẻ đẹp mà văn học viết không thể có được Đến khi có chữ viết thì đại bộ phận dân thất học Hơn nữa các phương tiện in ấn đều nằm trong tay giai cấp thống trị Truyền miệng, vì vậy trở thành phương tiện diễn đàn duy nhất và hữu hiệu nhất Nó đáp
Trang 21ứng được nhu cầu thông tin nhanh, tức thời, thoả mãn nhu cầu sinh hoạt nghệ thuật của người dân và có khả năng truyền bá được những nội dung mà giai cấp thống trị không thể kiểm soát được
Như vậy, rõ ràng cần phải xem truyền miệng như là một đặc điểm về phương thức tồn tại làm nên vẻ đẹp độc đáo của thơ ca dân gian, giúp cho tác phẩm như một sinh thể không ngừng sinh thành và phát triển
2.1.3 Tính vô danh
Đầu tiên, cần xác định rõ thuật ngữ tính vô danh nhằm phản ánh sự không mang tên tác giả của tác phẩm thơ ca dân gian Chúng ta có thể hiểu rằng, khi sáng tác các tác phẩm, tập thể dân gian không hề có ý thức lưu lại tên tác giả dưới những sáng tác của mình Không thể trong một môi trường diễn xướng vừa ứng tác một tác phẩm để đối và đáp lại với người tham gia diễn xướng, lại vừa có thể kèm theo tên mình như thể là một dấu ấn cá nhân Chưa nói đến trường hợp trong một hoàn cảnh diễn xướng khác, một người hoặc một nhóm người nào đó tham gia chỉnh lý, sửa chữa theo kiểu đồng sáng tác hoàn toàn rất ngẫu hứng thì dấu ấn cá nhân ban đầu của
người sáng tác càng mờ nhạt hơn Và như vậy, dân gian không quan tâm đến “ai là
người sáng tác” mà quan tâm đến tác phẩm ấy “nói gì” và “nói như thế nào?” Trong
đời sống diễn xướng phong phú và "xanh tươi" như thế, tác phẩm văn học dân gian
trở thành của chung, là sáng tác vô danh, không có bản quyền tác giả Điều này trở thành quan niệm chung, là thói quen truyền thống của các dân tộc trên thế giới Cho nên tính vô danh như là một hệ quả tất yếu của tính tập thể và tính truyền miệng Tuy nhiên, tính vô danh không hề phủ nhận vai trò quan trọng của những người tham gia sáng tác Họ là những cá nhân cụ thể, thậm chí đôi khi có thể xác định được họ tên, quê quán, nghề nghiệp… Đó là những người tài hoa, nhạy cảm,
có vốn sống, có năng khiếu và sở trường về một loại hình sinh hoạt văn nghệ dân gian nào đó
2.1.4 Tính dị bản
Dị bản là những bản kể, văn bản khác nhau của cùng một tác phẩm thơ ca dân gian Sự khác nhau đó thể hiện ở nhiều phương diện như đề tài, nội dung, nghệ
Trang 22thuật, thể loại…; ở nhiều yếu tố như chi tiết, tình tiết, sự kiện, không gian, thời gian, nhân vật, từ ngữ, hình ảnh, số lượng câu chữ…
Nói đến dị bản, ta thấy có hai điểm nổi bật Đó là những yếu tố cố định không thay đổi và những yếu tố mới Đó có thể là sự thay đổi tạo ra cái hoàn toàn mới, xa rời và thoát ly các tác phẩm cùng một công thức truyền thống Hoặc dù ít nhiều vẫn tồn tại một yếu tố liên hệ với cái cũ đã có nhưng hầu như không đi theo một hệ thống nội dung và hình thức thường thấy trong hầu hết các hiện tượng dị bản Thơ
ca dân gian sáng tạo bằng con đường liên tục, hình thành các dị bản để đáp ứng nhu cầu thực tiễn của nhân dân
Tính dị bản làm cho tác phẩm văn học dân gian không đứng yên nhất thành bất biến mà dễ thích ứng phù hợp với nhu cầu thị hiếu của nhân dân các địa phương, các thời kỳ lịch sử cụ thể khác nhau Dị bản có tính sóng ngầm cho nên cứ tiếp tục lưu truyền trong dân gian thì các sác tác vẫn tiếp tục được nhuộm màu sắc
và có những dị bản khác Chúng ta cần nhìn nhận rằng tính dị bản đã có những tác động tích cực cho sự tồn tại và phát triển của thơ ca dân gian
2.1.5 Tính nguyên hợp
Trong một tác phẩm thơ ca dân gian, tính nguyên hợp thể hiện ở hai phương diện Một là nội dung, tính nguyên hợp biểu hiện thông qua hình tượng và thái độ của nhân dân đối với hiện thực được phản ánh Thứ hai là về hình thức, các tác phẩm thơ ca dân gian không chỉ là nghệ thuật ngôn từ thuần túy mà là sự kết hợp của nhiều phương tiện nghệ thuật khác nhau thể hiện ở sự kết hợp giữa ngôn từ với các loại hình nghệ thuật khác như nhạc, vũ, động tác, hóa trang…mà trong sự kết hợp ấy ngôn từ đóng vai trò chủ yếu Sự kết hợp này là tự nhiên, vốn có ngay từ khi tác phẩm mới hình thành Một bài dân ca trong đời sống thực của nó, không chỉ
có lời mà còn có nhạc, điệu bộ, lề lối hát
Tính nguyên hợp chi phối tất cả các thành phần nghệ thuật, các yếu tố chất liệu tạo nên bản thân nó như ngôn từ, nhạc, vũ, động tác, nghệ thuật tạo hình Vì vậy, phải quan sát đời sống thực của tác phẩm văn học dân gian qua việc sử dụng, lưu truyền và biểu diễn của nhân dân mới dễ dàng nhận rõ tính nguyên hợp Bởi thơ
Trang 23ca dân gian vốn là nghệ thuật tổng hợp sống đầy đủ, tự nhiên và mạnh mẽ trong môi trường phù hợp với chức năng của nó
2.1.6 Tính đa chức năng
Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn nhận định: Văn học dân gian là bộ bách khoa toàn thư, nó bao gồm phong tục, tập quán, kinh nghiệm sống, lễ giáo… Có thể nói VHDG là một bìa học sinh động về mọi phương diện
Giống như văn học viết, các tác phẩm thơ ca dân gian cũng có ba chức năng nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ Ý nghĩa nhận thức của các tác phẩm thơ ca dân gian được biểu hiện một cách cụ thể, thiết thực Chức năng thẩm mỹ bao gồm mục tiêu hướng đến cái đẹp và khoái cảm thẩm mỹ cho người đọc Qua các tác phẩm chức năng giáo dục cũng được thể hiện một cách linh hoạt, đa dạng có thể trực tiếp hoặc gián tiếp qua
hệ thống hình tượng Tuy nhiên chức năng chủ yếu và bao quát nhất là chức năng thực hành sinh hoạt Bởi thơ ca dân gian nảy sinh, tồn tại và lưu truyền đều gắn liền với mọi hoạt động của đời sống nhân dân, là một bộ phận không thể tách rời của đời sống nhân dân (lao động sản xuất, chiến đấu, nghi lễ phong tục, sinh hoạt gia đình, xã hội, vui chơi giải trí…) Có thể nói từ khi con người cất tiếng khóc chào đời cho đến khi lìa đời,
dù trong thời điểm nào cũng có sự xuất hiện của thơ ca dân gian Với mục đích ứng dụng, thơ ca dân gian đã có những tác động nhất định trong đời sống của nhân dân
2.2 Các nguyên tắc tổ chức HĐTNST
2.2.1 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Theo Dự thảo Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ
thông sau năm 2015 đã nêu: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo bản chất là những
hoạt động giáo dục nhằm hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất tư tưởng, ý chí tình cảm, giá trị, kỹ năng sống và những năng lực cần có của con người trong xã hội hiện đại Nội dung của HĐTNST được thiết kế theo hướng tích hợp nhiều lĩnh vực, môn học thành các chủ điểm mang tính chất mở Hình thức và phương pháp tổ chức đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về không gian,
thời gian, quy mô, đối tượng và số lượng,… để HS có nhiều cơ hội tự trải nghiệm
Từ quan niệm này cho thấy, hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động có động cơ, có đối tượng để chiếm lĩnh, được tổ chức bằng các việc làm cụ thể của học
Trang 24sinh, được thực hiện trong thực tế, dưới sự định hướng, hướng dẫn của nhà trường Đối tượng để trải nghiệm nằm trong thực tiễn Qua trải nghiệm thực tiễn, người học
có được kiến thức, kĩ năng, tình cảm và ý chí nhất định Sự sáng tạo sẽ có được khi phải giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn phải vận dụng kiến thức, kĩ năng đã có để giải quyết vấn đề, ứng dụng trong tình huống mới, không theo chuẩn đã có, hoặc nhận biết được vấn đề trong các tình huống tương tự, độc lập nhận ra chức năng mới của đối tượng, tìm kiếm và phân tích được các yếu tố của đối tượng trong các mối tương quan của nó, hay độc lập tìm kiếm ra giải pháp thay thế và kết hợp được các phương pháp đã biết để đưa ra hướng giải quyết mới cho một vấn đề
Như vậy, HĐ TNST coi trọng các hoạt động thực tiễn mang tính tự chủ của
HS, về cơ bản là hoạt động mang tính tập thể trên tinh thần tự chủ cá nhân, với sự
nỗ lực giáo dục giúp phát triển sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong tập thể Đây là những HĐGD được tổ chức gắn liền với kinh nghiệm, cuộc sống để HS trải nghiệm và sáng tạo Mục đích chính mà HDTNST hướng tới đó là hình thành
và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kĩ năng sống và những năng lực chung cần có ở con người trong xã hội hiện đại Điều đó đòi hỏi các hình thức và phương pháp tổ chức HĐ TNST phải đa dạng, linh hoạt, HS tự hoạt động, trải nghiệm là chính
2.2.2 Nguyên tắc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh
HĐTNST phải được xây dựng theo một kế hoạch cụ thể Đây là việc làm quan trọng, quyết định tới một phần sự thành công của hoạt động
Việc tổ chức các HĐTNST cụ thể được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Căn cứ nhiệm vụ, mục tiêu và chương trình giáo dục, nhà giáo dục cần tiến hành khảo sát nhu cầu, điều kiện tiến hành
Xác định rõ đối tượng thực hiện hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở đây là học sinh lớp 10 Cần nắm rõ đặc điểm lứa tuổi của học sinh tham gia để thiết kế hoạt động sao cho phù hợp, vừa giúp có các biện pháp phòng ngừa những đáng tiếc có thể xảy ra cho học sinh
Trang 25Bước 2: Đặt tên cho hoạt động
Đây là việc làm cần thiết vì tên của hoạt động tự nó đã nói lên được chủ đề, mục tiêu, nội dung, hình thức của hoạt động
Việc đặt tên cho hoạt động cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Rõ ràng, chính xác, ngắn gọn
- Phản ánh được chủ đề và nội dung của hoạt động
- Tạo được ấn tượng ban đầu cho học sinh
Ví dụ như: Hoạt động thực hành, giáo viên yêu cầu học sinh viết một đoạn văn ngắn (khoảng 10 câu) tưởng tượng mình là bạn của nhân vật trữ tình trong bài ca dao và chia sẻ tâm trạng, cảm xúc
Bước 3: Xác định mục tiêu của hoạt động
Các mục tiêu hoạt động cần phải được xác định rõ ràng, cụ thể và phù hợp; phản ánh được các mức độ cao thấp của yêu cầu cần đạt về tri thức, kĩ năng, thái độ
và định hướng giá trị
Xác định đúng mục tiêu sẽ có các tác dụng:
- Định hướng cho hoạt động, là cơ sở để chọn lựa nội dung và điều chỉnh hoạt động
- Căn cứ để đánh giá kết quả hoạt động
- Kích thích tính tích cực hoạt động của thầy và trò
Ví dụ trong văn bản chùm ca dao Than thân, yêu thương tình nghĩa cần đạt
được các mục tiêu sau:
- Hiểu được, cảm nhận được tiếng hát than thân và tiếng hát yêu thương tình nghĩa của người bình dân trong xã hội phong kiến xưa qua nghệ thuật riêng, đậm màu sắc dân gian của ca dao
- Biết cách tiếp nhận và phân tích ca dao qua đặc trưng thể loại
- Đồng cảm với tâm hồn người lao động và yêu quý những sáng tác của họ
Bước 4: Xác định nội dung và phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt động
Mục tiêu có thể đạt được hay không phụ thuộc vào việc xác định đầy đủ và hợp lý những nội dung và hình thức của hoạt động
Trang 26Trước hết, cần căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của lớp, của nhà trường
và khả năng của học sinh để xác định các nội dung phù hợp cho các hoạt động Cần liệt kê đẩy đủ các nội dung hoạt động phải thực hiện
Từ nội dung, xác định cụ thể phương pháp tiến hành, xác định những phương tiện cần có để tiến hành hoạt động
Chẳng hạn như trong hoạt động khởi động, tạo tâm thế, giáo viên tổ chức trò chơi thi đoán nhanh, thử tài hiểu biết của học sinh qua việc điền vào chỗ trống của một số bài ca dao đã cho sẵn từ đó tạo bầu không khí hứng khởi để học sinh tiếp cận tác phẩm
Bước 5: Lập kế hoạch
Nếu chỉ tuyên bố về các mục tiêu đã lựa chọn thì nó vẫn chỉ là những ước muốn và hy vọng, mặc dù có tính toán, nghiên cứu kỹ lưỡng Muốn biến các mục tiêu thành hiện thực thì phải lập kế hoạch
Chẳng hạn như trong hoạt động tìm hiểu văn bản Giáo viên lập kế hoạch tổ chức các hoạt động giúp học sinh hiểu cảm nhận được tâm trạng của nhân vật trữ tình qua tiến trình sau:
- Xác định chủ đề của các bài ca dao: Ca dao than thân- Bài 1, Ca dao yêu thương tình nghĩa- Bài 4, 6
- Xác định nhân vật trữ tình trong bài ca dao: Ví dụ: Bài ca dao số 1- Lời than của người phụ nữ trong xã hội phong kiến
- Phát hiện và đánh giá tác dụng của các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài ca dao
- Cảm xúc về tâm trạng của nhân vật trữ tình
- Liên hệ, vận dụng với thực tiễn đời sống
Bước 6: Thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy
Trong bước này, cần phải xác định:
Có 5 hoạt động cần phải thực hiện đó là: Hoạt động khởi động tạo tâm thế; Hoạt động dạy học; Hoạt động thực hành; Hoạt động ứng dụng; Hoạt động bổ sung Trong các hoạt động xác định rõ nội dung công việc cụ thể cho các tổ, nhóm, các
cá nhân và yêu cầu cần đạt được của mỗi việc
Trang 27Bước 7: Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình hoạt động
Rà soát, kiểm tra lại nội dung và trình tự của các việc, thời gian thực hiện cho từng việc, xem xét tính hợp lý, khả năng thực hiện và kết quả cần đạt được
Nếu phát hiện những sai sót hoặc bất hợp lý ở khâu nào, bước nào, nội dung nào hay việc nào thì kịp thời điều chỉnh
Cuối cùng, hoàn thiện bản thiết kế chương trình hoạt động và cụ thể hóa chương trình đó bằng căn bản Đó là giáo án tổ chức hoạt động
Bước 8: Lưu trữ kết quả hoạt động vào hồ sơ của học sinh
2.2.3 Một số phương pháp tổ chức HĐTNST cho học sinh THPT
HĐTNST về cơ bản mang tính chất là các hoạt động tập thể trên tinh thần tự chủ cá nhân, với sự nỗ lực nhằm phát triển khả năng sáng tạo và cá tính riêng của
mỗi cá nhân trong tập thể Chính điều này đòi hỏi các phương pháp tổ chức các hoạt
động đó phải đa dạng, phong phú, linh hoạt, mềm dẻo mang tính mở về không gian, thời gian,… học sinh tự hoạt động, trải nghiệm là chính Do điều kiện về thời gian
và giới hạn một bài khoá luận, chúng tôi đi vào giới thiệu bốn phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo có khả năng ứng dụng nhiều trong môn Ngữ văn, đó là: Phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp sắm vai, phương pháp trò chơi và phương pháp làm việc nhóm
a Phương pháp giải quyết vấn đề
“Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề” (Rubinstein) Giải
quyết vấn đề, là một phương pháp giáo dục trong đó HS được đặt trong tình huống
có vấn đề gợi ra cho HS những khó khăn về lí luận hay thực hành
Ví dụ khi tìm hiểu bài ca dao số 4, giáo viên đưa ra tình huống: Từ bài ca dao trên, khi liên hệ với cuộc sống ngày hôm nay, có bạn HS cho rằng: bây giờ không phải
là lúc bày tỏ kín đáo như thế, mà phải bày tỏ một cách trực diện và mạnh mẽ kèm theo
đó là vật chất để minh chứng cho tình yêu Em có suy nghĩ gì về ý kiến này?
HS phải trải qua quá trình hoạt động tự giác, tích cực suy nghĩ, huy động được tri thức và khả năng cá nhân, khả năng hợp tác, trao đổi, thảo luận với bạn bè để tìm ra cách giải quyết vấn đề tốt nhất Thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện
kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác
Trang 28Trong tổ chức HĐTNST, phương pháp giải quyết vấn đề có ý nghĩa quan trọng,
góp phần tích cực vào việc rèn luyện tư duy phê phán, tư duy sáng tạo cho HS
b Phương pháp sắm vai
Sắm vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành, “làm thử” một số cách
ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Sắm vai thường không có kịch bản cho trước mà HS tự xây dựng trong quá trình hoạt động
Ví dụ giáo viên yêu cầu học sinh tưởng tượng mình là bạn của cô gái trong bài ca dao thứ nhất để chia sẻ những suy nghĩ, tình cảm của mình
Phương pháp này bên cạnh việc gây được hứng thú và sự chú ý cho người học
thì còn có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành và phát triển các kĩ năng giao tiếp
cho HS, rèn cho học sinh tính mạnh dạn, tự tin khi đứng trước đông người HS được rèn luyện, thực hành những kĩ năng ứng xử và bày tỏ thái độ, sự hiểu biết về nhân vật khích lệ thay đổi thái độ và hành vi theo hướng tích cực trước một vấn đề hay đối tượng nào đó
Trang 29chơi như tính hợp tác, tính đồng đội, tính tập thể, tính kỷ luật, tự chủ, tích cực, độc lập, sáng tạo, sự quan tâm lo lắng đến người khác, thật thà, dũng cảm, kiên nhẫn,…Trò chơi còn là phương tiện giáo dục thể lực cho HS, giáo dục thẩm mỹ, hình thành các KN giao tiếp, KN xã hội,
d Phương pháp làm việc nhóm
Làm việc theo nhóm là phương pháp tổ chức dạy học - giáo dục, trong đó “Hs
được phân chia thành từng nhóm nhỏ riêng biệt, chịu trách nghiệm về một mục tiêu duy nhất, được thực hiện thông qua nhiệm vụ riêng biệt của từng người Các hoạt động cá nhân riêng biệt được tổ chức lại, liên kết hữu cơ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung” Phương pháp này tạo ra sự tương tác trực tiếp giữa các thành
viên, từ đó HS trong nhóm trao đổi, giúp đỡ và cùng nhau phối hợp làm việc để hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm
Ví dụ như khi tìm hiểu bài ca dao số 4, giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận
nhóm làm rõ ý nghĩa biểu tượng của các hình ảnh “khăn”, “đèn”, “mắt” để từ đó thấy
được tâm trạng nhớ thương, không làm chủ được cảm xúc của nhân vật trữ tình
Với việc hoạt động nhóm, sẽ phát huy cao độ vai trò chủ thể, tính tự giác, tích
cực, sáng tạo, năng động, tinh thần trách nhiệm, cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp của HS, tạo cơ hội cho các em tự thể hiện, tự khẳng định khả năng Qua việc trao đổi, thảo luận, kiến thức của HS sẽ bớt phần chủ quan, phiến diện, làm tăng tính khách quan khoa học, tư duy phê phán của HS được rèn luyện và phát triển Từ
đó, giúp kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn, Hs hào hứng khi có sự đóng góp của mình vào thành công chung của cả lớp
2.3 Tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh qua chùm ca dao
“Than thân, yêu thương tình nghĩa”
2 3.1 Hoạt động trải nghiệm
2.3.1.1 Hoạt động 1: Đọc tiếp cận văn bản chùm ca dao “Than thân, yêu thương tình nghĩa” (Ngữ văn 10)
a Mục đích:
Đọc là sự khởi đầu, là con đường đặc trưng không thể thay thế trong việc tiếp nhận văn học Bởi tác phẩm văn học tồn tại dưới dạng văn bản, đó là tập hợp các kí
Trang 30hiệu ngôn ngữ trong đó chứa đựng thông tin Đọc tiếp cận văn bản chính là bước quan trọng để gợi lên hình ảnh, nhịp điệu, âm hưởng của tác phẩm Đồng thời khơi gợi những ấn tượng đầu tiên trong tâm trí bạn đọc
Thông qua việc đọc tiếp cận văn bản, học sinh nắm được những đặc trưng tiêu biểu của ca dao từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận, cảm thụ văn bản Đồng thời tạo bầu không khí thuận lợi, lôi cuốn học sinh , giúp học sinh cảm nhận
rõ hơn tác phẩm, hình dung ra tính cách, tình cảm, suy nghĩ của nhân vật; rèn luyện cho học sinh sự nhạy cảm với ngôn ngữ, giúp học sinh nhận biết được sự giàu có, tinh tế của tiếng Việt
b Hình thức tổ chức:
Để đạt được những mục đích trên, trong hoạt động này, người giáo viên có thể
tổ chức các hoạt động đọc sáng tạo, sắm vai, cho học sinh nghe và hát theo một số làn điệu dân ca để học sinh nhận thấy được sự khác nhau giữa ca dao và dân ca cũng như là những giá trị nội dung và đặc sắc nghệ thuật mà ca dao đem lại Giáo viên tổ chức hoạt động cho học sinh theo các bước sau:
Đọc tiểu dẫn và tìm hiểu các yếu tố ngoài văn bản
Do văn bản trữ tình được tổ chức đặc biệt, ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhạc điệu nên dạy chùm ca dao than thân yêu thương tình nghĩa trước hết cần đi khai thác phần tiểu dẫn để có cái nhìn sơ lược về nội dung và nghệ thuật của văn bản, giúp cho hoạt động tìm hiểu tác phẩm không đi chệch quỹ đạo, học sinh có những nhận thức đúng đắn về văn bản
Đọc văn bản và chú thích ngôn từ
Quá trình nhận thức của con người đi từ cảm tình đến lý tính Trong việc chiếm lĩnh tác phẩm văn chương, có thể nói đọc văn bản là khâu khởi động quan trọng trong việc tìm hiểu, khám phá tác phẩm Đọc văn bản để hoà nhịp vào thế giới cảm xúc của nhân vật, để phát hiện ý đồ mà tác giả gửi gắm
Trong các văn bản trữ tình, giọng điệu thường thể hiện qua tiết tấu, nhịp điệu,
âm hưởng, cường độ ngôn ngữ…Đọc là con đường duy nhất để tiếp cận tác phẩm cũng như tiếp cận thông tin, tạo cơ hội tiền đề cho sự hình thành và phát triển nhân
Trang 31cách Qua việc đọc văn bản, học sinh có thể xác định được bài ca dao ấy có thể là tiếng hát than thân, than thở về cuộc đời, về những đắng cay, tủi nhục trong cuộc sống và thấy trong đó ý nghĩa phản kháng, tố cáo xã hội phong kiến
Ngôn ngữ trong ca dao gần gũi với đời sống nhân dân nên có nhiều từ cổ và từ mang phương ngữ địa phương Vì vậy, việc đọc chú thích là việc làm cần thiết để giúp học sinh hiểu đúng, hiểu đủ cả nghĩa tường minh và hàm ẩn của bài ca dao Ví
dụ trong bài ca dao sau:
Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
Lụa là loại vải mịn, mỏng, được dệt bằng loại tơ tằm tốt nhất Hình ảnh “tấm
lụa đào” mềm mại, dịu dàng tượng trưng cho nhan sắc và tuổi xuân phơi phới của
Ca dao là tiếng nói tình cảm, bắt nguồn từ thực tế cuộc sống lao động sản xuất
và những sinh hoạt đời thường, từ những rung động tinh tế trước thiên nhiên, từ đời sống thuần hậu chất phác của người lao động Qua đó diễn tả đời sống tâm hồn, tình cảm của nhân dân trong các mỗi quan hệ gia đình, xã hội, tình yêu đôi lứa…
Về nghệ thuật: Ca dao được sáng tác dưới nhiều hình thức thể loại khác nhau: song thất, song thất lục bát, các thể vãn, tuy nhiên được vận dụng phổ biến hơn cả là thể lục bát Đặc biệt, ca dao còn hấp dẫn ở âm điệu vừa phong phú, vừa thanh thoát
và ở lời ca dao giàu hình ảnh được tạo nên bởi các biện pháp nghệ thuật như ẩn dụ,
so sánh, nói quá,…
* Ngôn ngữ ca dao:
Ngôn ngữ ca dao là ngôn ngữ của thể loại thơ ca dân gian Đó là thứ ngôn ngữ thường trong sáng, dễ hiểu, mộc mạc, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày, gắn bó với đời sống lao động thể hiện bản chất bình dị, chất phác, hồn nhiên của người dân lao động
Trang 32“Lòng em đã quyết thì hành
Đã cấy thì gặt với anh một mùa”
Việc sử dụng loại ngôn ngữ bình dân, thường ngày, khiến cho ca dao phù hợp với môi trường diễn xướng đơn giản được sử dụng qua hai hình thức đối thoại và độc thoại:
Đố anh chi sắc hơn dao Chi sâu hơn biển, chi cao hơn trời?
Em ơi mắt sắc hơn dao Bụng sâu hơn biển, trán cao hơn trời
Chính sự kết hợp này đã đem lại những giá trị hấp dẫn Một mặt rất gần với cuộc sống, mặt khác lại triết lí, tinh tế, có khi bay bổng và rất trữ tình
Như vậy, ngôn ngữ ca dao là yếu tố rất quan trọng trong việc thể hiện nội dung văn bản Nó vừa được đặc trưng bởi những tính chất của thể loại thơ ca dân gian mang âm sắc và giai điệu của lời nói tiếng Việt, gắn với cách cảm, cách nghĩ của người Việt qua đó phản ánh mọi mặt sinh hoạt, những suy tư và diễn biến tình cảm của con người
2.3.1.2 Hoạt động 2: tái hiện hình tượng nhân vật
a Mục đích:
Trước khi đi phân tích, cắt nghĩa chùm ca dao than thân yêu thương tình nghĩa, cần bắt đầu với việc tái hiện hình tượng nhân vật trữ tình Đó là việc xác định đúng chủ thể trữ tình, nhân vật trữ tình và đối tượng trữ tình trong văn bản Đây là việc làm quan trọng để định hướng cho học sinh cảm thụ, nhận thức một cách chính xác
về những giá trị mà tác phẩm đem lại
b Hình thức tổ chức:
Với hoạt động tái hiện hình tượng nhân vật, giáo viên đưa ra phiếu học tập và cho học sinh thảo luận nhóm theo hình thức khăn phủ bàn để đảm bảo tất cả học sinh đều phải suy nghĩ, làm việc, kích thích, thúc đẩy học sinh tham gia tích cực,
tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS để xác định chính xác nhân
vật trữ tình và đối tượng trữ tình
Trang 33Nhân vật trữ tình trong ca dao bao gồm nhân vật trữ tình hiển ngôn và biểu tượng, trong đó hai vai giao tiếp nam - nữ là chủ yếu Tính cách nhân vật trữ tình chủ yếu bộc lộ qua việc trình bày những tâm trạng, những tình cảm Hầu hết nó không có tính xác định về đặc điểm diện mạo và tính cách
Nhân vật trữ tình hiển ngôn là hình tượng con người trực tiếp thổ lộ tình cảm, tâm trạng, suy nghĩ, cảm xúc trong lời ca Cách xưng hô biểu hiện các trạng thái tình cảm khác nhau: anh - em, thiếp - chàng, mình - ta…
Cách sông em chẳng sang đâu Anh về mua chỉ bắc cầu em sang Chỉ xanh chỉ đỏ chỉ vàng Một trăm thứ chỉ bắc ngang sông này
Nhân vật trữ tình biểu tượng là thông qua thế giới biểu tượng, con người nhằm bộc lộ những tâm sự, cảm xúc với nhau Các biểu tượng đó thường gần gũi với người dân Việt Nam, biểu tượng lấy từ thế giới tự nhiên, thiên nhiên; lấy từ các vật thể nhân tạo
Bên cạnh đó, nhân vật trữ tình trong ca dao chịu ảnh hưởng bởi văn hoá vùng miền rất rõ nét
Đối tượng trữ tình trong ca dao cũng rất phong phú, đó có thể là một sự vật hiện tượng, một cảnh trí thiên nhiên…Nhưng về cơ bản, đối tượng trữ tình trong ca dao chính là con người
Chẳng hạn trong bài ca dao:
Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
Nhân vật trữ tình ở đây là cô gái Đây là lời than thân của nguời con gái ý thức được vẻ đẹp của mình nhưng họ không thể tự quyết định được tương lai và hạnh phúc của mình Từ việc xác định đúng nhân vật trữ tình sẽ giúp học sinh định hướng được cách khám phá, đánh giá, đưa ra ý kiến, bày tỏ thái độ của mình đối với tác phẩm Xác định được chủ thể trữ tình và đối tượng trữ tình trong ca dao là việc làm vô cùng cần thiết để từ đó có thể tái hiện hình tượng nhân vật với tất cả vẻ đẹp, chiều sâu của nó sao cho phù hợp với mục đích và yêu cầu giáo dục nhất định
Trang 342.3.1.3 Hoạt động 3: Phân tích, cắt nghĩa chùm ca dao “than thân, yêu thương tình nghĩa”
a Mục đích
Mỗi tác phẩm văn chương có ý nghĩa nhất định Để có thể phân tích, cắt nghĩa tác phẩm, đòi hỏi người đọc phải có vốn hiểu biết về ngôn ngữ, về đời sống và cả năng lực cảm thụ của bản thân mỗi người Chính điều ấy tạo nên cái nhìn đa chiều của tác phẩm
Qua hoạt động này, học sinh có thể hiểu được một cách cụ thể, chi tiết các tầng nghĩa, những hình ảnh và ngôn từ gợi ra Từ đó cảm nhận được tác phẩm một cách toàn diện, nhìn nhận ở nhiều góc độ, nhờ đó hiểu tác phẩm sâu hơn
b Hình thức tổ chức
Đối với một văn bản trữ tình, có nhiều cắt phân tích, cắt nghĩa văn bản Tuy nhiên, để thuận tiện cho việc tìm hiểu văn bản, giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về giá trị của văn bản thì có thể phân tích, cắt nghĩa chùm ca dao than thân yêu thương tình nghĩa theo từng chủ đề nhỏ để chiếm lĩnh văn bản
Người giáo viên sử dụng câu hỏi phát vấn, và tổ chức thảo luận nhóm để học sinh nhận diện và đưa các bài ca dao vào hệ thống của nó Bên cạnh đó, giáo viên đưa ra những tình huống có vấn đề để học sinh giải quyết Từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân
Những bài ca dao đưa vào chương trình giảng dạy được sắp xếp theo chủ đề Việc xác định bài ca dao ấy thuộc chủ đề nào sẽ giúp học sinh bước đầu nắm được những trạng thái cảm xúc được gửi gắm vào những bài ca dao ấy
Chẳng hạn những bài ca dao yêu thương- tình nghĩa đó là tiếng hát yêu thương, tình sâu nghĩa nặng đối với xóm làng,quê hương, đất nước, đối với cha mẹ,
vợ chồng, con cái, bạn bè và dạt dào nhất là tình cảm lứa đôi:
“Cô kia cắt cỏ bên sông
Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang”
Bên cạnh đó còn là những bài ca dao than thân đó là tiếng than thân trách phận giữa cuộc đời, cảnh ngộ khổ cực, đắng cay Và những bài ca dao lao động, phản ánh quá trình lao động của nhân dân
Trang 35Thân em như chổi đầu hè Phòng khi mưa gió đi về chùi chân Chùi rồi lại vứt ra sân Gọi người hàng xóm có chân thì chùi
Ca dao than thân: Bài 1 và bài 2
Về nội dung: hai bài ca dao đều bắt đầu bằng môtip quen thuộc “thân em” với âm điệu ngậm ngùi, xót xa Có thể xác định đây là lời than của những cô gái đang tuổi xuân thì, nhưng không được quyền quyết định tình yêu, số phận, tương lai Tuy có phẩm chất đẹp nhưng lại không được nâng niu, trân trọng, họ luôn khát khao chờ mong một hạnh phúc nhưng dường như đều rơi vào tuyệt vọng Cũng vì thế mà tiếng hát của người phụ nữ cất lên vừa mang ý nghĩa than than vừa là lời tố cáo xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công
Về nghệ thuật: hai bài đều sử dụng nghệ thuật so sánh Đó là những vật gần gũi, quen thuộc và có đường nét tương đồng với thân phận của người con gái trong
xã hội cũ khiến cho đối tượng được so sánh hiện lên một cách rõ ràng, đồng thời cũng làm nổi bật thân phận nhỏ bé, bất hạnh của họ
Bên cạnh đó việc sử dụng thể thơ lục bát đã tạo nên hiệu quả cao trong việc diễn tả tiếng hát than thân, trách phận của người phụ nữ Chính kết cấu 6-8 trong thể thơ lục bát khiến câu thơ trở nên da diết, ẩn chứa sự ngậm ngùi, xót xa
* Bài ca dao số 1:
Đây là tiếng than về số phận bấp bênh, không có giá trị của người con gái Họ được sinh ra nhưng không được xem trọng, không có quyền quyết định số phận của mình
Không phải ngẫu nhiên, người phụ nữ so sánh mình với “tấm lụa đào” Một
vật mềm mại, óng ả, nổi bật về màu sắc, vừa đẹp vừa quý giá đáng được nâng niu,
trân trọng nhưng cũng mỏng manh, mềm yếu “Tấm lụa đào” còn là biểu tượng của
tuổi thanh xuân tươi đẹp của người phụ nữ Với biện pháp so sánh đó cho ta thấy sự
tự ý thức về vẻ đẹp ngoại hình của người con gái Thế nhưng “tấm lụa đào” ấy lại bị
đem ra chốn “trăm người bán, vạn người mua" đủ loại người sang kẻ hèn, người thanh kẻ tục “Tấm lụa đào” trở thành đối tượng sở hữu của bất kì người nào có nhu
Trang 36cầu mua bán, nó không có quyền lựa chọn, định đoạt số phận mình không biết sẽ vào tay ai, có ai biết mà đánh giá đúng giá trị của nó
Qua sự so sánh, đối lập “thân em” và “tấm lụa đào” kết hợp với đại từ phiếm
chỉ “ai” đã cho ta thấy cô gái đang thấm thía rất rõ về tình cảnh, về số phận của mình Nỗi đau xót của nhân vật trữ tình trong lời than thân chính là ở chỗ khi người con gái bước vào cái tuổi đẹp nhất, hạnh phúc nhất của đời mình thì nỗi băn khoăn
lo lắng về thân phận lại ập đến ngay với họ
* Bài ca dao số 2:
Nếu như trong bài ca dao thứ nhất, người con gái ý thức được vẻ đẹp hình thức của mình nhưng không thể tự định đoạt số phận thì ở bài ca dao thứ hai ta lại bắt gặp lời than về sự lận đận trong tình yêu của người con gái
Cô gái tự ví mình như củ ấu gai có hình thức bên ngoài xấu xí, đen đủi, gai góc nhưng ẩn chứa sau bề ngoài ấy là ruột trắng thơm, ngọt bùi Với cách dùng từ
đối lập về những hình ảnh “trắng- đen”, “trong- ngoài” Câu ca dao đã được làm
nổi bật với hai vế đối cho ta cảm nhận đây là một người con gái có hình thức không được mặn mà, nhưng lại có vẻ đẹp tâm hồn Vẻ đẹp phẩm chất đó chính là đức hạnh, là tấm lòng trong trắng, thuần khiết đáng trân trọng
Lời nhắn nhủ “ai ơi nếm thử mà xem” vừa như trách móc, vừa như thiết tha mong mỏi ai kia sẽ đến với nhau vì cái “ngọt bùi” nồng nàn tình nghĩa Những tâm
tình cất lên như một sự cảnh tỉnh, một lời nhắc nhở: Cái bề ngoài thực chất chỉ là những thứ phù du theo năm tháng, nó có thể phai mờ, nhạt nhòa với thời gian Duy chỉ có ở tấm lòng trong trắng, tinh khôi- cái được che lấp bởi vẻ ngoài ấy mới thật
sự trường cửu với thời gian Bởi vậy, con người cần đến với nhau bằng tấm lòng, vì cái ngọt bùi, cái trong trắng trong tình nghĩa
Như vậy, hai bài ca dao bên cạnh những nét tương đồng về công thức mở đầu
và việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật như so sánh, đối lập…thì ở mỗi bài lại có những nét riêng trong việc lựa chọn đối tượng miêu tả và biểu hiện, tránh sự nhàm chán, đơn điệu, làm phong phú thêm nội dung diễn đạt Hai bài ca dao trên bổ sung cho nhau, là sự tự khẳng định một vẻ đẹp bên ngoài, một vẻ đẹp bên trong nhưng
Trang 37bao trùm là cảm hứng ngậm ngùi, xót xa về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa Đó là giá trị tố cáo và giá trị nhân đạo sâu sắc trong tiếng hát than thân ướt đẫm nước mắt của người phụ nữ
Ca dao yêu thương tình nghĩa: Bài 3, 4, 5
* Bài ca dao số 3
Bài ca dao mở đầu bằng lối đưa đẩy gợi cảm hứng: “Trèo lên cây khế nửa
ngày” Trong ca dao có một số lượng khá lớn những bài ca mở đầu bằng công thức
“Trèo lên” chẳng hạn như:
-Trèo lên cây gạo cao cao,
Bước xuống vườn đào hái nụ tầm xuân
-Trèo lên cây bưởi hái hoa, Người ta hái hết đôi ta bẻ cành
Câu mở đầu nêu ra một tình huống khá đặc biệt Trèo lên cây khế là bình
thường, nhưng ở trên cây khế đến “nửa ngày” thì thật là vô lí Tuy không có chủ
ngữ nhưng người đọc có thể hình dung ra nhân vật trữ tình trong bài ca dao này là
là chàng trai đang yêu với tâm trạng cô đơn, buồn bã Chuyện tình cảm riêng tư khó bày tỏ với người khác
Câu thơ đầu đã mở lối tâm sự bật ra ở câu thơ thứ hai “Ai làm chua xót lòng
này khế ơi!” Câu hỏi tu từ kết hợp với đại từ phiếm chỉ “ai” mang ý nghĩa khái quát
và mở ra nhiều trường liên tưởng “Ai” có thể là con người cụ thể nào đó, mà cũng
có thể là hoàn cảnh khách quan, là xã hội, là những trở lực đáng sợ đối với những đôi lứa đang yêu, muốn tiến tới hôn nhân Nó là nguyên nhân dẫn đến sự dở dang hoặc tan vỡ của những cuộc tình
Tác giả đã lựa chọn hàng loạt hình ảnh ẩn dụ mang ý nghĩa tượng trưng cho con người, tình người Các hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ biểu tượng của sự vĩnh cửu, tương ứng với nhau đồng thời cũng biểu tượng của sự chia xa vô vọng Các cặp
hình ảnh đối sánh: “mặt trăng – mặt trời”, “sao Hôm – sao Mai” để chỉ sự cách trở của đôi lứa Mặt trời lặn, mặt trăng lên là quy luật tự nhiên bất biến Hai lần từ
“sánh với” được lặp lại và kèm thêm tính từ “chằng chằng” khẳng định dù phải
Trang 38cách xa nhưng hai ta vẫn đẹp đôi vừa lứa như sao Hôm và sao Mai tuy hai những vốn chỉ là một Lấy hình ảnh thiên nhiên vĩnh cửu, tương xứng trong vũ trụ dẫu đối lập về thời gian xuất hiện nhưng chúng luôn là sự hồi âm, phản chiếu của nhau Tuy nhiên, dù mượn đến những sự vật lớn lao, vĩnh hằng trong vũ trụ để bày
tỏ lòng mình, chàng trai cảm thấy vẫn chưa đủ, chưa thể hiện hết được những điều muốn nói Cần phải để trái tim tự nói lên những lời yêu thương chân thành nhất:
Mình ơi! Có nhớ ta chăng ?
Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời
Cách xưng hô “ta” và “mình” thật gần gũi và nồng nàn yêu thương Đây là
cách xưng hô xuất hiện khá nhiều trong ca dao tình yêu:
- Mình về ta chẳng cho về
Ta nắm vạt áo, ta đề bài thơ
- Ta về ta cũng nhớ mình Nhớ yếm mình mặc, nhớ tình mình trao
Như vậy, điều làm nên nét độc đáo của bài ca dao chính là sự kết hợp tự nhiên, hài hòa giữa hai yếu tố dân gian và bác học Chúng được đặt cạnh nhau, bổ sung cho nhau để tô đậm và làm nổi bật tâm trạng chủ đạo của chàng trai trong hoàn cảnh cô đơn, xa cách người yêu Bài ca dao không chỉ nói hộ tâm sự của một chàng trai mà là muôn nghìn chàng trai đang lao đao, lận đận trên con đường tình yêu đầy trắc trở
* Bài ca dao số 4:
Bài ca dao gồm 12 câu: 10 câu đầu viết theo thể bốn chữ và kết thúc bằng hai câu lục bát rất phù hợp với việc gửi gắm tâm tư sâu kín và những trạng thái phức tạp, tinh tế của tâm hồn Nhân vật trữ tình trong bài ca dao là cô gái đang sống trong tâm trạng thương nhớ người yêu khôn nguôi Nỗi niềm thương nhớ của cô gái đối
với người yêu đã được gửi gắm vào các hình ảnh ẩn dụ - hoán dụ như “khăn”,
“đèn”, “mắt”, đặc biệt là hình ảnh cái khăn
Khăn thường là vật trao duyên, vật kỉ niệm gợi nhớ người yêu:
- Gửi khăn, gửi áo, gửi lời Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa
Trang 39- Nhớ khi khăn mở, trầu trao, Miệng thì cười nụ biết bao nhiêu tình
Với cấu trúc theo lối vắt dòng, ở sáu câu thơ đầu, điệp từ “khăn” được lặp lại
6 lần kết hợp với điệp cú “khăn thương nhớ ai” ba lần như một điệp khúc bất tận,
thể hiện nỗi nhớ triền miên, da diết Nỗi nhớ lan toả theo nhiều hướng của không gian rồi lại xuyên suốt theo thời gian Nỗi nhớ ban ngày kéo dài sang cả ban đêm:
Đèn thương nhớ ai,
Mà đèn không tắt
Đèn là hình ảnh ẩn dụ nhân hoá thứ hai thể hiện sự tương tư “ Đèn không tắt”
gợi ra đêm khuya vò võ canh tàn hay chính con người đang thao thức thâu đêm trong nỗi nhớ thương đằng đẵng, da diết khôn nguôi Cùng với đó là tâm trạng ngổn ngang, bồn chồn của cô gái:
Mắt thương nhớ ai Mắt ngủ không yên
Hình ảnh đôi mắt có sức gợi cảm sâu xa Đôi mắt chính là tâm hồn của người con gái Nỗi nhớ tự trào dâng theo sự bộc lộ tự nhiên trong thao thức, trằn trọc Cô gái tự hỏi chính lòng mình để thấy được nỗi nhớ thương sâu sắc
Mười câu thơ là năm câu hỏi không có lời đáp Điệp khúc “thương nhớ ai” trở
đi trở lại như xoáy vào một nỗi niềm khắc khoải, da diết Đại từ phiếm chỉ “ai” không xác định cá thể đối tượng nhưng lại gợi lên một nỗi nhớ thương sâu thẳm mênh mông, không giới hạn Nỗi nhớ người yêu được bộc lộ một cách kín đáo mà gợi cảm, sâu sắc, mãnh liệt
Hai câu thơ cuối, lời ca chuyển sang nhịp thơ lục bát, nhẹ nhàng hơn nhưng cũng xao xuyến hơn, trái tim đã tự thốt lên lời, giãi bày trực tiếp niềm lo âu của cô gái trước hạnh phúc lứa đôi:
Đêm qua em những lo phiền,
Lo vì một nỗi không yên một bề
Tâm trạng lo phiền của cô gái cũng xuất phát từ cội nguồn thương nhớ Nhớ thương người yêu và lo lắng cho duyên phận của mình Tâm trạng của cô gái mang
Trang 40ý nghĩa phổ biến cho người phụ nữ trong cuộc đời xưa: yêu tha thiết nhưng luôn lo
Mở đầu bài ca dao là hình ảnh của con sông Con sông là sự cách trở trong tình yêu đôi lứa Khi yêu thì con người ta chỉ muốn được ở bên nhau, được thu gần
khoảng cách đôi mắt, được rút ngắn cự li trái tim Cho nên cô gái ước “sông rộng
một gang” Cách nói cường điệu tạo nên một sự vô lí thú vị Sự vô lí trong điều mơ
ước diễn tả điều có lí của tình yêu Sông chỉ một gang thì cô gái mới có thể “bắc
cầu dải yếm để chàng sang chơi”
Trong ca dao tình yêu, chiếc cầu là một mô típ rất quen thuộc Nó là biểu tượng để chỉ nơi gặp gỡ, trao duyên của những đôi lứa đang yêu Những chiếc cầu này thường mang tính ước lệ độc đáo, khi thì là ngọn mồng tơi, khi thì là cành hồng:
- Gần đây mà chẳng sang chơi
Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu
- Hai ta cách một con sông Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang
Cầu là phương tiện giao thông, cầu cũng là không gian trữ tình, là nơi gặp gỡ,
hò hẹn của trai gái Cầu đi vào ca dao, trở thành biểu tượng của tình yêu, ước mơ
của tình yêu Và “cầu dải yếm” ở đây là một hình tượng nghệ thuật đặc sắc
Chiếc cầu được làm bằng vật thân thiết, gần gũi với chủ thể trữ tình, khác với
cành hồng, cành trầm, ngọn mồng tơi những vật ở bên ngoài chủ thể Và độc
đáo hơn chiếc cầu là do người con gái bắc cho người yêu mình Nó chủ động, táo
bạo, mãnh liệt nhưng cũng trữ tình và ý nhị biết bao Vì thế mà chiếc cầu - dải
yếm như một thông điệp tượng trưng cho trái tim rạo rực yêu thương, khát khao