Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn Trong quá trình thực hiện công tác quản lý thuế TNCN ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn Thành phố TP Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGÔ ANH NGỌC
TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ VĨNH YÊN- TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGÔ ANH NGỌC
TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ VĨNH YÊN- TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Thịnh Văn Vinh
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung của Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập và nghiêm túc của riêng tôi Các số liệu, báo cáo và thông tin trong đề tài là trung thực và được tổng hợp từ những nguồn thông tin có thực với mức độ tin cậy cao Đồng thời, kết quả nghiên cứu từ công trình này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 03 năm 2016
Ngô Anh Ngọc
Trang 4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Trong suố t quá trình ho ̣c tâ ̣p và hoàn thành luâ ̣n văn tốt nghiệp, tôi đã nhận đươ ̣c sự hướng dẫn, quan tâm, giúp đỡ quý báu của các Thầy giáo, Cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình Vớ i lòng kính tro ̣ng và biết ơn sâu sắc, tôi xin đươ ̣c bày tỏ lời cảm ơn trân thành nhất tới:
- Ban giám hiệu Nhà trường, Phòng đào tạo sau đại học và các Thầy,
Cô giáo của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
- PGS.TS Thịnh Văn Vinh - Người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
- Bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã luôn quan tâm, chia sẻ, động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Thái Nguyên, tháng 03 năm 2016
Ngô Anh Ngọc
Trang 5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Những đóng góp mới của luận văn 4
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 6
1.1 Cơ sở lý luận về công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân 6
1.1.1 Tổng quan về thuế thu nhập cá nhân 6
1.1.2 Tổng quan về quản lý thuế thu nhập cá nhân 8
1.1.3 Nội dung công tác quản lý thu thuế 11
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân 16
1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân 21
1.2.1 Thực tiễn về công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân ở nước ta 21
1.2.2 Kinh nghiệm quản lý thuế thu nhập cá nhân của một số nước trên thế giới 30
1.2.3 Kinh nghiệm của một số Chi cục thuế trong công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân và bài học kinh nghiệm đối với Chi cục thuế Thành phố Vĩnh Yên 32
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
2.1 Các câu hỏi đặt nghiên cứu 37
2.2 Phương pháp nghiên cứu 37
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 37
2.2.2 Phương pháp phân tích thông tin, số liệu 38
2.2.3 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 39
2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu đánh giá công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân 39
Chương 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ VĨNH YÊN - TỈNH VĨNH PHÚC 45
3.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn 45
3.1.1 Vị trí địa lý 45
3.1.2 Đặc điểm dân cư, lao động và việc làm Thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc 45
3.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội Thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc 47
3.2 Thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục thuế Thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2013- 2015 49
3.2.1 Tình hình tổ chức công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục thuế Thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 49
3.2.2 Tình hình quản lý đối tượng nộp thuế 55
3.2.3 Tình hình quản lý kê khai, nộp thuế 56
3.2.4 Tình hình quản lý quá trình quyết toán thuế và hoàn thuế 60
3.2.5 Tình hình thanh tra, kiểm tra thuế thu nhập cá nhân 64
3.2.6 Tình hình công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế thu nhập cá nhân 66
3.2.7 Tình hình công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế 68
3.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục thuế thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc 69
3.4 Đánh giá chung công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục thuế Thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc 74
3.4.1 Những kết quả đạt được 74
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
3.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 76
Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ VĨNH YÊN- TỈNH VĨNH PHÚC 83
4.1 Quan điểm, định hướng nhằm tăng cường công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục thuế Thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc 83
4.1.1 Đảm bảo thực hiện đúng chủ trương, chính sách pháp luật thuế trong từng giai đoạn 83
4.1.2 Đảm bảo công bằng xã hội và nguồn thu cho ngân sách nhà nước 84
4.2 Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục thuế Thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc 84
4.2.1 Đầu tư cơ sở hạ tầng, tin học hóa công tác quản lý thu thuế 85
4.2.2 Nâng cao năng lực, phẩm chất cán bộ ngành thuế 85
4.2.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế 87
4.2.4.Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân 88
4.2.5.Tăng cường đôn đốc thu nợ và cưỡng chế nợ thuế thu nhập cá nhân 89
4.2.6 Kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan chức năng với cơ quan thuế trong công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân 90
4.2.7 Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm thuế thu nhập cá nhân 90
4.3 Kiến nghị 91
4.3.1 Kiến nghị với Bộ Tài Chính và Tổng Cục Thuế 91
4.3.2 Kiến nghị với Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc 93
4.3.3 Kiến nghị với Uỷ ban nhân dân Thành phố Vĩnh Yên 94
4.3.4 Kiến nghị với các cơ quan, tổ chức liên quan 94
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Tên đầy đủ
CQCT ĐTNT
: Cơ quan chi trả : Đối tượng nộp thuế
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tổng hợp mức thuế suất TNCN theo Luật hiện hành 26
Bảng 1.2: Biểu thuế suất lũy tiến từng phần 27
Bảng 1.3: Biểu thuế suất áp dụng cho cá nhân không cư trú có TNCT từ hoạt động sản xuất, kinh doanh 27
Bảng 3.1: Đặc điểm ngành nghề dân cư 46
Bảng 3.2: Số lượng công chức hiện đang làm việc tại các đơn vị 52
Bảng 3.3: Kết quả thu ngân sách các năm 2013 - 2015 54
Bảng 3.4: Kết quả cấp MST TNCN giai đoạn 2013- 2015 55
Bảng 3.5: Tổng hợp kết quả khai thuế TNCN giai đoạn 2013- 2015 58
Bảng 3.6: Thống kê tình trạng chấp hành nộp quyết toán thuế TNCN giai đoạn 2013- 2015 61
Bảng 3.7: Thống kê lỗi trong kê khai, quyết toán thuế TNCN giai đoạn 2013- 2015 62
Bảng 3.8: Kết quả kiểm tra về thuế TNCN giai đoạn 2013- 2015 64
Bảng 3.9: Số liệu nợ thuế của CQCT thu nhập giai đoạn 2013- 2015 66
Bảng 3.10: Kết quả thu nợ thuế TNCN của CCT TP Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc bằng biện pháp đôn đốc, thu nợ bình thường 67
Bảng 3.11: Kết quả hoạt động tuyên truyền và hỗ trợ NNT giai đoạn 2013- 2015 68
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
ĐỒ THỊ
Đồ thị 3.1: Kết quả cấp MST giai đoạn 2013- 2015 56
Đồ thị 3.2: So sánh chỉ tiêu khai thuế TNCN năm 2013-2015 58
Đồ thị 3.3: So sánh các chỉ tiêu về kiểm tra thuế TNCN 2013-2015 65
Đồ thị 3.4: So sánh một số chỉ tiêu tuyên truyền hỗ trợ NNT 2013-2015 69
SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1: Khung nghiên cứu giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế TNCN tại CCT TP Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc 44
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là một phạm trù kinh tế khách quan đồng thời cũng là một phạm trù lịch sử Thuế xuất hiện, tồn tại cùng với sự hình thành, tồn tại và phát triển của Nhà nước Thuế là công cụ quản lý rất quan trọng của Nhà nước, vừa đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách, vừa là công cụ điều tiết vĩ mô của nền kinh tế
Để có thể huy động đầy đủ, kịp thời nguồn thu từ thuế vào Ngân sách đảm bảo cho Nhà nước có một nguồn thu ổn định, đáp ứng được vai trò điều tiết vĩ
mô nền kinh tế
Thuế thu nhập nói chung và thuế thu nhập cá nhân (TNCN) nói riêng
đã được áp dụng từ rất lâu trên thế giới và có lịch sử hàng trăm năm Thuế TNCN là loại thuế trực thu, thu trực tiếp vào thu nhập của cá nhân, có phạm
vi ảnh hưởng rộng, áp dụng đối với nhiều đối tượng và trên nhiều loại thu nhập khác nhau Ở Việt Nam, thuế TNCN lần đầu tiên được ban hành vào năm 1990 dưới hình thức Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Luật thuế TNCN đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 2 ngày 27/11/2007 và
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 thay cho Pháp lệnh thuế đối với người có thu nhập cao Sau hơn 06 năm thực hiện, Luật thuế TNCN đã chứng tỏ được những ưu thế của nó, đặc biệt là đảm bảo và góp phần làm tăng số thu cho Ngân sách Nhà nước (NSNN), đồng thời cũng khắc phục được những hạn chế của thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trước đây Tuy nhiên, bên cạnh những ưu thế, việc thi hành Luật thuế TNCN cũng đã nảy sinh nhiều vướng mắc mà bằng chứng là việc trong thời gian qua Bộ Tài chính đã phải ban hành rất nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Luật cũng như những văn bản sửa đổi bổ sung để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế- xã hội của Việt Nam
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trong quá trình thực hiện công tác quản lý thuế TNCN ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn Thành phố (TP) Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng còn nảy sinh nhiều hạn chế như: Chính sách thuế còn nhiều vướng mắc, chưa quản lý được toàn bộ đối tượng chịu thuế, tổ chức bộ máy cơ quan thuế còn hạn chế Vậy, thực trạng công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn TP Vĩnh Yên, cụ thể là tại Chi cục thuế (CCT) TP Vĩnh Yên hiện nay như thế nào? Công tác quản lý thuế TNCN tại CCT TP Vĩnh Yên có những bất cập, hạn chế gì? Những khó khăn, thuận lợi trong công tác thuế TNCN trên địa bàn và cần những giải pháp nào để tăng cường công tác quản lý thuế hiệu quả hơn, tốt hơn trong thời gian tới?
Hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN ở Việt Nam đã được đề cập rất nhiều trong các công trình nghiên cứu của các tác giả tại các địa bàn khác nhau, trong các bài báo trên các tạp chí uy tín, các hội thảo nghiên cứu… Tuy nhiên các tác phẩm này chủ yếu tập trung vào phân tích cơ sở lý luận, so sánh phương pháp tính thuế TNCN tại Việt Nam với các nước trên thế giới, đưa ra các giải pháp chung cho vấn đề trên toàn quốc còn nghiên cứu về thực trạng, giải pháp tăng cường quản lý thuế TNCN chi tiết tại Chi cục thuế TP Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc là chưa có
Xuất phát từ thực tế trên và nhận thấy đây là một vấn đề vô cùng cấp
thiết tại địa phương nên tôi quyết định chọn đề tài: " Tăng cường công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục thuế Thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc” để nghiên cứu làm luận văn cao học Vì nó thực sự có ý nghĩa
thiết thực, mang tính thời sự cấp bách cả về mặt lý luận và thực tiễn đòi hỏi
có sự nghiên cứu kỹ trên phương diện cả vi mô và vĩ mô
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Dựa trên cơ sở lý luận và nghiên cứu thực trạng về thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục thuế Thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản lý thuế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và đáp ứng được các mục tiêu đề ra với thuế TNCN tại Chi cục
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý thuế TNCN tại CCT TP Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung:
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề về lý luận và thực tiễn nhằm đưa ra một số giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế TNCN tại CCT TP Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc
- Về không gian:
Luận văn nghiên cứu công tác quản lý thuế TNCN tại CCT TP Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thuế thu nhập
cá nhân
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 3: Thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Chi
cục thuế Thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 4: Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý
thuế thu nhập cá nhân
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
1.1 Cơ sở lý luận về công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
1.1.1 Tổng quan về thuế thu nhập cá nhân
1.1.1.1 Khái niệm
Tại Việt Nam, theo các tài liệu thu thập được, thuế TNCN được định
nghĩa là một loại thuế trực thu đánh trên thu nhập nhận được của các cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) hoặc theo từng lần phát sinh
Thuế TNCN là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu cho NSNN và thực hiện công bằng xã hội Thuế TNCN đánh vào
cả cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh
1.1.1.2 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
Là một bộ phận của hệ thống thuế, thuế TNCN vừa mang các vai trò chủ yếu của thuế nói chung vừa có các vai trò riêng mà các loại thuế khác không có như:
Tạo lập nguồn tài chính cho NSNN: Thuế là nguồn thu chủ yếu của
NSNN, trong đó thuế TNCN là một trong những bộ phận quan trọng góp phần tạo nguồn tài chính cho nhà nước Thuế TNCN được thực hiện trên diện rộng nên khả năng tạo nguồn thu cho NSNN là rất lớn Bên cạnh đó, thuế TNCN tác động trực tiếp vào thu nhập của dân cư mà người dân của bất kỳ quốc gia nào cũng đều mong muốn và cố gắng có thu nhập ngày càng cao để nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần Thuế TNCN luôn có sự gia tăng nhanh chóng cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu người
Góp phần thực hiện công bằng xã hội: Thực hiện công bằng xã hội là
một trong những vai trò cực kỳ quan trọng của thuế TNCN Bằng biểu thuế
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
lũy tiến từng phần, thuế TNCN đã thực hiện được việc điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội
Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm: Thuế TNCN cũng có tác
dụng điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế Loại thuế này điều tiết trực tiếp nên một mặt tác động trực tiếp đến tiết kiệm, mặt khác làm cho khả năng thanh toán của các cá nhân bị giảm Từ đó cầu hàng hóa, dịch vụ giảm sẽ tác động đến sản xuất kinh doanh
Góp phần phát hiện thu nhập bất hợp pháp: Thực tế đã chứng minh
nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhận được từ việc thực hiện các hành động bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật
mà nhà nước không kiểm soát được như tham ô, hối lộ, buôn bán hàng quốc cấm, trốn thuế, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhà nước và công dân Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đến đời sống kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia Phải kết hợp hữu hiệu nhiều biện pháp để ngăn chặn và chống lại những hành
vi trên, một trong số đó phải kể đến vai trò của thuế TNCN Tuy nhiên, vì công tác quản lý thuế TNCN còn nhiều hạn chế nên những vai trò này vẫn chưa thực sự được phát huy ở những nước chậm phát triển
1.1.1.3 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân
Một là, thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của
người nộp thuế (NNT), NNT đồng nhất với người chịu thuế nên khó có thể chuyển gánh nặng thuế sang cho người khác
Hai là, thuế TNCN là loại thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan trực
tiếp đến lợi ích cụ thể của NNT và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong xã hội Đặc điểm này xuất phát từ tính trực thu của thuế TNCN
Ba là, thuế TNCN là loại thuế luôn gắn liền với chính sách xã hội của
mỗi quốc gia mặc dù các quốc gia hiện nay vẫn luôn hướng tới một hệ thống
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
chính sách thuế mang tính trung lập Khi tính thuế TNCN có xem xét đến hoàn cảnh cá nhân của NNT bằng việc quy định một số khoản được giảm trừ
có tính chất xã hội trước khi tính thuế
Bốn là, thuế TNCN thường được tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần
do thuế TNCN được đánh giá theo nguyên tắc “khả năng nộp thuế” và cũng xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, động viên sự đóng góp của người có thu nhập thấp, thu nhập trung bình trong xã hội
Năm là, thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hóa, dịch vụ Thuế
TNCN không cấu thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hóa, dịch vụ nên
nó không tạo ra sự sai lệch giá cả của hàng hóa, dịch vụ
1.1.2 Tổng quan về quản lý thuế thu nhập cá nhân
1.1.2.1 Khái niệm quản lý thuế thu nhập cá nhân
Quản lý thuế TNCN là sự tác động có chủ đích của cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước đối với quá trình tính và thu thuế TNCN để thay đổi quá trình này nhằm tạo nguồn thu ngân sách và đạt được các mục tiêu nhà nước đặt ra
1.1.2.2 Sự cần thiết trong tăng cường công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
Tăng cường công tác quản lý đối với thuế TNCN nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách thuế TNCN đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế- xã hội
Có thể nói thuế TNCN không chỉ là nguồn thu của NSNN mà còn là công cụ quan trọng điều tiết thu nhập của cá nhân theo hướng người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều, người không có thu nhập hoặc có thu nhập thấp thì không phải nộp thuế hoặc phải nộp thuế ít, tạo môi trường bình đẳng về pháp luật cho người Việt Nam cũng như người nước ngoài phát sinh thu nhập tại Việt Nam, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển trong công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế Trong những năm vừa qua, nền kinh tế nước ta phát triển theo
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
hướng nhiều thành phần, định hướng xã hội chủ nghĩa Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, công cuộc cải cách chính sách thuế nói chung và hệ thống chính sách thuế TNCN nói riêng đã và đang được tiến hành, không ngừng hoàn thiện và kiện toàn hệ thống thuế nhằm đảm bảo tính hiệu lực của Luật thuế TNCN và hiệu quả của công tác quản lý thu thuế trong cả nước Nhờ vậy
mà đã góp phần tích cực làm tăng nguồn thu của NSNN và sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Tuy nhiên, trước những yêu cầu đặt ra của thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, công tác quản lý thuế đối với thuế TNCN hiện nay bộc
lộ một số những hạn chế Để tạo bộ khung pháp lý về quản lý thuế hoàn chỉnh, phù hợp với sự phát triển của kinh tế quốc tế thì việc hoạch định, cải cách chính sách về quản lý thuế nhằm nâng cao công tác quản lý của Nhà nước đối với thuế TNCN là rất cần thiết vì:
Công tác quản lý của Nhà nước đối với thuế TNCN nhằm góp phần
tăng nguồn thu cho NSNN để phát triển đất nước: Kinh tế- xã hội càng phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước để giải quyết các vấn đề an ninh, quốc phòng, an sinh xã hội, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế cũng ngày càng gia tăng Do đó, hệ thống chính sách thuế TNCN phải bao quát được hết mọi nguồn thu nhập cần thiết, các khoản thu nhập phát sinh cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, cơ cấu thuế suất không quá cao, quá phức tạp, quá khả năng đóng góp, thực hiện của NNT, bảo đảm tăng thu vào tổng số thu NSNN Qua đó đáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu thường xuyên, vừa góp phần tích lũy cho xây dựng cơ sở hạ tầng
và trả nợ, góp phần giảm bội chi ngân sách, kiềm chế lạm phát
Quản lý thuế của Nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện thuế TNCN được nghiêm minh: Do đặc điểm của thuế TNCN là một loại thuế trực thu điều tiết
vào thu nhập của cá nhân, do người chịu thuế trực tiếp nộp thuế vào NSNN, nên nó có tác dụng trong việc điều hòa thu nhập, góp phần giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập và tài sản trong hệ thống dân cư Tuy nhiên, thuế TNCN có
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
hạn chế lớn là dễ gây phản ứng từ phía người nộp thuế hoặc dễ xảy ra tình trạng trốn lậu thuế nếu quy định mức thuế suất cao hơn Hơn nữa, thuế TNCN
có diện thu thuế rộng và phân tán, việc theo dõi, tính toán và thu thuế rất phức tạp Vì vậy nếu không có biện pháp thu thuế hiệu quả thì dễ dẫn đến hạn chế tác dụng của loại thuế này trong việc tập trung số thu đầy đủ, kịp thời về cho NSNN, do đó phải có quản lý thuế của Nhà nước để đảm bảo việc thu thuế được nghiêm minh, đúng pháp luật
Quản lý thuế của Nhà nước đối với thuế TNCN để đảm bảo mục tiêu công bằng xã hội: Thuế TNCN động viên trực tiếp vào thu nhập của cá nhân,
thể hiện rõ nghĩa vụ của công dân đối với đất nước và được căn cứ trên các nguyên tắc “lợi ích”, “công bằng” và “ khả năng nộp thuế” Theo nguyên tắc lợi ích thì mọi người trong xã hội đều được hưởng những thành quả phát triển của đất nước về luật pháp thể chế, cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội, an ninh trật tự đồng thời cũng có nghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập của mình cho xã hội thông qua việc nộp thuế Nguyên tắc “công bằng” và “khả năng nộp thuế” thể hiện ở chỗ: người có thu nhập cao hơn thì nộp thuế nhiều hơn, người có thu nhập như nhau nhưng có hoàn cảnh khó khăn hơn thì nộp thuế ít hơn, mỗi
cá nhân dù có thu nhập từ các nguồn khác nhau đều được điều chỉnh thống nhất trong một chính sách thuế Ở nước ta hiện nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập của hệ thống dân cư cũng tăng lên nhưng khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa nhóm người có thu nhập cao và nhóm người có thu nhập thấp cũng có xu hướng ngày càng tăng, thu nhập của nhân dân có sự chênh lệch nhau, số đông dân cư có thu nhập còn thấp, nhưng cũng có một số
cá nhân thu nhập khá cao, nhất là những cá nhân làm việc trong doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài trong khu chế xuất hoặc có một số cá nhân người nước ngoài làm việc tại Việt Nam Mặc dù thuế TNCN chưa mang lại số thu lớn cho NSNN, song xét trên phương diện công bằng xã hội và phương diện công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước thì thuế TNCN có vị trí cực kỳ quan
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
trọng, do đó việc điều tiết thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao
là cần thiết, đảm bảo thực hiện chính sách công bằng xã hội
Quản lý thuế của Nhà nước đối với thuế TNCN nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế: Trong diễn trình toàn cầu hóa, Việt Nam đã là thành
viên của nhiều tổ chức kinh tế- chính trị quốc tế và khu vực Chúng ta đã là thành viên của ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và của tổ chức thương mại thế giới (WTO) Ở cấp liên khu vực, chúng ta là thành viên tích cực của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Âu (ASEM), của hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
Quá trình hội nhập Việt Nam đã có nhiều cam kết về chính sách cắt giảm thuế, đồng nghĩa với việc NSNN sẽ bị giảm một phần Tuy nhiên bên cạnh việc thực hiện cắt giảm một số sắc thuế trong đó có thuế TNCN với phạm vi điều chỉnh rộng liên quan đến toàn hệ thống dân cư, hiện nay chúng ta đã hội nhập đầy đủ, toàn diện với kinh tế quốc tế do đó để đảm bảo yêu cầu đòi hỏi về tính phù hợp với các điều ước và thông lệ quốc tế
về chính sách tài chính; đồng thời tạo điều kiện tối đa cho NNT trong việc
kê khai nộp thuế thì đòi hỏi việc quản lý thuế của Nhà nước đối với thuế TNCN phải được nâng cao
1.1.3 Nội dung công tác quản lý thu thuế
Công tác quản lý là một phần quan trọng của quản lý tài chính nhà nước, công tác này không chỉ được nhìn nhận ở tầm vĩ mô, mà còn cả tầm vi
mô và phải bao gồm toàn bộ các công việc thuộc lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp về thu thuế
Sau khi đã được phê chuẩn và ban hành, chính sách thuế TNCN đã được tổ chức, thực hiện Đây là khâu đóng vai trò quan trọng nhất quyết định hiệu quả của việc sử dụng công cụ thuế Nhờ việc tổ chức thực hiện chính
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
sách thuế và quá trình tính, thu thuế mới diễn ra trong thực tế, đồng thời các quy định về quá trình mới đến được mọi người dân thông qua tuyên truyền, phổ biến chính sách Nội dung công tác quản lý thuế TNCN bao gồm:
1.1.3.1 Tổ chức bộ máy thu thuế
Nhà nước xây dựng bộ máy quản lý thu thuế để quản lý thuế TNCN cũng như các sắc thuế khác Bộ máy quản lý thuế được xây dựng tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế- xã hội của từng nước Nhìn tổng thể phạm vi nền kinh tế quốc dân, cơ quan thuế ở các nước trên thế giới đều được tổ chức thành hệ thống bao gồm nhiều cấp Tại nhiều nước, hệ thống đó không hoàn toàn phù hợp với hệ thống chính quyền nhà nước và bao gồm: Cơ quan thuế
TW, cơ quan thuế cấp tỉnh, thành phố và cơ quan thuế cấp quận, huyện như Trung Quốc, Việt Nam Ngoài ra, ở một số quốc gia thì hệ thống của ngành thuế còn được tổ chức theo các dạng khác
Ở từng cấp, bộ máy cơ quan thuế có thể được tổ chức theo mô hình sau:
Mô hình tổ chức theo sắc thuế: Các phòng, ban riêng biệt được thành
lập để quản lý một số loại thuế cụ thể Mỗi phòng, ban phải thực hiện tất cả các chức năng, nghiệp vụ quản lý các loại thuế được phân công Có thể nói đây là “mô hình quản lý khép kín” đối với mỗi loại thuế
Mô hình tổ chức theo chức năng: Tổ chức các phòng, ban chức năng
riêng rẽ Mỗi phòng, ban thực hiện một công việc, nghiệp vụ cụ thể có liên quan đến tất cả các sắc thuế như phòng Kê khai, kế toán thuế; phòng kiểm tra đối tượng nộp thuế
Mô hình tổ chức theo đối tượng nộp thuế: Đối tượng nộp thuế được
chia thành các nhóm dựa trên quy mô hoạt động, hình thức sở hữu hoặc ngành kinh tế Mỗi phòng, ban chịu trách nhiệm quản lý, cung cấp những thông tin đầy đủ về từng nhóm đối tượng nộp thuế
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Để đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý thu thuế, đảm bảo nguồn thu kịp thời cho NSNN và đảm bảo công bằng, bình đẳng trong xã hội mỗi nước
sẽ lựa chọn một mô hình cụ thể theo điều kiện kinh tế- xã hội Có những nước lựa chọn kiểu mô hình pha trộn giữa các kiểu trên
1.1.3.2 Quản lý đối tượng nộp thuế
Đây là khâu đặc biệt quan trọng đối với công tác quản lý thuế TNCN Quản lý tốt đối tượng nộp thuế sẽ đảm bảo phần lớn hiệu quả của công tác quản lý thuế TNCN bởi chúng ta chưa biết chính xác ai là những đối tượng phải nộp thuế trước khi kê khai thu nhập của họ Do đó, cần giám sát thu nhập của tất cả các đối tượng lao động, từ đó chúng ta có thể xác định được đối tượng nào phải nộp thuế và nộp bao nhiêu
Cơ quan thuế phải tiến hành đăng ký đối tượng nộp thuế Phương thức đăng ký đối tượng nộp thuế thường được áp dụng là phương thức thủ công và quản lý trên máy vi tính Tuy nhiên, phương thức quản lý bằng công nghệ thông tin thích hợp với công tác quản lý thuế TNCN vì đối tượng nộp thuế TNCN ở đây nhiều và không tập trung Phương thức này thì cơ quan quản lý thuế cần phải tiến hành cấp mã số thuế cá nhân cho các đối tượng nộp thuế và
cơ quan chi trả thu nhập thống nhất trong phạm vi cả nước Mỗi đối tượng nộp thuế được gắn với một mã số thuế duy nhất Mọi thông tin cần thiết về đối tượng nộp thuế được lưu trữ vào cơ sở dữ liệu với một thư mục riêng mà tên thư mục là mã số thuế của đối tượng nộp thuế Khi cần kiểm tra thông tin đối tượng nộp thuế cơ quan quản lý thuế chỉ cần mở thư mục theo mã số thuế của đối tượng đó, nhờ đó mà tránh được tình trạng bỏ sót các đối tượng nộp thuế, đồng thời cũng đảm bảo sự nhanh gọn cho cơ quan thuế trong công tác quản lý thu thuế
1.1.3.3 Quản lý kê khai, nộp thuế
Có hai hình thức kê khai, đăng ký, nộp thuế TNCN:
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Một là, Thông qua cơ quan ủy nhiệm thu hay cơ quan chi trả thu nhập
tính thuế cho các đối tượng nộp thuế có thu nhập do đơn vị mình chi trả Sau khi tính thuế, cơ quan chi trả thu nhập sẽ tiến hành khấu trừ phần thuế phải nộp ra khỏi thu nhập trước thuế của đối tượng nộp thuế để đem nộp vào NSNN
Hai là, đối tượng nộp thuế sẽ trực tiếp kê khai thu nhập và tự tính mức
thuế mình phải nộp Sau đó sẽ đến nộp tờ khai cho cơ quan thuế và tiến hành nộp thuế vào NSNN Cơ quan thuế sẽ có nhiệm vụ ghi lại tất cả các khoản thuế mà các đối tượng nộp thuế phải nộp để từ đó có thể giám sát và kiểm tra khi cần thiết Đồng thời đó cũng là cơ sở để đảm bảo sự minh bạch trong công tác thu nộp cả cho đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế cũng như cơ quan ủy nhiệm thu thuế
1.1.3.4 Quản lý quyết toán thuế, hoàn thuế
Việc quyết toán thuế cho đối tượng nộp thuế là thực sự cần thiết Việc này sẽ giúp cho cơ quan thuế biết được tình hình thu nhập và nộp thuế của từng đối tượng, qua đó có thể cung cấp cho các cơ quan khác, các nhà hoạch định chính sách hoặc chính cơ quan thuế cũng có thể sử dụng trong phân tích
và đánh giá về chính sách thuế, khả năng nộp thuế của dân cư Quyết toán thuế hàng năm cũng sẽ giúp cơ quan thuế có thể phát hiện ra các trường hợp sai phạm thông qua so sánh mức thu nhập giữa các năm với nhau
1.1.3.5 Thanh tra, kiểm tra thuế
Đây là nội dung quan trọng trong công tác quản lý thuế TNCN Thanh tra, kiểm tra thuế TNCN được thực hiện bởi bộ phận cán bộ chuyên ngành Đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế là các tổ chức kinh tế và các cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế TNCN cho Nhà nước Mục tiêu của thanh tra, kiểm tra thuế TNCN là phát hiện và xử lý các trường hợp sai phạm nhằm giảm bớt những tổn thất cho Nhà nước và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Đồng thời
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
cũng qua quá trình thanh tra, kiểm tra thuế có thể phát hiện những thiếu sót, bất cập trong văn bản pháp luật thuế và quá trình tổ chức thực hiện, từ đó tìm
ra những hướng giải quyết nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN Thanh tra, kiểm tra thuế TNCN được thực hiện dưới các hình thức và phương pháp khác nhau
Các hình thức thanh tra, kiểm tra xét theo phạm vi và nội dung bao gồm:
Thanh tra, kiểm tra toàn diện: Được tiến hành với tất cả các nội dung
thanh tra, kiểm tra hoặc với tất cả các đối tượng thanh tra, kiểm tra Hình thức này thường được áp dụng để phục vụ cho những nghiên cứu, cải tiến lớn về
hệ thống thuế
Thanh tra, kiểm tra có trọng điểm: Được tiến hành chỉ với một số nội
dung, một số đối tượng Người ta thường chọn ra các đối tượng điển hình và
tổ chức thanh tra, kiểm tra từ đó rút ra kết luận chung cho toàn hệ thống
Trên thực tế, người ta cũng có thể kết hợp cả hai hình thức này trong trường hợp cần thiết
1.1.3.6 Thu nợ và cưỡng chế nợ thuế
Công tác thu nợ và cưỡng chế nợ thuế là thực hiện nhiệm vụ thu tiền nợ thuế, tiền phạt đối với NNT thuộc phạm vi quản lý của đơn vị mình Thu thập thông tin về NNT còn nợ tiền thuế, đề xuất biện pháp đôn đốc thu nợ và cưỡng chế nợ thuế
1.1.3.7 Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế
Ngoài những quy định trong văn bản pháp quy có được hoàn hảo hay không thì sự thành công trong việc thực hiện các chính sách về thuế còn phụ thuộc rất lớn vào sự hiểu biết sâu sắc và ý thức chấp hành nghiêm túc của cán
bộ thuế cũng như NNT Để nội dung của chính sách thuế đến với mọi người dân trong xã hội cơ quan thuế cần phải tiến hành công tác tuyên truyền, phổ biến về chính sách thuế Công tác này cần phải được thực hiện trước hết từ cán bộ thuế, sau đó là tới mọi người dân
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Để thành công trong tuyên truyền và phổ biến thuế TNCN thì các cơ quan thuế có thể sử dụng các phương thức như thông qua các lớp tập huấn, phương tiện thông tin đại chúng, phát hành các ấn phẩm, tờ rơi, áp phích, tổ chức các buổi đối thoại, các cuộc thi tìm hiểu về thuế TNCN
Đối với cán bộ thuế việc tập huấn nghiệp vụ về một chính sách thuế nào đó, nhất là cán bộ cơ sở thường được tiến hành ngay sau khi Nhà nước ban hành một chính sách thuế mới hoặc sủa đổi bổ sung một chính sách thuế
đã có Qua đó, cán bộ thuế có thể nắm chắc được chính sách thuế từ mục đích,
ý nghĩa đến nội dung cụ thể, đủ khả năng chuyên môn để làm tròn nhiệm vụ như một tuyên truyền viên giỏi về thuế
Đối với mọi người dân trong xã hội, đối tượng nộp thuế có thể là người trực tiếp tính số thuế phải nộp vào NSNN, do đó cần phải có một kiến thức cơ bản để hiểu được các quy định của các luật thuế Cơ chế tự khai, tự nộp đòi hỏi sự tự giác cao và ý thức tuân thủ pháp luật của đối tượng nộp thuế Do vậy công tác tuyên truyền phổ biến về nghĩa vụ thuế, nội dung chính sách thuế đến mọi tầng lớp dân cư phải được tiến hành đều đặn, thường xuyên, luôn đổi mới và nâng cao được hiệu quả
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNCN Mỗi nhân tố đều có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới công tác này tùy theo tính chất và trạng thái của nhân tố đó Nhiệm vụ của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước là phải tìm cách hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực cũng như phát huy những ảnh hưởng tích cực nhằm hoàn thiện công tác quản
lý thuế TNCN Các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đó là:
Quan điểm của bộ máy lãnh đạo Nhà nước:
Để đảm bảo cho pháp luật thuế được thực hiện một cách triệt để, tập trung, thu đúng, thu đủ, thu kịp thời nguồn thu vào NSNN chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi quan điểm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong công tác quản lý
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
thuế Quan điểm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo có ảnh hưởng trước hết tới các chính sách thuế TNCN, sau là tới quá trình tổ chức thực hiện và các công việc khác thuộc phạm vi quản lý Một hệ thống chính sách thuế và cơ cấu thuế suất hợp lý nhưng tổ chức quản lý thuế kém sẽ không đạt được hiệu quả cao Các cấp lãnh đạo cần phải có biện pháp phù hợp, nhanh chóng đáp ứng yêu cầu về công tác quản lý, tạo dựng niềm tin cho đối tượng nộp thuế, đảm bảo nguồn thu vững chắc, ổn định cho NSNN
Quan điểm của lãnh đảo ảnh hưởng đến việc phân bổ nguồn thu, công tác tổ chức bộ máy nhân sự, trang bị cơ sở vật chất, kế hoạch triển khai công tác thu Người lãnh đạo phải biết phân công, giao việc một cách hợp lý, khoa học nhằm thực thi công việc một cách tốt nhất Như vậy, người lãnh đạo không chỉ phải có cách nhìn bao quát công việc mà còn phải biết phân quyền,
ủy quyền một cách hợp lý cho cấp dưới, cho những người thực thi nhằm khai thác các ý tưởng sáng tạo mới của tập thể cán bộ trong quản lý, tạo điều kiện
để cho mọi cán bộ đều có cơ hội thăng tiến, phát huy khả năng làm việc cũng như học tập để nâng cao kiến thức và trau dồi kỹ năng quản lý thuế Theo đó
là các chế độ thưởng đột xuất, thường xuyên đối với cán bộ thuế nói chung và cán bộ thuế có thành tích xuất sắc trong công tác quản lý thuế nói riêng Đồng thời có những biện pháp xử lý nghiêm những cán bộ vi phạm quy chế làm việc, có hành vi tham ô, nhận hối lộ
Khai thác các yếu tố tâm lý giữ vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý thu thuế Cán bộ lãnh đạo phải thực sự song hành cùng cán bộ thuế
Sự công tâm, tâm lý trong công tác chỉ đạo, quản lý tác động tích cực đến tính
tự giác và thái độ làm việc của cán bộ thuế
Quan điểm của lãnh đạo ảnh hưởng đến các biện pháp xử lý đối với các đối tượng nộp thuế tìm cách trốn thuế, dây dưa, chây ì trong việc thực hiện
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
nghĩa vụ kê khai, nộp thuế và hợp tác với cơ quan thuế Đối với những đối tượng có hành vi gian lận, trốn thuế cần có những hình thức xử phạt thích đáng, đảm bảo tính công bằng, làm cho mọi người tin tưởng vào pháp luật, tích cực đấu tranh chống các hành vi vi phạm
Cơ sở vật chất của ngành thuế:
Nhân tố này có ảnh hưởng mạnh mẽ tới công tác quản lý thuế TNCN Những quy định trong chính sách về diện thu thuế (rộng hay hẹp), phương thức kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đáp ứng của ngành thuế Khả năng này thì phụ thuộc rất lớn vào cơ sở vật chất của ngành Cũng như vậy, một hệ thống thu thuế được kết nối bằng mạng nội bộ sẽ là một nhân tố rất hữu ích cho cơ quan thuế trong việc quản lý thu thuế hiệu quả, chính xác, kịp thời và tiết kiệm chi phí Việc xây dựng mạng thông tin nội bộ để quản lý cơ sở dữ liệu sẽ đòi hỏi những chi phí bước đầu tương đối lớn, nhưng xét về dài hạn thì điều này sẽ tiết kiệm chi phí hơn rất nhiều so với việc quản lý dữ liệu theo cách thủ công
Trình độ và phẩm chất đạo đức đội ngũ cán bộ lãnh đạo thuế:
Trình độ đội ngũ cán bộ thuế có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý thuế, đặc biệt là thuế TNCN Nhân tố này tác động vào tất cả các khâu của công tác quản lý thuế TNCN, từ ban hành chính sách, tổ chức thực hiện chính sách tới thanh tra, kiểm tra thuế và tổ chức bộ máy quản lý thuế
Để ban hành được những chính sách đúng đắn, đáp ứng được yêu cầu của những thay đổi của nền kinh tế- xã hội và đảm bảo được những mục tiêu của công tác quản lý thuế TNCN thì đội ngũ cán bộ thuế ở tầm hoạch định chính sách cần phải có trình độ cao về vấn đề thực tế cũng như lý thuyết liên quan đến thuế, kinh tế vĩ mô, quản lý nhà nước và phẩm chất đạo đức tốt,
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
tâm huyết với công việc Nếu nhà hoạch định chính sách có trình độ thấp và phẩm chất đạo đức kém sẽ đưa ra các chính sách chứa đựng nhiều sai sót không chỉ ảnh hưởng tiêu cực tới công tác quản lý thuế TNCN mà còn ảnh hưởng tới cả hệ thống thuế
Quá trình thực hiện chính sách thuế cũng phụ thuộc rất nhiều vào trình độ và phẩm chất của đội ngũ cán bộ thuế Nhân tố này ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả hoạt động của công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức thuế cũng như quản lý thu thuế Một đội ngũ có trình độ và phẩm chất đạo đức tốt mới có đủ khả năng làm một tuyên truyền viên giỏi và nhiệt huyết
về thuế đồng thời không phạm phải sai lầm trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ cụ thể về tính thuế, quyết toán thuế cũng như không có các hành vi tiêu cực thông đồng với đối tượng nộp thuế khai man thuế hay cố tình tính sai số thuế phải nộp Ngược lại, đội ngũ thuế thiếu trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức sẽ tạo nên những sai sót trong quá trình quản lý, làm giảm hiệu quản công tác thuế
Công tác thanh tra, kiểm tra thuế càng cần có một đội ngũ có trình độ cao, phẩm chất đạo đức tốt đủ khả năng phát hiện những sai phạm và giữ được thái độ công minh, chính trực trong quá trình thanh tra, kiểm tra Nhờ đó
mà thanh tra, kiểm tra mới đạt hiệu quả như mong muốn
Đội ngũ lãnh đạo làm công tác tổ chức thiết lập nên bộ máy quản lý thuế phải có đủ năng lực và phẩm chất để xây dựng một bộ máy phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội và có hiệu quả cao
Phương thức thanh toán chủ yếu trong dân cư:
Phương thức thanh toán chủ yếu trong dân cư ảnh hưởng lớn tới khâu quản lý thu thuế Quản lý thuế TNCN khó khăn và phức tạp chủ yếu ở khâu quản lý thu nhập của cá đối tượng Nếu như các khoản thu nhập được thanh
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
toán qua hệ thống ngân hàng dưới hình thức tài khoản cá nhân thì sẽ rất thuận tiện cho cơ quan thuế trong việc giám sát kê khai thuế của NNT Bên cạnh đó, nếu phương thức thanh toán chủ yếu trong dân cư thông quan ngân hàng thì Nhà nước có thể áp dụng phương pháp thu thuế TNCN thông qua ngân hàng Điều này vừa giúp giảm bớt công việc cũng như chi phí cho cơ quan thuế, vừa kiểm soát chặt chẽ hơn thu nhập của đối tượng nộp thuế Chính vì vậy, sự phát triển của hệ thống ngân hàng đi kèm với việc phát triển của hình thức thanh toán qua tài khoản sẽ là một điều kiện tất yếu để có thể thực hiện tốt công tác quản lý thuế TNCN
Tính nghiêm minh của pháp luật:
Cơ quan quản lý làm việc có hiệu quả, luật pháp được thực hiện nghiêm minh sẽ đảm bảo việc vi phạm pháp luật giảm đi Các đối tượng nộp thuế cũng như cơ quan thuế cũng sẽ thực hiện nghiêm túc hơn các quy định trong luật thuế bởi họ biết rằng khi vi phạm sẽ không tránh khỏi những hình phạt Như vậy, công tác quản lý thuế TNCN sẽ đạt hiệu quả hơn
Tình hình kinh tế và mức sống của người dân:
Hiệu quả của công tác quản lý thuế TNCN phụ thuộc không nhỏ vào mức độ phát triển và đời sống của dân cư Cùng một đơn vị thu thuế trên một khu vực, số đối tượng nộp thuế TNCN nhiều, số thuế thu được nhiều sẽ giảm bớt chi phí trên một đồng thuế thu được và ngược lại có ít đối tượng nộp thuế
và số thuế thu được ít thì chi phí cho một đồng thuế thu được sẽ cao Sự phát triển kinh tế sẽ đồng hành với sự phát triển của cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác quản lý nói chung và công tác quản lý thuế TNCN nói riêng Khi cơ
sở hạ tầng tốt thì khả năng quản lý thuế cũng sẽ được đơn giản và hiệu quả
Ý thức chấp hành pháp luật của đối tượng chịu thuế:
Ý thức chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng tỷ lệ thuận với ý thức và trách nhiệm nộp thuế Khi người dân có ý thức chấp hành
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
luật thuế tốt, họ sẽ tự giác trong kê khai, nộp thuế; hành vi trốn thuế sẽ ít xảy
ra Từ đó, công tác quản lý thu thuế sẽ gặp nhiều thuận lợi và đạt kết quả tốt hơn Nếu người dân có ý thức chấp hành luật thuế kém sẽ giảm hiệu quả của công tác quản lý thuế Thực tế, khi người dân nhận thức được quyền lợi họ sẽ được hưởng những hàng hóa, dịch vụ công cộng mà nhà nước cung cấp họ sẽ thấy rõ trách nhiệm của mình đối với nhà nước là đóng thuế cho Nhà nước
Tóm lại: Ý thức chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế cũng
ảnh hưởng một phần tới công tác quản lý thuế TNCN Ý thức chấp hành pháp luật của người dân có thể nâng cao dần qua quá trình tuyên truyền, giáo dục
1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
1.2.1 Thực tiễn về công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân ở nước ta
1.2.1.1 Công tác quản lý đối tượng nộp thuế:
Nguyễn Hoàng (2013 tr.32): “Một đặc điểm của thuế TNCN là đối
tượng chịu thuế đồng thời là đối tượng nộp thuế Xác định đối tượng nộp thuế
là một trong những nội dung quan trọng của thuế TNCN, từ đó mới có thể vận dụng cách tính thuế cho phù hợp Thực tế thường dựa vào hai tiêu thức là “nơi
cư trú” và “nguồn phát sinh thu nhập” để tiến hành xác định đối tượng nộp
thuế” [12]
Theo tiêu thức “nơi cư trú”, một cá nhân được xác định là cư trú ở một nước phải nộp thuế đối với mọi khoản thu nhập phát sinh từ khắp nơi trên thế giới, còn một cá nhân được xác định là không cư trú ở một nước thì chỉ phải nộp thuế cho phần thu nhập phát sinh tại nước đó
Theo tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập”, một cá nhân phải nộp thuế TNCN ở một nước đối với mọi khoản thu nhập phát sinh tại nước đó
Hiện nay, đa số các nước tính thuế TNCN theo tiêu thức “nơi cư trú”
Sự phân biệt cư trú hay không cư trú của một đối tượng nộp thuế là rất quan
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
trọng để xác định đối tượng nộp thuế đó phải nộp thuế ở mức độ nào Như vậy, tại mỗi nước khái niệm cá nhân cư trú lại được định nghĩa khác nhau tùy vào chính sách và trình độ quản lý của từng nước sao cho phù hợp với tình hình của đất nước mình Thông thường quy định cá nhân cư trú là người định
cư tại nước đó hoặc những cá nhân có mặt tại nước đó từ 183 ngày trở lên tính trong 12 tháng liên tục hoặc theo năm dương lịch
Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 (2007, tr 1) quy định: “Công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi lao động, công tác nước ngoài; các cá nhân khác định cư không thời hạn ở Việt Nam, người nước ngoài ở Việt Nam từ
183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục
kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam được coi là đối tượng cư trú và là đối
tượng nộp thuế TNCN với mọi khoản thu nhập phát sinh.” [13]
Việc xác định đối tượng nộp thuế căn cứ vào tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” được hầu hết các nước áp dụng để tính thuế các khoản thu nhập phát sinh tại nước đó của những cá nhân không cư trú Cách tính thuế theo nguồn phát sinh thu nhập chỉ thích hợp với những nước có nhiều người nước ngoài đến làm việc và đầu tư, còn công dân trong nước thì ít làm việc hay đầu tư ra nước ngoài Có rất ít nước áp dụng duy nhất tiêu thức này khi xác định đối tượng nộp thuế
Ở Việt Nam, đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh cả trong, ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam Theo đó, thì mọi cá nhân là người Việt Nam hay nước ngoài có thu nhập chịu thuế đều thuộc diện nộp thuế TNCN
1.2.1.2 Thu nhập chịu thuế
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Việc xác định thu nhập chịu thuế có thể cho thấy loại thuế TNCN mà từng nước áp dụng có công bằng không, thuế này tạo ra được nguồn thu như thế nào cho NSNN, đó là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu được
đề cập trong chính sách thuế TNCN của các nước
Thu nhập chịu thuế là một số khoản nằm trong diện tính thuế TNCN theo quy định trong chính sách thuế TNCN của từng quốc gia Việc quy định khoản thu nhập nào phải tính thuế, khoản thu nhập nào không phải tính thuế, mức độ cao hay thấp phụ thuộc vào quan điểm của Chính phủ, vào mục tiêu điều tiết thu nhập cũng như mục tiêu kinh tế, chính trị xã hội khác nhau của mỗi quốc gia trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
Để tính được thuế TNCN phải nộp trước tiên phải xác định được những khoản thu nhập nào là thu nhập chịu thuế và tính toán thu nhập đó như thế nào Sau đó, căn cứ vào một số quy định khác trong chính sách thuế như các khoản miễn giảm, khấu trừ cơ quan thuế xác định được thu nhập tính thuế, kết hợp với thuế suất sẽ xác định được số thuế phải nộp Nhiệm vụ của ngành thuế mỗi nước là phải xác định được TNCT từ thu nhập sao cho NNT chấp nhận và để luật thuế có tính khả thi cao Có như vậy mới đảm bảo được mục tiêu kinh tế, xã hội trong việc thu thuế TNCN
Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 (2007, tr 1,2,3) quy định TNCT TNCN bao gồm:
“-Thu nhập từ kinh doanh: Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ (riêng đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản chỉ áp dụng đối với trường hợp không đủ điều kiện được miễn thuế); thu nhập từ hoạt động hành
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
nghề của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật
- Thu nhập từ tiền lương, tiền công: Là các khoản thu nhập người lao
động nhận được từ người sử dụng lao động dưới các hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền: Tiền lương, tiền công và các khoản mang tính chất tiền lương, tiền công; các khoản phụ cấp, trợ cấp (trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp được miễn thuế); tiền thù lao dưới các hình thức; tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý và các tổ chức; các khoản lợi ích khác mà đối tượng nộp thuế nhận được bằng tiền hoặc không bằng tiền; tiền thưởng (trừ các khoản tiền thưởng được miễn thuế)
- Thu nhập từ đầu tư: lãi cổ tức, lãi cho vay, thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác
- Thu nhập khác: Từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, thu nhập từ trúng thưởng, thu nhập từ bản quyền, thu nhập từ nhượng quyền
thương mại, thu nhập từ thừa kế, thu nhập từ quà biếu tặng.” [13]
* Các khoản thu nhập không tính thuế TNCN:
Luật thuế TNCN quy định những khoản thu nhập không tính thuế TNCN bao gồm:
Các khoản phụ cấp, trợ cấp: Phụ cấp đối với người có công với cách
mạng; phụ cấp quốc phòng an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm, khó khăn, khu vực khó khăn, các khoản trợ cấp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, trợ cấp giải quyết tệ nạn xã hội theo quy định của pháp luật
Các khoản tiền thưởng: Tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được nhà
nước phong tặng; tiền thưởng kèm theo các giải thưởng quốc gia, quốc tế, cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát hiện khai báo hành vi vi phạm pháp luật được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.2.1.3 Kỳ tính thuế, căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân
* Kỳ tính thuế:
Đối với cá nhân cư trú: Kỳ tính thuế theo năm được áp dụng đối với
thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công
Tính thuế theo từng lần phát sinh thu nhập áp dụng đối với thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ trúng thưởng; thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương mại; thu nhập từ thừa kế; thu nhập từ quà tặng
Đối với cá nhân không cư trú: Thuế được tính theo từng lần phát sinh
thu nhập áp dụng với tất cả các loại thu nhập chịu thuế
Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 (2007) ; Luật thuế TNCN sửa đổi số 26/2012/QH13 (2012) ; Luật thuế TNCN sửa đổi, bổ sung số 71/2014/QH13 (2014) quy định “căn cứ tính thuế TNCN là: thu nhập tính thuế và thuế suất.”
[13], [15], [16]
Thu nhập tính thuế: Đối với cá nhân cư trú, thu nhập tính thuế được
xác định bằng TNCT trừ đi các khoản: các khoản đóng góp bảo hiểm theo quy định, các khoản giảm trừ bản thân và gia cảnh (mức giảm trừ cho bản thân đối tượng nộp thuế là: 9 triệu đồng/ 1 tháng; mức giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc mà NNT có trách nhiệm nuôi dưỡng trực tiếp là: 3,6 triệu đồng/ 1 người/ 1 tháng), các khoản đóng góp vào quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ khuyến học Còn với cá nhân không cư trú thì không được áp dụng các khoản giảm trừ
Riêng thu nhập tính thuế từ trúng thưởng, thừa kế, thu nhập từ bản quyền, từ nhượng quyền thương mại là phần giá trị nhận được vượt trên 10 triệu đồng/ mỗi lần nhận, áp dụng cho cả cá nhân cư trú lẫn cá nhân không
cư trú
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
TNCT từ hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng quy định khác nhau cho cá nhân cư trú và không cư trú TNCT của cá nhân cư trú là tổng thu nhập nhận được trừ các khoản chi phí hợp lý liên quan trực tiếp đến việc tạo ra TNCT trong kỳ tính thuế Còn TNCT của cá nhân không cư trú là toàn bộ thu nhập nhận được, không tính các khoản chi phí được trừ Như vậy, thu nhập tính thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh được tính riêng cho cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú, không phân biệt là cá nhân trong nước hay nước ngoài
Thuế suất: Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 (2007) quy định “thuế
suất được xác định dựa trên việc sử dụng kết hợp giữa biểu thuế suất lũy tiến
từng phần và thuế suất theo tỷ lệ quy định cho từng nguồn thu nhập.” [13]
Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú thì được
áp dụng theo biểu thuế suất lũy tiến từng phần Còn các loại TNCT khác thì
áp dụng hình thức thuế khoán hoặc thuế suất theo tỷ lệ với mức thuế suất khác nhau
Bảng 1.1: Tổng hợp mức thuế suất TNCN theo Luật hiện hành
nhân cư trú (%)
Thuế suất áp dụng cá nhân không cư trú (%)
Nộp thuế theo phương pháp khoán (trừ một số trường hợp)
Xác định theo từng ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh (Bảng 3)
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
thừa kế, quà tặng
10% của phần thu nhập vượt trên 10 triệu đồng
10% của phần thu nhập vượt trên 10 triệu đồng
(Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12, 2007, tr 8) [13]
Thuế suất thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được áp dụng theo biểu thuế lũy tiến từng phần theo quy định tại Điều 22 Luật thuế TNCN, cụ thể như sau:
Bảng 1.2: Biểu thuế suất lũy tiến từng phần
Bảng 1.3: Biểu thuế suất áp dụng cho cá nhân không cư trú có TNCT
từ hoạt động sản xuất, kinh doanh
(Văn bản hợp nhất số 15/VBHN- VPQH (2014), tr 23) [17]
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Qua các biểu trên cho thấy cá nhân không cư trú phần nào chịu mức thuế TNCN cao hơn so với cá nhân cư trú
1.2.1.4 Đăng ký, kê khai, quyết toán thuế, hoàn thuế:
Tất cả các tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập, cá nhân kinh doanh, cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công và cá nhân có thu nhập chịu thuế TNCN khác (nếu phát sinh thường xuyên) thì phải đăng ký thuế TNCN
Việc kê khai, nộp thuế TNCN thực hiện theo nguyên tắc khấu trừ tại nguồn Cơ quan chi trả có nghĩa vụ khấu trừ tiền thuế trước khi chi trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế Cơ quan chi trả nộp thay tiền thuế vào NSNN
và cấp chứng từ khấu trừ thuế theo yêu cầu của đối tượng nộp thuế Bên cạnh
đó, một số trường hợp có thể áp dụng phương pháp tự kê khai Đó là những
cá nhân hành nghề tự do, có thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau
Các tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập thuộc diện chịu thuế TNCN và cá nhân có thu nhập thuộc diện chịu thuế TNCN thực hiện khai thuế như sau:
Khai thuế tháng: Khai thuế áp dụng với các tổ chức, cá nhân chi trả thu
nhập thực hiện khấu trừ thuế Cá nhân nhận thu nhập từ tiền lương, tiền công
do các tổ chức, cá nhân chi trả từ nước ngoài; các cá nhân là người Việt Nam
có thu nhập từ tiền lương, tiền công do các tổ chức quốc tế, các Đại sứ quán, Lãnh sự quán tại Việt Nam chi trả
Khai thuế theo quý: Các cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh thực
hiện đúng chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ
Khai thuế theo năm: Các cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ
Kê khai theo từng lần phát sinh: Cá nhân có thu nhập từ các nguồn còn
lại Thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Quyết toán thuế: Theo hướng dẫn tại Thông tư 111/2013/TT-BTC
ngày 15/08/2013 của Bộ Tài Chính thì các đối tượng phải thực hiện quyết toán thuế bao gồm:
Tổ chức, cá nhân trả thu nhập thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế
có trách nhiệm khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân và quyết toán thuế thu nhập cá nhân thay cho các cá nhân có uỷ quyền
Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, từ kinh doanh có trách nhiệm khai quyết toán thuế nếu có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn thuế hoặc bù trừ thuế vào kỳ khai thuế tiếp theo (trừ một số trường hợp cụ thể)
Cá nhân cư trú là người nước ngoài kết thúc hợp đồng làm việc tại Việt Nam thực hiện quyết toán thuế với cơ quan thuế trước khi xuất cảnh
Các trường hợp khác không phải quyết toán thuế: Đối với cá nhân có thu nhập tạo một nơi duy nhất thì có thể ủy quyền cho cơ quan chi trả quyết toán thay, còn cá nhân có thu nhập tại nhiều nơi thì phải yêu cầu cơ quan chi trả cấp chứng từ khấu trừ và tự quyết toán thuế TNCN
Hoàn thuế: Cá nhân được hoàn thuế trong các trường hợp:
- Số tiền thuế đã nộp lớn hơn số thuế phải nộp;
- Cá nhân đã nộp thuế nhưng có thu nhập tính thuế chưa đến mức phải nộp thuế;
- Các trường hợp khác theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Việc hoàn thuế thu nhập cá nhân áp dụng đối với những cá nhân đã đăng ký và có mã số thuế tại thời điểm nộp hồ sơ quyết toán thuế
Đối với cá nhân đã uỷ quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện quyết toán thay thì việc hoàn thuế của cá nhân được thực
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
hiện thông qua tổ chức, cá nhân trả thu nhập Tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện bù trừ số thuế nộp thừa, nộp thiếu của các cá nhân Sau khi bù trừ, nếu còn số thuế nộp thừa thì được bù trừ vào kỳ sau hoặc hoàn thuế nếu có đề nghị hoàn trả
Đối với cá nhân thuộc diện khai trực tiếp với cơ quan thuế có thể lựa chọn hoàn thuế hoặc bù trừ vào kỳ sau tại cùng cơ quan thuế
1.2.2 Kinh nghiệm quản lý thuế thu nhập cá nhân của một số nước trên thế giới
Trên thế giới có khoảng trên 180 nước áp dụng luật thuế TNCN Hà Lan có lẽ là quốc gia đầu tiên áp dụng thuế TNCN vào năm 1797, sau đó là Anh vào năm 1799, Đức vào năm 1808 và Mỹ vào năm 1864 Một số nước ở Châu Âu, Úc, New Zealand, Nhật Bản áp dụng các loại thuế thu nhập thường xuyên vào nửa cuối Thế kỷ 19 Tại Châu Á: Thái Lan bắt đầu áp dụng sắc thuế này vào năm 1939, Philippine vào năm 1945, Hàn Quốc năm 1948, Indonesia năm 1949, Trung Quốc năm 1984 Các nước khu vực Đông Âu thì
áp dụng muộn hơn như: Rumani (1990), Nga (1991), Ba Lan (1992)
Thời gian đầu khi mới ban hành Luật thuế TNCN, các Chính phủ ở một
số nước áp dụng luật thuế TNCN thường chọn đánh thuế vào những đối tượng
dễ đo lường được như đất đai, tài sản, hàng hóa hữu hình… Tuy nhiên cho đến nay sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung, thay thế những chế định quan trọng trong Luật thuế TNCN đã có nhiều biến đổi Có thể nói, khác với các loại thuế khác, thuế TNCN có diện điều chỉnh rộng với tất cả các cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; mua bán trái phiếu, cổ phiếu… Thuế TNCN điều chỉnh không chỉ cá nhân trong nước mà cả cá nhân nước ngoài nếu làm việc có thu nhập tại nước sở tại Các khoản TNCT cũng có diện rộng bao gồm tất cả các khoản thu nhập của cá nhân Tuy nhiên, để thực hiện chính sách xã hội và mục tiêu công bằng