Chuẩn và các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục theo cách định nghĩa các nước châu Âu, chuẩn được xem như là kết quả mong muốn của một chương trình đào tạo trong giáo dụcGD bao gồm ki
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục đã trở nên khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Trong số 213 nước và lãnh thổ trên thế giới tham gia Mạng lưới quốc tế các tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục thì phần lớn đều triển khai các hoạt động kiểm định chất lượng (KĐCL) nhằm mục đích quản lý, giám sát và không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục
Riêng ở nước ta, Luật Giáo dục năm 2005 đã quy định “Kiểm định chất lượng giáo dục được thực hiện định kỳ trong phạm vi cả nước và đối với từng cơ sở giáo dục Kết quả kiểm định chất lượng giáo dục được công bố công khai để xã hội biết và giám sát”
Khái niệm về kiểm định chất lượng giáo dục (KĐCLGD) nêu rõ: KĐCLGD là một giải pháp quản lý chất lượng và hiệu quả nhằm đạt các mục tiêu sau:
Đánh giá hiện trạng cơ sở giáo dục ( CSGD) đáp ứng tiêu chuẩn đề ra như thể nào tức là hiện trạng CSGD có chất lượng và hiệu quả ra sao? Đánh giá hiện trạng những điểm nào là điểm mạnh so với tiêu chuẩn đề ra của CSGD Đánh giá hiện trạng những điểm nào là điểm yếu so với tiêu chuẩn đề ra của CSGD Trên cơ sở điểm mạnh và điểm yếu phát hiện được với các tiêu chuẩn đề ra, định ra kế hoạch phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để phát triển
Kiểm định chất lượng mang lại cho cộng đồng, đặc biệt là học sinh sự đảm bảo chắc chắn các yêu cầu và tiêu chí tin cậy của CSGD để học sinh học tập và phát triển Trong kiểm định chất lượng CSGD nó bao hàm quá trình đánh giá chất lượng giáo dục Vậy đánh giá chất lượng giáo dục là gì?
Khái niệm về đánh giá chất lượng giáo dục đã nêu: “Đánh giá chất lượng giáo dục
là dùng bộ thước đo bao gồm các tiêu chí và các chỉ số ứng với các lĩnh vực trong quá trình đào tạo, nghiên cứu khoa học Bộ thước đo này có thể dùng để đánh giá đo lường các điều kiện đảm bảo chất lượng, có thể đánh giá đo lường bản thân chất lượng đào tạo của một trường Các chỉ số có thể là định lượng, cũng có thể là định tính, Dù đối tượng của việc đo lường, đánh giá chất lượng là gì và chủ thể đo lường, đánh giá là ai thì việc đầu tiên quan trọng nhất vẫn là xác định mục đích của
việc đo lường, đánh giá từ đó mới xác định được việc sử dụng phương pháp cũng như công cụ đo lường ương ứng”
Chuẩn và các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục theo cách định nghĩa các nước châu Âu, chuẩn được xem như là kết quả mong muốn của một chương trình đào tạo trong giáo dục(GD) bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ của một người tốt nghiệp kể
cả chuẩn mực của bậc học lẫn chuẩn mực của ngành được đào tạo Tiêu chí là sự cụ
Trang 2thể hóa của chuẩn mực, chỉ ra những căn cứ để đánh giá chất lượng, tiêu chí có thể đo được thông qua các chỉ số
Đối với giáo dục phổ thông Việt Nam, Bộ GD-ĐT đưa ra tiêu chuẩn đánh giá gồm:
- Tiêu chuẩn 1: Tổ chức và quản lý nhà trường;
- Tiêu chuẩn 2: cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh;
- Tiêu chuẩn 3: cơ sở vật chât và trang thiết bị dạy học;
- Tiêu chuẩn 4: Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội;
- Tiêu chuẩn 5: Hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam giai đoạn 2010-2020, thực hiện đổi mới quản lý giáo dục, trong đó KĐCL được sử dụng như một công cụ quan trọng để khuyến khích tất cả các CSGD nâng cao chất lượng giáo dục thông qua việc phấn đấu đạt các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục
Xuất phát từ những căn cứ và nhận thức đầy đủ về KĐCL, về vị trí, vai trò của người Hiệu trưởng với “sứ mệnh” về chiến lược phát triển của nhà trường trong giai đoạn hiện nay; tôi quyết định đăng ký thực hiện KĐCL để tự đánh giá và được chịu sự kiểm tra đánh giá của những cán bộ, chuyên gia giàu kinh nghiệm nhằm mang lại cho nhà trường cơ hội phân tích đánh giá để có những cải tiến về chất lượng, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy nhà trường phát triển Với những lý do trên, tôi đã chọn, thể
nghiệm, phổ biến kinh nghiệm về: “Một số giải pháp của Hiệu trưởng nhằm thực
hiện KĐCL trường tiểu học”.
2 Điểm mới của đề tài:
Kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đã được triển khai trong nhiều năm trở lại đây và đã có nhiều trường triển khai thực hiện trên phạm vi cả nước, song chưa có, hoặc ít đề tài, sáng kiến kinh nghiệm về lĩnh vực này
Điểm mới của đề tài này là một số giải pháp của hiệu trưởng nhằm thực hiện KĐCL ở một trường tiểu học vùng nông thôn với điều kiện đội ngũ và kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn
Hệ thống giải pháp có tính khả thi cao, sự thực thi, hợp tác tích cực của Hội đồng tư đánh giá, các lực lượng giáo dục khác trên lĩnh vực mới mẻ này
3 Phạm vi đề tài:
Từ thực tiễn triển khai thực hiện KĐCL trong những năm qua ở các trường trên địa bàn cả nước, của các trường trong toàn huyện nói chung và trường tôi trực tiếp thực hiện bước đầu đã thu được những thành công đáng kể trong việc tổ chức thực hiện KĐCL Những giải pháp của Hiệu trưởng nhằm thực hiện Kiểm định chất lượng
Trang 3trường tiểu học chúng tôi trên địa bàn nông thôn, điều kiện king tế, dân trí còn nhiều khó khăn
PHẦN NỘI DUNG:
I.THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC THỰC HIỆN KĐCL Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC: Trường tiểu học chúng tôi mang tên xã vùng ven quốc lộ 1A, tổng dân số trên
4000 người, trên 1008 hộ được chia làm 9 thôn Là một xã nghèo, nguồn thu nhập chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp
Xã tuy nghèo nhưng có truyền thống cách mạng và hiếu học Đảng bộ và nhân dân luôn quan tâm đến phong trào giáo dục xã nhà
Chính nhờ sự quan tâm ấy mà phong trào giáo dục xã nhà nói chung và trường tiểu học nói riêng đã phát triển mạnh mẽ Chất lượng dạy-học ngày càng được khẳng định đạt ở mức cao Hệ thống CSVC, trang thiết bị dạy học ngày một được tăng trưởng theo hướng hiện đại hóa, trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2
Nhà trường có đội ngũ CB, GV, NV khá đồng đều, có năng lực chuyên môn tốt, ý thức trách nhiệm cao Với tập thể 21 CB, GV, NV, trong đó 14 đồng chí trong biên chế, 07 GV hợp đồng theo biên chế, số lượng đủ theo quy định 100% CB, GV, NV đều đạt chuẩn và trên chuẩn, trong đó trên chuẩn có 19 đồng chí và đạt chuẩn có 03 đồng chí, đây là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng GD và thực hiện KĐCL
1 Những thuận lợi:
- Có đầy đủ các văn bản hướng dẫn của cấp trên về tổ chức thực hiện công tác KĐCLGD
- Được sự chỉ đạo và quan tâm của các cấp, đặc biệt là sự chỉ đạo sâu sát và thường xuyên của Phòng GD&ĐT; phòng Khảo thí Sở GD-ĐT thường xuyên kiểm tra
để góp ý, tư vấn và có biện pháp chỉ đạo nhà trường thực hiện kịp thời trong từng giai đoạn
- Được sự đồng thuận của toàn thể CB,GV;NV, Ban Đại diện CMHS, các tổ chức đoàn thể địa phương về công tác KĐCLGD
- Các thành viên trong hội đồng tự đánh giá nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm cao, tuân thủ làm việc đúng theo thời gian biểu đã quy định
2 Những khó khăn khi thực hiện công tác KĐCLGD.
Bên cạnh những thành quả đạt được thì hoạt động KĐCL ở trường vẫn còn những hạn chế, khó khăn:
Công tác thu thập thông tin, minh chứng qua một quá trình 5 năm học quả thực
vô cùng khó khăn cho nhà trường Bởi vì: Thời gian vừa dài vừa có quá nhiều
Trang 4loại thông tin, minh chứng và có những thông tin, minh chứng mà trước đây không
có quy định lưu trữ trong Điều lệ quy định của BGD&ĐT Hoặc là do lưu trữ của nhà trường cất giữ lưu trữ không khoa học, bị mất mát và thất lạc nhiều; một số minh chứng không đảm bảo tính pháp quy…Một số GV còn lúng túng trong cách thu thập thông tin minh chứng, vì nhiều tiêu chí có nội dung minh chứng giống nhau hoặc gần giống nhau
Thời gian để giành cho công tác KĐCLGD chưa được nhiều vì còn nhiều hoạt động trọng tâm khác
Văn bản chỉ đạo việc thực hiện KĐCLGD có sự thay đổi và không đồng nhất nội dung trong quá trình 5 năm thực hiện, nên trong quá trình thu tập thông tin của những năm trước có những minh chứng không cần sử dụng, ngược lại có những minh chứng trước đây không thu thập nhưng theo văn bản mới lại cần nên làm mất nhiều thời gian trong công tác thu thập thông tin, minh chứng
Đội ngũ hợp đồng nhiều (7/21), phó hiệu trưởng thường xuyên biến động ( mỗi năm một người); nhân viên văn phòng lại kiêm nhiệm từ nhân viên kế toán nên nghiệp vụ lưu trữ hạn chế Kỹ năng viết báo cáo, đánh giá miêu tả hiện trạng, đánh giá mặt mạnh, mặt hạn chế của một bộ phận giáo viên, nhân viên hạn chế
Tư tưởng ngại khó, ngại khổ, đặc biệt là tư tưởng xem việc KĐCL là việc làm chưa phải bắt buộc trong đội ngũ vẫn còn
Khảo sát tình hình nhà trường từ những năm trước khi thực hiện KĐCL
* Về tình hình đội ngũ:
Nhận thức về KĐCL chưa cao, tinh thần, thái độ, trách nhiệm với việc KĐCL còn chưa tích cực, còn xem nhẹ nhiệm vụ này vì còn nghĩ rằng đây là nhiệm vụ không bắt buộc phải thực hiện.( ý thức này tồn tại cả trong một bộ phận cán bộ quản lý, cốt cán của trường)
Ý thức về thu thập, lưu giữ minh chứng hạn chế, khoảng gần nửa số CB,GV, NV còn rất mơ hồ về việc lưu trữ, thu thập những minh chứng nào, thậm chí còn không tích cực trong việc thu thập minh chứng
Sắp xếp, lưu trữ hết sức tùy tiện, không khoa học
* Về phía nhà trường
Mặc dù những năm qua đã tạo được uy tính trong lãnh đạo địa phương, trong nhân dân nhưng vẫn chưa khẳng định được vị trí nhà trường đối với địa phương, cộng đồng và các cơ quan chức năng
Việc lưu trữ, sắp xếp hồ sơ nhà trường chưa khoa học nên việc khai thác, sử dụng còn gặp nhiều khó khăn, nề nếp quản lý hành chính còn những hạn chế nhất định
Trang 5Kế hoạch, mục tiêu phấn đấu của nhà trường chưa thật sự được thể chế hoá sự phát triển đầy đủ nhất về tính chịu trách nhiệm ở trường học, chưa xây dựng được Văn hoá chất lượng cho CSGD
Cơ sở vật chất, trang thiết bị: phòng học, bàn ghế, trang thiết bị cơ bản đủ để dạy học cho HS học 2 buổi/ ngày, cảnh quan môi trường sư phạm cơ bản đảm bảo cho việc dạy học
Tuy nhiên đối chiếu với yêu cầu của Chuẩn chất lượng thì còn có những thiếu nhiều hạng mục cần được bổ sung, cải tiến như sân trường, tường rào, hệ thống đường chạy thể dục, trang thiết bị ở các phòng chức năng,
Trước những thuận lợi và những hạn chế, khó khăn trên, là người quản lý đứng đầu đơn vị, tôi hết sức băn khoăn, trăn trở, làm thế nào để cải tiến được những hạn chế, những điểm yếu trên của nhà trường? Với khối lượng lớn của công việc KĐCL trong khi lực lượng đội ngũ ít về số lượng, hạn chế về năng lực liệu có thực hiện tốt công tác KĐCL được không? Tại sao các đơn vị bạn làm được?
Năm học 2013-2014, được sự nhất trí của PGD-ĐT; SGD-ĐT nhà trường đã tự nguyện đăng ký KĐCL để có cơ hội phân tích, tự đánh giá và được đánh giá nhằm đưa nhà trường phát triển một bước tiến mới
Bằng kinh nghiệm và nhiệt huyết của người quản lý, tôi đặt quyết tâm phải tổ chức thực hiện tốt KĐCL Với lí do đó tôi chuyên tâm nghiên cứu, thực hiện một số giải pháp nhằm tổ chức thực hiện kế hoạch KĐCL nhà trường
II MỘT SỐ BIỆN PHÁP CỦA HIỆU TRƯỞNG NHẰM TỔ CHỨC THỰC HIỆN KĐCL Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC.
Dựa trên nghiên cứu về bộ chuẩn chất lượng được quy định tại Thông tư 42/2012/TT-BGDĐT); Công văn số 8987/BGD-ĐT-KTKĐCLGD ngày 28/12/2012 về Hướng dẫn tự đánh giá (TĐG) và đánh giá ngoài (ĐGN) cơ sở GD phổ thông, thường xuyên; Công văn số 46/KTKĐCLGD-KĐPT ngày 15/1/2013 của BGD-ĐT-CKT về xác định yêu cầu, gợi ý tìm minh chứng theo chuẩn chất lượng giáo dục trường Tiểu học và trường Trung học và qua được trực tiếp tìm hiểu việc triển khai thực hiện KĐCLGD ở trường tiểu học, tôi mạnh dạn đề xuất một giải pháp như sau:
A Nhóm giải pháp đối với công tác tự đánh giá:
1 Nâng cao nhận thức đối với đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường về thực hiện KĐCL
KĐCL là một hoạt động hoàn toàn mới mẻ đối với nhà trường Nhận thức của lãnh đạo nhà trường và đội ngũ về kiểm định chất lượng nói chung và tự đánh giá nói riêng rất khác nhau Kinh nghiệm cho thấy ở trường nào mà Hiệu trưởng, Ban giám hiệu có nhận thức đúng, thực sự quan tâm, đầu tư công sức, chỉ đạo sát sao thì hoạt
Trang 6động TĐG của trường thực hiện đúng quy trình đạt hiệu quả.
Chẳng hạn, cùng triển khai TĐG trong một khoảng thời gian như nhau nhưng mức độ hoàn thành công việc lại khác nhau Có trường chỉ sau 4 tháng đã xây dựng được báo cáo TĐG Trong khi đó, một số trường do nhận thức chưa đúng về KĐCL,
cứ cho rằng KĐCL là một việc làm tự nguyện, không bị bắt buộc nên không mấy quan tâm vì vậy không đầu tư nên công việc TĐG mãi cũng không xong Từ bài học kinh nghiệm đó, tôi đã thực hiện một số việc làm để nâng cao nhận thức cho đội ngũ như:
Việc 1: Giúp đội ngũ xác định rõ mục đích, ý nghĩa và tác dụng của KĐCK đó
là:
-Xác định mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn, để xây dựng
kế hoạch cải tiến chất lượng giáo dục, nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục; -Quá trình thực hiện KĐCL mang lại cho nhà trường cơ hội tự phân tích đánh giá để có những cải tiến về chất lượng;
- Hoạt động KĐCLCSGD là công cụ, là biện pháp tổng thể, toàn diện để nâng cao chất lượng nhà trường, là động lực mạnh mẽ để không ngừng thúc đẩy nhà trường phát triển nhằm đáp ứng sự đổi mới của đất nước;
- Công khai với các cơ quan quản lý nhà nước và xã hội về thực trạng chất lượng của nhà trường; để cơ quan quản lý nhà nước đánh giá và công nhận nhà trường đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục
Việc 2: Đánh thức lòng tự trọng của cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà
trường bằng cách đặt ra câu hỏi cho chính mình và cho đội ngũ là tại sao các đơn vị bạn thực hiện được mà mình không làm được? Công việc KĐCL là khó khăn, mới
mẻ, đòi hỏi phải có sự quyết tâm cao, có kế hoạch thật cụ thể và khoa học, có sự đồng lòng, đồng sức của toàn thể đội ngũ Chẳng lẻ mình đành chịu thua kém vậy sao! Việc 3: Khơi gợi lại truyền thống đoàn kết, vượt khó để luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ của tập thể sư phạm nhà trường theo phương châm “ ta đã đi là đến”
Từ những việc làm trên đội ngũ bàn bạc, thảo luận và đã đi tới một quyết định tập thể là quyết tâm thực hiện KĐCL nhà trường
2 Tổ chức tập huấn quán triệt sâu rộng các văn bản đến tất cả các thành viên trong hội đồng sư phạm nhà trường
Trang 7- Sau khi đã giúp đội ngũ có được nhận thức đầy đủ về mục đích, ý nghĩa và với quyết tâm cao, tôi đã tổ chức cho đội ngũ học tập, nghiên cứu, phô tô văn bản phát mỗi người 1 bản hướng dẫn tìm nội hàm các chuẩn, đồng thời đăng tải lên trang
website của trường các văn bản về KĐCL để đội ngũ tiện lợi trong việc tự nghiên cứu thêm, từ đó chọn cho bản thân mình một công việc phù hợp với khả năng của bản thân để đăng kí nhiệm vụ công việc TĐG với HT Cùng với tự đăng ký của từng cá nhân, tôi từng bước định hướng công việc cho từng thành viên để chuẩn bị cho việc thành lập Hội đồng TĐG
- Trên cơ sở dự kiến phân công nhiệm vụ cho từng thành viên, tôi chia nhóm để
họ nghiên cứu chuyên sâu từng chuẩn, từng nhiệm vụ từ đó đội ngũ có điều kiện đi sâu nghiên cứu từng vấn đề liên quan đến nhiệm vụ mà họ sẽ thực hiện
Bằng cách làm này, đội ngũ đã tập trung và có ý thức cao trong việc nghiên cứu sâu các văn bản liên quan đến TĐG
3 Thành lập Hội đồng TĐG
Hội đồng TĐG có vai trò quyết định trong triển khai TĐG, Hội đồng có chức năng thẩm định, phê duyệt bản báo cáo TĐG Vì vậy, tham gia hội đồng TĐG phải là những cán bộ chủ chốt của nhà trường, nắm được các hoạt động của nhà trường theo các tiêu chuẩn kiểm định và có năng lực phân tích, đánh giá các hoạt động Chủ tịch hội đồng nhất thiết phải là Hiệu trưởng - Thủ trưởng đơn vị mới có đủ quyền lực để quyết định những vấn đề quan trọng liên quan đến nguồn lực và các hoạt động phục
vụ cho công tác KĐCL
Để Hội đồng TĐG hoạt động đồng bộ và có hiệu quả, tôi đã căn cứ vào năng lực của các thành viên, 5 tiêu chuẩn và từng mảng công việc trong công tác TĐG để quyết định hợp lý về số lượng, năng lực từng người và ra quyết định thành lập Hội đồng TĐG của trường
Đây là việc làm hết sức quan trọng, thể hiện sự quan tâm đầu tư của HT ở việc
đề cử nhân sự tham gia trong Hội đồng TĐG và nhóm chuyên trách Những người tham gia trong Hội đồng là cán bộ quản lý, tổ trưởng, tổ phó, trưởng các đoàn thể như chủ tịch công đoàn, bí thư chi đoàn, tổng phụ trách Đội, đại diện các khối giáo viên, Là những người có tinh thần trách nhiệm cao trước công việc, có năng lực, Hội đồng TĐG của trường gồm 13 thành viên, HT làm chủ tịch, phó HT làm phó chủ tịch; thư ký hội đồng làm thư ký
4 Xây dựng kế hoạch TĐG
Trang 8Kế hoạch TĐG là khâu hết sức quan trọng, bất kỳ một hoạt động nào nếu có được một kế hoạch hợp lý, khoa học, chặt chẽ thì khi thực hiện mới thuận lợi, có hiệu quả, lực lượng càng ít thì càng phải cần kế hoạch cụ thể, khoa học để khỏi bị chồng chéo công việc
Kế hoạch TĐG bao gồm mục đích, yêu cầu; thời gian, nguồn lực và tổ chức lực lượng tham gia tự TĐG bao gồm: Hội đồng TĐG, nhóm thư ký, các nhóm chuyên trách đòi hỏi phải tuân thủ một quy trình nghiêm ngặt, chặt chẽ để không chồng chéo công việc và lãng phí nguồn lực, tôi đã xây dựng kế hoạch TĐG theo mô hình sau:
Trang 9Từ mô hình kế hoạch cho thấy: Mối quan hệ giữa các nội dung trong kế hoạch liên quan chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau không thể tách rời Nguồn lực, thời gian, công cụ vừa là căn cứ để phân công nhiệm vụ cho Hội đồng TĐG, cho các nhóm chuyên trách vừa là phương tiện, điều kiện để cho các nhóm chuyên trách hoạt động đồng thời cũng chính là yêu cầu nghiêm ngặt cho các nhóm chuyên trách, cho Hội đồng TĐG phải tuân thủ
Mục đích, yêu cầu tự đánh giá phải đảm bảo yêu cầu chung của KĐCL, phục
vụ cho mục tiêu phát triển nhà trường; phạm vi TĐG là toàn bộ hoạt động của nhà trường trong 5 năm học liền trước
Hội đồng tự đánh giá được phân công nhiệm vụ một cách cụ thể, rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm và được chia vào các nhóm chuyên trách
Nhóm thư kí gồm 3 thành viên được lựa chọn không chỉ là người có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình mà còn phải có năng lực tổ chức và năng lực soạn thảo văn bản Nhóm thư ký có vai trò quan trọng trong thu thập và chuẩn bị các tài liệu cho các giai đoạn tự đánh giá: thu thập minh chứng, thẩm định báo cáo tiêu chí, tiêu chuẩn của các nhóm, hoàn thiện báo cáo TĐG của trường
Nhóm chuyên trách được chia theo 5 tiêu chuẩn, mỗi chuẩn một nhóm, mỗi nhóm có một nhóm trưởng, một thư ký Nhóm trưởng được lựa chọn khá kỹ, là những người vừa có năng lực tổ chức, có khả năng phân tích, tổng hợp, miêu tả, khái quát vấn đề lại vừa có tầm tham mưu để đề xuất cải tiến chất lượng cho từng tiêu chí lại là người phải có tinh thần trách nhiệm cao trước công việc Sự thành công của công việc TĐG phụ thuộc khá nhiều vào tiến độ và hiệu quả làm việc của các nhóm
Về nguồn lực: xác định các nguồn nhân lực, CSVC và tài chính cần huy động bao gồm:
-Nguồn nhân lực : Đội ngũ CB, GV, NV trong nhà trường là lực lượng chính, lực lượng phụ huynh học sinh, các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường để phối hợp
-CSVC và tài chính cần huy động: Ngân sách của nhà nước được trích trong quỹ hoạt động của nhà trường
- Chỉ rõ từng hoạt động đánh giá chất lượng GD của trường và thời gian cần được cung cấp
Công cụ tự đánh giá: sử dụng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ sở GD phổ thông do Bộ GD&ĐT ban hành cụ thể là:Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng GD trường
tiểu học (Thông tư số 42/2012/TT-BGDĐT, ngày 23 tháng 11 năm 2012 của Bộ
Trang 10trưởng bộ GD&ĐT) Thông tin minh chứng cần thu thập cho 5 tiêu chuẩn gồm 28 tiêu
chí, 84 chỉ số trong 5 năm học
Lập thời gian biểu thực hiện TĐG trong đó phải quy định cụ thể thời gian của từng công việc TĐG theo từng tuần, tháng Đây là khâu quan trọng, nếu không lập kế hoạch thời gian biểu cụ thể thì khó có thể hoàn thành công việc đúng tiến độ
Với giải pháp này đã giúp cho công việc TĐG của trường hoàn thành đúng tiến
độ, tránh được sự chồng chéo, trùng lặp, tiết kiệm được nhiều thời gian, nguồn lực, chất lượng hồ sơ TĐG đảm bảo tốt
5 Xây dựng cơ sở dữ liệu về KĐCLGD
Căn cứ vào 5 tiêu chuẩn gồm 28 tiêu chí, 84 chỉ số để lập bảng xác định nội hàm, tìm minh chứng để đánh giá nhà trường
Thành lập nhóm cung cấp dữ liệu, thông tin, minh chứng gồm các thành viên:
HT, PHT, chủ tịch công đoàn, tổng phụ trách đội, đoàn thanh niên, bí thư chi bộ, nhân viên văn phòng, nhân viên kế toán, nhân viên thư viện-thiết bị Nhóm này cung cấp các dữ liệu, minh chứng cho các hoạt động của nhà trường vì vậy phải có trách nhiệm:
Cung cấp cơ sở dữ liệu từ thông tin chung của nhà trường theo nội hàm và được phân công phụ trách cung cấp dữ liệu theo mãng hoạt động của từng thành viên phụ trách phần hành, ví dụ:
Đồng chí phụ trách kế toán cung cấp dữ liệu về cơ sở vật chất, tài chính Đồng chí phụ trách thư viện, thiết bị cung cấp dữ liệu, minh chứng về mãng hoạt động thư viện, thiết bị,
Tất cả các cơ sở dữ liệu trên được xây dựng và thu thập các thông tin minh chứng qua 5 năm học (từ năm học 2008 – 2009 cho đến năm học 2012 -2013)
Do quá trình lưu trữ trong thời gian dài, một số cơ sở dữ liệu, minh chứng thất lạc hoặc không phù hợp với nội hàm nên cần có sự phục hồi Việc phục hồi minh chứng là một vấn đề khá phức tạp vì vậy cần phải hạn chế phục hồi mà nên tìm dữ liệu khác để thay thế, minh chứng nào không thể thay thế được mới phải phục hồi
Để giúp cho các nhóm chuyên trách thu thập minh chứng theo chuẩn phụ trách một cách thuận lợi, tôi đã đưa ra một nội quy cho nhóm cung cấp dữ liệu và mọi thành viên thực hiện bình đẳng, dân chủ, không được nễ nang ( dù cho người đó là HT, PHT ) khi các nhóm cần minh chứng nào phải cung cấp kịp thời minh chứng đó và ghi lại nhật ký rõ ràng minh chứng này đã cung cấp cho nhóm nào để dễ dẫn đường linh khi viết báo cáo TĐG