1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học luyện từ và câu lớp 4” GV hoàng thùy linh

18 324 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 506,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một giáo viên trẻ được phân công đảm nhiệm công tác giảng dạy lớp 4, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay hưởng ứng việc đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học theo đúng tinh thần của thông

Trang 1

A MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN SÁNG KIẾN

Tiếng Việt là môn học công cụ, môn học giữ vị trí trung tâm ở Tiểu học Môn Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học nhằm hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, đọc, nói, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Trong bộ môn Tiếng Việt thì phân môn Luyện từ và câu có vị trí vô cùng quan trọng Dạy Luyện từ và câu nhằm

mở rộng, hệ thống hóa làm phong phú vốn từ của học sinh, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và

sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình, đồng thời giúp cho học sinh có khả năng hiểu các câu nói của người khác Luyện từ và câu có vai trò hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết, phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của các em Việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng phân môn Luyện từ và câu giúp các em làm giàu vốn từ, vốn tri thức về tâm hồn Từ đó, giúp các em tích lũy cho mình những kiến thức cần thiết, tạo điều kiện cho các em học tốt các phân môn khác Đặc biệt, nó còn khơi dậy trong tiềm thức học sinh yêu quý sự phong phú của tiếng Việt và ý thức giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Là một giáo viên trẻ được phân công đảm nhiệm công tác giảng dạy lớp 4, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay hưởng ứng việc đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học theo đúng tinh thần của thông tư 30, xác định đúng phương pháp giảng dạy phân môn Luyện từ và câu, người giáo viên sẽ tìm ra những giải pháp tối ưu để nâng cao chất lượng giáo dục Từ những lí do trên, tôi mạnh dạn đi sâu tìm hiểu “

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học Luyện từ và câu lớp 4” với

mong muốn góp phần giáo dục toàn diện nhân cách cho học sinh, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị mà đơn vị, ngành giao cho

II ĐIỂM MỚI VÀ PHẠM VI CỦA SÁNG KIẾN

1 Điểm mới của sáng kiến:

Để làm tốt công tác giảng dạy phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học thì nhiều giáo viên đã tìm hiểu và đưa ra các giải pháp thực hiện nhưng bản thân tôi tìm hiểu vấn đề này nhằm nâng cao chất lượng dạy phân môn Luyện từ câu theo đúng tinh thần của thông tư 30/BGD- ĐT đã ban hành

2 Phạm vi áp dụng:

Sáng kiến này nghiên cứu để áp dụng vào thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4 ở trường Tiểu học

Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 4B

Trang 2

B NỘI DUNG

I THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC LUYỆN TỪ VÀ CÂU

1 Về giáo viên:

Do nhận thức rõ tầm quan trọng của phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nên phong trào đổi mới phương pháp dạy học được phát động khá rộng rãi trong các trường Tiểu học Việc vận dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh đã góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Nhà trường luôn tạo điều kiện cho công tác giảng dạy, giáo viên luôn được tiếp cận phương pháp dạy học mới trong các đợt sinh hoạt chuyên môn Lớp học được trang bị đầy đủ về cơ sở vật chất Hầu hết giáo viên là người có tay nghề, có đầy đủ sách giáo khoa, sách hướng dẫn, tài liệu chuẩn kiến thức và được học về cách sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại như: máy tính, máy chiếu,… Đội ngũ giáo viên luôn yêu nghề, có năng lực sư phạm Tuy nhiên, việc dạy phân môn Luyện từ và câu không ít giáo viên vẫn chưa thoát khỏi quỹ đạo của phương pháp dạy học truyền thống Một bộ phận giáo viên chưa hiểu hết ý đồ của sách giáo khoa nên thiết kế các hoạt động chưa phù hợp hoặc chỉ biết giải quyết các bài tập ở sách giáo khoa mà chưa hiểu rằng thông qua các bài tập để hình thành kiến thức cho học sinh

2 Về học sinh:

Hầu hết, các em được trang bị đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập Cùng với sự tận tình chỉ dẫn của giáo viên, các em thích tìm hiểu, khám phá kiến thức về tiếng

mẹ đẻ Cơ bản, đã quen với cách học từ ở lớp 1, 2, 3 nên các em đã biết cách lĩnh hội và luyện tập thực hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên Tuy vậy, vẫn còn một

bộ phận học sinh học Luyện từ và câu chỉ dừng lại việc giải quyết các bài tập ở sách giáo khoa, phần vận dụng trong nói, viết, trong thực tiễn còn hạn chế Các em chưa hiểu nghĩa của từ, cấu tạo từ, vốn từ của các em còn nghèo, không diễn đạt được một cách trôi chảy ý kiến của mình

Với năm học này, bản thân tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 4B, đây là lớp "lỏi" của trường Sĩ số lớp là 19 em Theo sự phản ánh của giáo viên cũ thì trình độ tiếp thu của học sinh không đồng đều, vẫn còn một số học sinh tiếp thu chậm; một bộ phận học sinh rụt rè, giao tiếp chậm, kỹ năng diễn đạt yếu

Qua khảo sát chất lượng đầu năm để nắm bắt thông tin, với đề ra thiết kế theo dạng nắm kiến thức và vận dụng, kết quả như sau :

Tổng số

HS

Điểm 10 - 9 Điểm 8 - 7 Điểm 6 - 5 Điểm dưới 5

T số T L % T số T L % T số T.L% T số T L %

Trang 3

Sau khi kiểm tra khảo sát, tôi nhận thấy bài làm của học sinh còn mắc nhiều lỗi, việc nắm từ của các em chưa chắc, phần vận dụng viết một đoạn văn còn quá hạn chế

3 Nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém

Phải nói rằng phân môn Luyện từ và câu là môn học khô khan nếu chúng ta không biết tổ chức, thiết kế các hoạt động thích hợp để tạo hứng thú học tập cho học sinh

Một bộ phận giáo viên nhận thức còn hạn chế, chưa hiểu hết được ý đồ của sách giáo khoa nên chỉ giải quyết các bài tập một cách đơn thuần, không giúp học sinh hiểu sâu vấn đề Cũng không ít giáo viên dạy Luyện từ và câu mà không hướng các em ứng dụng nó vào việc nói, viết, giao tiếp hằng ngày

Mặc dù học sinh có đủ sách vở học tập nhưng nhiều em không chịu học mà phụ thuộc hoàn toàn vào sách có đáp án được in, bán sẵn ngoài thị trường

Bên cạnh đó, tư duy ở lứa tuổi các em chưa bền vững, khả năng tập trung chưa cao, hay nóng vội, khả năng ngôn ngữ còn thấp cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng môn học

Một bộ phận học sinh do bị hỏng kiến thức từ lớp dưới, khả năng tiếp thu bài hạn chế, nên không thể hoàn thành hệ thống bài tập trên lớp

Địa phương là một vùng thuần nông, có thu nhập thấp nên bố mẹ các em phải lo chạy vạy cuộc sống Chính vì thế, phụ huynh ít thời gian kèm cặp, tiếp cận việc học của con, chưa điều chỉnh được hành vi, ngôn ngữ cho con em kịp thời

Từ thực tế trên, tôi chọn và tìm ra các giải pháp thực hiện

II CÁC BIỆN PHÁP

1 Biện pháp 1: Tuyên truyền nhận thức

Từ tháng 8 năm 2014, Bộ GD- ĐT đã ban hành thông tư Số 30/2004/TT-BGDĐT về Quy định đánh giá học sinh Tiểu học Khi thông tư này ra đời đã gây tranh cãi cho mọi người, có nhiều ý kiến trái chiều kể cả các nhà giáo dục nhưng nhiều nhất vẫn là phụ huynh học sinh Vậy, làm thế nào để thông tư đi vào thực tế

là một vấn đề không nhỏ đối với giáo viên Chúng ta phải thừa nhận rằng, thông tư này khi mới tiếp cận thì ai cũng thấy mơ hồ, mang tính lý thuyết và cảm nhận một khối công việc đồ sộ cho giáo viên nhưng khi nghiên cứu kỹ chúng ta mới cảm nhận được tính ưu việt của nó Có thể kết luận rằng, thông tư 30 này mới phù hợp với mục tiêu giáo dục Tiểu học trong giai đoạn phát triển xã hội hiện nay Xác định được điều đó, bản thân tôi đã làm tốt công tác tuyên truyền, giải thích cho cha mẹ học sinh về Quy định đánh giá học sinh Tiểu học, hướng dẫn cha mẹ học sinh cách

Trang 4

theo dõi, hỗ trợ học sinh học tập, tham gia đánh giá học sinh trong các mặt nói chung, phân môn Luyện từ và câu nói riêng Đặc biệt, giúp cho phụ huynh thấy được tính ưu việt của thông tư 30 và cái đích cuối cùng của quá trình đánh giá nhận xét Đến nay, tất cả phụ huynh đã hiểu và cộng tác rất tốt trong công việc này Bên cạnh đó, tôi cũng đã giúp học sinh nắm thông tư 30 để mỗi em biết tự soi mình mà hoàn thiện bản thân đồng thời cũng tham gia đánh giá nhận xét bạn để giúp bạn cùng tiến bộ về mọi mặt Việc làm này sẽ thuận lợi cho giáo viên trong công tác giáo dục nói chung, từng phân môn giảng dạy nói riêng, trong đó có phân môn Luyện từ và câu - môn học làm giàu vốn từ cho học sinh và phát triển năng lực giao tiếp

2 Biện pháp 2: Nắm kiến thức, kỹ năng, chương trình, phương pháp dạy học

Đây là một nội dung hết sức quan trọng đối với giáo viên giảng dạy Nếu không nắm chắc nội dung chương trình bộ môn khối lớp mình đang dạy thì dẫn đến hai hiện tượng trong quá trình dạy học làm cho các em nhàm chán : Một là dạy lại kiến thức lớp dưới đã học, hai là dạy sa vào kiến thức lớp trên Chính vì thế, sau khi nhận lớp, bản thân tôi đã hệ thống lại những vấn đề cốt lõi làm cẩm nang cho quá trình giảng dạy của mình

2.1 Nội dung chương trình

Mỗi tuần, phân môn luyện từ và câu ở lớp 4 có 2 tiết Học kì I 32 tiết gồm 5 chủ điểm Học kì II 30 tiết gồm 5 chủ điểm Mỗi chủ điểm học sinh được học một chủ đề tương ứng với từng chủ điểm đó

2.2 Yêu cầu kiến thức

a Mở rộng và hệ thống hoá vốn từ : Môn Tiếng Việt có 10 đơn vị học thì phân

môn Luyện từ và câu mở rộng và hệ thống hoá 10 chủ điểm đó

b Trang bị các kiến thức giảng dạy về từ và câu.

* Từ - cấu tạo tiếng : - Cấu tạo từ : Từ đơn, từ ghép và từ láy.

- Từ loại : Danh từ, Động từ, Tính từ

* Các kiểu câu: Câu hỏi, Câu kể, Câu cầu khiến, Câu cảm

* Các dấu câu: Dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu hai chấm, dấu ngoặc kép,

dấu ngoặc đơn

2.3 Yêu cầu kĩ năng về từ và câu:

a Từ:

- Nhận biết được cấu tạo của tiếng

- Giải các câu đố tiếng liên quan đến cấu tạo của tiếng

- Nhận biết từ loại

- Đặt câu với từ đã cho

Trang 5

- Xác định tình huống sử dụng Thành ngữ - Tục ngữ.

b Câu:

- Nhận biết các kiểu câu

- Đặt câu theo mẫu

- Nhận biết các kiểu trạng ngữ

- Thêm trạng ngữ cho câu

- Tác dụng của dấu câu

- Điền dấu câu thích hợp

c Dạy tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp.

Thông qua nội dung dạy Luyện từ và câu ở lớp 4, bồi dưỡng cho học sinh ý thức và thói quen dùng từ đúng, nói viết thành câu và ý thức sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp phù hợp với các chuẩn mực văn hoá

2.4 Vận dụng một số phương pháp dạy học vào dạy học Luyện từ và câu lớp 4

+ Phương pháp hoạt động nhóm

Tùy mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới

Giáo viên khi lựa chọn phương pháp này cần phải kiểm soát hết tất cả các học sinh trong lớp học Khi giao nhiệm vụ cần cho HS cả lớp nắm, nhất là chú trọng đến nhóm trưởng, để nhóm trưởng thay mặt GV hướng dẫn đến các bạn trong nhóm

VD: Khi dạy bài Mở rộng vốn từ: Trung thực - Tự trọng ( Tuần 6)

BT2 Chọn từ ứng với mỗi nghĩa sau:

- Một lòng một dạ gắn bó với lí tưởng, tổ chức - trung thành

hay với người nào đó

- Trước sau như một, không gì lay chuyển nổi - trung hậu

- Một lòng một dạ vì việc nghĩa - trung kiên

Trang 6

- Ăn ở nhân hậu, thành thật, trước sau như một - trung thực

Giáo viên giao việc cho các nhóm, các cá nhân trong nhóm đưa ra ý kiến của bản thân, dùng lí lẽ của mình để phân tích nghĩa, sau đó thống nhất để đưa ra ý kiến chung của cả nhóm và trình bày trước lớp Đại diện của các nhóm khác đưa ra ý kiến, bổ sung, sửa chữa hay đồng tình với nhóm bạn Phương pháp này giúp các em phát triển năng lực giao tiếp, hợp tác một cách hiệu quả

+ Phương pháp vấn đáp

Phương pháp gợi mở vấn đáp nhằm tăng cường kĩ năng suy nghĩ, tư duy sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức và xác định mức độ hiểu bài cũng như kinh nghiệm đã có của học sinh Giúp các em hình thành khả năng tự lực tìm tòi kiến thức Qua đó học sinh ghi nhớ tốt hơn, sâu sắc hơn

Yêu cầu khi sử dụng giáo viên phải lựa chọn những câu hỏi theo đúng nội dung bài học, câu hỏi đưa ra phải rõ ràng, dễ dàng phù hợp với mọi đối tượng học sinh trong cùng một lớp Giáo viên dành thời gian cho học sinh suy nghĩ sau đó cho học sinh trả lời, các em khác nhận xét bổ sung Phương pháp này thường dùng trong kiểu bài dạy Lí thuyết

VD: Khi dạy bài Dấu ngoặc kép (tuần 8) mục đích của bài là học sinh phải

nắm được Tác dụng của dấu ngoặc kép, cách dùng dấu ngoặc kép Biết vận dụng những hiểu biết đã học để dùng dấu ngoặc kép trong khi viết.

Giáo viên đưa ra ví dụ:

Bác tự cho mình là “người lính vâng lệnh quốc dân ra mặt trận”, là “đầy tớ trung thành của nhân dân” Ở Bác, lòng yêu mến nhân dân đã trở thành một sự say mê mãnh liệt Bác nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.”

+H: Những từ ngữ và câu nào được đặt trong dấu ngoặc kép?

- TL: người lính vâng lệnh của quốc dân ra mặt trận

Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.”

+ H: Những từ ngữ và câu đó là lời của ai?

- TL: là lời của Bác Hồ

+ H : Những dấu ngoặc kép dùng trong đoạn văn trên có tác dụng gì?

- TL: dấu ngoặc kép dùng để dẫn lời nói trực tiếp của Bác Hồ

Trang 7

+ H: Vậy dấu ngoặc kép dùng để làm gì? (Dấu ngoặc kép thường dùng để dẫn lời nói trực tiếp của nhân vật hoặc của người nào đó)

Như vậy, qua 4 câu hỏi đã gợi mở cho các em nắm được tác dụng của dấu ngoặc kép

Phương pháp gợi mở vấn đáp được sử dụng trong tất cả tiết học và phát huy được tính chủ động sáng tạo của học sinh

+ Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề.

Đây là phương pháp mà giáo viên đưa ra những tình huống gợi vấn đề điều khiển học sinh phát hiện vần đề, tự giác hoạt động, trực tiếp chủ động và sáng tạo

để giải quyết vấn đề, thông qua đó mà kiến tạo tri thức, rèn luyện kĩ năng Phương pháp này giúp học sinh tăng thêm sự hiểu biết và khả năng áp dụng lí thuyết vào giải quyết vấn đề của thực tiễn Nâng cao kĩ năng phân tích và khái quát từ tình huống cụ thể và khả năng độc lập cũng như khả năng hợp tác trong quá trình giải quyết vấn đề

Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần chuẩn bị trước câu hỏi sao cho phù hợp với mục đích, yêu cầu và nội dung của bài đảm bảo tính sư phạm, đáp ứng với các đối tượng học sinh, giáo viên cần chuẩn bị tốt kiến thức để giải quyết vấn

đề mà học sinh đưa ra

VD: Khi dạy bài mở rộng vốn từ “Đồ chơi - trò chơi” (tuần 16) Giáo viên

đưa ra một số thành ngữ - tục ngữ sau: “Chơi với lửa”, “Ở chọn nơi, chơi chọn bạn”, “Chơi diều đứt dây”, “Chơi dao có ngày đứt tay”, hãy chọn câu thành ngữ,

tục ngữ thích hợp để khuyên bạn:

a- Nếu bạn em chơi với một số bạn hư nên học kém hẳn đi

b- Nếu bạn em thích trèo lên một chỗ cao chênh vênh, rất nguy hiểm để tỏ mình gan dạ

- Với tình huống (a) các em có thể chọn thành ngữ tục ngữ: “Ở chọn nơi, chơi chọn bạn” Nhưng với tình huống (b) các em có thể chọn 1 hoặc 2 thành ngữ tục ngữ như:“Chơi với lửa” hoặc “Chơi dao có ngày đứt tay” đều được.

Với phương pháp này người giáo viên cần hiểu rằng trong từng tình huống cụ thể

sẽ có nhiều cách giải quyết hay, thích hợp để học sinh có thể ứng dụng vào trong học tập, trong cuộc sống

+ Phương pháp trực quan.

Phương pháp trực quan là phương pháp dạy học trong đó giáo viên có sử dụng các hình ảnh trực quan nhằm giúp học sinh có biểu tượng đúng về sự vật và thu nhận được kiến thức, rèn luyện kĩ năng theo nội dung bài học một cách thuận lợi Phương pháp này còn thu hút sự chú ý và giúp học sinh hiểu bài, ghi nhớ bài tốt

Trang 8

hơn, học sinh có thể khái quát nội dung bài và phát hiện mối liên hệ của các đơn vị kiến thức

VD: Khi dạy bài “Đồ chơi – Trò chơi” (tuần 15) giáo viên đưa ra 6 bức tranh

trong SGK Tiếng Việt 4 tập 1 (trang 147) để tìm ra các từ ngữ chỉ tên đồ chơi – trò chơi mà các em được mở rộng trong bài học

Bức tranh 1: HS tìm từ chỉ đồ chơi: Diều – Trò chơi: thả diều.

Bức tranh 2: đồ chơi: đèn ông sao, trống cơm, đầu sư tử – trò chơi: múa lân, rước đèn, đánh trống.

Bức tranh 3: đồ chơi: dây, nồi xoong, búp bê – trò chơi: nhảy dây, nấu ăn, cho bé ăn bột…

Bức tranh 4: đồ chơi: máy tính, bộ xếp hình – trò chơi: điện tử, xếp hình Bức tranh 5: đồ chơi: dây, súng ná - trò chơi: kéo co, bắn súng.

Bức tranh 6: đồ chơi: khăn – trò chơi: bịt mắt bắt dê…

Sử dụng phương pháp trực quan giảng giải khi dạy phân môn Luyện từ và câu là rất quan trọng vì sẽ khai thác được triệt để các kênh hình của bài học, nhờ đó

mà giáo viên giúp học sinh nắm bài một cách tốt hơn

+ Phương pháp luyện theo mẫu.

Là phương pháp dạy học mà giáo viên đưa ra các mẫu cụ thể qua đó hướng dẫn học sinh tìm hiểu các đặc điểm của mẫu, cấu tạo mẫu và thực hiện theo mẫu

VD: Khi dạy bài Động từ (Tuần 9), khi kể tên các hoạt động ở nhà hoặc ở

trường rồi gạch dưới động từ trong các cụm từ chỉ hoạt động đó, giáo viên đưa ra mẫu: M: quét nhà, làm bài

Từ đó, giúp học sinh có điểm tựa để làm bài đặc biệt là với học sinh trung bình và yếu còn đối với học sinh khá giỏi không bắt buộc phải theo mẫu để học sinh có thể phát huy được tính tích cực chủ động

+ Phương pháp phân tích.

Đây là phương pháp dạy học trong đó học sinh dưới sự hướng dẫn tổ chức của giáo viên tiến hành tìm hiểu các dấu hiệu theo định hướng bài học từ đó rút ra bài học Giúp học sinh tìm tòi huy động vốn kiến thức cũ của mình ra kiến thức mới Tạo điều kiện cho học sinh tự phát hiện kiến thức (về nội dung và hình thức thể hiện)

VD: Khi dạy bài “Câu hỏi và dấu chấm hỏi”, tiến hành như sau:

Bước 1: Cho học sinh tìm ra các câu hỏi trong bài tập đọc “Người tìm đường tới các vì sao” Các em sẽ tìm được 2 câu:

1 Vì sao quả bóng không có cánh mà vẫn bay được?

2 Cậu làm thế nào mà mua được nhiều sách và dụng cụ thí nghiệm như thế?

Trang 9

Bước 2: Phân tích:

H: Câu hỏi (1) là của ai? (Xi-ôn-cốp – xki hỏi mình)

H: Câu hỏi (2) là của ai? (Bạn của Xi-ôn-cốp-xki hỏi)

H: Dấu hiệu nào giúp em nhận ra đó là câu hỏi? (Cuối câu có dấu chấm hỏi)

Qua phân tích của giáo viên, học sinh rút ra được bài học:

1 Câu hỏi (còn gọi là câu nghi vấn) dùng để hỏi về những điều chưa biết

VD: - Có phải trái đất quay xung quanh mặt trời không?

- Bạn Hoa là học sinh giỏi à?

2 Phần lớn câu hỏi là để hỏi người khác nhưng cũng có những câu để tự hỏi mình

VD: - Chiếc bút này mình đã mua ở đâu nhỉ?

- Vì sao Trái Đất lại quay nhỉ?

3 Câu hỏi thường có các từ nghi vấn (có phải, không, phải không, à,…) Khi viết

cuối câu hỏi có dấu chấm hỏi (?)

VD: - Bạn đã học bài rồi à?

- Chú đất trở thành chú Đất Nung phải không?

Trên đây là một số phương pháp dạy học mà tôi đã áp dụng trong giảng dạy phân môn Luyện từ và câu, tuy nhiên tôi cũng nhận thấy rằng không có một phương pháp dạy học nào là tối ưu Mỗi phương pháp thường có mặt mạnh - mặt yếu của nó Mặt mạnh của phương pháp này sẽ hỗ trợ cho mặt yếu của phương pháp kia Cho nên để tránh nhàm chán cần phối hợp nhiều phương pháp giảng dạy phù hợp với nhiều đối tượng học sinh, có như vậy tiết học mới đạt kết quả tốt

Do đó để có kết quả cao trong tiết dạy Luyện từ và câu giáo viên cần lập kế hoạch bài học chu đáo, cẩn thận chuẩn bị về mọi mặt cho tiết dạy Việc làm này phải diễn ra trước khi thi công bài dạy trên lớp học

3 Biện pháp 3 Làm tốt khâu lập kế hoạch bài học và lên lớp

+ Lập kế hoạch bài học

Giáo viên cần nắm vững nội dung cơ bản của từng bài học trong SGK và những hướng dẫn cụ thể về mục tiêu cần đạt Tuỳ theo đặc điểm của từng bài học

mà xây dựng kế hoạch bài giảng cho phù hợp Song, cho dù thế nào cũng cần có đầy đủ các hoạt động và tổ chức các hoạt động đó một cách phong phú, phối hợp linh hoạt các phương pháp và hình thức cho phù hợp với nội dung của bài dạy và chủ điểm của bài đó

Có thể sử dụng linh hoạt nhiều hình thức dạy học trong cùng một tiết dạy

Đó là các hình thức tổ chức: làm việc cá nhân, trao đổi nhóm, đàm thoại gây hứng thú cho học sinh tránh nhàm chán đơn điệu

VD: Khi dạy bài Mở rộng vốn từ Ước mơ (tuần 9)

Trang 10

BT 2: Học sinh thảo luận nhóm đôi

Tìm thêm những từ cùng nghĩa với “ước mơ”

- HS 1 tìm từ bắt đầu từ tiếng “ước”: ước ao, …

- HS 2 tìm từ bắt đầu từ tiếng ‘‘mơ’’: mơ mộng,

- HS 2 tìm từ bắt đầu từ tiếng “ước”: ước mong,

- HS 1 tìm từ bắt đầu từ tiếng ‘‘mơ’’: mơ ước,

BT 3 : Nêu yêu cầu viết thêm những từ : đẹp đẽ, viển vông, cao cả, lớn, nho nhỏ, kì quặc, dại dột, chính đáng vào sau từ ước mơ thể hiện sự đánh giá :

+ HS thảo luận nhóm 4

- Đánh giá cao: ước mơ đẹp, ước mơ chính đáng, ước mơ cao cả, ước mơ lớn, ước

mơ đẹp đẽ.

- Đánh giá không cao: ước mơ bình thường, ước mơ nho nhỏ.

- Đánh giá thấp: ước mơ kì quặc, ước mơ dại dột, ước mơ viển vông, ước mơ tầm thường.

BT 4 : Nêu VD về 1 loại ước mơ nói trên.

Bài này cho học sinh làm việc cá nhân

VD:

+ Ước mơ được đánh giá cao: Đó là những ước mơ vươn lên làm những việc có ích cho mọi người như:

- Ước mơ học giỏi để trở thành bác sĩ/ kĩ sư…

- Ước mơ chinh phục vũ trụ…

+ Ước mơ được đánh giá không cao: Đó là những ước mơ giản dị, thiết thực, có thể thực hiện được không cần nỗ lực lớn:

- Ước mơ có truyện đọc/ có xe đạp/ có một đồ chơi…

+ Ước mơ bị đánh giá thấp: Đó là những ước mơ phi lí, không thể thực hiện được hoặc là những ước mơ ích kỉ, có lợi cho bản thân nhưng gây hại cho người khác:

- Ước mơ được xem ti vi suốt ngày/ ước không phải học mà vẫn được điểm cao…

- Ước mơ có ai đó làm bài tập cho mình

Vận dụng linh hoạt các hình thức dạy học sẽ làm cho lớp học sôi nổi, gây hứng thú cho học sinh sẽ giúp học sinh tiếp thu bài học một cách tốt hơn, nắm vững nội dung của bài học Bên cạnh đó, giáo viên cần phải có dự kiến về các câu trả lời của học sinh và các tình huống sư phạm có thể xảy ra trong mỗi hoạt động từ đó có biện pháp giải quyết, điều chỉnh kịp thời Việc tổ chức các hoạt động học tập có tác dụng rất lớn đến việc giảng dạy phân môn Luyện từ và câu, giúp học sinh biết quý trọng và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt từ đó hình thành cho các em nhân

Ngày đăng: 02/11/2017, 02:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w