1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quan hệ kinh tế giữa trung quốc đại lục và đài loan từ cuối thập kỷ 1980 đến nay và tác động đến việt nam

256 189 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 256
Dung lượng 5,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, những động thái thay đổi bên trong Trung Quốc đại lục và bên trong vùng lãnh thổ Đài Loan cũng như các biến động lớn trong quan hệ kinh tế bất đối xứng giữa hai bờ Eo biển Đài Lo

Trang 1

PHÍ HỒNG MINH

QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA TRUNG QUỐC ĐẠI LỤC

VÀ ĐÀI LOAN TỪ CUỐI THẬP KỶ 1980 ĐẾN NAY

VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

\

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

PHÍ HỒNG MINH

QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA TRUNG QUỐC ĐẠI LỤC

VÀ ĐÀI LOAN TỪ CUỐI THẬP KỶ 1980 ĐẾN NAY

VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆT NAM

Chuyên ngành : Kinh tế quốc tế

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 TS TRẦN QUANG MINH

2 TS ĐẶNG XUÂN THANH

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận án

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt v

Danh mục các Bảng ix

Danh mục các Hình x

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 7

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 17

1.3 Đánh giá chung và những vấn đề Luận án cần tập trung giải quyết 23

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUAN HỆ KINH TẾ

TRUNG QUỐC-ĐÀI LOAN VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỀN KINH TẾ THỨ BA 26

2.1 Cơ sở lý luận 26

2.1.1 Tính bất đối xứng và tương tác kinh tế chính trị giữa các chủ thể nhà nước 27

2.1.2 Nền tảng lý luận về hoạt động sản xuất-thương mại xuyên quốc gia 35

2.1.3 Thuyết hội nhập kinh tế và hội nhập giữa các nền kinh tế bất đối xứng 39

2.1.4 Đặc trưng cơ bản của cấu trúc sản xuất hiện đại 40

2.1.5 Các hình thức và đánh giá quan hệ thương mại đầu tư quốc tế 45

2.1.6 Khả năng tác động của mối quan hệ kinh tế đến chủ thể kinh tế thứ ba 47

2.2 Cơ sở thực tiễn 50

2.2.1 Bối cảnh quốc tế 50

2.2.2 Lịch sử Vấn đề Đài Loan và quan điểm các bên liên quan 53

2.2.3 Quan hệ chính trị Hai bờ và những vấn đề chính trị nội bộ 61

2.2.4 Sự bổ sung lẫn nhau về kinh tế giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan 62

2.2.5 Sự gần gũi về địa lý, văn hóa giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan 64

Chương 3: THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA TRUNG QUỐC ĐẠI LỤC

VÀ ĐÀI LOAN TỪ CUỐI THẬP KỶ 1980 ĐẾN NAY 66

3.1 Chính sách của Trung Quốc và Đài Loan đối với quan hệ kinh tế Hai bờ 66

3.1.1 Chính sách của Trung Quốc 66

3.1.2 Chính sách của vùng lãnh thổ Đài Loan 68

3.1.3 Khuôn khổ thể chế cho quan hệ kinh tế Hai bờ 71

Trang 5

3.2 Động thái quan hệ kinh tế giữa hai bờ Eo biển Đài Loan 74

3.2.1 Bức tranh chung về quan hệ kinh tế Hai bờ 75

3.2.2 Quan hệ kinh tế Hai bờ thời kỳ manh nha trước năm 1992 77

3.2.3 Quan hệ kinh tế Hai bờ giai đoạn 1992-2001 78

3.2.4 Quan hệ kinh tế Hai bờ giai đoạn 2002-2011 81

3.2.5 Quan hệ kinh tế Hai bờ giai đoạn 2012-2015 86

3.3 Nhận xét chung về quan hệ kinh tế Hai bờ Eo biển Đài Loan 88

3.4 Triển vọng quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan 96

3.4.1 Động thái mới trong tam giác quan hệ Trung - Mỹ - Đài 96

3.4.2 Đánh giá triển vọng quan hệ kinh tế Hai bờ 99

Chương 4: TÁC ĐỘNG CỦA QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA TRUNG QUỐC ĐẠI LỤC

VÀ ĐÀI LOAN TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 108

4.1 Tổng quan quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với Trung Quốc và Đài Loan 108

4.1.1 Chủ trương, đường lối đối ngoại của Việt Nam 108

4.1.2 Quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc 110

4.1.3 Quan hệ kinh tế Việt Nam - Đài Loan 117

4.2 Tác động của quan hệ kinh tế Trung-Đài đến kinh tế Việt Nam 123

4.2.1 Đánh giá các tác động kinh tế chính trị 123

4.2.2 Mô hình đánh giá tác động đến Việt Nam qua kênh “Thương mại” 128

4.2.3 Mô hình đánh giá tác động đến Việt Nam qua kênh “Đầu tư” 132

4.3 Hàm ý chính sách cho Việt Nam 135

4.3.1 Dịch chuyển mới từ phía hai đối tác Trung Quốc và Đài Loan 135

4.3.2 Cơ hội cho Việt Nam 138

4.3.3 Thách thức đối với Việt Nam 139

4.3.4 Kiến nghị chính sách cho Việt Nam tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức 143

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 147

Kết luận 147

Kiến nghị hướng nghiên cứu tiếp theo 150

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 154

PHỤ LỤC 180

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AFD Thừa nhận sự thần phục Acknowledge for Deferrence

AMRO Văn phòng Nghiên cứu Vĩ mô

ASEAN+3

ASEAN+3 Macroeconomic Research Office

AIIB Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng

APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu

ARATS Hiệp hội Quan hệ hai bờ Eo biển Đài

Loan (Trung Quốc)

Association for Relations Across the Taiwan Straits (China)

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Association of Southeast Asian

Nations

BFA Diễn đàn Bác Ngao vì Châu Á Boao Forum for Asia

BRI Sáng kiến Vành đai và Con đường Belt and Road Initiative

BTA Hiệp định Thương mại Song phương Billateral Trade Agreement

CCP Đảng Cộng sản Trung Quốc Chinese Communist Party

CFDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài phức hợp Complex Foreign Direct Investment

CHIPS Hệ thống Thanh toán Bù trừ Liên

CMIM Thỏa thuận Đa phương hóa Sáng kiến

Chiang Mai

Chiang Mai Initiative Multilateralization

CIPS Hệ thống Thanh toán Quốc tế Trung

CRA Quỹ Dự trữ Khẩn cấp BRICS BRICS Contingent Reserve

Arrangement

Trang 7

CSTO Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể Collective Security Treaty

DGBAS Tổng cục Ngân sách, Kế toán và

Thống kê Đài Loan

Directorate General of Budget Accounting and Statistics (Taiwan)

DPP Đảng Dân Tiến (Đài Loan) Democratic Progressive Party

(Taiwan)

ECFA Hiệp định Khung Hợp tác Kinh tế Economic Cooperation Framework

Agreement

EPC

Hợp đồng tổng thầu EPC hay Hợp

đồng Thiết kế, Cung cấp thiết bị và

Thi công xây dựng công trình

Engineering Procurement and Construction

EPFDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài hướng

đến xuất khẩu

Export-Platform Foreign Direct Investment

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài Foreign Direct Investment

FTA Hiệp định Thương mại tự do Free Trade Agreement

FTAAP Khu vực Thương mại tự do Châu

GNU Đường lối Thống nhất Quốc gia (Đài

Loan)

Guidelines for National Unification (Taiwan)

GSO Tổng cục Thống kê Việt Nam General Statistics Office of Vietnam

HFDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo

HIIT Thương mại nội ngành theo chiều

Trang 8

KMT Quốc Dân Đảng (Đài Loan) Kuomintang (Taiwan)

ICAO Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế International Civil Aviation

Organization

ICT Công nghệ thông tin và truyền thông Information and Communication

Technologies

IPE Kinh tế Chính trị Quốc tế International Political Economy

M&A Hoạt động mua bán và sáp nhập Mergers and Acquisitions

MAC Ủy ban Công tác Đại lục (Đài Loan) Mainland Affairs Council (Taiwan) MNCs Các Công ty Đa Quốc gia Multi-national companies

MOEA Bộ Kinh tế Đài Loan Ministry of Economics Affairs (Taiwan)

NEG Lý thuyết địa lý kinh tế mới New Economic Geography

NIEs Các Nền kinh tế Công nghiệp Mới New Industrialized Economies

NUC Ủy ban Thống nhất Quốc gia (Đài

Loan)

National Unification Council (Taiwan)

ODI Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Outward Direct Investment

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Organization for Economic

Cooperation and Development

OLI Mô hình OLI gồm Sở hữu, Địa điểm,

và Khả năng quốc tế hóa

O-ownership, L-location, internalisation

I-PECC Hội nghị Hợp tác Kinh tế Thái Bình

Dương

Pacific Economic Cooperation Conference

PRC Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa People‟s Republic of China

RCA Chỉ số Lợi thế so sánh hiện hữu Revealed Comparative Advantage

RCEP Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện

Khu vực

Regional Comprehensive Economic Partnership

Trang 9

RMB Nhân dân tệ Renminbi

ROC Trung Hoa Dân Quốc (ở Đài Loan) Republic of China (on Taiwan) ROO Quy định nguồn gốc xuất sứ Rules of origin

RQFII Nhà đầu tư Tổ chức Nước ngoài đủ

tiêu chuẩn bằng đồng Nhân dân tệ

RMB Qualified Foreign Institutional Investor

SEF Quỹ Trao đổi Hai bờ Eo biển (Đài

Loan)

Straits Exchange Foundation (Taiwan)

SITC Danh mục phân loại Thương mại

Quốc tế Tiêu chuẩn

Standard International Trade Classification

SWIFT Hiệp hội Viễn thông Tài chính

Liên ngân hàng Quốc tế

Society for Worldwide Interbank Financial Telecommunication

TAO Văn phòng Công tác Đài Loan (Trung

THAAD Hệ thống Phòng thủ Tầm cao Giai

đoạn cuối

Terminal High Altitude Area Defense

TNCs Các Công ty Xuyên Quốc gia Trans-national companies

TRA Đạo luật Quan hệ Đài Loan (Hoa Kỳ) Taiwan Relations Act (the United

States)

TTIP Hiệp định đối tác Thương mại và Đầu

tư xuyên Đại Tây Dương

Transatlantic Trade and Investment Partnership

VECM Mô hình Hiệu chỉnh Sai số dạng

VFDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo

VIIT Thương mại nội ngành theo chiều dọc Vertical Intra-Industry Trade

WEF Diễn đàn Kinh tế Thế Giới World Economic Forum

WHA Đại hội đồng Y tế Thế giới World Health Assembly

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới World Trade Organization

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Quan hệ đầu tư giữa Đài Loan và Trung Quốc (giai đoạn 1992-2015) 91

Bảng 3.2 Triển vọng quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Đài Loan đến năm 2020 105

Bảng 4.1 Tác động tới trình độ công nghệ của Việt Nam qua hiệu ứng mạng sản xuất 125

Bảng 4.2 Tính bổ trợ tác động tới chuỗi cung ứng dẫn dắt bởi Đài Loan-Trung Quốc 127

Bảng 4.3 Kết quả ước lượng mô hình VECM (thương mại) của Việt Nam:1990-2015 131

Bảng 4.4 Kết quả ước lượng mô hình VECM (đầu tư) của Việt Nam: 1991-2015 134

Bảng 4.5 Chiến lược của Trung Quốc và Đài Loan trước Công nghiệp 4.0 136

Bảng P4.1 So sánh tương quan kinh tế giữa Trung Quốc và Đài Loan, 1971-2014 187

Bảng P4.2 Định vị quỹ đạo phát triển của Trung Quốc so với Đài Loan, 1971-2015 188

Bảng P8.1 Hạn chế đầu tư của Đài Loan vào Trung Quốc 202

Bảng P9.1 Cơ cấu thương mại hàng hóa của Trung Quốc theo đối tác chủ yếu (%) 203

Bảng P9.2 Cơ cấu thương mại hàng hóa của Đài Loan theo đối tác chủ yếu (%) 203

Bảng P9.3 Quan hệ thương mại giữa Đài Loan và Trung Quốc: 1982-1991 204

Bảng P9.4 Quan hệ đầu tư Đài Loan và Trung Quốc đại lục: 1982-1991 205

Bảng P9.5 Quan hệ thương mại giữa Đài Loan và Trung Quốc: 1992-2001 206

Bảng P9.6 Quan hệ đầu tư giữa Đài Loan và Trung Quốc: 1992-2001 207

Bảng P9.7 Quan hệ thương mại Đài Loan và Trung Quốc: 2002-2011 208

Bảng P9.8 Quan hệ đầu tư giữa Đài Loan và Trung Quốc: 2002-2011 209

Bảng P9.9 Trao đổi thương mại Đài Loan và Trung Quốc: 2012-2015 210

Bảng P9.10 Quan hệ đầu tư giữa Đài Loan và Trung Quốc: 2012-2015 211

Bảng P9.11 Quan hệ thương mại Đài Loan và Trung Quốc: 1992-2015 212

Bảng P9.12 Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc: 1992-2015 213

Bảng P9.13 Quan hệ đầu tư giữa Việt Nam và Trung Quốc: 1992-2015 214

Bảng P9.14 Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Đài Loan: 1992-2015 215

Bảng P9.15 Quan hệ đầu tư giữa Việt Nam và Đài Loan: 1992-2015 216

Bảng P10.1 Đặc điểm các biến ở mô hình VECM (thương mại) của Việt Nam 221

Bảng P11.2 Đặc điểm các biến trong mô hình VECM (đầu tư) của Việt Nam 222

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 0.1 Khung phân tích “quan hệ kinh tế” giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan

và tác động tới kinh tế Việt Nam 4

Hình 2.1 Phân mảnh sản xuất và các chi phí liên kết dịch vụ 41

Hình 3.1 Giá trị kim ngạch trao đổi hàng hóa Hai bờ (tỷ USD), 1991-2015 76

Hình 3.2 Số dự án và giá trị đầu tư của Đài Loan vào Trung Quốc, 1991-2015 77

Hình 3.3 Cán cân thương mại hàng trung gian - tiêu dùng cuối cùng ở Đông Á (tỷ $) 94

Hình 3.4 Căng thẳng cố hữu trong tam giác chiến lược Mỹ-Trung-Đài 99

Hình P5.1 Phát triển theo mô hình “đàn nhạn bay” ở Đông Á đầu thập kỷ 1990 189

Hình P5.2 Trung Quốc trong mạng sản xuất khu vực và toàn cầu 189

Hình P5.3 Thay đổi lựa chọn là người Đài Loan/Trung Quốc của người Đài Loan 190

Hình P5.4 Thay đổi trong lập trường Thống nhất-Độc lập của người dân Đài Loan 190

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Là một điểm nóng trên khu vực Đông Á, quan hệ giữa Trung Quốc đại lục và vùng lãnh thổ Đài Loan (còn gọi là quan hệ Hai bờ) đã trải qua nhiều thăng trầm từ xung đột, ngăn trở, cho đến dần cởi mở hơn, và ấm lên từ năm 2008, rồi đột ngột đảo chiều căng thẳng kể từ giữa năm 2016 đến nay Tuy nhiên, khác với tình trạng căng thẳng quân sự leo thang giữa hai miền Triều Tiên, quan hệ Hai bờ duy trì trạng thái quan hệ kinh tế hội nhập sâu rộng đối lập với tương quan chính trị thăng giáng bất ngờ Trong bối cảnh Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ và hành xử ngày một quyết đoán hơn, những diễn biến kinh tế-chính trị trên Eo biển Đài Loan đã được nhiều nước trong khu vực và trên thế giới theo dõi sát sao, bởi vì cả Trung Quốc đại lục

và Đài Loan đều là hai chủ thể kinh tế chính trị lớn với tỷ trọng đáng kể trong dòng thương mại, đầu tư, du lịch và công nghệ ở khu vực Đông Á (nhất là thương mại và đầu tư vào khu vực Đông Nam Á) Do đó, bất kỳ chuyển biến lớn nào trong quan hệ Hai bờ không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới an ninh chính trị mà còn tác động đáng kể tới phát triển kinh tế của khu vực Quan hệ Hai bờ nồng ấm thời kỳ 5/2008-5/2016 với hàng loạt các hiệp định quan trọng đã tác động mạnh tới thúc đẩy trao đổi thương mại, đầu tư, tài chính ngân hàng và du lịch giữa hai nền kinh tế Tuy nhiên, những căng thẳng Hai bờ hiện tại lại tiềm ẩn nhiều tác động tiêu cực tới các dòng lưu chuyển trên toàn khu vực Từ sau năm 2012, sự kế tục thế hệ lãnh đạo thứ năm của Trung Quốc với vai trò hạt nhân của Chủ tịch Tập Cận Bình đã đẩy nhanh sự điều chỉnh chiến lược và chuyển đổi phương thức phát triển của Trung Quốc Đối với Đài Loan, Trung Quốc đã sử dụng các công cụ kinh tế rất linh hoạt để vừa lôi kéo vừa đe dọa nhằm từng bước thu phục hòn đảo này phục vụ mục tiêu thống nhất lâu dài Vì vậy, nghiên cứu quan hệ kinh tế Hai bờ có ý nghĩa quan trọng không chỉ giúp hiểu sâu bản chất của một điểm nóng ở Đông Á mà còn góp phần hiểu rõ hơn cách thức ứng xử của Trung Quốc với trường hợp vùng lãnh thổ Đài Loan

Đối với Việt Nam, cả Trung Quốc đại lục và Đài Loan đều là những đối tác

Trang 13

Nam, Trung Quốc không chỉ là đối tác thương mại lớn nhất của nước ta kể từ năm

2014 (là thị trường nhập khẩu lớn nhất và thị trường xuất khẩu lớn thứ 4 của Việt Nam), mà Trung Quốc còn là đối tác đầu tư lớn thứ 9 vào Việt Nam Tương tự, Đài Loan cũng không chỉ là đối tác thương mại lớn thứ 5 của Việt Nam vào năm 2014

mà còn là một trong 5 đối tác đầu tư lớn nhất của nước ta (đứng vị trí thứ 4, chỉ sau Nhật Bản, Singapore, và Hàn Quốc trong cùng kỳ) Do vậy, những động thái thay đổi bên trong Trung Quốc đại lục và bên trong vùng lãnh thổ Đài Loan cũng như các biến động lớn trong quan hệ kinh tế bất đối xứng giữa hai bờ Eo biển Đài Loan

sẽ gây ra những tác động trực tiếp lẫn gián tiếp tới kinh tế Việt Nam

Mặc dù quan hệ giữa Trung Quốc và Đài Loan có tầm quan trọng to lớn như

là một điểm nóng an ninh và trụ cột kinh tế của châu Á-Thái Bình Dương cũng như khả năng tác động đến kinh tế Việt Nam, song hiện tại vẫn chưa có nghiên cứu trong nước và quốc tế nào phân tích hệ thống về quan hệ kinh tế Trung-Đài trong ba thập kỷ qua và lượng hóa tác động của quan hệ này tới kinh tế Việt Nam Đây chính

là lý do tác giả lựa chọn chủ đề nghiên cứu “Quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan từ cuối thập kỷ 1980 đến nay và tác động đến Việt Nam”

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Mục đích nghiên cứu là nhằm hiểu rõ thực trạng quan hệ kinh tế bất đối xứng giữa Trung Quốc đại lục và vùng lãnh thổ Đài Loan, và tác động của quan hệ kinh tế Hai bờ đến kinh tế Việt Nam, từ đó đưa ra các hàm ý chính sách cho Việt Nam

Để đạt mục đích này, luận án sẽ tập trung trả lời 4 câu hỏi nghiên cứu sau:

- Quan hệ kinh tế bất đối xứng giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan đã diễn

ra như thế nào qua kênh thương mại và đầu tư từ cuối thập kỷ 1980 đến năm 2015?

- Triển vọng của quan hệ kinh tế bất đối xứng giữa Trung Quốc đại lục và vùng lãnh thổ Đài Loan sẽ diễn biến theo chiều hướng nào đến năm 2020?

- Quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan đã tác động như thế nào đến kinh tế Việt Nam qua kênh thương mại và đầu tư giai đoạn 1990-2015?

- Đâu là hàm ý chính sách cho Việt Nam để tận dụng tốt cơ hội và vượt qua thách thức từ triển vọng quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Đài Loan đến 2020?

Trang 14

Luận án có hai giả thuyết nghiên cứu sau: (1) Tồn tại “quan hệ kinh tế ít nhất một chiều” giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan qua kênh thương mại và đầu tư; (2) Quan hệ kinh tế bất đối xứng giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan có “tác động dài hạn và thuận chiều” tới kinh tế Việt Nam qua kênh thương mại và đầu tư

Nhiệm vụ nghiên cứu gồm: (i) Hệ thống cơ sở lý luận, thực tiễn về quan hệ kinh tế bất đối xứng giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan, và tác động tới nền kinh tế thứ ba; (ii) Chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới quan hệ kinh tế Trung Quốc-Đài Loan

từ cuối thập kỷ 1980; (iii) Phân tích quan hệ kinh tế Trung Quốc-Đài Loan từ cuối thập kỷ 1980, triển vọng 2020; (iv) Kiểm định tác động của quan hệ kinh tế Trung Quốc-Đài Loan tới kinh tế Việt Nam; (v) Chỉ ra hàm ý chính sách cho Việt Nam tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức mới từ quan hệ kinh tế Trung Quốc-Đài Loan

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

- Đối tượng nghiên cứu: là quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc đại lục và vùng

lãnh thổ Đài Loan, và tác động của quan hệ kinh tế này đến kinh tế Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Về nội dung: Luận án chỉ nghiên cứu quan hệ kinh tế

trên phương diện thương mại và đầu tư giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan, và tác

động tới kinh tế Việt Nam Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu quan hệ

kinh tế giữa Trung Quốc và Đài Loan trên phạm vi của nền kinh tế Trung Quốc đại

lục và vùng lãnh thổ Đài Loan, và tác động đến nền kinh tế Việt Nam Về thời gian:

Luận án nghiên cứu quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan từ cuối thập kỷ 1980 đến nay, trong đó tập trung hơn vào giai đoạn từ năm 1990 đến 2015 Luận án sử dụng dữ liệu thứ cấp trong giai đoạn 1990-2015 cho mô hình đánh giá tác động của quan hệ kinh tế Trung Quốc-Đài Loan đến kinh tế Việt Nam thông qua kênh thương mại và đầu tư Luận án tập trung đánh giá triển vọng quan hệ kinh

tế Trung Quốc-Đài Loan cũng như phân tích cơ hội và thách thức với Việt Nam

nhằm giúp đưa ra hàm ý chính sách cho Việt Nam trong giai đoạn đến năm 2020

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Về phương pháp luận, luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, chú trọng kết hợp các cách tiếp cận trong kinh tế chính trị quốc tế (phân tích

Trang 15

ở cấp độ nhà nước: là các tương tác kinh tế giữa các nhà nước trong hệ thống quốc tế)

và kinh tế quốc tế (ở cấp độ thị trường: là diễn biến hoạt động kinh tế dưới sự tương tác của các lực lượng thị trường) Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp cả phương pháp phân tích định tính và định lượng dựa trên cách tiếp cận liên ngành, chú trọng các phương pháp trong kinh tế chính trị quốc tế và kinh tế quốc tế (Hình 0.1)

Hình 0.1 Khung phân tích “quan hệ kinh tế” giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan

và tác động tới kinh tế Việt Nam

Phương pháp định tính bao gồm phương pháp logic kết hợp với lịch sử trong phân tích quan hệ kinh tế theo dòng lịch sử trong dài hạn (gần 3 thập kỷ), có kết hợp

(APEC,

WTO,…)

Nhân tố kinh tế

(thể chế, mô hình tăng

trưởng)

Nhân tố nước lớn

(Mỹ và Nhật Bản,…)

Tương đồng văn hóa, ngôn

tế (khoảng

cách, vị trí địa lý,…)

Nguyên tắc “một Trung Quốc”

Doanh nghiệp

Vùng lãnh thổ Đài Loan

Chính quyền

Chính phủ, chính

quyền địa phương

Doanh nghiệp

Việt Nam

Kinh tế (thương mại và đầu tư)

Trang 16

phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp hệ thống hóa, phương pháp so sánh nhằm giúp mô tả rõ thực trạng quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan từ cuối thập kỷ 1980 đến nay, và xác định các nhân

tố chính có ảnh hưởng quyết định tới quan hệ kinh tế này trong cùng kỳ, đồng thời chỉ rõ các kênh tác động của quan hệ kinh tế Hai bờ tới kinh tế Việt Nam Trong phương pháp định lượng, kỹ thuật đồng tích hợp và mô hình hiệu chỉnh sai số dạng véc tơ (VECM) được sử dụng để kiểm định về sự tồn tại, độ lớn, và chiều tác động của quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan tới kinh tế Việt Nam

Luận án sử dụng cơ sở dữ liệu thứ cấp từ cuối thập kỷ 1980 đến nay (tập trung hơn vào giai đoạn 1990-2015) từ các nguồn của Tổng cục Thống kê nhà nước Trung Quốc (NBS), Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO), Đài Loan (DGBAS), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Cơ sở Thống kê dữ liệu thương mại hàng hóa của Liên hợp quốc (UN COMTRADE) Cơ sở dữ liệu thứ cấp từ cuối thập

kỷ 1980 (tập trung hơn giai đoạn 1990-2015) về quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan được hệ thống hóa trên phần mềm thống kê Eviews và SPSS

5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Những đóng góp mới về khoa học của luận án bao gồm: Thứ nhất, hệ thống

hóa có chọn lọc cơ sở lý luận và thực tiễn về quan hệ kinh tế bất đối xứng giữa Trung

Quốc đại lục và Đài Loan, và khả năng tác động đến chủ thể thứ ba là Việt Nam Thứ hai, xây dựng khung phân tích khoa học về quan hệ kinh tế bất đối xứng giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan cùng tác động tới kinh tế Việt Nam Thứ ba, chỉ ra những

dịch chuyển trong quan hệ kinh tế bất đối xứng (trên phương diện thương mại và đầu tư) giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan từ cuối thập kỷ 1980 đến nay có liên hệ với khung nền kinh tế chung của khu vực và tác động từ nhân tố Mỹ, đồng thời đưa ra

triển vọng về quan hệ kinh tế giữa hai bờ Eo Biển trong thời gian tới năm 2020 Thứ

tư, sử dụng mô hình VECM để kiểm định tác động quan hệ kinh tế Trung Quốc-Đài

Loan tới Việt Nam với kết quả: quan hệ Hai bờ nồng ấm tác động tích cực tới cán cân thương mại và thu hút FDI của Việt Nam; đầu tư của Đài Loan vào Trung Quốc tác động thuận chiều và không gây hiệu ứng lấn át tới đầu tư của Đài Loan vào Việt

Trang 17

Nam Thứ năm, kiến nghị chính sách nhằm giúp Việt Nam tận dụng tối đa cơ hội và

vượt qua thách thức mới bắt nguồn từ quan hệ kinh tế Trung Quốc-Đài Loan

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Về lý luận, một mặt, quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc đại lục và vùng lãnh thổ

Đài Loan đã thể hiện một tính chất “bất đối xứng điển hình” trong quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc đại lục và các nền kinh tế xung quanh Do đó, việc nghiên cứu quan

hệ kinh tế giữa hai chủ thể này sẽ cung cấp một nghiên cứu trường hợp quan hệ kinh

tế bất đối xứng ở khu vực Đông Á Mặt khác, Luận án tập trung phân tích thực trạng quan hệ kinh tế Hai bờ trong một thời gian dài (gần ba thập kỷ) đã mang đến một bức tranh toàn cảnh về quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan trên khung nền biến đổi chung của cả khu vực Đông Á, đồng thời chỉ ra xu hướng vận động chủ yếu của quan hệ kinh tế này trong thời gian đến 2020 Luận án đã chỉ ra được cách thức mà quan hệ kinh tế giữa hai bờ Eo Biển tác động đến kinh tế Việt Nam

Về thực tiễn, Luận án cung cấp các luận cứ khoa học về quan hệ kinh tế bất

đối xứng giữa Trung Quốc đại lục và vùng lãnh thổ Đài Loan, cũng như lượng hóa độ lớn và chiều tác động của quan hệ này đến kinh tế Việt Nam qua kênh thương mại và đầu tư Những phân tích này có ý nghĩa lớn giúp Việt Nam đưa ra đối sách phù hợp trong quan hệ kinh tế với hai chủ thể này nhằm giúp Việt Nam tận dụng tối đa các cơ hội mới để phát triển và khắc phục hiệu quả những thách thức mới nảy sinh

7 Kết cấu của đề tài

Luận án được bố cục thành 4 chương bên cạnh các phần Mở đầu, Tài liệu

tham khảo, và phần Phụ lục Chương 1 mô tả tổng quan tình hình nghiên cứu về quan

hệ kinh tế giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan, cùng tác động tới nền kinh tế thứ ba

Chương 2 hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quan hệ kinh tế Trung Quốc-Đài Loan và tác động đến nền kinh tế thứ ba Chương 3 tập trung phân tích thực trạng

quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan kể từ cuối thập kỷ 1980 đến

nay Chương 4 tập trung lượng hóa tác động của quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc

đại lục và Đài Loan tới kinh tế Việt Nam Cuối cùng là phần Kết luận và kiến nghị

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Do vị thế ngày càng tăng của chủ thể Trung Quốc và đặc trưng điểm nóng của Hai bờ Eo biển Đài Loan trên khu vực Đông Bắc Á, nghiên cứu quốc tế về Trung Quốc với khu vực cũng như quan hệ giữa Trung Quốc và Đài Loan trong mối tương quan với an ninh và kinh tế khu vực hết sức phong phú Tuy nhiên, đây là các chủ đề lớn và khá rộng, nên Luận án sẽ tổng quan theo các nhóm nội dung sau:

- Sự trỗi dậy của Trung Quốc và tính bất đối xứng trong khu vực

Cuốn sách Sự trỗi dậy của Trung Quốc: Thách thức và cơ hội (2009) của

Viện Peterson và CSIS đã cung cấp toàn cảnh quá trình trỗi dậy về kinh tế và gia tăng vị thế của Trung Quốc cùng các vấn đề đối nội, đối ngoại mà Trung Quốc đang đối mặt, đặc biệt chú ý nhiều tới vấn đề Đài Loan trong tương tác với Trung Quốc

và Hoa Kỳ [72] GS Denny Roy với công trình Sự trở lại của Rồng: Trung Quốc gia tăng quyền lực và an ninh khu vực (2013) cũng cung cấp một hình ảnh toàn diện

về sự trỗi dậy của Trung Quốc từ cách tiếp cận, nhìn nhận của Đại lục về thế giới, quan hệ Trung-Mỹ trong thời kỳ chuyển giao quyền lực cũng như thực tiễn gia tăng sức mạnh quân sự và cạnh tranh tìm kiếm ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực

[228] Với nhấn mạnh vào đặc trưng của một cường quốc xét lại, bài báo Sự trỗi dậy không hòa bình của Trung Quốc (2006) của GS J Mearsheimer đã dự báo rằng

sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốc chắc chắn sẽ thách thức an ninh châu Á và toàn cầu Ông viện dẫn góc độ lý thuyết chủ nghĩa hiện thực và thực tế quá trình trở thành bá quyền của Hoa Kỳ để dự báo rằng: cùng với ưu thế ngày càng tăng, Trung Quốc có thể thực hiện một phiên bản Học thuyết Monroe mới ở châu Á như Hoa Kỳ

đã thực hiện chủ nghĩa biệt lập này ở châu Mỹ thế kỷ XIX [201]

Với mong muốn tìm kiếm lý thuyết về trật tự đặc thù ở châu Á, cuốn sách

Trung Quốc trỗi dậy: Hòa bình, Quyền lực, và Trật tự ở Đông Á (2007) [160] và Đông Á trước khi có Phương Tây (2010) [161] của David Kang cho thấy những bất

Trang 19

cập trong các lý thuyết quan hệ quốc tế phương Tây đã gặp khó khăn khi lý giải lịch

sử phát triển của khu vực Đông Á và trật tự quyền lực theo chiều dọc với vị thế trung tâm của Trung Quốc Cũng nhấn mạnh về tính bất đối xứng và vị thế trung

tâm của Trung Quốc, Brantly Womack trong cuốn sách Trung Quốc và Việt Nam: Chính trị của sự bất đối xứng (2006) [266] đã đưa ra lý thuyết về quan hệ bất đối

xứng theo lịch sử và cách mà nó định hình quan hệ chính trị như thế nào ở châu Á

với trường hợp điển hình là quan hệ Trung-Việt Cuốn Trung Quốc trong một hệ thống bất cân xứng (2010) [267] của ông là công trình công phu, nhiều giá trị về sự

trỗi dậy của Trung Quốc và mối quan hệ với láng giềng châu Á, làm rõ đặc tính bất đối xứng ở châu Á, sự khác biệt về cách tiếp cận và phương thức lãnh đạo của Trung Quốc so với Hoa Kỳ Thông qua các phân tích có tính chất so sánh đối chiếu, tác giả cho thấy rõ cách thức mà Trung Quốc ứng xử đã có sự phân loại với từng đối tượng và từng vấn đề ở châu Á Dựa trên phân tích về hệ thống triều cống, cách thức Trung Quốc nhìn nhận về một thế giới đa cực, và hành xử của Trung Quốc với phần còn lại của châu Á, tác giả đã làm rõ được cách thức Trung Quốc trỗi dậy lãnh đạo thế giới như thế nào, và nó đang làm thay đổi châu Á và thế giới ra sao Công trình có sự chú ý đặc biệt đến Việt Nam trong mối quan hệ Việt-Trung đầy hóc búa, phức tạp, và đưa ra những so sánh rất ý nghĩa về sự tương đồng và khác biệt giữa hai cặp quan hệ Việt-Trung và Trung-Hàn cũng như tam giác Mỹ-Trung-Đài

Trung Quốc trỗi dậy cũng làm thay đổi và dẫn tới những dịch chuyển trong trật tự quyền lực khu vực và khiến các nước trong khu vực và toàn cầu đều nỗ lực

tìm kiếm đối sách ứng phó khác nhau Cuốn Sống chung với Trung Quốc của Tang

et al (2009) [243] đã nỗ lực tìm kiếm công cụ lý thuyết để lý giải tương tác giữa

Trung Quốc với các nước láng giềng cũng như cách thức mà sự tương tác này định hình cấu trúc an ninh của khu vực Trong vấn đề Đài Loan, tác giả chỉ ra sự khác biệt khi Trung Quốc nhìn nhận đây là vấn đề nội bộ của Đại lục chịu sự can thiệp từ

Mỹ, do đó cách ứng xử giữa hai chủ thể ở hai bờ Eo biển Đài Loan cũng khác biệt

với các láng giềng châu Á khác Ngoài ra, cuốn sách Dịch chuyển quyền lực ở châu Á-Thái Bình Dương (2016) [114] của Enrico Fels trên góc nhìn của chủ nghĩa hiện

Trang 20

thực đã phân tích các đối sách của các quốc gia ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong bối cảnh Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ và gia tăng quyền lực

Trong trường hợp quan hệ Hai bờ, Wu Yu-shan [274] cũng nhấn mạnh tính bất đối xứng về quyền lực và đưa ra 9 cách tiếp cận lý thuyết để giải thích quan hệ giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan gồm: mô hình quốc gia bị chia cắt, thuyết hội nhập, mô hình bất đối xứng quyền lực, mô hình tối đa hóa số phiếu, mô hình nhà nước phát triển, thuyết bộ ba chiến lược Mỹ-Trung-Đài, thuyết hệ thống quốc tế, thuyết tâm lý chính trị, và chủ nghĩa kiến tạo Trong khi mô hình bất đối xứng cho thấy vị thế của Đài Loan trong quan hệ với Trung Quốc, thì thuyết hội nhập được sử dụng nhiều để lý giải mối tương quan giữa quan hệ kinh tế và chính trị giữa hai bờ

Eo biển Cách tiếp cận mô hình quốc gia bị chia cắt đã chỉ ra các nguồn gốc đối đầu chính trị giữa Đại lục và Đài Loan Thuyết bộ ba chiến lược giúp lý giải thế an ninh trên Eo biển Đài Loan và lựa chọn chính sách của mỗi chủ thể trên bàn cờ này Để

nỗ lực lý giải quan hệ Hai bờ, Acharya [52] đã sử dụng cách tiếp cận của trường phái tân hiện thực nhằm giải thích chính sách cân bằng và phối hợp của Đài Loan Ông dùng chủ nghĩa tự do và nền hòa bình dân chủ để giải thích chính trị hòn đảo, các cuộc khủng hoảng (phần lớn xuất phát từ Đại lục), hay gia tăng tương thuộc kinh tế Hai bờ Nhìn chung, các học giả nghiên cứu quan hệ Hai bờ đã chỉ ra rằng các lý thuyết đơn lẻ đều gặp hạn chế trong lý giải quan hệ Hai bờ, và việc nghiên cứu mối quan hệ này cần sự phối hợp các trường phái lý thuyết khác nhau [234]

- Tương tác kinh tế chính trị trên Eo biển Đài Loan

Công trình do Zhao chủ biên về Hai bờ Eo biển Đài Loan: Trung Quốc đại lục, Đài Loan và khủng hoảng 1995-1996 (1999) [282] được xuất bản sau cuộc

khủng hoảng tên lửa Hai bờ 1995-1996 đã đưa ra các phân tích định tính lý giải nguyên nhân cuộc khủng hoảng này và cơ chế hình thành chính sách của mỗi bên đối với quan hệ Hai bờ cùng những thay đổi tư tưởng trong giới lãnh đạo hai bên sau cuộc khủng hoảng ngoài tầm kiểm soát này Cuốn sách cho thấy trao đổi kinh tế đặc biệt là thương mại vẫn duy trì và gia tăng bất chấp căng thẳng chính trị, vốn xuất phát từ chủ đích của cả hai phía với các mục tiêu chính trị khác nhau nhưng

Trang 21

cũng đều với hy vọng rằng gia tăng tương thuộc kinh tế có thể làm dịu bớt thù địch

và căng thẳng chính trị giữa hai bên Cuốn sách của Chow về Thế lưỡng nan “Một Trung Quốc” (2008) [90] đã có những phân tích trên khía cạnh lịch sử và an ninh

xung quanh nan đề “một Trung Quốc” Cùng với quá trình dân chủ và Đài Loan hóa gia tăng bản sắc Đài Loan đã khiến tư tưởng của Trung Quốc và Đài Loan hướng về

“một Trung Quốc” càng khó gặp nhau Cuốn sách của Huang và Li Chia mà không tách: Sự hình thành chính sách Đài Loan của Trung Quốc (2010) [150] cung cấp

toàn cảnh chính sách Đài Loan của Bắc Kinh từ góc nhìn hiện thực và cách tiếp cận lịch sử dưới sự tương tác giữa ba chủ thể Bắc Kinh, Washington và Đài Bắc

Cuốn sách của Cai về Quan hệ Hai bờ biển Đài Loan từ 1979 (2011) [78]

đứng từ quan điểm của học giả mỗi bên Trung Quốc và Đài Loan đã phân tích quá trình phát triển của mối quan hệ giữa Trung Quốc và Đài Loan với nhấn mạnh vào những thay đổi chính sách chủ yếu từ Trung Quốc và nhà đương cục Đài Loan từ

1979 đến 2010 Còn công trình do Hu chủ biên về Động lực mới trong quan hệ Hai

bờ biển Đài Loan (2013) [147] đã phân tích những động lực, xu hướng mới của

quan hệ Hai bờ biển Đài Loan hậu ECFA và khả năng phát triển trong tương lai Công trình nghiên cứu cả quan hệ kinh tế và lĩnh vực chính trị với những lý giải tiến

độ hòa giải chậm hơn so với lĩnh vực kinh tế, và cả ảnh hưởng của các liên kết cá nhân, các chủ thể quốc tế (đặc biệt là Mỹ) lên lộ trình phát triển quan hệ này Cuối cùng các bài viết dù có một vài quan điểm còn gây tranh luận, song đều cho rằng xu hướng đối thoại vẫn có khả năng tiếp tục kèm theo không có nhiều bước đột phá

+ Nghiên cứu về việc sử dụng chế tài kinh tế của Trung Quốc với Đài Loan Tian với công trình Chính phủ, Giới kinh doanh và chính trị của sự tương thuộc (2006) [251] đã sử dụng cách tiếp cận về sự tương thuộc phức tạp của

Keohane và Nye [166] và phân tích cách thức vận dụng công cụ kinh tế từ hai phía Trung Quốc và Đài Loan cũng như tương tác giữa hai tác nhân này đối với thương mại và đầu tư Hai bờ trong bối cảnh toàn cầu hóa và di chuyển nguồn lực lưu động Trong quan hệ này, Bắc Kinh thì cố gắng thu hút và mong muốn đẩy nhanh hội nhập kinh tế Hai bờ để hướng đến mục tiêu cuối cùng - thống nhất đất nước, còn

Trang 22

Đài Bắc thì kìm giữ để tận dụng lợi ích kinh tế trên thị trường Đại lục, giảm nguy

cơ xung đột chính trị/quân sự Hai bờ, và tránh bị mất kiểm soát rơi vào bẫy thống nhất của Bắc Kinh Sự tương tác ấy đã tạo nên một bức tranh kinh tế giữa Trung Quốc và Đài Loan mang tính đặc thù cao giữa tương thuộc kinh tế bất đối xứng

song song với những căng thẳng chính trị Cuốn sách của Tanner về Cưỡng chế kinh tế của Trung Quốc chống lại Đài Loan [244] là công trình nghiên cứu sâu về

nghệ thuật quản trị kinh tế của Trung Quốc từ mục tiêu chính trị đối với chủ thể gây tác động ra sao, các kịch bản áp dụng công cụ như thế nào và các nhân tố ảnh hưởng đến thành công cũng như thất bại của những công cụ này Tác giả biện luận việc gia tăng sự phụ thuộc kinh tế của Đài Loan vào Đại lục sẽ tạo ra vũ khí lợi hại

cho Trung Quốc khai thác gây sức ép với Đài Loan Nghiên cứu của Tung về Quan

hệ kinh tế Hai bờ trong kỷ nguyên toàn cầu hóa [256] đã phân tích quan hệ kinh tế

Hai bờ trước nghệ thuật quản trị kinh tế của Bắc Kinh với Đài Loan trong giai đoạn

từ đầu thập kỷ 1970 đến 2005 Nghiên cứu chỉ ra sức ảnh hưởng của Bắc Kinh với Đài Loan qua các công cụ kinh tế (chủ yếu qua công cụ “trừng phạt”) và mức độ dễ

bị tổn thương của Đài Loan trước ảnh hưởng kinh tế của Bắc Kinh Tác giả đã đưa

ra những lý giải mục tiêu, thái độ đằng sau việc thúc đẩy hay kìm giữ quan hệ kinh

tế Hai bờ, cũng như e ngại của chính quyền Đài Loan trước những chiến lược hấp dẫn của Trung Quốc nhằm thu hút các doanh nhân Đài Loan đầu tư vào Đại lục

+ Tác động từ các chủ thể quốc tế lớn: Mỹ, Nhật Bản,

Ngoài ra, cũng có liên quan tới địa chính trị khu vực thì mối quan hệ kinh tế

và chính trị hai bờ Eo biển Đài Loan còn chịu ảnh hưởng đáng kể từ nhân tố Mỹ Bởi lẽ Mỹ là một trong những nhân tố chủ chốt định hình hòa bình và ổn định của quan hệ Trung Quốc - Đài Loan Ảnh hưởng của Mỹ đến các mối quan hệ chính trị

và kinh tế Hai bờ cũng được nhiều nghiên cứu liên quan đến chính trị - an ninh -

kinh tế - ngoại giao đề cập tới Công trình Hội nhập kinh tế, dân chủ và an ninh quốc gia ở Đông Á của Chow [89] đã chỉ ra các dịch chuyển trong quan hệ Mỹ-

Trung-Đài Đặc biệt, sự thay đổi về chính trị nội bộ Đài Loan đã dẫn đến những thay đổi lớn trong quan hệ giữa bộ ba và làm thay đổi quan điểm, chính sách của

Trang 23

Trung Quốc và Mỹ Điều này kết hợp với sự gia tăng hội nhập kinh tế Hai bờ và sự thay đổi của kinh tế Hai bờ trong chuỗi cung ứng toàn cầu đã làm thay đổi vai trò kinh tế của Mỹ với Đài Loan, và lợi ích kinh tế của Đài Loan từ Mỹ đã chuyển sang

Đại lục Cuốn Tương lai quan hệ Mỹ, Trung Quốc và Đài Loan [191] do đồng tác

giả Lin và Roy đã phân tích toàn diện về an ninh trong các mối quan hệ và tương tác giữa các chủ thể của bộ ba chiến lược Mỹ-Trung-Đài như vấn đề Đài Loan trong mối quan hệ song phương Mỹ-Trung, vai trò của Mỹ trong đảm bảo ổn định quan

hệ hai bờ Eo biển và bảo lãnh giúp Đài Loan tham gia APEC và WTO, vai trò của Đạo luật Quan hệ Đài Loan (TRA) như một bảo đảm an ninh của Mỹ đối với Đài Bắc Cuốn sách còn chỉ ra vị trí của Nhật Bản trong mối quan hệ tay ba này

Cuốn Eo Biển hiểm nguy do N Tucker [255] chủ biên đã chỉ rõ những diễn

biến dân chủ hóa và xu hướng độc lập bên trong Đài Loan đã góp phần gia tăng mối nguy an ninh trên Eo biển và vai trò của Mỹ trong bảo trợ an ninh ở đây Cuốn sách tập trung lý giải các liên kết kinh tế trong bối cảnh thù địch Hai bờ và đưa ra quan điểm về khả năng tác động hạn chế của Bắc Kinh đến chính trị hòn đảo Đài Loan, cũng như mức độ áp dụng nhất định các công cụ cưỡng chế kinh tế để gây áp lực

kinh tế tới hòn đảo này Cuốn Bản sắc và thay đổi trong các xung đột Đông Á của Horowitz et al [143] đã cung cấp những cách nhìn cơ bản về Eo biển Đài Loan như

một điểm nóng khu vực cùng với Bán đảo Triều Tiên Cuốn sách chỉ ra những thay đổi từ quá trình dân chủ và bối cảnh toàn cầu hóa đã khiến hai điểm nóng có những chuyển biến đáng kể Những thay đổi đó đã khiến cho hội nhập kinh tế có thể gia tăng song các vấn đề về chính trị, an ninh vẫn khó có bước tiến đáng kể Cuốn sách

của Bush về Loại bỏ nút cổ chai: Lập hòa bình trên Eo biển Đài Loan [76] đã cung

cấp bức tranh về chính trị, an ninh, và hợp tác kinh tế trên Eo biển Đài Loan như một điểm nóng với các đặc thù riêng có Từ quan điểm hiện thực, các học giả đã phân tích và bình luận về các vấn đề chủ quyền, an ninh chính trị, cách chơi và luật chơi của mỗi chủ thể trong cặp quan hệ và nhân tố Mỹ với vai trò đảm bảo cân bằng

ổn định trong mối quan hệ Quan hệ Hai bờ dù có sự hội nhập kinh tế mạnh song chính trị Hai bờ vẫn là một trong những điểm nút bế tắc khó giải quyết nhất

Trang 24

- Các nội dung về các quan hệ kinh tế Hai bờ

Smith và Harris trong nghiên cứu Quan hệ kinh tế hai bờ Eo biển: Tương thuộc hay phụ thuộc [235] đã phân tích định tính về tác động của căng thẳng Hai bờ

trong quá trình diễn ra cuộc bầu cử Đài Loan năm 1996 lên kinh tế Đài Loan, khu vực tài chính và các luồng kinh tế giữa hai bờ Eo biển Theo đó, sự gia tăng phụ thuộc kinh tế của Đài Loan vào Đại lục đã vượt mức tương thuộc cân bằng Về phía Đài Loan, việc bảo đảm quan hệ chính trị và kinh tế với Trung Quốc ở mức ổn định

có tính chi phối đến khả năng thành công của các chiến lược kinh tế lớn Nghiên

cứu của Chiu về Tương tác kinh tế và chính trị hai bờ Eo biển Đài Loan trước xu thế hội nhập kinh tế ở Đông Á [88] đã phân tích các mối tương tác kinh tế và chính

trị giữa hai bờ Eo biển trước thực trạng khu vực gia tăng hội nhập kinh tế và nhiều khối kinh tế ở khu vực đang được thành lập trong xu thế đàm phán, xây dựng Tuy nhiên, do yêu cầu tuân thủ nguyên tắc “một Trung Quốc” của Bắc Kinh, nên Đài Loan đang nằm ngoài tất cả các xu hướng này và khiến cho hòn đảo gặp phải nhiều khó khăn hơn trong bảo đảm các lợi ích kinh tế và an ninh của mình ở khu vực

Cuốn sách Bản sắc dân tộc và lợi ích kinh tế của Chow [91] đã chỉ ra mâu thuẫn

trong chính trị nội bộ Đài Loan là ham muốn theo đuổi bản sắc riêng và gia tăng lợi ích kinh tế Việc tạo dựng bản sắc riêng gắn với tham vọng theo đuổi độc lập đã gây khó chịu cho Bắc Kinh khi nó có khả năng làm trễ, thậm chí làm cho mục tiêu thống nhất của Trung Quốc trở thành mục tiêu vô hạn định Do đó hai điều này là hai lựa chọn khó khăn đối với Đài Loan và dễ dàng làm thay đổi cục diện quan hệ hai bờ

Eo biển, thậm chí có thể gây hại cho quá trình hòa giải Hai bờ đang diễn ra

Chu và Kastner cùng chủ biên cuốn sách về Toàn cầu hóa và quan hệ an ninh hai bờ Eo biển Đài Loan [94] đã phân tích quan hệ Hai bờ trên phương diện an

ninh tổng hợp gồm cả an ninh quân sự chính trị và kinh tế Nghiên cứu đã đánh giá định tính về ảnh hưởng của tự do hóa kinh tế, toàn cầu hóa lên phân phối thu nhập ở Đài Loan giai đoạn 1985-2010 và phân tích sâu hoạt động M&A giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan giai đoạn 1997-2010, đồng thời xem xét lại vấn đề an ninh kinh

tế của Đài Loan liên quan đến ngành công nghiệp bán dẫn giữa hai bờ Eo biển

Trang 25

Cuốn sách của Crookes và Knoerich về Quan hệ hai bờ Eo biển Đài Loan trong kỷ nguyên thay đổi công nghệ [98] đã phân tích quan hệ Hai bờ trên phương

diện an ninh, kinh tế, và văn hóa trước những thay đổi công nghệ hiện nay Cuốn sách đã chỉ ra đóng góp của thay đổi công nghệ vào sự dịch chuyển chính trị, kinh

tế và văn hóa, thậm chí tạo nên các nét đặc trưng trong quan hệ Hai bờ Tuy nhiên,

sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc và sự tham gia của đông đảo đối thủ từ nhiều nền kinh tế lớn đã khiến vị thế của doanh nghiệp Đài Loan chuyển từ thế chiếm ưu thế sang mất dần lợi thế, thậm chí bị đứng ngoài lề Đến nay, dù phần lớn doanh nghiệp Trung Quốc vẫn còn dựa vào cóp nhặt bắt chước với năng lực sáng tạo thấp, nhưng có một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp Trung Quốc đã thay đổi vượt bậc

về năng lực sáng tạo và đang tạo nên một nghịch lý mới trong hội nhập kinh tế Hai

bờ Đó là sự tham gia của doanh nghiệp Đại lục trong các khâu có giá trị gia tăng cao, thậm chí có tình trạng xuất ngược sản phẩm công nghệ cao trở lại Đài Loan

Bên cạnh đó, có nhiều nghiên cứu phân tích và lý giải sự hội nhập kinh tế Hai bờ nằm trong sự hội nhập kinh tế của khu vực kinh tế người Hoa bao gồm Trung Quốc, Đài Loan, và Hồng Kông Chính sự liên hệ mật thiết về văn hóa, ngôn ngữ, khoảng cách gần cận đã tạo nên sự hấp dẫn nội tại giữa những nền kinh tế này

Công trình của Cheung, Chinn và Fujii về Hội nhập kinh tế của Trung Quốc mở rộng [87] đã phân tích sâu về quá trình cải cách của Trung Quốc, sự hội nhập nhanh

chóng của Trung Quốc, và sự hội nhập kinh tế sâu sắc của ba nền kinh tế người Hoa

qua những mối liên kết kinh tế và tài chính Công trình Hội nhập kinh tế hai bờ Eo biển Đài Loan [93] do tác giả Chow chủ biên đã cung cấp các phương diện khác

nhau trong hội nhập kinh tế giữa hai bờ Eo biển như ảnh hưởng của hoạt động đầu

tư trong khu vực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) đến kinh tế Đài Loan;

sự phát triển và đa dạng hóa lợi ích trên các thị trường tài sản ở ba nền kinh tế Trung Quốc, Hồng Kông, và Đài Loan; hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) giữa hai Eo bờ; liên minh chiến lược Nhật-Đài ở Đại lục, và cả nội dung mạng sản xuất giữa Trung Quốc và Đài Loan Công trình này đã cung cấp các số liệu khá cập nhật cùng với khoảng thời gian nghiên cứu dài, và sử dụng cả phương pháp định

Trang 26

tính và phân tích định lượng trên cả phương diện vĩ mô và vi mô để chỉ ra một khu vực kinh tế Trung Hoa mở rộng sau khi đạt được CEPA và ECFA đang trở nên ngày càng gắn kết chặt chẽ hơn dù vẫn tồn tại những chướng ngại về chính trị

Cùng với các nội dung về quan hệ kinh tế hay kinh tế-chính trị-an ninh thì do tính đặc thù của quan hệ Hai bờ là một điểm nóng tồn dư từ sau Chiến tranh Lạnh, nên có một số nghiên cứu đã tìm hiểu mối liên kết giữa sự tương thuộc về kinh tế và xung đột chính trị Các nghiên cứu này phần lớn dựa trên các mô hình lực hấp dẫn (gravity model) hoặc các mô hình hồi quy đa biến để tìm hiểu xem liệu có mối tương quan giữa gia tăng tương thuộc về kinh tế với việc giảm xung đột - hay thúc

đẩy hòa bình hay không Tiêu biểu là nghiên cứu của Kastner về Xung đột chính trị

và tương thuộc kinh tế Hai bờ biển Đài Loan và các trường hợp khác [162] Thông

qua ví dụ về quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Đài Loan được diễn ra đằng sau những căng thẳng chính trị, Krastner đã lý giải rằng ảnh hưởng của xung đột chính trị lên tương thuộc kinh tế trong trường hợp này chủ yếu là do các lãnh đạo của hai nền kinh tế vẫn quan tâm tới các lợi ích kinh tế trong xung đột chính trị, do đó họ ủng hộ và giành được lợi ích từ việc hội nhập vào kinh tế thế giới Khi đó xung đột chính trị nhiều khả năng sẽ có ảnh hưởng giới hạn đến phương diện kinh tế

- Nghiên cứu tác động từ Trung Quốc trỗi dậy và hội nhập kinh tế Hai bờ

Trên cách tiếp cận về quan hệ quốc tế và kinh tế chính trị quốc tế, nhiều công trình đã cho thấy tính bất đối xứng và tác động của một Trung Quốc gia tăng vị thế

đã làm thay đổi hành vi các quốc gia trong khu vực như thế nào Tang et al [243]

chỉ ra rằng các quốc gia không đơn thuần đi theo các lựa chọn của trường phái hiện thực như cân bằng, phù thịnh, hay phòng bị nước đôi Thay vào đó, lựa chọn đối sách có sự hòa trộn nhiều mặt, như tán đồng với Trung Quốc về phương diện kinh

tế nhằm hưởng lợi ích từ cấu trúc kinh tế hội nhập hướng tâm Trung Quốc, đồng thời cũng tìm kiếm cân bằng an ninh bên trong và bên ngoài khu vực Cuốn sách

Quan hệ của Đông Á với một Trung Quốc đang trỗi dậy (2010) [121], được thực

hiện dưới sự tài trợ của Quỹ Konrad Edenauer Stiftung (Đức), cho thấy sự gắn kết kinh tế giữa các nước trong khu vực với Trung Quốc đã bổ sung cho nhau như thế

Trang 27

nào và dần hình thành một cấu trúc hội nhập kinh tế khu vực hướng tâm Trung Quốc đại lục ra sao Trước những nỗ lực ngoại giao tạo dựng hình ảnh “phát triển hòa bình” của Trung Quốc, hầu hết các nước đều nỗ lực cải thiện quan hệ với Trung Quốc đồng thời gìn giữ quan hệ với các đối tác quan trọng khác như Mỹ, Nga, Úc,

và Ấn Độ nhằm tìm kiếm cân bằng cho sự gắn kết kinh tế với Trung Quốc

Ngoài ra, một số công trình dựa trên cách tiếp cận kinh tế quốc tế với các phương pháp định lượng khác nhau đã cố gắng lượng hóa tác động của tăng trưởng hoạt động ngoại thương của Trung Quốc và Đài Loan hay hội nhập kinh tế Hai bờ tới nền kinh tế khu vực và toàn cầu Có thể kể đến là công trình nghiên cứu của

Rosen và Wang mang tên Hàm ý của sự tự do hóa kinh tế Trung Quốc-Đài Loan

[226] dựa trên việc sử dụng phương pháp mô hình (cách tiếp cận DCGE) với 20 khu vực (gồm cả các nền kinh tế và các khối kinh tế), 32 ngành và các giả định về các FTA khu vực trong giai đoạn 2005-2020 Từ đó, nghiên cứu đã đưa ra những đánh giá định lượng về ảnh hưởng của hiệp định ECFA đến quan hệ kinh tế Hai bờ và các khối kinh tế trong khu vực Đài Loan nhận được thu nhập lớn hơn không phải từ xuất khẩu ròng mà chủ yếu là từ sự điều chỉnh cấu trúc tăng lên, đồng thời cũng được hưởng những lợi ích bên ngoài từ các khối thương mại hiện có và đang đàm phán Trong khi đó, GDP của Trung Quốc có sự gia tăng nhiều nhất, còn Mỹ lại chịu thiệt hại một chút từ sự gia tăng thương mại của châu Á Đồng thời hai ông cũng đưa ra các gợi ý cho Đài Loan, Trung Quốc, Mỹ và các nước láng giềng

Nghiên cứu của Ahearne et al [54] đã nỗ lực kiểm định lại sự phân công lao

động trong mô hình “đàn nhạn bay” thông qua phân tích tác động của nền kinh tế khổng lồ Trung Quốc đối với các nền kinh tế châu Á khác trên thị trường Mỹ Mô hình của các tác giả dựa trên dữ liệu trong giai đoạn 1981-2005 của 8 nền kinh tế châu Á (gồm Trung Quốc, 3 NIEs (Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan) và ASEAN-4)

để chạy mô hình vector tự hồi quy (VAR) với ba biến bao gồm: (1) tăng trưởng thu nhập thực tế giữa các đối tác thương mại chính, (2) tăng trưởng tỷ giá thực, và (3) tăng trưởng xuất khẩu thực Kết quả cho thấy rằng, trên bình diện tổng thể, tăng trưởng xuất khẩu dẫn dắt bởi tăng trưởng toàn cầu, và sự tăng trưởng nhanh của

Trang 28

Trung Quốc mang lại cơ hội đáng kể cho các nền kinh tế châu Á mới nổi đặc biệt là các NIEs Còn ở cấp độ ngành, Trung Quốc và ASEAN-4 đã không ngừng nâng cấp

tham gia các khâu mà NIEs đã mất đi lợi thế so sánh Nghiên cứu của Gaulier et al

[123], [124] dùng các chỉ số phân tích của sự tham gia của Trung Quốc vào thương mại ở châu Á đã góp phần làm: i) gia tăng vị thế của Đông Á trong thương mại thế giới, ii) gia tăng thương mại nội ngành trong khu vực; iii) mang cả cơ hội (bổ sung)

và cạnh tranh (thay thế) đối với các nền kinh tế khác trên thị trường toàn cầu; iv) tham gia và thay đổi cấu trúc tam giác thương mại trong khu vực thông qua việc thay thế các khâu mà các NIEs đã mất đi lợi thế so sánh; và v) Trung Quốc thu hẹp khoảng cách công nghệ sẽ làm gia tăng tính cạnh tranh với các nền kinh tế tầng trên cũng như làm thay đổi lớn đến cấu trúc thương mại khu vực và toàn cầu

Bahmani-Oskooee và Wang [62] đã sử dụng mô hình VECM (mô hình hiệu chỉnh sai số dạng véc tơ) để nghiên cứu mối quan hệ (ngắn hạn và dài hạn) cùng với chiều tác động (tích cực và tiêu cực) của sự điều chỉnh tỷ giá hối đoái thực song phương cũng như sự biến động của tăng trưởng kinh tế đối với cán cân thương mại song phương giữa Trung Quốc và 13 đối tác thương mại lớn trên thế giới trong giai đoạn 1983-2002 Kết quả nghiên cứu cho thấy sự giảm giá trị đồng nhân dân tệ so với một số ngoại tệ (nhất là so với đồng USD) đã có tác động tích cực trong việc giúp cải thiện đáng kể cán cân thương mại song phương của Trung Quốc với Mỹ Tương tự, nghiên cứu của Ahmad và Yang [55] cũng thu được những kết quả tương

tự khi tiến hành sử dụng mô hình VECM để đánh giá tác động ngắn hạn và dài hạn giữa biến động của tỷ giá hối đoái thực song phương và tăng trưởng kinh tế đối với cán cân thương mại song phương của Trung Quốc cùng với 7 đối tác thương mại khác thuộc nhóm G7 trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 1974 đến năm 2000

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

- Sự trỗi dậy của Trung Quốc

Về sự trỗi dậy của Trung Quốc trên phương diện kinh tế, có thể kể đến cuốn

Sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc giai đoạn 2011- 2020 và những vấn đề đặt ra đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam [3] của PGS.TS Nguyễn Kim Bảo Cuốn

Trang 29

sách đã làm sáng tỏ sự gia tăng sức mạnh của Trung Quốc về kinh tế dựa trên phân tích về quá trình tăng trưởng cao kéo dài, nguồn dự trữ ngoại tệ tăng nhanh đã đưa Trung Quốc thành quốc gia có sở hữu ngoại tệ lớn nhất Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng trở thành quốc gia mạnh về thương mại với tốc độ và tỷ trọng bùng nổ nhanh chóng của ngoại thương, đồng thời cũng là quốc gia thu hút đầu tư nước ngoài lớn thứ 2 trên thế giới cùng với dòng vốn đầu tư ra ngoài đang gia tăng rất nhanh Công trình cũng chỉ ra những mặt trái đằng sau những thành tích tăng trưởng kinh tế lấp lánh của Trung Quốc và có những đánh giá khách quan về sự trỗi dậy này

Chủ đề Trung Quốc trỗi dậy trong tương quan với các chủ thể khác và ảnh hưởng tới cấu trúc kinh tế- chính trị của khu vực châu Á cũng là một chủ đề thu hút được nhiều nghiên cứu Đặc biệt, quan hệ Mỹ-Trung có sự thu hút lớn đối với các học giả trong nước do vị trí quan trọng của các cường quốc này trong trật tự quyền lực khu vực và toàn cầu, và những ảnh hưởng lớn đến cấu trúc an ninh, kinh tế,

chính trị của châu Á-Thái Bình Dương Cuốn sách Quan hệ Mỹ-Trung Quốc thập niên đầu thế kỷ XXI [47] của tác giả Lê Khương Thùy đã chỉ ra các thay đổi trong

chiến lược toàn cầu và chính sách với Trung Quốc từ sau Chiến tranh Lạnh Tác giả

đã lý giải và có những phân tích sâu sắc, toàn diện về sự điều chỉnh chiến lược, cách tiếp cận của Hoa Kỳ trong xử lý mối quan hệ Mỹ-Trung đầy phức tạp, đan xen lợi

ích chặt chẽ PGS.TS Nguyễn Thái Yên Hương với công trình Thế hệ lãnh đạo thứ năm của Trung Quốc: Những điều chỉnh chính sách với Mỹ và các tác động tới khu vực châu Á-Thái Bình Dương [25] đã làm rõ những đặc trưng cơ bản của thế hệ

lãnh đạo mới và các thay đổi chính sách đối ngoại và chính sách riêng đối với Mỹ của Trung Quốc từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XVIII Cuốn sách đã cung cấp những tương tác chiến lược, chính sách và thực tiễn giữa hai nước lớn này cùng với tác động tới khu vực Châu Á-Thái Bình Dương

- Quan hệ giữa Trung Quốc và Đài Loan

Cuốn sách Quan hệ “hai bờ bốn bên” trong quá trình trỗi dậy của Trung Quốc và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam do Vũ Thùy Dương chủ biên [14] là

công trình công phu, phân tích mối quan hệ giữa bốn chủ thể xung quanh eo biển

Trang 30

Đài Loan gồm Trung Quốc đại lục, Đài Loan, Hồng Kông và Ma Cao Cuốn sách đi

từ định hướng chính sách của mỗi bên, thực trạng quan hệ giữa các chủ thể này đã làm rõ được mối quan hệ vừa thăng trầm lại vừa có mối liên kết kinh tế chặt chẽ giữa Đại lục, Đài Loan, Hồng Kông và Ma Cao Các tác giả chỉ rõ sự gia tăng ảnh hưởng, cả sức mạnh cứng và mềm của Trung Quốc đang ngày càng làm thay đổi tính chất quan hệ giữa các chủ thể, tạo cơ hội cho Trung Quốc có những chính sách quyết đoán, cứng rắn hơn Về vấn đề chính trị an ninh trên Eo biển Đài Loan, bài

báo Nhân tố Nga và Mỹ trong quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan những năm đầu thế

kỷ XXI của tác giả Đỗ Minh Cao [8] lại phân tích sự thay đổi vai trò của Mỹ và Nga

trong bối cảnh quan hệ Hai bờ đang ấm dần Về cơ bản, lợi ích và ảnh hưởng của Nga gần như không đáng kể ở Đài Loan, và quan điểm của Nga là thừa nhận lập trường “một Trung Quốc” của Bắc Kinh Về phía Mỹ thì có nhiều lợi ích an ninh, chính trị ở khu vực này và mức độ can thiệp cũng mạnh hơn, song các quan điểm về vấn đề Đài Loan đang có sự phân rẽ trong nội bộ Mỹ Về quan hệ kinh tế, bài báo

Quan hệ Thương mại giữa Hai bờ Eo biển Đài Loan, Thực trạng và Triển vọng của

tác giả Vũ Thùy Dương [13] đã phân tích các thay đổi trong trao đổi thương mại

Hai bờ từ cuối thập kỷ 1980 đến 1995 Tác giả Phùng Thị Huệ với bài báo Hai mươi năm quan hệ kinh tế Đại lục – Đài Loan [23] đã phân tích định tính về diễn

biến hoạt động đầu tư và trao đổi thương mại giữa Đại lục và Đài Loan giai đoạn

1978-1998 Ngoài ra, phải kể đến bài báo Quan hệ Kinh tế giữa Hai bờ Eo biển Đài Loan trong mười năm đầu Thế kỷ XXI của Trương Hoàng Thùy Vân [49] đã cung

cấp khá tổng quan tình hình thương mại, đầu tư giữa Đại lục và Đài Loan trong giai

đoạn 1991-2010 Tác giả Vân [50] trong bài báo Tình hình Đài Loan và Quan hệ Hai bờ năm 2012 – Triển vọng năm 2013 đã đưa ra một số động thái mới trong đầu

tư, thương mại Hai bờ sau khi ký kết ECFA từ năm 2010 đến năm 2012

- Quan hệ Việt Nam-Trung Quốc

Về nghiên cứu chính sách đối ngoại của Trung Quốc với Việt Nam, ba cuốn

sách Ngoại giao Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 30 năm cải cách mở cửa 2008) [38], Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hai mươi năm đầu thế kỷ

Trang 31

(1978-XXI [39], và Ngoại giao Trung Quốc trong quá trình trỗi dậy và những vấn đề đặt

ra cho Việt Nam [40] do TS Lê Văn Mỹ chủ biên đã cung cấp những cái nhìn sắc

nét về quá trình tiến triển của chính sách đối ngoại và ngoại giao của Trung Quốc từ sau cải cách mở cửa năm 1978 đến nay, với ba trọng tâm là: i) giữ ổn định và phát triển quan hệ với các nước lớn, nhất là quan hệ Trung-Mỹ; ii) xây dựng quan hệ hợp tác tốt đẹp với các nước láng giềng đặc biệt là Đông Nam Á; và iii) thực thi chiến lược ngoại giao năng lượng tích cực với khu vực Trung Á, Trung Đông, châu Phi,

Mỹ Latin và Caribe Trong khi đó, về phía Việt Nam có thể kể đến cuốn sách Chính sách đối ngoại rộng mở của Việt Nam và quan hệ Việt Nam-Trung Quốc [45] do hai tác giả Đỗ Tiến Sâm và Furuta Motoo đồng chủ biên, và cuốn Định hướng chiến lược Đối ngoại Việt Nam đến 2020 [37] do đồng chí Phạm Bình Minh chủ biên đã

chỉ rõ các định hướng chính sách đối ngoại và ngoại giao của Việt Nam nhất quán định hướng đa phương, đa dạng hóa, rộng mở hợp tác phát triển với các nước trên thế giới Đặc biệt, quan hệ Việt-Trung có tính đặc thù cao với mối quan hệ sâu sắc giữa hai Đảng và hai Nhà nước, quan hệ này đã phát triển nhanh chóng trên tất cả các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội và trao đổi tư tưởng theo phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt, và đặc biệt là hai nước đã nâng cấp quan hệ lên mức cao nhất là “quan hệ hợp tác đối tác chiến lược toàn diện” từ năm 2008

Hai công trình phân tích toàn diện quan hệ Việt-Trung có thể kể đến là Quan

hệ Việt - Trung trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, những vấn đề đặt ra và đối sách

xử lý giai đoạn 2011-2020 [28] và công trình Những vấn đề nổi bật trong quan hệ Trung Quốc - Việt Nam 10 năm đầu thế kỷ 21 và triển vọng đến năm 2020 [26] do

tác giả Nguyễn Đình Liêm chủ biên Tác giả đã nỗ lực làm rõ quá trình Trung Quốc trỗi dậy đã tác động như thế nào đến sự phát triển quan hệ Việt-Trung, chỉ ra thực trạng và các vấn đề đặt ra, cũng như nêu lên những đối sách để Việt Nam có thể bảo

vệ lợi ích quốc gia vừa chủ động hợp tác, giảm xung đột lợi ích, tránh phụ thuộc và tận dụng được cơ hội từ sự trỗi dậy của Trung Quốc Cả hai cuốn sách đều tập trung phân tích mối quan hệ Việt-Trung tổng hòa trên tất cả góc độ bối cảnh quốc tế, quan

hệ thương mại đầu tư, vấn đề an ninh quốc phòng, và văn hóa xã hội

Trang 32

Đáng chú ý là cuốn sách Hợp tác phát triển “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” Việt Nam-Trung Quốc trong bối cảnh mới [46] do GS Đỗ Tiến Sâm và

GS Kurihara Hirihide đồng chủ biên đã mô tả hiện trạng các chương trình hợp tác

“hai hành lang, một vành đai” trong mối liên hệ với ý tưởng “một trục, hai cánh” và

kế hoạch hợp tác Vịnh Bắc Bộ mở rộng của Trung Quốc; và những thay đổi mới trong tình hình khu vực, thế giới và quan hệ hai nước có ảnh hưởng đến chương trình hợp tác này Với sự chú ý vào tình hình trao đổi biên mậu Việt-Trung và

những tồn tại bất cập trong quản lý hoạt động này, công trình Quan hệ biên mậu giữa Tây Bắc – Việt Nam với Vân Nam – Trung Quốc [27] do tác giả Nguyễn Đình

Liêm chủ biên đã chỉ ra những nền tảng về thể chế, chính sách, hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển quan hệ mậu dịch biên giới giữa 4 tỉnh Tây Bắc Việt Nam với Vân Nam (Trung Quốc) Liên quan đến đầu tư của Trung Quốc tại Việt

Nam, TS Nguyễn Đình Liêm với công trình Nghiên cứu, đánh giá đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam [29] đã làm sáng rõ thực trạng và những vấn đề mà

đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tạo ra cho Việt Nam, đặc biệt là những vấn đề Việt Nam đang phải đối mặt về đảm bảo phát triển bền vững Các tác giả đã làm nổi bật được những động cơ, định hướng của chiến lược “đi ra ngoài” của Trung Quốc và nhu cầu cần thiết đầu tư ra bên ngoài trong quá trình Trung Quốc chuyển đổi phương thức phát triển, cùng các chiến lược tổng thể và chính sách cụ thể, quá trình triển khai của đầu tư ra bên ngoài của Trung Quốc Bên cạnh đó, các đặc trưng của đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam cũng được các tác giả phân tích làm

rõ trên phương diện quy mô, phân bổ, lĩnh vực đầu tư, thực trạng công nghệ, thu hút việc làm và tác động đến môi trường, sử dụng tài nguyên, tại Việt Nam

- Quan hệ Việt Nam-Đài Loan và chính sách “hướng Nam”

Công trình Hợp tác kinh tế Việt Nam-Đài Loan trong bối cảnh hội nhập kinh

tế Đông Á [7] do tác giả Ngô Xuân Bình chủ biên đã tập trung phân tích mối quan

hệ hợp tác kinh tế Việt-Đài, trong đó quan hệ giữa hai bờ Eo biển chỉ được đề cập trên những khía cạnh nhỏ Tuy nhiên, các nghiên cứu lại cho thấy ảnh hưởng đáng

kể của Trung Quốc tới mối quan hệ Việt-Đài Bài báo Hợp tác đầu tư Đài

Trang 33

Loan-Việt Nam: thành tựu, vấn đề và triển vọng của tác giả Phùng Thị Huệ [24] đã đề cập

tới các vấn đề trong hoạt động hợp tác giữa doanh nghiệp Việt Nam và Đài Loan,

những khúc mắc khó khăn cần giải quyết giữa hai bên Còn bài báo Quan hệ kinh tế Việt Nam - Đài Loan thực trạng và triển vọng của tác giả Nguyễn Duy Dũng [12]

cũng chỉ ra những nhân tố tác động và một số đặc trưng cơ bản về hoạt động thương mại, đầu tư, hợp tác lao động giữa Việt Nam và Đài Loan từ 1999 đến 2005 Trong

khi đó, luận án tiến sĩ Quan hệ Đài Loan - Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2010 của

tác giả Hắc Xuân Cảnh [9] dựa trên các phương pháp tiếp cận lịch sử để phân tích quan hệ Việt Nam-Đài Loan Trong công trình này, yếu tố Trung Quốc trong quan

hệ Việt-Đài chỉ được nêu một cách khái quát, còn quan hệ Trung-Đài hầu như rất ít

được đề cập Bài báo Chính sách hướng Nam của Đài Loan của tác giả Nguyễn Thị Cẩm [10] đã phân tích cơ sở và đặc trưng của chính sách “hướng Nam” đầu tiên trong thời Lý Đăng Huy cầm quyền Trong khi đó, nghiên cứu Chính sách hướng Nam và quan hệ đầu tư, thương mại Đài Loan-ASEAN của tác giả Dương Văn Lợi

[31] tiếp tục phân tích các làn sóng và bối cảnh thúc đẩy chính sách “hướng Nam”

và hoạt động đầu tư, trao đổi thương mại giữa Đài Loan và các nước ASEAN

- Đánh giá tác động của quan hệ kinh tế Hai bờ đến Việt Nam

Trung Quốc là một chủ thể lớn có mối liên hệ mật thiết với Việt Nam và mở rộng quan hệ với Đài Loan luôn là một vấn đề hết sức nhạy cảm đối với bất kỳ nước nào có quan hệ ngoại giao với Trung Quốc Vì vậy, tác động từ phía Trung Quốc đối với quan hệ Việt-Đài hay hàm ý của quan hệ Hai bờ đối với Việt Nam đã được phân tích dưới các cách tiếp cận định tính trong một số nghiên cứu Trong cuốn sách của Vũ Thùy Dương [14], dựa trên các phân tích, đánh giá chính sách và triển vọng quan hệ “hai bờ bốn bên”, tác giả đã đưa ra một số đối sách cho Việt Nam trong tăng cường quan hệ với bốn đối tác để vừa không xâm phạm nguyên tắc “Một Trung Quốc” của Bắc Kinh vừa mang lại lợi ích cao nhất cho Việt Nam Còn trong

cuốn sách của Ngô Xuân Bình [7], phần Quan hệ giữa hai bờ Eo biển Đài Loan và tác động đối với quan hệ kinh tế Việt Nam-Đài Loan của Nguyễn Thanh Bình dựa

trên phân tích định tính đã giúp đưa ra nhận định tình hình an ninh ổn định Hai bờ

Trang 34

có thể tạo điều kiện cho Việt-Đài gia tăng hợp tác và trong trường hợp hai bên căng thẳng, mối quan hệ hợp tác Việt-Đài cũng chịu nhiều áp lực và gặp khó khăn hơn

Bên cạnh đó, nghiên cứu của tác giả Phạm Thái Quốc về Sự nổi lên của Trung Quốc

và quan hệ kinh tế Việt Nam-Đài Loan [42] cũng phân tích các ảnh hưởng của tăng

trưởng kinh tế mạnh mẽ của Trung Quốc đối với trao đổi kinh tế Việt-Đài dựa trên các phân tích so sánh định tính về biến động dòng thương mại và đầu tư Việt - Đài với trao đổi thương mại đầu tư của Trung Quốc với Việt Nam và Đài Loan

Trong khi đó, cuốn sách Trung Quốc và Ấn Độ trỗi dậy: Tác động và đối sách của các nước Đông Á (2013) do PGS.TS Phạm Thái Quốc [43] chủ biên đã

nghiên cứu tác động từ sự trỗi dậy của Trung Quốc và Ấn Độ trên cách tiếp cận định tính, chỉ ra cơ hội và thách thức đối với thế giới và các nước Đông Á Mặc dù nhận được các lợi ích thương mại và đầu tư đáng kể, Trung Quốc vươn mình cũng đang mang đến nhiều thách thức lớn cho các nước trong khu vực, nó làm thay đổi cục diện kinh tế chính trị khu vực và đẩy mạnh các xu hướng cạnh tranh gia tăng ký kết FTAs, gia tăng chi tiêu quân sự, cũng như kích thích các nước Đông Á nỗ lực tìm kiếm cân bằng bên trong và bên ngoài khu vực Cuốn sách của Nguyễn Đình Liêm [28] dựa trên phân tích định tính tình hình hai nước và bối cảnh khu vực thế giới cũng chỉ ra tác động của Trung Quốc trỗi dậy đã làm biến đổi quan hệ Việt-Trung như thế nào đặc biệt trong những vấn đề như lòng tin chính trị, quốc phòng

an ninh, nhập siêu từ Trung Quốc của Việt Nam Luận án tiến sĩ của Lưu Việt Hà

Chiến lược trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc và tác động đến an ninh khu vực Đông Nam Á [22] trên phương diện quan hệ quốc tế đưa ra một số tác động của sự

điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc đến khu vực Đông Nam Á và Việt Nam

1.3 Đánh giá chung và những vấn đề Luận án cần tập trung giải quyết

1.3.1 Đánh giá chung

Các nghiên cứu có liên quan đến mối quan hệ giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan hết sức phong phú trên cả phương diện kinh tế, chính trị, và đặc biệt là khía cạnh an ninh Điều này xuất phát từ các chủ thể có liên quan trên khu vực này đều

có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế-chính trị toàn cầu, đó là nhân tố

Trang 35

Trung Quốc đang trỗi dậy ngày càng mạnh mẽ, một Đài Loan chịu vòng kim cô về chính trị nhưng lại phát triển về kinh tế, và một vai trò trung gian của Hoa Kỳ trong đảm bảo an ninh cân bằng trên điểm nóng này Về cơ bản, mặc dù khác nhau về quy

mô và phạm vi nghiên cứu cũng như về cách tiếp cận, song các nhiên cứu trong và

ngoài nước đều khá nhất quán trên những điểm sau: Thứ nhất, cùng với sự trỗi dậy

của Trung Quốc và gia tăng bản sắc riêng của Đài Loan, Eo biển Đài Loan vẫn tiếp tục là một điểm nóng thường trực nguy cơ mất an ninh trên khu vực châu Á-Thái

Bình Dương Thứ hai, xuất phát từ đặc điểm trên, sự can dự của Hoa Kỳ vẫn hết sức cần thiết nhằm đảm bảo an ninh, ổn định và hòa bình trên khu vực Thứ ba, sự trỗi

dậy mạnh mẽ của Trung Quốc đang làm thay đổi quan hệ kinh tế Hai bờ với sự phụ thuộc hơn của vùng lãnh thổ Đài Loan và tiềm ẩn nhiều mối đe dọa an ninh kinh tế

của hòn đảo này Thứ tư, nhằm ứng phó với một Trung Quốc đang gia tăng quyền

lực và tiếp tục củng cố quan hệ với Đài Loan, các quốc gia trong khu vực cũng như

trên thế giới đều hết sức thận trọng lựa chiều thái độ của Bắc Kinh Thứ năm, Việt

Nam duy trì một mối quan hệ gắn bó về chính trị và sâu sắc về kinh tế với Trung Quốc, đồng thời giao lưu kinh tế ngày càng đa dạng và mở rộng với Đài Loan trong khi luôn gắn liền với nguyên tắc “một Trung Quốc”

Nhìn chung, các công trình quốc tế đã cung cấp bức tranh đa dạng và nhiều chiều về các quan hệ xung quanh Eo biển Đài Loan Tuy nhiên, các nghiên cứu này thường xoáy theo các trọng điểm nhất định như an ninh trên Eo biển, hợp tác kinh tế trong từng lĩnh vực cụ thể, hay trong một giai đoạn nhất định Ngoài ra, mặc dù có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra đặc trưng kinh tế bất đối xứng và tính dễ tổn thương của Đài Loan, song lại thiếu vắng các nghiên cứu phân tích những dịch chuyển cụ thể trong quan hệ kinh tế bất đối xứng Hai bờ trong một thời kỳ dài (gần 3 thập kỷ - kể

từ cuối thập kỷ 1980 đến năm 2015) Thêm nữa, nghiên cứu “định lượng” về tác động của quan hệ kinh tế giữa hai bờ Eo biển Đài Loan đến kinh tế khu vực lại không đáng kể, thậm chí còn không có nghiên cứu quốc tế nào đề cập tới tác động

“định lượng” của quan hệ kinh tế Hai bờ đến Việt Nam Trong khi đó, các công trình trong nước thường tập trung vào phân tích “định tính” quan hệ Việt-Trung và

Trang 36

có quan tâm tới các quan hệ kinh tế Việt-Đài Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước

về quan hệ Hai bờ lại khá mỏng, chưa thực sự được chú trọng, nhất là trên khía

cạnh kinh tế trong dài hạn Đặc biệt, cho đến nay vẫn chưa hề có một nghiên cứu

nào (cả trong và ngoài nước) nghiên cứu một cách toàn diện về quan hệ kinh tế Hai

bờ kể từ cuối thập kỷ 1980 đến nay (khoảng 3 thập kỷ) và lượng hóa tác động của

mối quan hệ Trung-Đài tới kinh tế Việt Nam trong một thời kỳ dài (1990-2015)

Đây chính là khoảng trống nghiên cứu đã được nhận diện rõ trong quá trình tổng

quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế Vì vậy, luận án sẽ tập trung

chủ yếu vào nghiên cứu và giải quyết khoảng trống này dựa trên sự kết hợp cả phân

tích định tính và định lượng, trong đó có nhấn mạnh vào đặc tính bất đối xứng giữa

ba chủ thể là Trung Quốc đại lục, vùng lãnh thổ Đài Loan, và Việt Nam

1.3.2 Những vấn đề đặt ra đối với Luận án

Tiếp tục kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có trong nước và quốc tế xung

quanh ba chủ thể Trung Quốc - Đài Loan - Việt Nam, luận án sẽ tập trung giải quyết

những nội dung sau: (i) Hệ thống hóa có chọn lọc lý luận về các mối quan hệ bất

đối xứng cùng những hệ quả kinh tế chính trị của nó, từ đó xây dựng được khung

phân tích của mối quan hệ kinh tế Trung-Đài, và tác động của quan hệ này tới kinh

tế Việt Nam; (ii) Tổng quan và phân tích định tính dựa trên các dữ liệu thứ cấp để

nêu lên được những dịch chuyển về thương mại và đầu tư trong mối quan hệ kinh tế

Trung-Đài đã diễn ra như thế nào và tính bất đối xứng dịch chuyển ra sao kể từ cuối

thập kỷ 1980 đến nay; (iii) Sử dụng mô hình định lượng để kiểm định tác động,

đánh giá các kênh và chiều tác động, cũng như lượng hóa mức độ tác động của quan

hệ kinh tế Trung-Đài tới kinh tế Việt Nam; và (iv) Trên tiền đề Việt Nam là một

quốc gia tầm trung và có mối quan hệ gắn bó chính trị-kinh tế với Trung Quốc, và

trên cơ sở các kết quả phân tích ở trên, luận án sẽ cố gắng đưa ra những hàm ý

chính sách phù hợp cho Việt Nam nhằm tận dụng tối đa những cơ hội mới và vượt

qua các thách thức mới bắt nguồn từ sự vận động đầy bất định trong quan hệ kinh tế

giữa hai bờ Eo biển Đài Loan trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang tồn tại đồng

thời nhiều xu hướng vừa thúc đẩy hội nhập sâu rộng vừa gia tăng bảo hộ

Trang 37

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUAN HỆ KINH TẾ TRUNG QUỐC-ĐÀI LOAN VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỀN KINH TẾ THỨ BA

2.1 Cơ sở lý luận

Quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc đại lục và vùng lãnh thổ Đài Loan là một

mối quan hệ đặc biệt giữa hai thực thể bị chia cắt trên một điểm nóng quan trọng ở

Đông Bắc Á Mối quan hệ này dù vẫn vận động theo quy luật kinh tế thông thường,

song lại thể hiện sự tương tác qua lại rất mạnh giữa chính trị và kinh tế, giữa chủ thể

nhà nước và lực lượng thị trường Những tương tác này đã tạo thành bức tranh hai

mảng đối lập trong quan hệ Hai bờ đó là: hội nhập kinh tế sâu rộng trong khi vẫn

duy trì tình trạng chính trị căng thẳng tiềm ẩn xung đột Vì vậy, phần cơ sở lý luận

về quan hệ kinh tế Hai bờ sẽ được phân tích theo hai nhóm cấp độ chính sau:

+ Cấp độ thứ nhất (trong phần 2.1.1) dựa trên cách tiếp cận và phương pháp

nghiên cứu Kinh tế Chính trị Quốc tế (IPE), là các lý luận nhằm luận giải các tương

tác kinh tế chính trị giữa chính phủ Trung Quốc và chính quyền Đài Loan đối với

quan hệ kinh tế hai bờ Trên nền tảng bất đối xứng về chính trị-kinh tế, mỗi bên đều

có các định hướng riêng nhằm điều chỉnh hiện trạng quan hệ kinh tế theo mục tiêu

của mình trong bối cảnh kinh tế quốc tế chung Các tương tác này sẽ có những tác

động nhất định, với mức độ và cường độ khác nhau, đến quan hệ kinh tế hai bờ

+ Cấp độ thứ hai (từ phần 2.1.2 đến 2.1.4) dựa trên các cách tiếp cận, lý

thuyết, và phương pháp nghiên cứu Kinh tế Quốc tế (IE), là các lý luận nhằm phân

tích các tương tác kinh tế thuần túy giữa các lực lượng thị trường Nói một cách

khác, cấp độ này nhằm thiết lập cơ sở lý giải các động thái chủ yếu đã và đang diễn

ra trong quan hệ kinh tế hai bờ Một mặt, xuất phát từ giới hạn phạm vi nghiên cứu,

Luận án sẽ chỉ tổng quan chọn lọc một số cụm lý thuyết kinh tế quốc tế có ứng dụng

trực tiếp trong phân tích thực trạng quan hệ kinh tế ở các chương sau Mặt khác, dù

có nhiều lý thuyết thương mại và đầu tư quốc tế, song chúng có sự đan xen và tương

liên với nhau Các lý luận về thương mại quốc tế như lợi thế so sánh, thuyết thương

mại mới, địa lý kinh tế mới cũng đồng thời lý giải một số đặc trưng đầu tư như đầu

Trang 38

tư theo chiều dọc chủ yếu dựa trên khác biệt về lợi thế so sánh, sự tích tụ tập trung đầu tư vào các cụm công nghiệp chủ yếu nhằm có được lợi tức tăng dần theo quy

mô Các lý thuyết thương mại quốc tế không chỉ đơn thuần lý giải các hoạt động thương mại mà còn là cơ sở giải thích cho sự phân bố sản xuất trên toàn cầu

Cơ sở phân tích thực trạng quan hệ kinh tế (qua kênh thương mại và đầu tư)

và khả năng tác động của mối quan hệ kinh tế đến chủ thể thứ ba được đề cập trong phần 2.1.5 và 2.1.6 dựa trên sự kết hợp của cả hai cấp độ phân tích IPE và IE

2.1.1 Tính bất đối xứng và tương tác kinh tế chính trị giữa các chủ thể nhà nước

Cùng với sự mở rộng của toàn cầu hóa và gia tăng các mối quan hệ phụ thuộc phức tạp giữa các quốc gia, kinh tế chính trị quốc tế đã được phát triển dựa trên cách tiếp cận liên ngành (chiết trung) kết nối các ngành kinh tế quốc tế, chính trị quốc tế, và các khoa học xã hội khác nhằm giải quyết các vấn đề quốc tế mà mỗi ngành khoa học riêng lẻ không thể giải quyết Với ba dòng chính gồm chủ nghĩa trọng thương, tự do, và phê phán (Marxism), kinh tế chính trị quốc tế nghiên cứu sự tương tác giữa các yếu tố chính trị (gắn liền với quyền lực nhà nước) và các yếu tố kinh tế (gắn với thị trường và quá trình sản xuất, phân phối của cải) trong một thế giới gia tăng toàn cầu hóa và tương thuộc phức tạp Các học giả IPE phân định kinh

tế như hệ thống sản xuất-phân phối-tiêu dùng, còn chính trị là tập hợp thể chế và quy tắc điều chỉnh các tương tác kinh tế, xã hội Nhìn chung, các chủ thể trong nền kinh tế toàn cầu với các kết nối phụ thuộc lẫn nhau phức tạp đều nỗ lực tìm kiếm và tối đa hóa các nguồn của cải (kinh tế) và/hay quyền lực (chính trị) của bản thân [127], [239] Trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau ngày càng chặt chẽ, thì tương thuộc bất đối xứng luôn tồn tại và chiếm ưu thế Đây là một đặc trưng cơ bản và điển hình trong cấu trúc kinh tế chính trị đa dạng ở châu Á Phần này sẽ phân tích chính trị và nền tảng kinh tế của sự bất đối xứng, tương quan giữa tương thuộc bất đối xứng và quyền lực, và tương tác hai cấp độ giữa nhà nước với thị trường

2.1.1.1 Chính trị của sự bất đối xứng

Thuyết bất đối xứng được Womack [266], [267], [268] đưa ra khi phân tích các tương tác bất đối xứng ở châu Á và trên thế giới từ kinh nghiệm lịch sử Ông

Trang 39

thừa nhận sự khác biệt về năng lực và quyền lực giữa các quốc gia sẽ dẫn tới những khác biệt về nhận thức và lợi ích tương đối giữa các quốc gia đó Chính sự khác biệt

về nhận thức đã dẫn tới những nhận thức sai lệch mang tính cấu trúc về ý định của

kẻ khác đối với mình, và điều này lại tiếp tục tạo nên một vòng luẩn quẩn những hiểu lầm tiềm tàng nguy cơ thù địch, xung đột [265, tr.359-360], [266, tr.77-92]

Trong mọi quan hệ bất đối xứng, nước mạnh hơn có nhu cầu nhận được sự thần phục của nước nhỏ, còn nước nhỏ mong muốn nước lớn tôn trọng tính tự chủ của mình Nhìn chung, cả hai sẽ cùng tồn tại hòa bình khi cả sự thần phục và tự chủ được duy trì Trong thế giới hiện đại, công nghệ cao và các kết nối kinh tế chính trị đan xen cũng như sự xuất hiện các vũ khí hủy diệt mạnh và các cơ chế quản lý khủng hoảng đã khiến cho khả năng sử dụng vũ lực của nước lớn chống lại nước nhỏ khó khăn hơn [265, tr.361] Còn nước nhỏ, nhu cầu kháng cự vì sống còn sẽ trở nên mạnh mẽ, thậm chí còn mạnh hơn tham vọng bành trướng của nước lớn Hơn nữa, trong mối quan hệ bất tương xứng này, nước lớn (A) chỉ dành mối quan tâm nhỏ với nước nhỏ (B) và các mối quan tâm bị phân tán, nhưng với B thì A là mối quan tâm lớn nhất Xung đột một khi xảy ra chắc chắn sẽ gây hại đến lợi ích của cả hai nước Ngoài ra, ở vị trí dễ bị tổn thương, B có xu hướng hợp tác chặt chẽ và ưu tiên điều hòa các mâu thuẫn nhằm gìn giữ quan hệ hữu nghị với A Do đó, ý chí của

A không dễ dàng bị áp đặt hoàn toàn lên B, mà cả hai đều tương tác điều chỉnh hướng tới điểm cân bằng hài hòa lợi ích mỗi bên Theo thời gian, quan hệ có xu hướng tiến tới trạng thái thông thường tiêu chuẩn Sau chiều dài lịch sử những trải nghiệm, quan hệ bất đối xứng có xu hướng trở nên dần ổn định bởi vì cả hai nhận thấy đều bị thiệt hại khi cứ khư khư giữ thái độ thù địch Kẻ mạnh nhận được sự quy phục, còn nước nhỏ nhận thấy sự tự chủ được thừa nhận [266, tr.78-84] Do đó, Womack nhìn nhận cấu trúc bất đối xứng về tổng thể tương đối ổn định và ít có khả năng thay đổi lớn khi nhìn nhận những ràng buộc về kinh tế, chính trị, an ninh trong thế giới hiện đại Tuy nhiên, lý thuyết này lại bỏ qua những mâu thuẫn nhỏ và các tương tác mang tính cục bộ Nói một cách khác, thuyết bất đối xứng hướng tới cân bằng tĩnh và có tính ổn định, mà ít nhấn mạnh tới trạng thái mất cân bằng động

Trang 40

Kang [159], [160], [161] và Wang [264] sử dụng cách tiếp cận lịch sử và văn

hóa Khổng giáo đã chỉ ra hệ thống triều cống dưới tên gọi thiên hạ (tianxia) với kết

cấu thứ bậc gắn vị trí trung tâm của Trung Quốc trong lịch sử đã góp phần định hình quan hệ quốc tế ở châu Á hiện đại Kang đã so sánh điểm khác biệt về cấu trúc thứ bậc giữa châu Á và Âu Trong khi ở châu Âu, nước lớn có nguy cơ đối đầu chiến tranh hơn nước nhỏ, còn ở Đông Á thì nước càng lớn lại càng có khả năng duy trì tính ổn định trong quan hệ với láng giềng [161, tr.113] Cấu trúc thứ bậc đối lập với cân bằng quyền lực vì nó đòi hỏi sự thần phục, nể trọng của nước nhỏ với nước trung tâm và nước lớn hơn Womack [266], [267] gọi đặc tính này là thừa nhận sự thần phục (AFD) Tuy nhiên, trên góc nhìn hiện thực và tự do hiện đại, nhiều học giả khác lại chỉ ra chính lợi ích kinh tế lớn mà sự trỗi dậy của Trung Quốc mang lại

đã thúc đẩy các quốc gia trong khu vực tìm kiếm sự kết hợp cả chiến lược phù thịnh (thuận chiều với quyền lực) và chiến lược cân bằng (tìm kiếm liên minh từ bên ngoài để chống sự tấn công của kẻ mạnh ở khu vực) trong hành xử với Trung Quốc Hành vi phòng bị nước đôi này có mục tiêu vừa tối đa hóa lợi ích qua gắn kết kinh

tế, vừa ngăn ngừa rủi ro chính trị-an ninh từ sự phụ thuộc này [53], [129], [131], [185], [225], [227], [266] Goh đã chỉ ra sự thần phục với quyền lực khu vực đang lên của các nước nhỏ châu Á thực chất là một lựa chọn, chứ không đơn thuần là tính phụ thuộc, bởi lẽ trong cấu trúc thứ bậc đa tầng ở châu Á thì mỗi lựa chọn đều mang tính chi phí Vì vậy, hành vi phục tùng và trấn an luôn được các nước nhỏ thực hiện đồng thời nhằm cân đối giữa các quyền lực trong khu vực [130, tr.216-221]

Trong trường hợp quan hệ Trung Quốc-Đài Loan, sự bất đối xứng chính trị, lịch sử chia cắt và tam giác chiến lược Mỹ-Trung-Đài là những nhân tố quan trọng tạo nên mối quan hệ đặc thù giữa hai bờ Eo biển [100], [274], [284], [285] Ở đây,

sự bất đối xứng quyền lực giữa Đại lục và Đài Loan là nguồn gốc gây đe dọa an ninh lớn nhất cho hòn đảo [85], [274], và nhân tố Mỹ đã góp phần bảo đảm thế cân bằng và bảo đảm an ninh cho Đài Loan Tiếp tục phát triển quan điểm của Wu [274]

về bất đối xứng quyền lực và tam giác chiến lược, Womack [267] đã chỉ ra cách thức tương tác trong bộ ba bất đối xứng quyền lực (xem Hình 3.4) Cụ thể, do Mỹ

Ngày đăng: 01/11/2017, 23:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w