1 TÓM TẮT Luận văn “Hiệu ứng ngưỡng của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế: Bang chứng thực nghiệm của 10 nước đang phát triển khu vực châu Á” dựa trên bài nghiên cứu “Tác động của ngưỡn
Trang 1Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TÉ THÀNH PHÓ HÒ CHÍ MINH
ĐỎ THỊ HỒNG OANH
HIỆU ỨNG NGƯỠNG CỦA LẠM PHÁT ĐÉN TẢNG TRƯỞNG KINH TẾ: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM Ở MƯỜI NƯỚC ĐANG PHÁT
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số : 60340201
LUẬN VĂN THẠC sĩ KINH TÉ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS NGUYỄN TẤN HOÀNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
Trang 2Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHÓ HÔ CHÍ MINH
ĐỎ THỊ HÒNG OANH
HIỆU ỨNG NGƯỠNG CỦA LẠM PHÁT ĐÉN TẢNG TRƯỞNG KINH TẾ: BẰNG CHƯNG THựC NGHIỆM Ở MƯỜI NƯỚC ĐANG PHÁT
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số : 60340201
LUẬN VĂN THẠC sĩ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN TẤN HOÀNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NẦM 2017.
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan nội dung và số liệu phân tích trong luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của tác giả với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn số liệu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy và kết quả nghiên cứu của luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 5 năm 2017
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC DANH
MỤC ĐỒ THỊ DANH
MỤC BẢNG
TÓM TẮT 1
CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU 2
1.1 Đặt vấn đề: 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4
1.4
Phương pháp nghiên cứu: 4
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: 4
1.6 Bố cục của luận văn: 5
CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYÉT VÀ TỎNG QUAN CÁC NGHIÊN CƯU TRƯỚC ĐÂY 6
2.1 Khung lý thuyết: 6
2.1.1 Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế: 6
2.1.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế: 6
2.1.1.2 Đo lường tăng trưởng kinh tế: 6
2.1.2 Cơ sở lý luận về lạm phát: 8
2.1.2.1 Khái niệm lạm phát: 8
2.1.2.2 Phân loại lạm phát: 9
2.1.23 Tác động kinh tế của lạm phát: 11
2.1.2.4 Nguyên nhân gây ra lạm phát: 14
2.1.3 Mối quan hệ phi tuyến giữa tăng trưửng kinh tế và lạm phát: 15
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây: 17 2.2.1 Trường phái đưa ra mối quan hệ đồng biến giữa lạm phát - tăng trưởng
Trang 5kinh tế: 18
2.2.7.7 Bài nghiên cứu của Thỉrlwall, A.p và Barton, C.A (1971): 18
2.2.1.2 Bài nghiên cứu của Mallik và Chowdhwy (2001): 18
2.2.2 Trường phái đưa ra mối quan hệ nghịch biến giữa lạm phát - tăng trưởng kinh tế: 19
2.2.2.1 Bài nghiên cứu của Gregorio, D.J (1992): 19
2.2.2.2 Bài nghiên cứu của Barro (1996): 19
2.2.3 Trường phái tìm ra mối tương quan dương và âm của lạm phát - tăng trưởng kinh tế: 20
2.2.3.1 Bài nghiên cứu của Fischer (1993): 20
2.23.2 Bài nghiên cứu của Sarel (1996): 20
2.23.3 Bài nghiên cứu của Michael Bruno và William Easter (1998): 21
2.23.4 Bài nghiên cứu của Khan và Senhadji (2001): 21
2.23.5 Bài ngiên cứu của Alexander Bick (2010): 22
2.2.3.6 Bài nghiên cứu của Lopez-Villavicencio và Mignon (2011 ): 22
2.23.7 Bài nghiên cứu của Omav và Oznur Kan (2010): 22
2.23.8 Bài nghiên cứu của Vinayagathasan (2013): 23
2.23.9 Bài nghiên cứu của Seleteng, M., Bittencourt, M., và van Eyden, R (2013): 23
2.2.3.10 Bài nghiên cứu của Eggoh và Khan (2014): 23
2.2.3.11 Bài nghiên cứu của Baglan và Yoldas (2014): 24
2.2.3.12 Bài nghiên cứu của Sử Đình Thành (2015): 24
2.2.3.13 Bài nghiên cứu của Celil Aydin, Omer Esen, Metin Bayrak (2016): 24
2.2.3.14 Bài nghiên cứu của Raul Ibarra và Danilo R Trupkin (2016): 25
2.2.3.15 Bài nghiên cứu của Ahmad Zubaidi Baharumshah, Ly Slesman, Mark E Wohar (2016): „25
2.2.4 Một số nghiên cứu ở Việt Nam về mối quan hệ lạm phát - tăng trưởng kinh tế: 27
2.2.4.1 Bài nghiên cứu của Hồ Thị Lam (2015): 27
2.2A.2 Bài nghiên cứu của Lê Thanh Tùng (2015): 28
2.2.43 Bài nghiên cứu của Nguyên Minh Sáng và Ngô Nữ Diệu Khuê (2015): 28 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 29
3.1 Quy trình nghiên cứu: 29
3.2 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm: 31
Trang 63.3 Phương pháp nghiên cứu: 34
3.3.1 Tính dừng của các biến: 34
3.3.2 Mô hình ngưỡng theo đề xuất của Hansen (1999): 34
3.3.3 Mô hình ngưỡng theo đề xuất của Wang (2015): 37
3.3.3.1 Mô hình một ngưỡng: 37
3.3.3.2 Mô hình nhiều ngưỡng: 38
3.3.4 Kiểm định ngưỡng theo phương pháp Bootstrap: 39
3.3.4.1 Kiêm định giá trị ngưỡng ở mô hình một ngưỡng: 39
3.3.4.2 Kiêm định giá trị ngưỡng ở mô hình nhiều ngưỡng: 40
3.3.5 Kiểm định lại giá trị ngưỡng theo mô hình hồi quy GMM: 41
3.4 Dữ liệu nghiên cứu: 42
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN cứu 49
4.1 Tính dừng của dữ liệu: 49
4.2 Kết quả hồi quy ngưỡng: 50
4.3 Tác động giữa tăng trưởng kinh tế và các biến trong mô hình: 51
4.4 Ket quả kiểm định giá trị ngưỡng tìm được bằng phương pháp hồi quy GMM: " * ' 55
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC ĐỒ THỊ
Biểu đồ 3.1: Phân phối của biến tỷ lệ lạm phát (ip) trang 47 Biểu đồ 3.2: Phân phối của hàm semi-log của lạm phát (semip) trang 48
Trang 8DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu trước đây trang26 Bảng 3.1 Tên và diễn giải các biến trong mô hình trang44 Bảng 3.2 Bảng mô tả thống kê các biến trong mô hình trang45 Bảng 4.1 Ket quả về kiểm tra tính dừng của các biến trang 50 Bảng 4.2 Ket quả hồi quy ngưỡng trang51 Bảng 4.3 Ket quả các giá trị ngưỡng trang51 Bảng 4.4 Tương quan giữa tăng trưởng kinh tế với các biến kiểm soát trong mô hình trang 52 Bảng 4.5 Ket quả hồi quy bằng GMM trang 56.
Trang 91
TÓM TẮT
Luận văn “Hiệu ứng ngưỡng của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế: Bang chứng thực
nghiệm của 10 nước đang phát triển khu vực châu Á” dựa trên bài nghiên cứu “Tác động của ngưỡng lạm phát đến tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triền” của Bick (2010)
và bài nghiên cứu “Anh hưởng của ngưỡng lạm phát ở 5 nước Asean: Mô hình hồi quy
chuyến tiếp trơn dạng bảng” của Sử Đình Thành (2015) Với mục tiêu tìm ra tác động phi
tuyến của lạm phát và tăng trưởng kinh tế và giá trị của ngưỡng lạm phát này tác giả đã thu thập dữ liệu của 10 nước đang phát triển khu vực châu Á (Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Việt Nam, Lào, Nepal, Sri Lanka, Bangladesh, Maldives) giai đoạn từ 1981 - 2014
từ Penn World Table 9.0 (PWT 9.0) và Economy Watch (EW) Tác giả sử dụng kỹ thuật ước lượng dựa trên mô hình ngưỡng được đề xuất bởi Hansen (1999) và được cụ thế hóa trong
kỹ thuật ước lượng ngưỡng của Q Wang (2015) với bài nghiên cứu “Mô hình ngưỡng tác
động cố định sử dụng Stata” và chạy mô hình này trên phần mềm Stata 14 Dựa trên các
khung lý thuyết nền tảng về tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế như hiệu ứng Mundell - Tobin, lý thuyết Keynes và Tân - Keynes, các tác động tiêu cực của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế và các bài báo của các nhà nghiên cứu trước đây, tác giả đã tìm ra tác động phi tuyến của lạm phát đến tăng trưởng trên mẫu dữ liệu thu thập và tìm được giá trị ngưỡng trung bình của các quốc gia này là 12.24% Khi lạm phát dưới 12.24% thì lạm phát không có tác động rõ ràng đến tăng trưởng kinh tế, nhưng khi lạm phát vượt mức 12.24%, nó thực sự ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Từ kết quả nghiên cứu đạt được, luận văn cung cấp thêm một kênh tham khảo hữu ích cũng như gợi ý chính sách cho các nhà hoạch định chiến lược quản lý của các quốc gia
Trang 10cập của Paul A Samuelson, William D Nordhaus: “Mặc dù các nhà kinh tế còn có thê có
bất đổng về một mục tiêu chính xác đối với lạm phát, nhưng hầu hết mọi người đền đồng ý rằng, một mức giá ôn định và dự đoản đirợc hay chi tăng nhẹ sẽ tạo ra môi trường tốt nhất cho sự tăng trưởng kinh tế lành mạnh ”, Tuy nhiên, hiện nay đã có nhiều nghiên cứu tìm ra
mối quan hệ lạm phát - tăng trưởng kinh tế là có nhiều kết quả khác nhau, có thế đồng thời là tích cực và tiêu cực Nghiên cứu của Thirlwall, A.p và Barton, C.A (1971) tìm thấy mối tưoưg quan dưoưg của lạm phát - tăng trường kinh tế khi lạm phát ờ dưới 10% và trở thành mối tưoiig quan âm khi lạm phát vượt quá 10% Lạm phát vừa phải cũng có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Mallik và Chowdhury, 2001) Hay một số nghiên cứu cho thấy lạm phát liên tục làm giảm triển vọng tăng trưởng kinh tế (Gregorio, D.J, 1992, Barro, 1996) Điều này cho thấy các mặt khác nhau của cùng một vấn đề Lạm phát ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế khác nhau về mặt thời gian: trong ngắn hạn hay dài hạn Tác động này là khác nhau về mức độ ảnh hưởng Với cùng một tỷ lệ lạm phát nhưng tác động với quốc gia này là tiêu cực nhưng đối với quốc gia khác lại có tác dụng thúc đây tăng trưởng Các nhà
Trang 113
kinh tế học đã tìm ra được nhiều mức ngưỡng lạm phát khác nhau đối với từng nhóm quốc gia hay từng quốc gia riêng biệt Như nghiên cứu của Khan và Senhadji (2001) tìm thấy khi lạm phát từ 1% đến 3% thì có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế ở các nước phát triển, nhưng đối với các nước đang phát triển thì lạm phát lại nằm trong khoảng từ 7% đến 11% Một số nghiên cứu cũng tìm thấy những kết quả khác nhau về mức độ tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế đối với các nhóm quốc gia khác nhau (Lopez-Villavicencio
và Mignon, 2011, Eggoh và Khan, 2014, Raul Ibarra và Danilo R Trupkin, 2016)
Các nghiên cứu đa số tìm được một diêm gãy của lạm phát Điếm này thường được
gọi là mức tối ưu của lạm phát hay “ngưỡng lạm phát” Ngưỡng lạm phát là một diêm uốn
cong mà tại đó khi lạm phát ở dưới mức này sẽ có tương quan dương với tăng trưởng kinh
tế Còn khi lạm phát vượt quá mức ngưỡng này sẽ có tương quan âm với tăng trưởng kinh tế (Seleteng và cộng sự, 2013)
Các nghiên cứu tìm thấy mức ngưỡng lạm phát ở các nước đang phát triển thường cao hơn so với các nước phát triển như đã đề cập ở các nghiên cứu trên, vấn đề đặt ra đối với các nhà hoạch định chính sách cần có cái nhìn toàn diện hơn đối với tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, việc kiếm soát lạm phát ở mức hợp lý bao nhiêu là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu đế có kênh thông tin tham khảo hữu ích, thiết thực Với mối
quan tâm đó, tôi đã tìm hiếu về đề tài “Hiệu ứng ngưỡng của lạm phát đến tăng trưởng kinh
tế: Bang chứng thực nghiệm ở mười nước đang phát triên khu vực châu Á ”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu chính của luận văn là tìm ra tác động phi tuyến của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế và tìm được mức ngưỡng của lạm phát Do đó, đế nghiên cứu tác động phi tuyến của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế, tác giả đặt ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:
• Có tồn tại ngưỡng lạm phát ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế hay không?
• Có bao nhiêu ngưỡng lạm phát có thế tác động đến tăng trưởng kinh tế?
Trang 124
• Chiều hướng và mức độ tác động của các mức ngưỡng lạm phát như thế nào đến tăng trưởng kinh tế?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là diễn biến của lạm phát và tăng trưởng kinh tế của 10 nước đang phát triển khu vực châu Á giai đoạn 1981-2014 Các quốc gia đó là: Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Việt Nam, Lào, Nepal, Sri Lanka, Bangladesh, Maldives Tác giả thu thập dữ liệu từ Penn World Tables 9.0 (PWT 9.0) và Economy Watch (EW)
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn dựa trên bài nghiên cứu “Tác động của ngưỡng lạm phát đến tăng trưởng
kinh tê ở các nước đang phát trìến” của Bick (2010), bài nghiên cứu “Anh hưởng của ngưỡng lạm phát ở 5 nước Asean: Mô hình hồi quy chuyến tiếp trơn dạng bảng ” của Sử
Đình Thành (2015) và sử dụng kỹ thuật ước lượng dựa trên mô hình ngưỡng được đề xuất
bởi Hansen (1999) trong bài nghiên cứu “Hiệu ứng ngưỡng trong bảng dữ liệu tĩnh: Ước
lượng, kiêm định và kết luận ”, Mô hình của Hansen (1999) đã được cụ thể hóa trong kỹ
thuật ước lượng ngưỡng của Q Wang (2015) với bài nghiên cứu “Mô hình ngưỡng tác động
cổ định sử dụng Stata Tác giả chạy mô hình này trên phần mềm Stata 14
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Luận văn tìm ra mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở một số nước đang phát triến khu vực châu Á, trong đó có Việt Nam và mức ngưỡng
Trang 13của lạm phát ở các quốc gia này Từ đó, bài viết cung cấp thêm một kênh tham khảo hữu ích cũng như gợi ý chính sách cho các chiến lược quản lý các biến kinh tế vĩ mô của các nhà hoạch định chính sách của các quốc gia
1.6 Bố cục của luận văn:
Luận văn gồm 5 chương:
Chương 1: Mở đầu
Chương 2: Khung lý thuyết và tông quan các nghiên cứu trước đây
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận.
Trang 146
CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỬU
TRƯỚC ĐÂY
2.1 Khung lý thuyết:
2.1.1 Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế:
2.1.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế:
Theo David Begg, năm 2008, trang 556 thì “Tăng trưởng kinh tế là tỷ lệ thay đối thu
nhập thực tế hoặc sản lượng thực tế”
Hay “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng quốc gia hoặc quy mô
sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người qua một thời gian nhất định
Trong đó sản lượng bình quân đầu người lại phụ thuộc vào quy mô sản lượng và dân
số của quốc gia Nêu sản lượng tăng nhưng quy mô dân so tăng nhanh hem sẽ dân đến sản lượng bình quân giảm Do đó, bản chất của tăng trưởng kinh tế là phải bảo đảm sự gia tăng
cả quy mô sản lượng và sản lượng bình quân trên đầu người, Săn lượng bình quân trên đầu người còn phán ánh thu nhập trung bình của dãn cư một quốc gia Do đó, gia tăng sản lượng bình quân trên đầu người sẽ tạo tác động cải thiện mức sống dân cư ” (Đinh Phi Hổ
- Tống sản phấm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP): Là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phâm vật chất và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trên phạm vi lãnh thổ của một nước trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm)
Trang 157
- 1
- Tổng sản phẩm quốc dân (Gross National Products, GNP): Là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phấm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân của một nước trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm)
GNP = GDP + Thu nhập từ nước ngoài chuyến vào trong nước - Thu nhập từ trong nước chuyến ra nước ngoài
*Các công thức đo lường tăng trưởng kinh tế:
- Xác định mức tăng trưởng tuyệt đối bằng công thức:
AY = Yt Yo Y: GDP, GNP
Yt: GDP, GNP tại thời điểm t của kỳ thời gian phân tích
Y0: GDP, GNP tại thời điếm gốc của kỳ thời gian phân tích
- Xác định tốc độ tăng trưởng tương đối:
Tốc độ tăng trường sẽ cho thấy quy mô sản lượng gia tăng nhanh hay chậm qua các thời kỳ khác nhau
+ Tốc độ tăng trưởng giữa thời điếm t và thời điếm gốc:
AY
gv = —X
100 Sí Yo
Y: GDP hoặc GNP
AY: Mức gia tăng GDP hoặc GNP giữa hai thời điểm
Y0: GDP, GNP tại thời điểm gốc
+ Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn:
n: tông số năm trong giai đoạn, tính từ năm thứ 0
Trang 16đủ mạnh
Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua của đồng tiền Trong bối cảnh lạm phát, một đơn vị tiền tệ mua được ngày càng ít đơn vị hàng hóa, dịch vụ hơn Hay nói cách khác, trong bối cảnh lạm phát, chúng ta sẽ phải chi nhiều tiền hơn để mua một giỏ hàng hóa, dịch vụ nhất định
*Các chỉ tiêu đo lường lạm phát:
Đe đo lường mức độ lạm phát mà nền kinh tế trải qua trong một thời kỳ nhất định, các nhà kinh tế sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ lạm phát được tính bằng phần trăm thay đối của mức giá chung Tỷ lệ lạm phát thời kỳ t được tính theo công thức sau:
«t=l > t~f , t~1x 100%
P t-1
7it! tỷ lệ lạm phát của thời kỳ t ( có thế là tháng, quý, năm)
pt: mức giá của thời kỳ t
Pt-i: mức giá của thời kỳ trước đó
Đe tính được tỷ lệ lạm phát, các nhà thống kê thường phải ra quyết định sử dụng chỉ số giá nào để phản ánh mức giá Có 2 cách đo lường lạm phát là sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hay chỉ số điều chỉnh GDP.
Trang 17dùng theo thời gian (tính bằng phần trăm) hay nói cách khác chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo lường chi phí của một lô hàng hóa và dịch vụ so với chi phí của lô hàng hóa và dịch vụ đó trong một năm gốc cụ thế Chỉ số này phản ánh mức thay đối giá tương đối vì nó chỉ dựa vào một giỏ hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng
Tuy chỉ số giá tiêu dùng CPI là một chỉ số hữu ích đế đo lường lạm phát nhưng bản thân chỉ
số này vẫn có một số hạn chế nhất định Một số sai sót thuộc về bản chất của chỉ số giá tiêu dùng
Vì chỉ số giá tiêu dùng CPI chỉ dựa trên một giỏ hàng hóa cố định, còn thực tế hàng hóa, dịch vụ lại thay đối liên tục theo thời gian Bên cạnh đó, khi người tiêu dùng thay thế những hàng hóa dịch
vụ có giá rẻ hơn so với những hàng hóa dịch vụ đắt tiền, lúc này chỉ số giá tiêu dùng bị phóng đại Một hạn chế nữa của chỉ số giá tiêu dùng là nó khồng thế hiện chính xác những thay đổi về chất lượng của hàng hóa, dịch vụ Ví dụ, CPI không được điều chỉnh đế phản ánh những tiến bộ về chất lượng như vận tải hàng không an toàn hơn, đồng hồ chính xác hơn
Tuy nhiên, nếu mục tiêu là xác định ảnh hưởng của lạm phát đến mức sống thì chỉ số giá tiêu dùng vẫn thường được sử dụng hơn Trong thực tế, các số liệu công bố chính thức về lạm phát trên toàn thế giới đều được tính trên cơ sở của chỉ số giá tiêu dùng CPI
GDP danh nghĩa và GDP thực tế, được tính theo phần trăm phản ánh mức giá chung của tất cả hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong nước hay nói cách khác chỉ số điều chỉnh GDP thể hiện giá của tất cả các thành phần của GDP (tiêu dùng, đầu tư, chi tiêu của Chính phủ và xuất khấu ròng) Chỉ
số này phản ánh sự thay đôi của mức giá trong năm hiện hành so với năm gốc
2.7.2.2 Phân loại lạm phát:
Trang 1810
Căn cứ theo mức độ của tỷ lệ lạm phát, ta có thể phân loại lạm phát thành ba loại
Đó là lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm phát
*Lạm phát vừa phải:
Lạm phát vừa phải: là diễn biến lạm phát khi mức giá tăng chậm và nhìn chung có thế dự báo được vì nó tương đối ốn định và thay đối một cách chậm chạp Đối với các nước đang phát triển, lạm phát một con số thường được coi là vừa phải Đó là mức lạm phát mà hầu hết các nền kinh tế trải qua và ít gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế Trong bối cảnh đó, mọi người vẫn sẵn sàng giữ tiền mặt đế thực hiện giao dịch và ký các họp đồng dài hạn tính bằng tiền mặt vì họ có niềm tin rằng giá và chi phí hàng hóa, dịch vụ mua bán trên thị trường sẽ không biến động nhiều so với thời điếm hiện tại
Nói chung, khi lạm phát phi mã kéo dài trong một thời gian sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng Trong bối cảnh đó, đồng tiền bị mất giá rất nhanh, do đó mọi người chỉ giữ lượng tiền mặt tối thiểu vừa đủ cho các giao dịch hàng ngày Người ta chuyển sang xu hướng tích trữ hàng hóa, mua bất động sản và tích trữ vàng hoặc các ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch có giá trị lớn và tích lũy của cải
*Sỉêu lạm phát:
Trang 19Siêu lạm phát là trường hợp lạm phát đặc biệt cao Định nghĩa cổ điển về siêu lạm phát do nhà kinh tế Mỹ Phillip Cagan đưa ra là mức lạm phát hàng tháng từ 50% trở lên Mức lạm phát 50%/tháng có thể không quá cao nhưng nếu mức lạm phát này duy trì liên tục trong 12 tháng thì tỷ lệ lạm phát cả năm sẽ lên đến 13.000% Nếu theo định nghĩa này, cho đến nay thế giới đã trải qua 15 cuộc siêu lạm phát Trong lịch sử, siêu lạm phát hầu như có liên quan đến chiến tranh và cách mạng Một minh họa cụ thể về cuộc siêu lạm phát ở Đức sau Chiến tranh thế giới thứ nhất Giá 01 tờ báo đã tăng từ 0,3 mác vào tháng 01 năm 1921 lến đến 70.000.000 mác trong vòng chưa đầy 02 năm Giá
cả của các hàng hóa khác cũng tăng lên với tốc độ tương tự Cuộc siêu lạm phát ở Đức
có tác động tiêu cực đến mức, nó thường được coi là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh Chủ nghĩa Đức quốc xã và cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai Đặc điếm chung của mọi cuộc siêu lạm phát là việc in lượng tiền mặt vào thị trường với khối lượng khổng lồ để tài trợ cho thâm hụt ngân sách của quốc gia đó (Nguyễn Văn Ngọc, 2010)
2.1.2.3 Tác động kinh tế của lạm phát:
*Tác động đến sự phân phối thu nhập và của cải:
Tác động chính của sự phân phối thu nhập và của cải bắt nguồn từ sự khác nhau giữa các tài sản nợ và tài sản có mà chúng ta nắm giữ Điều này thường có lợi cho những người đi vay, những kẻ tìm kiếm lợi nhuận và những nhà đầu cơ chấp nhận rủi
ro Nó cũng gây thiệt hại cho những người cho vay và nhà đầu tư ngại rủi ro
Giả sử bạn là người vay một số tiền khoảng 100 triệu đồng với lãi suất cố định 10 triệu đồng 1 năm, trả góp hàng năm Bỗng nhiên một ngày, lạm phát tăng gấp đôi đã làm giảm đi một nửa giá trị thực tế khoản vay làm cho bạn có được món hời là giá trị một nửa khoản vay này Ngược lại, đối với người cho vay sẽ bị nghèo đi vì khoản tiền
họ cho vay bây giờ đã giảm giá trị một nửa Điều này có thể đúng trong ngắn hạn vì
Trang 21Siêu lạm phát là trường hợp lạm phát đặc biệt cao Định nghĩa cổ điển về siêu lạm phát do nhà kinh tế Mỹ Phillip Cagan đưa ra là mức lạm phát hàng tháng từ 50% trở lên Mức lạm phát 50%/tháng có thể không quá cao nhưng nếu mức lạm phát này duy trì liên tục trong 12 tháng thì tỷ lệ lạm phát cả năm sẽ lên đến 13.000% Nếu theo định nghĩa này, cho đến nay thế giới đã trải qua 15 cuộc siêu lạm phát Trong lịch sử, siêu lạm phát hầu như có liên quan đến chiến tranh và cách mạng Một minh họa cụ thể về cuộc siêu lạm phát ở Đức sau Chiến tranh thế giới thứ nhất Giá 01 tờ báo đã tăng từ 0,3 mác vào tháng 01 năm 1921 lến đến 70.000.000 mác trong vòng chưa đầy 02 năm Giá
cả của các hàng hóa khác cũng tăng lên với tốc độ tương tự Cuộc siêu lạm phát ở Đức
có tác động tiêu cực đến mức, nó thường được coi là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh Chủ nghĩa Đức quốc xã và cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai Đặc điếm chung của mọi cuộc siêu lạm phát là việc in lượng tiền mặt vào thị trường với khối lượng khổng lồ để tài trợ cho thâm hụt ngân sách của quốc gia đó (Nguyễn Văn Ngọc, 2010)
2.1.2.3 Tác động kinh tế của lạm phát:
*Tác động đến sự phân phối thu nhập và của cải:
Tác động chính của sự phân phối thu nhập và của cải bắt nguồn từ sự khác nhau giữa các tài sản nợ và tài sản có mà chúng ta nắm giữ Điều này thường có lợi cho những người đi vay, những kẻ tìm kiếm lợi nhuận và những nhà đầu cơ chấp nhận rủi
ro Nó cũng gây thiệt hại cho những người cho vay và nhà đầu tư ngại rủi ro
Giả sử bạn là người vay một số tiền khoảng 100 triệu đồng với lãi suất cố định 10 triệu đồng 1 năm, trả góp hàng năm Bỗng nhiên một ngày, lạm phát tăng gấp đôi đã làm giảm đi một nửa giá trị thực tế khoản vay làm cho bạn có được món hời là giá trị một nửa khoản vay này Ngược lại, đối với người cho vay sẽ bị nghèo đi vì khoản tiền
họ cho vay bây giờ đã giảm giá trị một nửa Điều này có thể đúng trong ngắn hạn vì
Trang 22ke đến bất kỳ nhóm riêng lẻ nào
*Tác động đến hiệu quả kinh tế:
Lạm phát ảnh hưởng đến nền kinh tể thực thông qua hai lĩnh vực cụ thể: Đó là tổng sản lượng và hiệu quả kinh tế
- Đối vói tác động của lạm phát đến hiệu quả kinh tế:
Lạm phát làm sai lệch tín hiệu giá Trong nền kinh tế có lạm phát thấp, khi giá trị trường của một hàng hóa, dịch vụ nào đó tăng hoặc giảm, cả người bán và người mua đều nhận biết được có sự thay đổi về sản lượng cung và cầu của hàng hóa, dịch vụ đó Nhưng trong một nền kinh tế có lạm phát cao, chúng ta rất khó phân biệt những thay đối của giá tương đối và những thay đôi của mức giá chung Ví dụ, khi lạm phát 1 tháng tăng đến 20% thì các cửa hàng sẽ thay đối niêm yết giá thường xuyên đến mức những thay đổi trong giá tương đối không còn được nhận ra được nữa
Lạm phát cũng làm sai lệch việc sử dụng đồng tiền Tiền chính là tiền tệ có lãi suất danh nghĩa bằng không Neu tỷ lệ lạm phát tăng từ 0% đến 10% một năm thì cũng làm giảm lãi suất trên tiền mặt từ 0% đến 10% Ngân hàng trung ương hay Chính phủ không the can thiệp vào sự sai lệch này Trong thực tế cho thấy, khi lạm phát cao, mọi người đều có xu hướng giảm nhu cầu giữ tiền mặt Họ đi đến ngân hàng thường xuyên hơn dẫn đến chi phí mòn giày, làm hao tốn thời gian quý giá
Trang 2313
Lạm phát tác động đến thuế còn lớn hơn Hệ thống thuế thường có mức thuế cố định
và rất chậm thay đối Lạm phát làm thu nhập danh nghĩa của mọi người cao hơn nên mọi người phải đóng thuế cao hơn Do đó, lạm phát có thê cho phép chính phủ tăng thuế mà
không cần thông qua luật pháp Hiện tượng này được gọi là hiện tượng “leo khung thuế”
Điều này đã khiến nhiều quốc gia phải chỉ số hóa luật thuế của mình nhằm ngăn chặn sự tăng thuế do lạm phát gây ra Chang hạn, bộ luật thuế của Mỹ đã được chỉ số hóa trong những năm 1980 Nhưng việc chỉ số hóa các khung thuế không loại bỏ được ảnh hưởng của lạm phát đến hệ thống thuế vì lạm phát làm sai lệch thước đo về thu nhập Ví dụ, trường hợp bạn gửi tiền được lãi suất là 10%, tuy nhiên lạm phát 5% đã làm thu nhập của bạn từ lãi giảm đi một nửa Tuy nhiên, bộ luật thuế không phân biệt giữa thu nhập thực tế và thu nhập danh nghĩa từ lãi suất tiền gửi của bạn
Bên cạnh đó, lạm phát còn gây ra nhiều sai lệch trên toàn bộ nền kinh tế Chang hạn như chi phí thực đơn Khi lạm phát xảy ra nghĩa là giá cả thay đối, các doanh nghiệp, cửa hàng, nhà hàng sẽ tốn chi phí đế thay đối giá trong thực đơn của họ, công ty dịch vụ taxi thì phải đặt lại đồng hồ tính tiền trên xe, các cửa hiệu thay đổi giá của hàng hóa Ngoài ra, các khoản phúc lợi của Chính phủ dành cho người nghèo đã giảm giá trị thực tế khi Chính phủ quyết định không tăng ngân sách theo kịp với giá đang tăng lên Việc Chính phủ không điều chỉnh hoặc có điều chỉnh nhưng không theo kịp sự tăng lên của mức giá chung cũng đồng thời làm giảm thu nhập của các nhân viên trong các cơ quan của Chính phủ
- Đối vói tác động của lạm phát đến kinh tế vĩ mô:
Một sự nghiên cứu lịch sử cho thấy một thực tế thú vị: mối quan hệ thuận chiều giữa lạm phát và sản lượng dường như chỉ là mối quan hệ tạm thời Trong dài hạn, dường như không có mối quan hệ bền vững giữa lạm phát, tốc độ tăng trường và việc làm Tuy nhiên,
dù tác động ngắn hạn hay dài hạn của lạm phát có thế nào thì các ngân hàng trang ưcmg cũng phải phản ứng khi lạm phát đe dọa nền kinh tế Phản ứng có thế là giám tốc độ tăng trưởng cung tiền, tăng lãi suất, từ đó làm hạn chế tốc độ tăng trưởng sản lượng và tăng thất
Trang 242.1.2.4 Nguyên nhân gây ra lạm phát:
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát Nó có thế xuất phát từ phía cung hoặc từ phía cầu Mấu chốt quan trọng ở đây là nó tạo nên một động lực từ bên trong, một khi đã bắt đầu thì khó có thế dừng lại
Trong một nền kinh tế hiện đại, lạm phát có tính ỳ cao, nghĩa là lạm phát sẽ giữ nguyên tỷ lệ cho đến khi có sự tác động của các sự kiện kinh tế Mức lạm phát này thường được gọi là lạm phát quán tính hay lạm phát cốt lõi, lạm phát cơ bản, lạm phát dự kiến Tỷ lệ lạm phát quán tính này được đưa vào trong hợp đồng và những thỏa thuận không chính thức Lạm phát quán tính này sẽ tồn tại trong một thời gian khá dài Nhưng thực tế lại cho thấy nền kinh tế ít khi giữ được trạng thái cân bằng của lạm phát quán tính mà sẽ biến động theo những cú sốc kinh tế Vì vậy, tại một thời điểm nhất định, nền kinh tế có một tỷ lệ lạm phát nhất định được dự đoán và mọi người thích nghi theo tỷ lệ lạm phát này Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát này sẽ thay đổi khi bị tác động bởi những cú sốc làm cho nó bị biến động
*Nguyên nhân từ cầu kéo:
Lạm phát do cầu kéo xảy ra khi tống cầu tăng nhanh hơn tiềm năng sản xuất của một nước, kéo giá cả tăng lên đế cân bằng giữa tống cung và tống cầu Trước cung hàng hóa có hạn thì tiền sẽ cạnh tranh với nhau để đáp ứng nhu cầu và đẩy giá tăng lên Khi thất nghiệp giảm, nhân lực trở nên khan hiếm hơn dẫn đến tiền lrrơng tăng lên và quá trình lạm phát gia tăng Lý thuyết có ảnh hường lớn trong lý thuyết cầu kéo là lý thuyết trọng tiền Lý thuyết này cho rằng cung tiền là nhân tố quyết định lạm phát Lý thuyết này cho rằng cung tiền tăng làm tăng tống cầu, tống cầu lại làm tăng mức giá, đây là mối quan hệ nhân quả của tác động
Trang 2515
của cung tiền đến lạm phát thông qua tổng cầu Ví dụ minh họa kinh điển cho lý thuyết này
là việc ngân hàng trung ương Đức in hàng tỷ đồng mác năm 1922 - 1923 và khi ra đến thị trường đế mua ô bánh mì hay tờ báo thì giá của chúng đã tăng lên hàng tỷ lần làm cho đồng tiền trở thành vô giá trị
*Nguyên nhân từ chi phí đấy:
Lạm phát xảy ra do chi phí tăng lên trong những giai đoạn thất nghiệp cao và mức huy động nguồn lực ít ỏi được gọi là lạm phát chi phí đây Lạm phát chi phí đẩy là một hiện tượng mới của các nền kinh tế công nghiệp hiện đại
Những thay đối từ chi phí đấy có thể là do sự gia tăng từ các yếu tố đầu vào như giá tiền lương, giá xăng dầu, giá thực phẩm, tỷ giá hối đoái, dẫn đến chi phí sản xuất của các doanh nghiệp gia tăng, từ đó gia tăng lạm phát
2.1.3 Mối quan hệ phi tuyến giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát:
- Các tác động tích cực của lạm phát đến tăng trướng kinh tế là:
Một là, lạm phát có thể tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua kênh tiết kiệm và đầu tư Mundell (1963) và Tobin (1965) đã giải thích thành công mối quan hệ cùng chiều giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Nguyên nhân giải thích cho quan diêm này được nêu ra: Thứ nhất, khi có lạm phát nghĩa là khi mức giá tăng thì việc tăng giá của sản phấm đầu ra và sản phấm đầu vào luôn có một độ trễ nhất định, nhất là giá cá tiền lương thì tăng một cách chậm chạp Điều này làm giám chi phí thực sự của nhà sản xuất trong một thời gian dài dẫn đến tăng lợi nhuận cận biên, từ đó tăng tích lũy cho đầu tư và nâng cao khả năng đầu tư của nhà sản xuất, điều này dẫn đến tăng đầu tư, tăng năng lực sản xuất của công
ty và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Thứ hai, khi lạm phát xảy ra sẽ dẫn đến việc phân phối lại thu nhập giữa các tầng lóp dân cư theo hướng có lợi nhiều hơn cho nhóm có thu nhập cao (nhóm này thường nắm giữ tài sản có lợi nhuận cao và thu nhập không phụ thuộc vào tiền lương) Nhóm thu nhập cao này có tỷ lệ tiết kiệm cao hơn, vì vậy khi có lạm phát sẽ dẫn đến tăng tiết kiệm và tăng đầu tư, làm giảm lãi suất và thúc đẩy tăng trương kinh tế
Trang 26vụ nhiều hơn Cả ba lý thuyết này đều hàm ý rằng khi mức giá bị chệch so với mức giá kỳ vọng thì sản lượng sẽ bị chệch so với mức sản lượng tự nhiên Theo thời gian, nhận thức, tiền lương và giá cả điều chỉnh, do đó mối quan hệ thuận chiều này chỉ có tính chất tạm thời Trong dài hạn, tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra phụ thuộc vào lao động, tư bản, tài nguyên thiên nhiên và công nghệ của nền kinh tế, chứ không phụ thuộc vào mức giá
- Các tác động tiêu cực của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế:
Thứ nhất, lạm phát làm sai lệch tín hiệu giá, sai lệch việc sử dụng đồng tiền, sai lệch các khung thuế và gây sai lệch trên toàn bộ nền kinh tế Khi nền kinh tế xảy ra lạm phát, giá của các hàng hóa, dịch vụ thay đổi khác nhau dẫn đến giá tương đối chung cũng thay đối làm cho các quyết định của người tiêu dùng bị biến dạng Trong thực tế cho thấy, khi lạm phát cao, mọi người đều có xu hướng giảm nhu cầu giữ tiền mặt Họ đi đến ngân hàng thường xuyên hơn dẫn đến chi phí mòn giày, làm hao tốn thời gian quý giá Lạm phát tác động đến thuế còn lớn hơn Hệ thống thuế thường có mức thuế cố định và rất chậm thay đối Lạm phát
Trang 2717
làm thu nhập danh nghĩa của mọi người cao hơn nên mọi người phải đóng thuế cao hơn Do
đó, lạm phát có the cho phép chính phủ tăng thuế mà không cần thông qua luật pháp Hiện
tượng này được gọi là hiện tượng “leo khung thuế” Điều này đã khiến nhiều quốc gia phải
chỉ số hóa luật thuế của mình nhằm ngăn chặn sự tăng thuế do lạm phát gây ra Bên cạnh đó, lạm phát còn gây ra “chi phí thực đơn”, biến dạng các khoản trợ cấp, thu nhập của các nhân viên trong Nhà nước
Thứ hai, lạm phát tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua phản ứng của các ngân hàng trung ương khi xảy ra lạm phát Theo Paul A Samuelson (1948), phản ứng có thể là giảm tốc độ tăng trưởng cung tiền, tăng lãi suất, tù đó làm hạn chế tốc độ tăng trưởng sản lượng và tăng thất nghiệp Khi lạm phát vượt tầm kiểm soát, có một thời kỳ khủng hoảng, đình trệ đau đớn, khi các doanh nghiệp, nhà máy cắt giảm sản lượng, sa thải bớt công nhân, triến vọng việc làm ảm đạm Điều này cũng có thế được xem là chi phí xã hội khi lạm phát xảy ra
Như vậy, mối tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế có khi là đồng biến, có lúc nghịch biến được xây dựng từ các lý thuyết nền tảng phần nào cho ta thấy được phần nào mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát - tăng trưởng kinh tế
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây:
Trang 2818
Theo López-Villavicencio và Mignon (2011) thì tác động của lạm phát đến kinh tế có thế khác nhau và có thê đồng thời là tích cực và tiêu cực Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế là chủ đề được bàn luận từ rất lâu và gây nhiều tranh cãi trong tài liệu Còn theo Khan và Senhadji (2001), Seleteng, Bittencourt, và van Eyden (2013), Vinayagathasan (2013) thì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao và lạm phát thấp, ốn định là mục tiêu trọng tâm của chính sách điều hành kinh tế vĩ mô Ta hãy tìm hiểu những nghiên cứu về mối quan hệ lạm phát - tăng trưởng kinh tế có những kết quả khác nhau đưa đến những trường phái khác nhau,
cụ thế như sau:
2.2.1 Trường phái đưa ra mối quan hệ đồng biến giữa lạm phát - tăng trưởng kinh tế:
2.2.1.1 Bài nghiên cứu của Thirlwall, A.p và Barton, CA (1971):
Thirlwall, A.p và Barton, C.A (1971) trong nghiên cứu: “Lạm phát và tăng trưởng kinh tế: Bang chứng quốc tế” Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 51 quốc gia giai đoạn
1958 - 1967 Ket quả cho thấy 17 nước có thu nhập bình quân đầu người từ 800 USD trở lên thì lạm phát và tăng trưởng kinh tế tương quan dương với nhau Những nước ít phát triển hơn (thu nhập bình quân đàu người nhỏ hơn 800 USD) thì tác động này là không rõ ràng Những nước có tỷ lệ lạm phát vượt quá 10% thì lạm phát và tăng trưởng kinh tế có tương quan âm
2.2.1.2 Bài nghiên cứu của Mallik và Chowdhury (2001):
Mallik và Chowdhury (2001) với bài nghiên cứu “Lạm phát và tăng trưởng kinh tế: bằng chứng từ bốn nước Nam Á ” Các tác giả nghiên cứu lấy dữ liệu của bốn nước Nam Á:
Bangladesh (1974 - 1997), Ấn Độ (1961 - 1997), Pakistan (1957 - 1997) và Sri Lanka (1966
- 1997) sử dụng phương pháp hồi quy đồng liên kết và mô hình sai số hiệu chỉnh đế xem xét mối quan hệ cùng chiều giữa lạm phát - tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Có hai kết quả quan trọng: Thứ nhất, lạm phát và tăng trưởng kinh tế có quan hệ với nhau một cách mạnh
mẽ Thứ hai, độ nhạy cảm của lạm phát đối với sự
Trang 2919
thay đổi cùa tăng trưởng kinh tế lớn hơn độ nhạy cảm của tăng trưởng kinh tế đối với sự thay đối của lạm phát Như vậy, lạm phát vừa phải có lợi cho việc thúc đây tăng trưởng kinh tế và tác động nhanh hơn sự tác động của tăng trưởng kinh tế trở lại lạm phát Do đó, tăng trưởng kinh tế của các nước này trở nên khá mong manh (knife- egde)
2.2.2 Trường phái đưa ra mối quan hệ nghịch biến giữa lạm phát - tăng trưởng kinh tế:
2.2.2.1 Bài nghiên cứu của Gregorio, D.J (1992):
Gregorio, D.J (1992) với bài nghiên cứu “Tác động của lạm phái đến tăng trưởng
kinh tế: Bài học từ các nước Mỹ Latinh” Tác giả trình bày nghiên cứu dựa trên lý thuyết
tăng trưởng nội sinh, nhấn mạnh ảnh hưởng của lạm phát lên năng suất vốn và tỷ lệ tích lũy vốn, xem xét mối quan hệ thực nghiệm giữa lạm phát - tăng trưởng kinh tế trong dài hạn ở 12 nước Mỹ la tinh giai đoạn 1951 - 1985 bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất tống quát (GLS: Generalized Least Squares) Ket luận chính của bài báo này là lạm phát liên tục làm giảm triến vọng tăng trưởng kinh tế ở Đông Âu như đã làm ở các nước Mỹ Latinh Tuy việc loại bỏ lạm phát là điều kiện cần thiết nhưng không đù để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Muốn tăng tiưởng kinh tế đòi hỏi sự cần thiết ổn định nền kinh tế vĩ mô Bài báo cũng nêu ra nguyên nhân chính của lạm phát là sự mất cân bằng tài chính
2.2.2.2 Bài nghiên cứu của Barro (1996):
Barro (1996) với bài nghiên cứu “Lạm phát và tăng trưởng kinh tế’’ sử dụng
phương trình hồi quy dữ liệu 100 quốc gia giai đoạn 1960 - 1990 đế đánh giá ảnh hưởng của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế dựa trên nền tảng lý thuyết mô hình tăng trưởng kinh
tế tân cố điến được mở rộng theo trình bày của Barro và Salai - Martin (1995) Ket quả hồi quy cho thấy trung bình lạm phát 1 năm tăng lên 10% thì làm giảm tốc độ tăng trưởng bình quân đầu người từ 0.2% - 0.3%, làm giảm tỷ lệ đầu tư từ 0.4%
Trang 3020
- 0.6% Dường như kết quả này cho thấy ảnh hưởng của lạm phát đến tăng trưởng kinh
tế là khá nhỏ Nhưng nếu xét trong dài hạn, cứ mỗi năm trung bình lạm phát tăng 10% thì trong vòng 30 năm lạm phát sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 4% đến 7% Như vậy, việc tìm ra mối quan hệ lạm phát - tăng trưởng kinh tế có lúc là tương quan dương, lúc thì tương quan ầm đặt ra nghi vấn cho các nhà kinh tế tìm hiếu liệu mối quan hệ này có phải là mối quan hệ phi tuyến Chúng ta cùng xem xét các kết quả về mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát - tăng trưởng kinh tế sau đây
2,2.3 Trường phái tìm ra mối tương quan dương và âm của lạm phát - tăng trưởng kinh tế:
2.2.3.1 Bài nghiên cứu của Fischer (1993):
Fischer (1993) với bài nghiên cứu có tựa đề “Vai trò của các nhân to kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế” nói về mối quan hệ của lạm phát và tăng trưởng
kinh tế, dựa trên nền tảng lý thuyết lạm phát kìm hãm tăng trưởng kinh tế thông qua việc làm giảm đầu tư và giảm năng suất sản xuất Tác giả tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa tăng trưởng kinh tế - lạm phát Tuy nhiên, tác giả cũng tìm thấy khi lạm phát ở mức thấp thì có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy chéo theo nhóm và hồi quy hồn hợp trên dữ liệu bảng của 93 quốc gia (bao gồm các nước phát triển và đang phát triến)
2.2.3.2 Bài nghiên cứu cùa Sarel (1996):
Bài nghiên cứu “Tác động phi tuyến của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế” của
Sarel (1996) nói về mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Ông ước lượng dừ liệu bảng của 87 quốc gia giai đoạn 1970 - 1990 và tìm thấy điếm gãy khi lạm phát ở mức 8% Khi lạm phát ở dưới mức 8%, nó không có tác động đến tăng trưởng kinh tế thậm chí còn tương quan dương nhẹ với tăng trưởng kinh tế Nhưng khi lạm phát trên mức 8%, nó có ảnh hường nghịch biến mạnh mẽ, sâu sắc đên tăng trưởng
Trang 3121
kinh tế Sự tồn tại của điểm gãy gợi ý một mục tiêu cụ thể cho các nhà hoạch định chính sách: luôn kiếm soát lạm phát dưới điếm gãy Các bằng chứng trong bài còn cho thấy khi lạm phát tăng gấp đôi (ví dụ từ 20% lên 40%), thì tăng trưởng kinh tế giảm xuống 1,7% - mức tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người của thế giới trong hai thập kỷ qua Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách cần
có giải pháp đế nền kinh tế tránh rơi vào tình trạng lạm phát cao
2.2.3.3 Bài nghiên cứu của Michael Bruno và William Easter (1998):
Michael Bruno và William Easter (1998) trong bài nghiên cứu “Khủng hoảng lạm phát và
tăng trưởng dài hạn ” lập luận rằng không có mối tương quan giữa lạm phát - tăng trưởng kinh tể
trong dài hạn, do đó tác giả nghiên cứu mối quan hệ lạm phát - tăng trưởng kinh tế khi lạm phát xuất hiện với tần số cao và ở mức cực đoan Tác giả đề xuất mức lạm phát trung bình giai đoạn nghiên cứu là 40%/năm Tác giả đã tìm thấy tăng trưởng kinh tế giảm mạnh mẽ trong thời kỳ khủng hoảng lạm phát rồi phục hồi nhanh chóng sau giai đoạn khủng hoảng lạm phát trên dữ liệu nghiên cứu của 31 quốc gia giai đoạn 1961 - 1994
2.23.4 Bài nghiên cứu của Khan và Senhadji (2001):
Ngoài ra, sử dụng bảng dữ liệu của 140 nước bao gồm các nước phát triến và đang phát triến lấy trung bình dữ liệu 5 năm giai đoạn 1960-1998 (đế hạn chế tính biến động ngắn hạn), Khan và
Senhadji (2001) với bài nghiên cứu “Hiệu ứng ngưỡng trong mối quan hệ giữa lạm phát và tăng
trưởng kinh tế” sử dụng kỹ thuật ước lượng bình phương tối thiếu phi tuyến (non-linear least
squares - NLLS) của Hansen (2000) và tìm thấy mức ngưỡng lạm phát từ 1 - 3 % đối với các nước phát triến, 7 - 11 % cho các nước đang phát triển và 8-12% cho tất cả các nước Ket quả cho thấy
có tồn tại một mức ngưỡng mà khi lạm phát dưới mức này thì không có tác động hoặc tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Ngược lại, nếu tỷ lệ lạm phát trên mức ngưỡng này thì có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Ket quả này cũng cho thấy mức ngưỡng lạm phát của các nước phát triển (1 — 3 %) thấp hơn mức ngưỡng của các nước đang phát triển (7-11 %)
2.23.5 Bài ngiên cứu của Alexander Bick (2010):
Alexander Bick (2010) với bài nghiên cứu “Hiệu ứng ngưỡng của lạm phát đến tăng trưởng
kinh tế ở các nước đang phát triển ” dựa trên mô hình ngưỡng tông quát của Hansen (1999) với
Trang 3222
chế độ chặn (đưa đặc điếm riêng biệt từng quốc gia vào mô hình) ước lượng sử dụng dữ liệu của
40 nước đang phát triển giai đoạn 1960 - 2004 Ket quả cho thấy, ở cả hai trường họp (có và không
có chế độ chặn) mô hình đều có ít nhất 1 ngưỡng Khi không có chế độ chặn, ngưỡng tìm được là 19%, khi lạm phát dưới mức này có ảnh hưởng tích cực tương đối cao đến tăng trưởng kinh tế với mức ý nghĩa 10% Tuy nhiên, khi có chế độ chặn, ngưỡng giảm còn 12% và mức độ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế là gần gấp đôi với mức ý nghĩa thống kê ít nhất là 5%
2.23.6 Bài nghiên cứu của Lopez-Villavicencio và Mignon (2011):
Lopez-Villavicencio và Mignon (2011) với bài nghiên cứu “Tác động của lạm phát đến
tăng trưởng sản lượng: vấn đề về mức độ lạm phát ” sử dụng kỹ thuật ước lượng chuyển tiếp trơn
dữ liệu bảng (PSTR) và GMM ước lượng mức ngưỡng lạm phát là 5% cho toàn bộ mẫu dữ liệu 44 quốc gia giai đoạn 1961 - 2007, 1.23% là mức ngưỡng lạm phát của các nước phát triến, mức ngưỡng lạm phát là 14.54% cho các nước mới nối
2.23.7 Bài nghiên cứu của Omay và Oznur Kan (2010):
Omay và Oznur Kan (2010) với bài nghiên cứu “Kiêm định lại hiệu ứng ngưỡng trong moi
quan hệ lạm phát - tăng trưởng kinh té với dữ liệu bâng phi tuyến: bằng chứng từ 6 nước công nghiệp” sử dụng kỳ thuật ước lượng chuyến tiếp trơn dữ liệu bảng (PSTR) cho 6 nước công
nghiệp giai đoạn 1972 - 2005 tìm thấy mức ngưỡng lạm phát là 2.52% Sau khi kiểm tra tính vững của mối tương quan này bằng hồi quy dường như không liên quan (SUR), mức ngưỡng lạm phát thay đổi nhẹ từ 2.42% đến 3.18%
2.2.3.8 Bài nghiên cứu của Vinayagathasan (2013):
Vinayagathasan (2013) với bài nghiên cứu “Lạm phát và tăng trưởng kinh tế: Phân tích
ngưỡng dữ liệu bảng động cho các nước châu Á ” tìm thây mức ngưỡng lạm phát là 5.43% trên dữ
liệu của 32 nước châu Á giai đoạn 1980 - 2009, mức ngưỡng lạm phát này thấp hơn mức ngưỡng lạm phát đã được tìm ra cho các nước đang phát triển ở các nghiên cứu trước (từ 8% đến 40%) Tác giả ước lượng điếm ngưỡng và hệ số độ dốc thông qua mô hình hồi quy ngưỡng dạng bảng động cho phép đưa vào các biến nội sinh vào mô hình, như đề xuất của Kremer, Bick và Nautz (2009)
Trang 3323
2.2.3.9 Bài nghiên cứu cùa Seleteng, M., Bittencourt, M., và van Eyden, R (2013):
Seleteng, M., Bittencourt, M., và van Eyden, R (2013) với bài nghiên cứu “Moi quan hệ phi
tuyến của lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở cộng đồng các nước châu Phi hạ Sahara (SADC) ” sử
dụng kỹ thuật ước lượng chuyển tiếp trơn dữ liệu bảng (PSTR) cho cộng đồng các nước châu Phi
hạ Sahara (SADC) giai đoạn 1980 - 2008 Tác giả tìm thấy mức ngưỡng lạm phát là 18.9% cho khu vực các quốc gia này
2.2.3.10 Bài nghiên cứu của Eggoh và Khan (2014):
Eggoh và Khan (2014) với bài nghiên cứu “Mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng
trưởng kinh tế’’ kiếm định hiệu ứng ngưỡng của mối quan hệ lạm phát - tăng trưởng kinh tế trên
bảng dữ liệu 102 nước phát triến và đang phát triến giai đoạn 1960 - 2009 bằng kỳ thuật ước lượng chuyến tiếp trơn dừ liệu bảng (PSTR) và mô hình GMM Ket quả chỉ ra mức ngưỡng lạm phát cho toàn bộ mẫu là 10.5%, mức ngưỡng lạm phát là 3.4% cho các nước thu nhập cao, mức ngưỡng lạm phát là 10% cho các
nước có thu nhập trung bình cao, mức ngưỡng lạm phát là 12.9% cho các nước có thu nhập trung bình thấp và mức ngưỡng lạm phát là 19.5% cho các nước có thu nhập thấp
2.2.3.11 Bài nghiên cứu của Baglan và Yoìdas (2014):
Baglan và Yoldas (2014) với bài nghiên cứu “Lạm phát động và sự chuyến đoi chính sách
tiền tệ ở Việt Nam và các nước châu Á mới nôi” sử dụng dữ liệu bảng cân đối của 92 nước đang
phát trien giai đoạn 1975 - 2004 Tác giả ước lượng mô hình chứa tham số semi linh loạt dữ liệu bảng và tìm thấy khi lạm phát đạt mức ngưỡng là 12% sẽ gây thiệt hại đáng kế cho tăng trưởng kinh tế
2.2.3.12 Bài nghiên cứu cùa SứĐình Thành (2015):
Sử Đình Thành (2015) với bài nghiên cứu “Tác động ngưỡng của lạm phát đến tăng trưởng
kinh tế ở 5 nước Asean: Mô hình hồi quy chuyến tiếp trơn dữ liệu bảng ” Tác giả sử dụng mô hình
hồi quy chuyển tiếp trơn dữ liệu bảng (PSTR) được phát triển bởi González, Terăsvirta and Dijk (2005) và kiểm định GMM-IV cho mức ngưỡng lạm phát tìm được Lợi thế chính của PSTR là cho phép hệ số lạm phát - tăng trưởng thay đối theo quốc gia và thời gian Ngưỡng lạm phát được tác
Trang 3424
giả tìm thấy ở 5 nước Asean giai đoạn 1980 - 2011 là 7.84% Khi lạm phát ở dưới mức ngưỡng lạm phát này, tác động của lạm phát đến tăng trường là không rõ ràng, những khi lạm phát vượt mức ngưỡng này, ảnh hưởng của nó đến tăng trưởng kinh tế là mạnh mẽ và rõ ràng
2.2.3.13 Bài nghiên cứu của Celil Aydin, Omer Esen, Metin Bayrak (2016):
Celil Aydin, ởmer Esen, Metin Bayrak (2016) với bài nghiên cứu “Lạm phát và tăng trưởng
kinh tế: Phân tích ngưỡng dạng bảng động cho các nước Cộng hòa Thô Nhĩ Kỳ trong quá trình chuyên đoi ” tìm hiếu tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế của 5 nước Cộng hòa Thố Nhĩ
Kỳ (Azerbaijan, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Uzbekistan và Turkmenistan) giai đoạn 1992 - 2013 bằng kỹ thuật ước lượng mô hình hồi quy ngưỡng dạng bảng động Tác giả tìm thấy mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế của các nước này và cũng tìm được mức ngưỡng lạm phát của các quốc gia này là 7.97%
2.2.3.14 Bài nghiên cứu của Raul Ibarra và Danilo R Trupkin (2016):
Raul Ibarra và Danilo R Trupkin (2016) với bài nghiên cứu “Kiêm định lại mối quan hệ lạm
phát và tăng trưởng kinh tể: vấn để thế chế ở các nước đang phát triên ” sử dụng một dữ liệu lớn
bao gồm 138 quốc gia giai đoạn 1950 - 2009 bằng kỹ thuật ước lượng hồi quy chuyến tiếp tron dừ liệu bảng (PSTR) Ket quả tìm được mức ngưỡng lạm phát cho các nước phát triến là 4.5% và mức ngưỡng lạm phát cho các nước đang phát triển là 19.1%
2.2.3.15 Bài nghiên cứu của Ahmad Zubaidi Baharumshah, Ly Slesman, Mark E Wohar (2016):
Ahmad Zubaidi Baharumshah, Ly Slesman, Mark E Wohar (2016) với bài nghiên cứu:
“Lạm phát, lạm phát không chắc chắn và tăng trưởng kinh tế ở thị trường các nước mới nôi và đang phát triển: Băng chímg từ dữ liệu dạng bảng” Tác giả thu thập dữ liệu bảng của 94 quốc gia
mới nổi và đang phát triển dựa trên kỹ thuật ước lượng GMM, mô hình ba chế độ chặn, tác giả khẳng định mối quan hệ nghịch biến của tăng trưởng kinh tế - lạm phát khi tỷ lệ lạm phát ờ mức cao Tác giả tìm ra bằng chứng thực nghiệm về mức lạm phát vừa phải nên nằm trong khoảng từ 5.6% đến 15.9% là có tác dụng thúc đấy tăng trưởng kinh tế
Qua trình bày các nghiên cứu trước đây, tác giả tóm tắt lại các nội dung chính trong bảng
Trang 3525
2.1: Tóm tắt các nghiên cứu trước đây
Trang 3626
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu trước đây
nghiên cứu
Mối quan hệ lạm phát - tăng trưởng kinh tế
7 Michael Bruno và
William Easter (1998)
31 nước (1961 -
8 Khan và Senhadji (2001) 140 nước (1960-1998) bình phương tối thiểu phi tuyến
1-3%: các nước phát triển; 7-11%: các nước đang phát triển; 8-12% các nước
9 Alexander Bick (2010) 40 nước (1960-2004) của Hansen, có chế mô hình ngưỡng
độ chặn
có chế độ chặn: ngưỡng 19%; không có chế độ chặn: 12%
10 Lopez-Villavicencio và
Mignon (2011)
44 nước (1961 2007)
-ước lượng chuyển tiếp trơn dữ liệu bảng (PSTR)
1.23%: các nước phát triển; 14.54%: các nước mới nối
11 Omay và Kan (2010) nghiệp (1972 - 6 nước công
2005 )
ước lượng chuyển tiếp trơn dữ liệu bảng (PSTR)
mức ngưỡng là 2.52%
Trang 3727
2.2.4 Một số nghiên cứu ở Việt Nam về mối quan hệ lạm phát - tăng trưởng kinh tế:
2.2.4.1 Bài nghiên cứu của Hồ Thị Lam (2015):
Hồ Thị Lam (2015) với bài nghiên cứu “Hiệu ứng ngưỡng trong moi quan hệ giữa lạm phát
và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” Tác giả dựa trên các lý thuyết nền tảng của tăng trưởng kinh
tế, áp dụng kỳ thuật ARDL bounds test được phát triến bởi
STT Tác giả Dữ liệu Phương pháp nghiên cứu Mối quan hệ lạm phát - tăng trưởng kinh tế
mức ngưỡng là 5.43%
13 Seleteng, van Eyden (2013) 102 nước (1960-2009) ước lượng chuyển tiếp tron dữ liệu
bảng (PSTR)
mức ngưỡng là 10.5%
14 Baglan và Yoldas (2014) 92 nước (1975-2004)
ước lượng mô hình chứa tham số semi linh loạt dữ liệu bảng
ước lượng mô hình hồi quy ngưỡng dạng bảng động
4.5%: các nước phát triển; 19.1%: các nước đang phát triền
18 Ahmad, Ly, Mark
kỹ thuật ước lượng GMM, mô hình ba chế độ chặn
5.6 đến 15.9%: lạm phát vừa phải
Trang 3828
Pesaran và các cộng sự (2001), kết quả tìm thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa lạm phát - tăng trưởng kinh tế trong cả ngan hạn và dài hạn Áp dụng mô hình này ở Việt Nam, tác giả tìm được mức ngưỡng lạm phát của nước ta là 8%
2.2.4.2 Bài nghiên cứu của Lê Thanh Tùng (2015):
Lê Thanh Tùng (2015) với bài nghiên cứu “Xác định điêm ngưỡng trong mối quan hệ lạm
phát và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Asean”, dữ liệu tác giả nghiên cứu là 9 quốc gia
Asean (trừ Lào) giai đoạn 1990 - 2012 Tác giả áp dụng mô hình ước lượng ngưỡng được xây dựng bởi Khan và Senhadji (2001) và tìm được mức ngưỡng lạm phát cho các quốc gia này là 4%
2.2.4.3 Bài nghiên cứu của Nguyên Minh Sáng và Ngô Nữ Diệu Khuê (2015):
Nguyễn Minh Sáng và Ngô Nữ Diệu Khuê (2015) với bài nghiên cứu “Lạm phát
và tăng trưởng kinh tế: Nghiên cứu thực nghiệm các nước đang phát triển và trường hợp Việt Nam
” sử dụng phưcmg pháp tự hồi quy dựa trên hai nghiên cứu của Sarel (1996) và Khan, Senhadji (2001) với mẫu dữ liệu nghiên cứu là 17 nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam giai đoạn từ
2000 - 2012 Tác giả tìm được mức ngưỡng lạm phát cho các quốc gia này là từ 11% - 12% Qua phần trình bày về các nghiên cứu trước đây của các tác giả ờ nước ngoài và ở Việt Nam, bằng nhiều phương pháp trên dữ liệu của nhiều nước, các tác giả đã tìm thấy mối quan hệ của lạm phát - tăng trưởng kinh tế là có tương quan chặt chẽ Dù có nhiều kết quả khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu vẫn có điểm chung là cùng tìm ra mức ngưỡng lạm phát cho các nước, chứng tò mối quan hệ lạm phát - tăng trưởng kinh tế là mối quan hệ phi tuyến Dưới mức ngưỡng đó, lạm phát
có thể không tác động hoặc tương quan dương với tăng trưởng kinh tế, còn khi lạm phát trên mức ngưỡng, lạm phát thực sự ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Và các nhà nghiên cứu cũng tìm thấy mức ngưỡng của các nước phát triến thường thấp hơn mức ngưỡng của các nước đang phát triến
Trang 393.1 Quy trình nghiên cứu:
Tác giả thực hiện nghiên cứu theo các bước trong quy trình nghiên cứu sau:
Trang 4030