Nhận rõ tầm quan trọng của bộ môn Ngữ văn trong nhà trường, Bộ GD-ĐT, các Sở, Ban ngành những năm gần đây đã không ngừng tìm tòi, cải tiếnphương pháp giảng dạy, chỉnh lí chương trình sác
Trang 1A - PHẦN MỞ ĐẦU
1- LÝ DO CHỌN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Mỗi môn học trong nhà trường đều cung cấp tri thức về một chuyên ngành
cụ thể Riêng Ngữ văn là môn nghệ thuật tổng hợp vốn sống, vốn văn hoá, chínhtrị của con người và xã hội nên nó có một vị trí vô cùng quan trọng trong việcgiáo dục, bồi dưỡng, phát triển năng lực, nhân cách cho người học Vì vậy, thựcchất của việc rèn văn trong học tác phẩm văn chương là rèn người, làm sao pháthuy được tiềm năng sáng tạo của mỗi người qua bộ môn này
Nhận rõ tầm quan trọng của bộ môn Ngữ văn trong nhà trường, Bộ
GD-ĐT, các Sở, Ban ngành những năm gần đây đã không ngừng tìm tòi, cải tiếnphương pháp giảng dạy, chỉnh lí chương trình sách giáo khoa…để từng bướcnâng cao chất lượng bộ môn, làm thế nào để phát huy cao nhất tác dụng của việchọc văn đối với trí tuệ và nhân cách học sinh
Luật Giáo dục đã ghi: “ Đổi mới phương pháp dạy học là quá trình pháthuy tính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng phươngpháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đếntình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”
Thực hiện Nghị quyết TW 4 khoá II về: “ Đổi mới phương pháp dạy họccác cấp học, bậc học”, Phòng Giáo dục- Đào tạo huyện Lệ Thuỷ đã triển khaikịp thời việc đổi mới trong công tác dạy và học để giúp học sinh tích cực độc lập
và chủ động sáng tạo chiếm lĩnh tri thức trong quá trình học tập được tốt hơn.Nhưng đổi mới phương pháp dạy học như thế nào để nâng cao hiệu quảdạy học nói chung và bộ môn Ngữ văn nói riêng quả là một vấn đề không ít khókhăn
Năm học 2016-2017, Bộ GD&ĐT tiếp tục đưa giáo dục kĩ năng sống vàocác môn học ở trường THCS và hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng ởcác môn học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứngnguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đápứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học Giáo dục phổthông đã và đang được đổi mới mạnh mẽ, chuyển hướng từ chủ yếu là trang bị
Trang 2kiến thức sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em học sinh Phươngpháp giáo dục phổ thông cũng đã và đang được đổi mới theo hướng phát huytính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, phù hợp với đặc điểmcủa từng lớp học, tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năngvận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứngthú học tập cho học sinh.
Phương pháp dạy học cũ đều thoát li hoặc không dựa vào quy luật hoạtđộng bên trong của chủ thể học sinh, vào sự tự thân vận động của học sinh,không làm được công việc khơi dậy trí tuệ của chủ thể học sinh, để từ đó họcsinh khám phá, tiếp nhận, phân tích, chiếm lĩnh tác phẩm một cách có ý thức, có
sự sáng tạo
Từ thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy học sinh ít có hứng thú và say mê khámphá thế giới hình tượng văn học hoặc chỉ tiếp thu một cách thụ động, hiểu nhânvật, nắm bắt đầy đủ các chi tiết nghệ thuật nhưng chưa biết đồng cảm và say mêkhám phá thế giới bên trong tác phẩm
Trước tình hình thực tế đó, là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn, bảnthân tôi đã trăn trở, tìm tòi làm thế nào để chất lượng dạy và học bộ môn ngàycàng một tăng lên, để các em phát huy tối đa năng lực của mình Đây chính là lí
do khiến tôi chọn đề tài “Hoạt động tái hiện hình tượng trong giảng dạy Văn
sinh
1.2- ĐIỂM MỚI CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Điểm mới của đề tài này về phạm vi, mức độ của nó không phải chỉ để giúpcác em nắm được kiến thức cơ bản của bộ môn hay tạo được sự hứng thú học tậpcho các em, mà quan trọng hơn hết là thông qua đó người thầy bồi dưỡng lẽsống, tâm hồn, khả năng vận dụng được kiến thức liên môn để giải quyết tìnhhuống trong thực tiễn cuộc sống, giúp các em rèn luyện được những kĩ năngsống cơ bản cho mình như: tính tự tin mạnh dạn hòa nhập tốt cùng tập thể, kĩnăng lựa chọn giải quyết vấn đề, kĩ năng tư duy phán đoán góp phần hình thànhnhân cách con người Việt Nam hiện đại Tác phẩm văn chương dù nhỏ nhất là
Trang 3một câu tục ngữ, một bài ca dao, hay lớn hơn là một bài văn, một bài thơ, mộttruyện ngắn hay một bộ tiểu thuyết đều có giá trị về nội dung và nghệ thuật của
nó Làm thế nào để giúp học sinh đồng cảm với những giá trị tư tưởng nhân văncần đạt tới trong mỗi tác phẩm là nhiệm vụ giảng dạy của giáo viên Mặt khác,qua đề tài này, tôi mạnh dạn đưa ra hệ thống các giải pháp cụ thể nhất để vậndụng một cách hiệu quả phương pháp dạy học tích hợp trong bộ môn Từ đây,giáo viên có thể nhận thức được rõ nét về các cách vận dụng, các mức độ, hìnhthức vận dụng phương pháp này trong từng bài học cụ thể Mỗi đề tài hoặc chủ
đề được trình bày thành nhiều bài học nhỏ để người học có thể có thời gian hiểu
rõ và phát triển các mối liên hệ với những gì mà người học đã biết Cách tiếp cậnnày tích hợp kiến thức từ nhiều ngành học và khuyến khích người học tìm hiểusâu về các chủ đề, tìm đọc tài liệu từ nhiều nguồn và tham gia vào nhiều hoạtđộng khác nhau Việc sử dụng nhiều nguồn thông tin khuyến khích người họctham gia vào việc chuẩn bị bài học, tài liệu, tư duy tích cực và sâu hơn so vớicách học truyền thống với chỉ một nguồn tài liệu duy nhất Kết quả là người học
sẽ hiểu rõ hơn và cảm thấy tự tin hơn trong việc học của mình Đây chính làđiểm mới của sáng kiến kinh nghiệm này
1.3 PHẠM VI ÁP DỤNG:
Ngữ văn là môn nghệ thuật tổng hợp vốn sống, vốn văn hoá, chính trị củacon người và xã hội nên nó có một vị trí vô cùng quan trọng trong việc giáo dục,bồi dưỡng, phát triển năng lực, nhân cách cho người học Vận dụng phươngpháp dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn chính là giúp các em có thêm nhữnghiểu biết về cuộc sống Đồng thời, rèn văn trong học tác phẩm văn chương là rèn
người “ văn học là nhân học” (M.Gor-ki) Vì thế sáng kiến này chỉ định hướng
áp dụng cho một số bài có yêu cầu tái hiện hình tượng trong dạy học môn Ngữvăn lớp 9 và đối tượng học sinh lớp 9 trong khoảng thời gian từ tháng 8/2016đến 5/3017
2 PHẦN NỘI DUNG
2.1- THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
Thứ nhất, đối với Giáo viên:
Trang 4Dạy học môn Ngữ văn nói chung, phần văn bản nói riêng đã từ lâuchúng ta quen với giảng dạy từng phân môn tách rời, còn chưa giảng dạy cácphân môn đó như một thể thống nhất, trong đó mỗi phân môn vừa giữ bản sắcriêng vừa hoà nhập với nhau để hình thành nên kiến thức, kĩ năng Ngữ vănthống nhất theo hướng tích hợp ở học sinh
Việc nắm bắt tâm lý, nhu cầu tình cảm của học sinh là một trong nhữngyếu tố quan trọng để giải quyết các vấn đề giáo dục song một số ít giáo viênchưa thực sự nắm bắt tâm lý, nhu cầu tình cảm của học sinh nên chưa khơi gợiđược mạch nguồn cảm xúc ẩn sau mỗi trái tim người học
Trong quá trình dạy học sách giáo khoa mới, giáo viên đã đổi mới phươngpháp dạy - học theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh, do ảnh hưởngcủa phương pháp dạy học cổ truyền nên trong tiết dạy học giáo viên rất ít giaoviệc cho học sinh hoặc tổ chức hoạt động không đạt hiệu quả
Thứ hai, đối với học sinh:
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng đánh giá rất cao lứa tuổi học sinh trong
nhà trường như sau: “Lứa tuổi từ 7 đến 17 là rất nhạy cảm, thông minh lạ lùng lắm”
Chương trình, sách giáo khoa mới, phương pháp đổi mới trong dạy và học đòihỏi học sinh phải tích cực khám phá, tìm tòi và chủ động tiếp nhận; học sinh khágiỏi ham thích theo kịp vấn đề dưới sự chỉ đạo của giáo viên chưa nhiều; một số
em còn tự ti, thụ động, lười suy nghĩ, thiếu mạnh dạn tham gia ý kiến của mìnhvào bài học
Ngày nay, công nghệ ngày càng phát triển, trong suy nghĩ của học sinh
đã phần nào xem nhẹ các môn khoa học xã hội Động cơ học tập của một bộphận học sinh chưa đúng đắn, lười trong việc mở rộng tìm hiểu kiến thức liênquan đến nội dung bài học Có học sinh chỉ ghi nhớ bài học một cách rời rạc,máy móc, không nắm được mối quan hệ giữa các tri thức thuộc lĩnh vực đờisống xã hội, về kiến thức liên môn hoặc khi kiểm tra đánh giá thường chỉ tự xếpmình vào mức đạt tối thiểu
2.2 NGUYÊN NHÂN
Trang 5Dạy học theo hướng tích cực là phải làm cho học sinh tự giác, chủ động,sáng tạo, phù hợp của từng lớp học, môn học Dạy theo hướng tích cực là phảibồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thựctiễn tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú cho học sinh học tập Từthực tiễn giảng dạy bản thân tôi đã mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy, đã luônchú ý đến việc tổ chức học sinh có hứng thú và say mê khám phá thế giới hìnhtượng văn học.
Thực tế giảng dạy cho thấy rằng: những năm đầu thay sách và hiện nay còn
có một ít bộ phận giáo viên do ảnh hưởng của phương pháp dạy học cũ là truyềnthụ kiến thức có sẵn, nên giờ dạy còn chủ yếu là thầy giảng bài, học sinh chú ýlắng nghe, ghi và trả lời một số câu hỏi mà ít chú ý đến tổ chức hoạt động táihiện hình tượng trong giảng dạy văn học Nếu có tổ chức thì chiếu lệ, lúng túng
và hiệu quả mang lại không cao Lí do là ngại nêu ra các tình huống có vấn đề,phần nữa sợ mất thời gian sẽ cháy giáo án
Năm học 2016-2017, tôi được Nhà trường phân công giảng dạy môn Ngữvăn lớp 9 Tôi đã khảo sát thực tế bằng cách ra đề kiểm tra 15 phút với câu hỏi
như sau: : “ Tưởng tượng mình là Trương Sinh, em hãy kể lại câu chuyện người con gái Nam Xương” ( Lớp 9) Khi chưa chú trọng triển khai hoạt động tái hiện
hình tượng trong giảng dạy Văn bản cho học sinh, tôi có kết quả khảo sát củalớp 93, 94 l :à:
lượng
Sốlượng %
Sốlượng %
Sốlượng %
Sốlượng
2.3 CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
Trang 62.3.1 Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản:
Bước đầu tiên để tiếp xúc với văn bản là nắm được sơ lược nội dung củavăn bản Việc đọc đóng một vai trò quan trọng trong quá trình chiếm lĩnh tác
phẩm văn chương, như nhận xét của J.Paul Satre: “ Tác phẩm văn học như con quay kì lạ, chỉ có thể xuất hiện trong vận động Muốn làm cho nó xuất hiện, cần phải có một hoạt động cụ thể là sự đọc Và tác phẩm văn học chỉ kéo dài chừng nào sự đọc còn có thể tiếp tục…”.
Khi đọc bất kì một văn bản nào, bao giờ chúng ta cũng cần mục đích cụ thể
và có cách đọc khác nhau cho mục đích khác nhau Đối với đọc một tác phẩmvăn học để hiểu, phân tích không đơn giản là đọc chi tiết hay lướt qua Vì đọcnhư vậy chỉ mới nắm bắt được lớp vỏ âm thanh bên ngoài Điều đó sẽ rất khókhăn cho việc khám phá chiếm lĩnh tác phẩm Vậy phải đọc như thế nào để táihiện được hình tượng nhân vật trong tác phẩm? Có thể có những cách như sau:
a Đọc diễn cảm văn bản:
Là việc đọc đúng từ ngữ, câu chữ, giọng điệu và tình cảm mà tác giả gửigắm Từ đó chúng ta hiểu được tâm tư, tình cảm của nhân vật trong tác phẩm
Ví dụ:
Học bài thơ “Bếp lửa” của nhà thơ Bằng Việt ( SGK Ngữ văn 9- tập1).
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh giọng đọc tình cảm, chậm rãi và lắng đọng,xúc động và bồi hồi Cho học sinh cảm nhận được bài thơ mở ra với hình ảnhbếp lửa, từ đó gợi về những kỉ niệm tuổi ấu thơ sống với bà tám năm ròng thời kìkháng chiến chống Pháp, làm hiện lên
hình tượng người bà chăm sóc, lo toan,
vất vả với tình thương yêu vô bờ dành
cho cháu Đứa cháu nay đã lớn khôn,
trưởng thành, từ nơi xa xôi, suy ngẫm và
thấu hiểu về cuộc đời bà, về lẽ sống giản
dị và cao quý của bà Cảm hứng chủ đạo
của bài thơ là tình cảm bà cháu, là nỗi
Trang 7nhớ, lòng kính yêu và biết ơn vô hạn của hình tượng nhân vật trữ tình là ngườicháu đối với bà, cũng là đối với gia đình và quê hương, đất nước.
b Đọc thầm văn bản:
Hướng dẫn học sinh đọc thầm những văn bản trữ tình sẽ giúp học sinh cóđiều kiện hiểu được hình tượng nhân vật một cách sâu sắc hơn Bởi vì đôi lúctình cảm khó có thể bộc lộ thành lời thì im lặng chính là cách tốt nhất để ngườiđọc tâm sự với hình tượng nhân vật - chủ thể trữ tình
Chẳng hạn học đoạn trích: “ Kiều ở lầu Ngưng Bích” trích “ Truyện Kiều”
của Nguyễn Du ( SGK Ngữ văn 9- tập 1) Giáo viên yêu cầu học sinh đọc thầm
và suy ngẫm trả lời câu hỏi: “ Có thể xem đây là đoạn thơ tả cảnh hay tả tình?Hay đoạn thơ vừa tả cảnh vừa tả tình?” Như vậy, học sinh đọc thầm xong và cóthể trả lời: “Đoạn thơ vừa tả cảnh vừa tả tình Cảnh vật thiên nhiên được nhìn, tảqua con mắt, tâm trạng của nhân vật trữ tình Đó là tâm trạng cô đơn, buồn nhớ,rất đỗi bơ vơ,…của hình tượng nhân vật Thuý Kiều”
c Đọc to văn bản:
Nếu như đọc thầm để tìm sự đồng cảm, để thấu hiểu ân tình thì đọc to cũng
là một cách biểu hiện tình cảm, để hiểu hình tượng nhân vật, để thâm nhập vàotác phẩm
Ví dụ như học văn bản: “ Hoàng Lê nhất thống chí” ( Hồi thứ 14) của Ngô
gia văn phái (SGK Ngữ văn 9- tập 1), cần hướng dẫn học sinh đọc to, giọngkhẩn trương, phấn chấn để học sinh thấy được bức tranh sinh động về người anhhùng Nguyễn Huệ, vị vua văn võ song toàn đã chỉ huy tài tình cuộc hành binhthần tốc tiêu diệt bọn xâm lược Mãn Thanh, làm thất bại âm mưu xâm lược củachúng và cho thấy rõ tình cảnh thất bại ê chề, khốn đốn nhục nhã của bọn vuaquan bán nước Lê Chiêu Thống; đồng thời giáo dục cho các em lòng căm thùgiặc Và khi lòng căm giận kẻ thù cao độ cũng chính là lúc các em cảm thấy yêuquê hương mình hơn, trân trọng những gì mình đang có hơn và quyết tâm phấnđấu để góp một phần sức nhỏ của mình trong công cuộc chung của đất nước
d Đọc phân vai:
Trang 8Đây cũng là một cách đọc có tác dụng rất lớn trong việc dẫn dắt học sinhcảm nhận được hình tượng nhân vật Cách đọc này làm cho các em như hoàmình vào nhân vật, xem mình là nhân vật nào thì sẽ khóc cười cùng nhân vật ấy.
Ví dụ:
Tìm hiểu văn bản: “ Những đứa trẻ”( trích “ Thời thơ ấu”) của M.Gor-ki
( SGK Ngữ văn 9- tập 1), mỗi học sinh sẽ được phân vai một nhân vật Các
em sẽ ngoan ngoãn có vẻ buồn rầu như ba anh em con của đại tá cốp; sẽ thân thiện, có thái độ cảm thông đối với những đứa trẻ của A-li-ô-sa; sẽgiận dữ, quát mắng của nhân vật đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp
Ốp-xi-an-ni-2.3.2 Biện pháp 2: Phân tích hình thành hình tượng nhân vật:
Phẩm chất, tính cách của nhân vật không hẳn thông qua những lời giớithiệu cụ thể của tác giả hay qua những biện pháp nghệ thuật ước lệ mà có khithông qua hành động, lời nói của nhân vật Cho nên cần hướng dẫn học sinhphân tích để hình thành nên hình tượng nhân vật
Ví dụ: Học văn bản: “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” (trích “TruyệnLục Vân Tiên”) của Nguyễn Đình Chiểu, cần hướng dẫn học sinh phân tíchthông qua hành động, lời nói của nhân vật bởi phẩm chất, tính cách của nhân vậttrong văn bản này chủ yếu bộc lộ qua hành động, lời nói Đó là nhân vật LụcVân Tiên tài ba, dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài; là nhân vật Kiều Nguyệt Ngahiền hậu, nết na, ân tình
2.3.3 Biện pháp 3: Sáng tạo lời nói và ý nghĩ nhân vật thay cho tác giả:
Đây là một hoạt động tương đối khó nhưng giúp các em hiểu được tâmtrạng của nhân vật Chính là các em đã phần nào đi vào thế giới bên trong củatác phẩm
Chẳng hạn học xong văn bản: “Chuyện người con gái Nam Xương” của
Nguyễn Dữ ( SGK Ngữ văn 9- tập 1), yêu cầu học sinh bằng tưởng tượng củamình, hãy viết đoạn văn sau khi Vũ Nương biến mất, chàng Trương và bé Đản
sẽ ra sao?
Như vậy, học sinh sẽ nói lên được
chàng Trương là anh chồng đa nghi, độc
Trang 9đoán, cố chấp, gia trưởng Chàng không biết trân trọng người vợ có tư dung tốtđẹp, đức hạnh, nết na, hiếu thảo, thuỷ chung Chính chàng cùng với xã hộiphong kiến, chế độ nam quyền đã giết chết hạnh phúc của mình, để bây giờ cuộcsống của cha con chàng bơ vơ, buồn tủi; chàng sống trong sự ân hận, giày vòkhôn nguôi
Hoặc học xong đoạn trích: “Mã Giám Sinh mua Kiều” trích “ Truyện Kiều”
của Nguyễn Du ( SGK Ngữ văn 9- tập 1), yêu cầu học sinh thay lời Mã GiámSinh, hoặc Thuý Kiều, hoặc bà mối kể lại câu chuyện Mã Giám Sinh mua Kiều.Như vậy, học sinh nói lên được bản chất xấu xa, đê tiện của Mã Giám Sinh; lòngcảm thương cho nhân vật Thuý Kiều, chỉ vì nàng Kiều cũng là nạn nhân của xãhội phong kiến, đã phải hi sinh bản thân mình vì gia đình Từ đó, học sinh sẽhiểu sâu hơn giá trị tố cáo của đoạn trích và khơi gợi được ở các em sự thươngcảm những hoàn cảnh bất hạnh
2.3.4 Biện pháp 4: Minh hoạ bằng những tác phẩm nghệ thuật khác:
Để tái hiện hình tượng nhân vật, ngoài những biện pháp, phương pháp trên,cũng có thể minh hoạ bằng những tác phẩm nghệ thuật khác Biện pháp nàycũng kích thích hứng thú học tập cho học sinh
Tuy nhiên cái quan trọng nhất là học sinh hiểu tác
phẩm, lúc đó mới trình bày lại nội dung tác phẩm,
hình tượng nhân vật qua tranh vẽ, tượng tạc hình,
…Qua đó giúp các em hiểu sâu hơn, nhớ lâu hơn
nhân vật, tác phẩm
Ví dụ:
Học đoạn trích thơ: “Kiều ở lầu Ngưng Bích” trích “Truyện Kiều” của
Nguyễn Du ( SGK Ngữ văn 9- tập 1), có thể yêu cầu học sinh theo ý tưởng củamình vẽ một bức tranh trước lầu Ngưng Bích Thông qua bức tranh đó, hiểuđược thiên nhiên, biển trời trước lầu Ngưng Bích thật mênh mông bát ngát vàqua đó hiểu được tâm trạng buồn, cô đơn của nàng Kiều,…
Hoặc học xong văn bản: “Mây và sóng”
của R.Ta-go( SGK Ngữ văn 9- tập 2), giáo viên
Trang 10có thể yêu cầu học sinh vẽ bức tranh để biểu đạt nội dung tác phẩm Tuỳ trítưởng tượng của từng học sinh, nhưng bức tranh đó phải có các hình tượng trungtâm của văn bản (mây, sóng, em bé và có thể có cả người mẹ) Qua bức tranh đó,thấy được bé cũng rất muốn đi chơi trước lời mời gọi, rủ rê của mây và sóng.Nhưng cuối cùng bé đã từ chối vì mẹ luôn đợi bé ở nhà và bé đã nghĩ ra trò chơicùng với mẹ - “ mẹ con ta” ở khắp mọi nơi, không ai có thể tách rời, phân biệt
và chia cắt được “ mẹ con ta”; thấy được tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt
2.3.5 Biện pháp 5: Trực quan hoá nội dung tác phẩm bằng những tác phẩm nghệ thuật khác:
Đây cũng là một phương pháp thay đổi không khí giờ học, giúp học sinhbớt căng thẳng bằng cách học sinh vừa học, vừa thư giãn như xem phim, nghebăng đĩa,…Từ đó giúp học sinh cảm nhận sâu sắc hơn về hình tượng nhân vật,nắm chắc hơn giá trị nội dung tác phẩm
Chẳng hạn học bài thơ: “ Mùa xuân nho nhỏ”của Thanh Hải hoặc “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương, có thể cho học sinh nghe bài hát Từ đó giúp các
em phần nào tái hiện hình tượng nhân vật, giá trị nội dung tác phẩm Đó là cảmxúc say sưa, rạo rực của Thanh Hải trước mùa xuân thiên nhiên đất trời, mùaxuân đất nước Đó là tấm lòng chân thành, cảm động của nhà thơ Viễn Phương
từ miền Nam ra Ba Đình- Hà Nội viếng Bác, viếng lăng Bác
Như vậy, xem xét hình tượng văn học thực chất là khám phá vẻ đẹp hài hòamang bản chất thẩm mĩ của hình tượng Vẻ đẹp ấy luôn chứa đựng quan niệmnghệ thuật về cuộc sống và con người, quan điểm xã hội và quan điểm thẩm mĩcủa nhà văn Vì vậy, qua cấu trúc của các hình tượng văn học khác nhau, ngườiđọc nhận ra những vấn đề của cuộc sống con người, quy luật của sáng tạo vănhọc cùng những vấn đề thuộc phong cách sáng tạo của từng thời đại, từng nhàvăn cụ thể… Bản chất cốt lõi của cái đẹp là sự hài hòa, cân xứng Tuy nhiên,quan niệm và biểu hiện cái hài hòa, cân xứng ấy trong các thời đại văn học cũngnhư ở từng tác giả cụ thể thường không giống nhau Mỗi nhà văn thường tô đẹpthêm bức tranh hình tượng của mình bằng những đường nét, màu sắc mang đậm