MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PTDTBT THCS TRÀ NAMMỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PTDTBT THCS TRÀ NAMMỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PTDTBT THCS TRÀ NAMMỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PTDTBT THCS TRÀ NAMMỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PTDTBT THCS TRÀ NAMMỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PTDTBT THCS TRÀ NAMMỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PTDTBT THCS TRÀ NAMMỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PTDTBT THCS TRÀ NAMMỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PTDTBT THCS TRÀ NAMMỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PTDTBT THCS TRÀ NAMMỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PTDTBT THCS TRÀ NAM
Trang 11.TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PTDTBT THCS TRÀ NAM.
2 ĐẶT VẤN ĐỀ:
2.1 Tầm quan trọng của vấn đề được nghiên cứu:
Văn học là nhân học, từ xưa tới nay trong việc giáo dục con người, văn
chương vẫn được sử dụng như một công cụ đắc lực, không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của văn chương trong việc xây dựng và giữ gìn đạo đức xã hội
Người giáo viên là những kĩ sư tâm hồn – điều đó rất đúng với các thầy cô dạy
văn vì Ngữ văn là một bộ môn dễ tác động nhất đến thế giới nội tâm con người, bồi đắp cả kiến thức, kĩ năng lẫn tâm hồn cho học sinh
Lý luận dạy học hiện đại nhấn mạnh đến vai trò trung tâm của HS trong quá trình hình thành kiến thức Vai trò trung tâm của HS sẽ được phát huy nếu giáo viên tạo điều kiện cho HS tự khám phá tác phẩm và phát triển năng lực cảm thụ tác phẩm cũng như khuyến khích sự hưởng ứng tích cực trong giờ học Ðiều này dẫn đến việc hình thành ý kiến cá nhân của chính HS, phát triển khả năng đọc và phân tích tác phẩm Ðể đạt được mục đích trên, các hình thức dạy và học cần phải được đa dạng hóa, làm cho HS cảm thấy hứng thú trong suốt giờ học
2.2 Tóm tắt những thực trạng liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu:
Thực tế, chất lượng môn Ngữ văn trong nhà trường THCS hiện nay chưa cao, bộ môn Ngữ văn chưa thu hút sự yêu thích của các em học sinh Nhiều bài văn của học sinh khiến người chấm “dở khóc dở cười” vì những sai sót quá cơ bản như sai chính tả, sai kiến thức, suy diễn theo cảm tính, viết mà không hiểu những gì mình đã viết Ngoài những yếu tố khách quan (xu hướng chọn nghề, năng lực cảm thụ văn chương của học sinh…), thì nguyên nhân phần lớn là do giáo viên dạy học chưa có sức lôi cuốn học sinh, phương pháp dạy học còn cứng nhắc Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy Văn, đổi mới việc kiểm tra, đánh giá học sinh là điều cần thiết
2.3 Lý do chọn đề tài:
Văn học vốn là một môn học có đặc thù riêng Bằng những hình tượng và ngôn từ phong phú sinh động của mình, nó cung cấp cho người đọc những kiến thức về cuộc sống cũng như những điều bí ẩn trong tâm hồn con người, khơi gợi lên một thế giới kỳ ảo, huyền diệu
và lung linh sắc màu bởi vẻ đẹp nhân văn trong mỗi sự vật, hiện tượng trong tác phẩm Từ đó, nó tác động tới tâm tư, tình cảm và góp phần quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách cho con người Chính
vì lẽ đó nên môn văn là môn ít có vẻ khô khan so với một số môn khoa học tự nhiên như toán, lí, hóa… trong chương trình phổ thông Hơn nữa, tuổi trẻ là lứa tuổi giàu cảm xúc, dễ rung động trước cái đẹp nếu được thầy cô dẫn dắt, hướng dẫn thì sự yêu thích cái CHÂN – THIỆN – MỸ ( Những giá trị mà văn học đang hàm chứa ) nhất định sẽ tăng lên, giúp các em học tốt hơn
Từ những lí do trên, tôi đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng dạy học phân môn Văn học cho học sinh vùng sâu vùng xa, giúp
các em học tốt hơn trong thi cử với đề tài “Một số phương pháp giúp
Trang 2học sinh học tốt môn ngữ văn ở trường PTDTBT THCS Trà Nam ”.
Mong rằng kinh nghiệm của tôi được sự đón nhận của đồng nghiệp và áp dụng rộng rãi vào việc dạy học môn Ngữ văn và kinh nghiệm đó sẽ giúp chất lượng giáo dục ngày càng đạt hiệu quả cao hơn
2.4 Giới hạn nghiên cứu của đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh trường THCS Trà Nam- Huyện Nam Trà
My - Tỉnh Quảng Nam
- Giới hạn đề tài: Có nhiều phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao hiệu quả học tập của học sinh Trong phạm vi cho phép của đề tài, tôi chỉ đề cập một số phương pháp thường hay dùng trong môn Ngữ văn
- Bao gồm :
+ Phương pháp trực quan
+ Phương pháp đóng vai
+ Phương pháp nghiên cứu tình huống
+ Phương pháp thảo luận nhóm
+ Phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy
- Phạm vi nghiên cứu : Một số phương pháp giúp học sinh học tốt môn ngữ văn ở trường PTDTBT THCS Trà Nam
- Thời gian nghiên cứu: Học kỳ I năm học 2016-2017
3 CƠ SỞ LÍ LUẬN:
- Ngành Giáo dục và Đào tạo đang tiếp tục nỗ lực đổi mới phương pháp giảng dạy, để đào tạo ra những con người năng động, sớm thích ứng với đời sống xã hội, đẩy nhanh sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước Trước tình hình đó, đòi hỏi đội ngũ giáo viên chúng ta phải không ngừng đổi mới, cải tiến nội dung, phương pháp soạn giảng để trong mỗi tiết dạy, học sinh
sẽ
được hoạt động nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn và quan trọng là được suy nghĩ nhiều hơn trên con đường chủ động chiếm lĩnh kiến thức
- Căn cứ vào nhiệm vụ, yêu cầu của bộ môn
- Căn cứ vào nội dung chương trình sách giáo khoa
- Căn cứ vào chương trình giảm tải của Bộ giáo dục
Với tư cách là nhà giáo, giáo viên trực tiếp giảng dạy tôi nhận thấy cần phải nghiên cứu kỹ cơ sở lý luận và nắm vững các kiến thức về bộ môn và phương pháp giảng dạy bộ môn nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
4 CƠ SỞ THỰC TIỄN:
4.1 Đặc điểm chung:
4.1.1 Về phía nhà trường:
4.1.1.1 Thuận lợi:
- Trường PTDTBT THCS Trà Nam với đội ngũ GV trẻ, khỏe nhiệt tình trong công tác giảng dạy
Trang 3- Ban giám hiệu nhà trường đã tạo mọi điều kiện cho giáo viên có thể áp dụng các phương pháp nhằm giáo dục kỹ năng sống cho học sinh một cách tốt nhất
4.1.1.2 Khó khăn:
- Sách đọc thêm và các tài liệu tham khảo khác còn ít Giáo viên phải tự tìm tài liệu, sưu tầm đồ dùng dạy học Trong khi đó yêu cầu của bộ môn lại cần phải có những trang thiết bị hiện đại (video,đĩa,…) để phục vụ cho việc dạy và học
4.1.2 Về phía học sinh:
4.1.2.1 Thuận lợi:
- Học sinh ngoan ngoãn, đa số các em yêu thích môn học
4.1.2.2 Khó khăn:
- Việc tiếp thu bài của các em còn chậm, phần lớn học sinh không hứng thú học môn Ngữ văn
4.2 Mục đích yêu cầu:
4.2.1.Học sinh:
- Học sinh có thái độ học tập nghiêm túc
- Học sinh biết cách trình bày lại, giải thích nội dung những gì thu nhận được qua quá trình nghe giảng
- Khi cần HS có thể phát triển những từ ngữ ngắn gọn, cô đọng đó thành một ý trọn vẹn
- Học sinh biết thực hành đóng vai những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn
4.2.2.Giáo viên:
- Chuẩn bị các phương pháp dạy học một cách chu đáo nhất để mang lại tiết học hiệu quả
- Sáng tạo nhiều đồ dùng dạy học để đáp ứng các nhu cầu của tiết dạy
- Xác định câu hỏi trong sách giáo khoa để cho học sinh thảo luận nhóm
5 NỘI DUNG: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PTDTBT THCS TRÀ NAM
Phương pháp dạy học (PPDH) là lĩnh vực rất phức tạp và đa dạng Có nhiều quan niệm, quan điểm khác nhau về PPDH Theo chúng tôi PPDH là cách thức, là con đường hoạt động chung giữa GV và HS trong những điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt tới mục đích dạy học
5.1 Phương pháp trực quan:
5.1.1 Mô tả phương pháp :
Trực quan là một trong những nguyên tắc dạy học cơ bản “Trăm nghe không bằng một thấy” Con người tiếp nhận thông tin bằng nhiều kênh: thị giác, thính giác, xúc giác Ðáng tiếc là trong nhà trường chúng ta hiện nay, nguyên tắc này không được coi trọng HS thường chỉ được nghe giảng chứ ít có cơ hội được
nhìn, được sờ vào hình ảnh Do đó, việc sử dụng tranh ảnh, hiện vật có ý nghĩa
Trang 4đặc biệt quan trọng trong giờ giảng văn Có ba hình thức sử dụng trực quan trong dạy học văn:
5.1.2 Cách tiến hành:
- GV treo những đồ dùng trực quan nêu yêu cầu định hướng cho sự quan sát của HS
- GV trình bày các nội dung trong tranh, sơ đồ, …
- Yêu cầu HS trình bày lại, giải thích nội dung, trình bày những gì thu nhận được qua quá trình nghe giảng
- Từ những chi tiết, thông tin HS thu được từ phương tiện trực quan, GV nêu câu hỏi yêu cầu HS rút ra kết luận khái quát về vấn đề mà phương tiện trực quan cần chuyển tải
5.1.2.1. Sử dụng tranh ảnh, hiện vật:
- GV tự chuẩn bị học dặn HS sưu tầm các tranh ảnh
Văn chương là nghệ thuật ngôn từ, toàn bộ thế giới nghệ thuật trong không hiện lên một cách trực tiếp như trong phim ảnh mà hiện lên gián tiếp qua ngôn từ nên để hiểu được tác phẩm người đọc phải có khả năng liên tưởng, tưởng tượng Quá trình đọc tác phẩm trải qua các bước: hiểu nghĩa đen của từ ngữ, hình ảnh, từ đó khám phá ra ý nghĩa biểu tượng của hình tượng
Ðể giúp HS vượt qua được những khó khăn trong tiếp nhận văn học, GV nên dùng tranh ảnh, hiện vật trong giờ giảng văn Những tranh ảnh đó có thể là: chân dung nhà văn, bức tranh (ảnh) liên quan đến tác phẩm
Ðể có những bức ảnh này trong quá trình giảng dạy GV phải sưu tầm (hoặc yêu cầu HS sưu tầm) từ sách báo, từ những tờ lịch GV cũng có thể tự làm lấy những đồ dùng dạy học để phục vụ cho công việc giảng dạy
5.1.2.2 Sử dụng biểu bảng, mô hình:
Bảng tổng kết: Bảng tổng kết dùng để tóm tắt những kiến thức chính trong một chương, một phần Kiến thức trình bày trong bảng tóm tắt phải thật cô đọng, ngôn ngữ ngắn gọn Khi cần HS có thể phát triển những từ ngữ ngắn gọn,
cô đọng đó thành một ý trọn vẹn Có thể dùng bảng tổng kết để tổng kết các thể loại thơ, tổng kết các loại nghị luận văn học, tổng kết một giai đoạn văn học
5.2 Phương pháp đóng vai:
5.2.1 Mô tả phương pháp:
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành “ làm thử” một
số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này và hơn thế điều quan trọng nhất là sự thảo luận sau phần diễn ấy
Phương pháp đóng vai có nhiều ưu điểm như :
- Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái
độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn
- Gây hứng thú và chú ý cho học sinh
- Tạo điều kiện làm phát triển óc sáng tạo của học sinh
- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo hướng tích cực
Trang 5- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn
5.2.2 Cách tiến hành
- GV nêu chủ đề, chia nhóm và giao tình huống và yêu cầu đóng vai cho từng nhóm Trong đó có quy rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai của mỗi nhóm
Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai
- Các nhóm lên đóng vai
- Lớp thảo luận, nhận xét, thường thì thảo luận bắt đầu về cách ứng xử của các nhân vật cụ thể hoặc tình huống trong vở diễn, nhưng sẽ mở rộng phạm
vi xem thảo luận những vấn đề khái quát hơn hay những vấn đề và vở diễn chứng minh
- GV kết luận
* Yêu cầu sư phạm
- Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề giáo dục học để cùng chung sống, phù hợp với lứa tuổi, trình độ học sinh và điều kiện, hoàn cảnh lớp học
- Tình huống nên để mở, không cho trước “ Kịch bản” , lời thoại
- Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai
- Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai để không lạc đề
- Nên khích lệ cả những học sinh nhút nhát cùng tham gia
- Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của trò chơi đóng vai
*Ví dụ:
Ngữ Văn 8 – Bài ÔN DỊCH THUỐC LÁ.
Phần: Hướng dẫn HS luyện tập:
*GV dùng phương pháp đóng vai (theo nhóm); hướng dẫn HS thực hiện các yêu cầu:
- Nhóm 1+2: Với vai trò là một bác sĩ tư vấn sức khỏe, em hãy tuyên truyền cho mọi người biết tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe
- Nhóm 3+4: Đóng vai là một thành viên trong gia đình có người hút thuốc lá, em hãy thuyết phục người thân bỏ thuốc
(Lưu ý:Thời gian chuẩn bị 3 phút; thời gian đóng vai 2 phút)
-Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai
- Các nhóm lên đóng vai
- Lớp thảo luận, nhận xét
- GV kết luận
5.3 Phương pháp nghiên cứu tình huống:
5.3.1 Mô tả phương pháp:
Nghiên cứu tình huống thường là một câu chuyện được viết nhằm tạo ra một tình huống “ thật” để minh chứng một vấn đề hay loạt vấn đề Đôi khi nghiên cứu tình huống có thể được thực hiện trên video hay một băng cátset mà không phải trên dạng chữ viết Vì tình huống này được nêu lên nhằm phản ánh
Trang 6tính đa dạng của cuộc sống thực, nó phải tương đối phức tạp, với các dạng nhân vật và những tình huống khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản
5.3.2 Các bước tiến hành
- Đọc ( hoặc xem hoặc nghe) tình huống thực tế
- Suy nghĩ về nó (có thể viết một vài lĩnh vực đó trước khi thảo luận điều
đó với người khác)
- Đưa ra một hay nhiều câu hỏi hướng dẫn liên quan đến tình huống (trong tài liệu viết hay từ giáo viên)
- Thảo luận tình huống thực tế
- Thảo luận vấn đề chung hay các vấn đề được minh chứng bằng thực tế
* Yêu cầu sư phạm
- Tình huống có thể dài hay ngắn, tuỳ từng nội dung vấn đề
- Tình huống phải được kết thúc bằng một loạt các vấn đề hoặc câu hỏi như: bạn nghĩ điều gì sẽ xảy ra tiếp theo ? Bạn sẽ làm gì nếu bạn là nhân vật A? Nhân vật B? v.v… vấn đề này có thể đã được ngăn chặn như thế nào? Lúc này cần phải làm gì để hạn chế tính trầm trọng của vấn đề?
- Vấn đề trả lời các câu hỏi này phải được dùng để khái quát một tình huống rộng hơn
5.4 Phương pháp thảo luận nhóm:
Phương pháp hoạt động nhóm đòi hỏi người giáo viên phải nghiên cứu kỹ các tiết dạy để từ đó có định hướng lựa chọn các hình thức tổ chức hoạt động nhóm cho thích hợp Về cơ bản, hoạt động nhóm trong dạy học môn Ngữ văn được thực hiện như sau:
5.4.1 Chuẩn bị:
- Giáo viên:
+ Bảng phụ: giấy rô-ki, bảng mê-ka
+ Bút viết bảng trắng
+ Phiếu học tập: Có in sẵn câu hỏi và khoảng trống để học sinh thực hiện trên phiếu
+ Xác định câu hỏi trong sách giáo khoa để cho học sinh thảo luận nhóm -> Chú ý khi lựa chọn câu hỏi hoạt động nhóm: Nội dung phải rõ ràng, phù hợp với tình hình học tập, khả năng nhận thức của đối tượng; câu hỏi phải phát huy khả năng tư duy, sáng tạo của học sinh; nội dung câu hỏi phải xoay quanh bài học
- Học sinh:
+ Cử ra nhóm trưởng và thư ký để điều hành hoạt động của nhóm mình + Thực hiện theo đúng yêu cầu đề ra
5.4.2 Cách tổ chức:
- Giáo viên cần dựa vào đặc điểm tình hình của lớp để phân nhóm cho thích hợp
- Việc lựa chọn nhóm trưởng (có thể làm từ trước) rất cần thiết Vì nhóm trưởng là người điều động được tất cả các nhóm viên tham gia tích cực vào cuộc thảo luận Người nhóm trưởng phải là người biết lắng nghe, khuyến khích những người rụt rè, ngăn chặn những người nói nhiều, theo dõi, quan sát phản ứng của các thành viên để điều chỉnh cho phù hợp
Trang 7- Giáo viên phải quan sát và theo dõi hoạt động, công việc cuả từng nhóm để tìm cách giải quyết hợp lý nhất Trong quá trình quan sát các nhóm làm việc, người giáo viên phải phát hiện sai lầm (nếu có) của các nhóm, những sai lầm mang tính điển hình và chưa được sửa chữa để cuối phần hoạt động nhóm, giáo viên có nhận xét, góp ý Ngoài những vấn đề mà các nhóm thảo luận, giáo viên cũng có thể đặt ra những câu hỏi bổ sung để phát huy tính tích cực, chủ động của nhóm
- Thực hiện trên bảng phụ -> Học sinh lên trình bày
- Thực hiện trên phiếu học tập -> Học sinh trình bày, giáo viên có thể thu phiếu học tập
- Thực hiện câu hỏi trong sách giáo khoa -> Học sinh trình bày ra giấy tự chuẩn bị
- Sau khi các nhóm đã trình bày kết quả, giáo viên phải nhắc lại các ý kiến mà các nhóm đã trình bày một lần nữa khẳng định lại ý kiến của nhóm để các nhóm khác cần bổ sung ý kiến hay không? Sau đó giáo viên mới tóm tắt, tổng hợp, liên kết các ý của từng nhóm theo thứ tự để nêu bật được nội dung của bài học
5.5 Phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy:
- Sơ đồ tư duy (SĐTD) là kĩ thuật dạy học tổ chức và phát triển tư duy giúp người học chuyển tải thông tin vào bộ não rồi được thông tin ra ngoài bộ não một cách dễ dàng, đồng thời là phương tiện ghi chép sáng tạo và hiệu quả, mở rộng, đào sâu và kết nối các ý tưởng, bao quát được các ý tưởng trên phạm vi sâu rộng
- Dạy học bằng sơ đồ tư duy - một giải pháp góp phần đổi mới cơ bản giáo dục
- Sự hình dung: SĐTD có rất nhiều hình ảnh để bạn hình dung về kiến thức cần nhớ Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của trí nhớ siêu đẳng Đối với não bộ, SĐTD giống như một bức tranh lớn đầy hình ảnh
màu sắc phong phú hơn là một bài học khô khan, nhàm chán
- Sự liên tưởng, tưởng tượng: SĐTD hiển thị sự liên kết giữa các ý tưởng
một cách rất rõ ràng
- Làm nổi bật sự việc: Thay cho những từ ngữ tẻ nhạt đơn điệu, SĐTD cho
phép giáo viên và học sinh làm nổi bật các ý tưởng trọng tâm bằng việc sử dụng những màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng Hơn nữa, việc BĐTD dùng rất nhiều màu sắc khiến giáo viên và học sinh phải vận dụng trí tưởng tượng sáng tạo đầy phong phú của mình Nhưng đây không chỉ là một bức tranh đầy màu sắc sặc sỡ thông thường, SĐTD giúp tạo ra một bức tranh mang tính lý luận, liên kết chặt chẽ về những gì được học
5.5.1 Giáo viên dùng SĐTD để dạy bài mới: Giáo viên đưa ra một từ khoá để
nêu kiến thức của bài mới rồi yêu cầu học sinh vẽ SĐTD bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý cho các em để các em tìm ra các tự liên quan đến từ khoá đó và hoàn thiện SĐTD Qua SĐTD đó học sinh sẽ nắm được kiến thức bài học một cáhc dễ dàng
- Ví dụ 1: Với văn bản: Thầy bói xem voi (Môn Ngữ văn lớp 6), sau phần
đọc và tìm hiểu chung, giáo viên có thể vẽ mô hình SĐTD lên bảng BĐTD gồm
Trang 85 nhánh chính, ở mỗi nhánh có thể phân thành nhiều nhánh nhỏ tuỳ thuộc vào nội dung bài học
Để có thể hoàn thiện được mô hình SĐTD của bài học, giáo viên sử dụng
hệ thồng câu hỏi định hướng để khai thác kiến thức:
+ Bố cục của văn bản: học sinh sẽ dựa vào văn bản để xác định các ý chính ( Hoàn cảnh các thầy bói xem voi, cách xem voi, các thầy nhận xét về con voi, hậu quả.)
+ Tiếp tục hoàn thành các nhánh của SĐTD bằng hệ thống câu hỏi nhỏ có tính gợi mở (các thầy xem voi trong hoàn cảnh nào, cách xem voi của các thầy
ra sao, )
Sơ đồ minh hoạ
Sơ đồ tư duy văn bản: Thầy bói xem voi - Ngữ văn 6
5.5.2 Giáo viên dùng SĐTD để củng cố kiến thức sau mỗi tiết học và hệ thống kiến thức sau mỗi chương, mỗi phần…:
Sau mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ SĐTD Mỗi bài học được
vẽ kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành tập Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng
- Ví dụ 1: Khi dạy phần từ loại tiếng Việt, giáo viên tổ chức cho học sinh
vẽ SĐTD sau mỗi bài học để mỗi em có một tập SĐTD về các từ loại tiếng Việt: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, quan hẹ tự, trợ từ, thán từ… Lên đến lớp
9, trong bài “ Tổng Kết ngữ pháp”, học sinh có thể dễ dàng tổng hợp kiến thức
về từ loại tiếng Việt bằng SĐTD dựa vào tập SĐTD đã có Sau khi có một học sinh hoặc một nhóm học sinh vẽ xong SĐTD sẽ cho một học sinh khác, nhóm khác nhận xét, bổ sung … Có thể cho học sinh vẽ thêm các đường, nhánh khác
và ghi thêm các chú thích… rồi thảo luận chung trước lớp để hoàn thiện, nâng cao kĩ năng vẽ SĐTD cho các em
Trang 9Sơ đồ minh hoạ
Sơ đồ tư duy bài “Tổng kết ngữ pháp”- Ngữ văn 9
5.5.3 Học sinh tự có thể sử dụng SĐTD để hỗ trợ việc tự học ở nhà:
Tìm hiểu trước bài mới, củng cố, ôn tập kiến thức bằng cách vẽ SĐTD trên giấy, bìa… hoặc để tư duy một vấn đề mới qua đó phát triển khả năng tư duy lôgic, củng cố khắc sâu kiến thức, kĩ năng ghi chép
Sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học học sinh sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.
6 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành áp dụng các phương pháp trên trong hoạt động dạy học Ngữ văn ở tất cả các khối lớp và đã thu được kết quả khá cao
Đa số các em đã đều tiếp thu và thích thú học môn Ngữ văn , mạnh dạn giơ tay phát biểu xây dựng bài, khi hỏi thì các em đã trả lời một cách tự nhiên
6.1 Kết quả khảo sát đầu năm học trước khi áp dụng đề tài :
Đầu
năm
học
2016-2017
Tổng
số
học
sinh
%
%
%
%
% Khối
6
Khối
9
Trang 106.2 Kết quả học tập của học sinh sau khi áp dụng đề tài :
Học
kỳ I
2016-2017
Tổng
số
học
sinh
%
%
%
%
% Khối
6
52
Khối
9
7 KẾT LUẬN:
Văn học là một khoa học vì nó đòi hỏi sự sáng tạo, tư duy lô-gich và văn học còn là một nghệ thuật Người giáo viên dạy văn không chỉ là một người nghiên cứu khoa học mà còn là một nghệ sĩ Hơn lúc nào hết, giáo viên phải truyền cho học sinh mình ngọn lửa của cuộc sống, của lòng yêu nghề, sưởi ấm những trái tim bé bỏng, cùng học sinh mình buồn, vui, yêu, ghét với thế giới văn học, giúp học sinh thoát khỏi “vùng trũng” của kiến thức, vượt qua tâm thế chán nản, sợ sệt hoặc ghét môn Văn
Việc áp dụng các phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả học tập của học sinh
là vô cùng cần thiết Các em có hứng thú học tập hơn và đã hiểu hơn về những vấn đề trong cuộc sống Tiết học sôi nổi hơn rất nhiều, học sinh đã mạnh hơn
8 ĐỀ NGHỊ:
Thư viện trường nên có thêm nhiều tranh ảnh và tư liệu để phục vụ cho quá trình dạy và học Ngữ văn Bổ sung thêm các tác phẩm có đoạn trích được học; chân dung các nhà thơ lớn, các tài liệu nâng cao cho giáo viên và học sinh
Thời gian giảng dạy và công tác chưa nhiều nên không tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được sự đóng góp của cấp trên và đồng nghiệp để cho đề tài của chúng tôi có chất lượng hơn Chúng tôi xin chân thành cảm ơn