1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phân lập và khảo sát tính chất của một số toxin mới từ nọc bò cạp đen Heterometrus laoticus

22 249 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự tiến bộ khoa học, đã có những nghiên cứu đầu tiên trên thế giới về nọc bò cạp cách đây hơn 100 năm và đã xác định nọc độc bò cạp có hoạt tính về thần kinh.. Trong nọc bò cạp

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ HOÁ HỮU CƠ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 TSKH Hoàng Ngọc Anh

2 GS TSKH Utkin Yuri Nikolaevich

TP Hồ Chí Minh – 2017

Trang 3

1 MỞ ĐẦU

Cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội của thế giới, việc nghiên cứu, tìm tòi, và phát triển tìm ra các loại dược phẩm mới để chữa trị bệnh cho con người là vấn đề ngày càng cấp bách của xã hội và khoa học Bên cạnh việc tổng hợp các loại thuốc chữa bệnh có nguồn gốc từ thực vật thì nọc độc động vật đang là nguồn dược liệu quý hiếm để bổ sung cho việc tổng hợp các nguồn thuốc mới

Từ lâu, nọc độc các loài động vật như rắn, ong, bọ cạp và nhiều loài khác đã được sử dụng làm nguyên liệu chính để chữa bệnh Trong dân gian, bò cạp thường được dùng nguyên con (toàn yết) hoặc phần đuôi (yết vĩ) để trị động kinh ở trẻ em, uốn ván, bán thân bất toại, quai bị, méo miệng… dưới dạng thuốc bột hoặc làm viên uống Cùng với sự tiến bộ khoa học, đã có những nghiên cứu đầu tiên trên thế giới về nọc bò cạp cách đây hơn 100 năm và đã xác định nọc độc bò cạp có hoạt tính về thần kinh Tuy nhiên, việc nghiên cứu nọc bò cạp ở Việt Nam chỉ mới ở giai đoạn bắt đầu, chưa có nhiều nghiên cứu được công bố về việc ứng dụng nọc bò cạp làm thuốc trị bênh cho con người mà chỉ là những bài thuốc dân gian được truyền miệng chưa có nhiều kiểm chứng khoa học

Trong nọc bò cạp chứa nhiều các polypeptide có khả năng tác động lên các thụ thể và các kênh ion của màng tế bào bị kích thích, các loại polypeptide này đã và đang được các nhà khoa học nghiên cứu nhằm tạo ra các thuốc mới chữa các bệnh như: Parkinson, cao huyết áp, ung thư, Alzheimer Nhằm đóng góp một nguồn nguyên liệu mới và các nghiên cứu khoa học mới cho ngành dược, hướng tới làm thuốc chữa bệnh và làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo, nhóm nghiên cứu chúng tôi

đã tiến hành các nghiên cứu về nọc bò cạp Heterometrus laoticus Qua đề tài “Phân lập và khảo

sát tính chất toxin của một số toxin mới từ nọc bò cạp Heterometrus laoticus”, đây là hướng

nghiên cứu mới về nọc bò cạp Heterometrus laoticus với hi vọng sẽ mang đến cơ sở cho những

nghiên cứu tiếp theo về việc ứng dụng của nọc bò cạp dùng làm nguồn nguyên liệu cho dược phẩm

Trang 4

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bọ cạp đen Heterometrus laoticus được thu mua ở tỉnh An Giang thành 2 đợt, đợt 1 vào tháng

5 và đợt 2 vào tháng 8 với tổng số 2 lần là 850 cá thể Bọ cạp thu mua sau đó được nuôi trong phòng thí nghiệm để lấy nọc phục vụ cho các nghiên cứu

Để thu nọc bọ cạp từ phần đuôi có chứa túi nọc, bọ cạp được kích thích trực tiếp vào phần đuôi (đốt thứ 5 hoặc đốt thứ 6) sử dụng một dòng điện một chiều có tần số kích thích là 2,63kHz và được duy trì trong suốt quá trình tiết nọc của bọ cạp (5 – 7 giây) Bọ cạp được giữ cố định trên một bản kim loại, bản kim loại này được nối với cực âm của nguồn điện Điện cực dương được sử dụng

để kích thích trực tiếp vào phần đuôi chích để bọ cạp tiết hoàn toàn nọc có trong túi nọc ra ngoài Nọc được bọ cạp tiết ra được thu trên các lam thủy tinh mỏng dưới dạng chất lỏng không màu hoặc

có màu trắng sữa đục Nọc sau khi thu được làm khô trong bình hút ẩm có chứa CaCl2 khan trong khoảng 4 giờ Nọc sau khi khô được gom lại trong một lọ thủy tinh nhỏ và bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ -20oC cho đến khi sử dụng Bọ cạp sau khi mua về để ổn định một ngày rồi tiến hành lấy nọc, khoảng cách giữa hai lần lấy nọc liên tiếp là hai tuần

Nọc thô được tinh chế thành các phân đoạn nhỏ hơn sử dụng phương pháp sắc ký lọc gel trên gel Sephadex G-50 và sắc ký lỏng hiệu năng cao Các phân đoạn nọc thu được tiếp tục được đánh giá độc tính trên chuột và dễ và nghiên cứu cấu trúc sử dụng phổ cộng hưởng từ hạt nhân và khối phổ

Trang 5

3 KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN

3.1 Định danh bọ cạp đen thumẫu tại An Giang

Bọ cạp đen được tiến hành thu mẫu tại vùng An Giang, miền Nam, Việt Nam Sau đó, mẫu

vật bọ cạp được tiến hành vận chuyển sang Pháp, gửi mẫu tại phòng Sinh thái môi trường thuộc Viện

Bảo tàng lịch sử Quốc gia Pháp của Tiến sỹ khoa học Wilson R Lourenco để tiến hành định danh

bọ cạp

Kết quả xác định mẫu bọ cạp ở vùng An Giang thuộc loại Heterometrus laoticus (Phụ lục 1)

3.2 Nuôi bọ cạp trong phòng thí nghiệm và thu hoạch nọc

Bọ cạp H laoticus sau khi thu mua tại vùng An Giang (2 đợt, 850 cá thể) được chia vào các

thau để tiến hành thử nghiệm nuôi nhốt trong phòng thí nghiệm, mỗi thau có số lượng trung bình từ

65-75 cá thể, tiến hành nuôi và theo dõi trong 06 tháng cho kết quả như hình 3.1

Trang 6

Hình 3.1 Lượng nọc bọ cạp thu được theo thời gian

Lượng nọc thu được từ bọ cạp nuôi trong phòng thí nghiệm giảm dần theo thời gian nuôi Trong phòng thí nghiệm, bọ cạp được nuôi với mật độ khá lớn so với tự nhiên, không gian hoạt động

ít, thức ăn được cung cấp đầy đủ nên không có tình trạng cạnh tranh nguồn thức ăn cũng như chống lại kẻ thù trong môi trường tự nhiên

3.3 Khảo sát, đánh giá và phân tích nọc thô bọ cạp H laoticus

3.3.1 Phân tích hàm lượng protein tổng trong nọc thô

Lượng protein có trong nọc thô được xác định bằng phương pháp so màu biuret với đường chuẩn được xây dựng bằng các nồng độ dung dịch albumin khác nhau Từ kết quả xây dựng đường

chuẩn và phương trình hồi quy của đường chuẩn tính toán được nồng độ protein có trong nọc H laoticus thu được là 1,293 mg/mL và từ đó xác định được hàm lượng của protein tan trong nước của

dung dịch nọc thô lấy từ bọ cạp là 64,65%

3.3.2 Phân tích nọc bọ cạp bằng sắc ký lọc gel trên gel Sephadex G50 và xác định khối lượng phân tử các phân đoạn

Thực hiện sắc ký lọc gel trên gel Sephadex G – 50 với 4.500 mg nọc thô tại Phòng Các chất

có hoạt tính sinh học, Viện Sinh học Nhiệt đới, thu được 5 phân đoạn nọc với tỷ lệ khối lượng từng

phân đoạn được thể hiện trong bảng 3.1

0 0.1 0.2 0.3 0.4 0.5 0.6 0.7 0.8 0.9 1

0,7594

0,6106 0,5737

0,3942 0,3529

0,489

0,93

0,5652 0,6628

0,4864 0,3758

Trang 7

Bảng 3.1 Khối lượng các phân đoạn nọc bọ cạp

Phân đoạn Lượng nọc (mg) Tỉ lệ (%)

Bằng sắc ký lọc gel, nọc thô từ loài bọ cạp H.laoticusđã được phân tách thành 5 phân đoạn

nọc khác nhau tương ứng với các khối lượng phân tử khác nhau Khối lượng phân tử của 5 phân đoạn này được xác định sơ bộ bằng phương pháp SDS-PAGE và so sánh với mẫu chuẩn khối lượng (hình 3.2)

Hình 3.2 Kết quả điện di 5 phân đoạn nọc so với mẫu chuẩn

Trang 8

3.3.3 Khảo sát độc tính của các phân đoạn của nọc bọ cạp H laoticus đối với chuột

Bảng 3.2 Kết quả thử độc tính trên chuột của các phân đoạn nọc

Phân

đoạn Biểu hiện của chuột sau khi tiêm các phân đoạn Nhận xét

1 Chuột gãi mõm, nằm im sau đó hoạt động bình thường Không độc

2 Chuột giảm hoạt động, xù lông, thở gấp nhưng phục

hồi sau 30 phút

Độc nhẹ

3 Chuột nằm im, chảy nước bọt, liệt chi, thở gấp nhưng

4 Chuột nằm im, mắt nhắm, co giật, liệt chi, chảy

nước bọt, chuột tử vong sau 3 giờ

Độc gây chết

5 Chuột run, nằm im, hoạt động bình thường sau 60 phút Không độc

Nước

cất

Chuột run, nằm im, sau đó bình thường Không độc

Phân đoạn 4 được tách ra từ nọc thô bọ cạp H laoticus bằng phương pháp sắc ký lọc gel, thông

qua thử nghiệm độc tính lên chuột cho thấy phân đoạn 4 có độc tính gây chết Vì vậy, phân đoạn 4 được xác định độc tính cấp đối với chuột và đạt được kết quả độc tính cấp của phân đoạn 4 tách ra

từ nọc thô bọ cạp Heterometrus laoticus là LD50 = 24, 07 ± 1,09 mg/kg.Phân đoạn 4 sau khi được xác nhận có độc tính mạnh được tiếp tục phân tách bằng HPLC để thu được các phân đoạn thứ cấp (hình 3.3)

Hình 3.3 Sắc ký đồ khi phân tách phân đoạn 4 bằng HPLC

Các phân đoạn thứ cấp của phân đoạn 4 tiếp tục được đánh giá độc tính trên chuột và cho kết quả tóm tắt trong bảng 3.2 Các phân đoạn thứ cấp có độc tính (phân đoạn 4.6, 4.7, 4.11 và 4.15) được tiếp tục tinh chế và xác định khối lượng phân tử của các peptide thành phần

Trang 9

Bảng 3.3 Kết quả thử độc tính các phân đoạn thứ cấp

Phân đoạn Độc tính Phân đoạn Độc tính

4.1 Không độc 4.14 Không độc

4.3 Gây độc 4.16 Không độc 4.4 Không độc 4.17 Không độc

4.5 Gây độc 4.18 Không độc

4.6 Độc gây chết 4.19 Không độc

4.7 Gây độc 4.20 Không độc 4.8 Không độc 4.21 Không độc 4.9 Không độc 4.22 Không độc 4.10 Không độc 4.23 Không độc

4.11 Gây độc 4.24 Không độc 4.12 Không độc 4.25 Không độc

4.13 Không độc Nước muối

sinh lý Không độc

3.4 Tinh chế và xác định khối lượng phân tử các phân đoạn thứ cấp

Phân đoạn 4.6 được phân tách ra thành 3 phân đoạn gồm 4.6.1, 4.6.2, 4.6.3 Phân đoạn 4.6.1 thu được lượng mẫu tương đối ít, trong khi đó ở phân đoan 4.6.2 và 4.6.3 lượng mẫu thu được nhiều nên được tiếp tục tinh chế để xác định khối lượng phân tử Kết quả cho thấy phân đoạn thứ cấp 4.6.2

có khối lượng phân tử 3.669,155 Da, còn phân đoạn thứ cấp 4.6.3 có khối lượng phân tử 2.915,040

Da

Phân đoạn 4.7 tách ra 4 phân đoạn Trong đó, peptide 4.7.2 được tinh chế và khảo sát khối lượng phân tử, kết quả cho thấy peptide 4.7.1 có khối lượng phân tử là 3.700,2 Da và peptide 4.7.2

có khối lượng phân tử là 3.846,872 Da

Phân đoạn 4.11 đã tách được 01 peptide 4.11.1 sạch và xác định khối lượng phân tử của nó là 3.695,907 Da

Phân đoạn 4.15 đã tách ra làm 8 phân đoạn peptide Trong số đó, chúng tôi đã làm sạch và xác định khối lượng phân tử của ba peptide của phân đoạn thứ cấp 4.15.8 là 2.461,105 Da ; 3.285,285

Trang 10

Phân đoạn Khối lượng phân tử (Da)

4.6.2 (Hetlaxin) 3.670,8 4.6.3 2.915,4 4.7.1 3.700,2 4.7.2 3.846,2

đã được xác định bằng phương pháp thoái hóa Edman là ISXTGSXQ Trình tự amino acid của Hetlaxin cũng đồng thời được phân tích bằng khối phổ MALDI (Hình 3.4)

Hình 3.4 Phân tích trình tự amino acid của Hetlaxin bằng khối phổ

Cùng một lúc thực hiện vỡ mảnh MS/MS hoàn toàn của chuỗi peptide và xác định khối lượng peptide bằng phương pháp dấu bàn tay nhờ trypsin Dựa trên dữ liệu của thoái hóa Edman và khối phổ trong hay 3.18 trình tự các amino acid của Hetlaxin có thể được xác định Dữ liệu khối phổ MS/MS của mảnh peptide thu được dưới tác động của trypsin chỉ ra rằng gốc cystein ở đầu cuối -C

đã bị amide hóa và gốc lysin ở vị trí 30 đã được tìm thấy bằng phương pháp xác định trình tự amino

Trang 11

acid bằng MS/MS của mảnh thu được dưới tác động của trypsin Cấu trúc của Hetlaxin đã được xác định như trong hình 3.5

Hình 3.5 Cấu trúc bậc 1 của Hetlaxin

So sánh trình tự amino acid của Hetlaxin với trình tự amino acid của các alpha-toxin có tương tác với kênh kali (Hình 3.6) cho thấy Hetlaxin là đồng đẳng của các toxin này Hetlaxin có sự tương đồng cao với toxin AFB73769, trình tự amino acid của toxin này được suy ra từ sản phẩm của cDNA

(tổng hợp) thu được từ tuyến nọc của bọ cạp H laoticus của Thái Lan, cho đến nay vẫn chưa có tài

liệu về hoạt tính sinh học của toxin này Một toxin tương đồng khác (HsTX1-P59867 và toxin P0DJ31những toxin này có tương tác mạnh với kênh Kali Kv1.1 và Kv1.3 (Hình 3.6)

Vm24-1 Vm24-10 20 30

ISCTGSKQCY DPCKKKTGCP NAKCMNKSCK CYGC* HETLAXIN

ISCTGSKQCY DPCKRKTGCP NAKCMNKSCK CYGCG AFB73769

IRCSGSRDCY SPCMKQTGCP NAKCINKSCK CYGC* P84094(KAX6D_HETSP) ASCRTPKDCA DPCRKETGCP YGKCMNRKCK CNRC* P59867 (KAX63_HETSP)

AAAISCVGSPECP PKCRAQ-GCK NGKCMNRKCK CYYC* P0DJ31 (KA211_VAEMS)

AAAISCVGSKECL PKCKAQ-GCK SGKCMNKKCK CY-CP P0DJ32(KA212_VAEMS)

Hình 3.6 So sánh sự tương đồng của hetlaxin với các toxin khác

Kết hợp với phân tích khối phổ MS và MS/MS và dữ liệu thu được khi thực hiện phương pháp thoái hóa Edman, cấu trúc của phân đoạn 4.6.2 đã được xác định Sự tương tác của các peptide tách

ra với kênh Kv1.3 cũng được xem xét, từ đó nhận định chuỗi polypeptide đã cô lập được là một toxin mới và tạm được đặt tên là Hetlaxin Hetlaxin thuộc họ alpha-toxin, đây là một trong những toxin

đầu tiên tách ra từ H.laoticus và có ái lực mạnh với kênh kali Kv1.3 Trong khi đó Hetroscorpin -1

(HS-1) toxin tách ra từ H.laoticus tại Thái Lan có trình tự amino acid khác xa so với Hetlaxin và

không có báo cáo nào về tách dụng trên kênh thần kinh K, HelaTx1 cũng tách từ bọ cạp này thì lại không có tương tác mạnh trên kênh Kv1.3 như Hetlaxin

Trang 12

3.5.2 Khảo sát tác động của Hetlaxin lên kênh K +

Sự tương tác của Hetlaxin với cổng dẫn truyền ion K+ của các kênh kali đã được nghiên cứu trong các thí nghiệm cạnh tranh liên kết Chimeric protein KcsA-Kv1.3 và KcsA-Kv1.1, biểu hiện khác loài trong màng E coli, đã được sử dụng như các kênh K+ và R-AgTx2 được sử dụng như một phối tử Sự liên kết của R-AgTx2 được ghi nhận nhờ kính hiển vi đồng tiêu quét laser Có thể thấy rằng Hetlaxin cạnh tranh hiệu quả với R-AgTx2 trong liên kết với cả hai kênh chimeric (Hình 3.7) Các giá trị IC50 được xác định là 0,48 ± 0,01 μM và 6,7 ± 0,4 μM tương ứng cho Kv1.3 và Kv1.1, trong khi đó giá trị Ki được tính sử dụng phương trình Cheng-Prusoff là 59 ± 6 nM và 0,8 ± 0,3 M Những số liệu này cho thấy Hetlaxin tương tác hiệu quả với kênh kali Kv1.3, trong khi đó sự tương tác với kênh Kv1.1 thấp hơn khoảng mười lần [53,87]

Hình 3.7 Sự cạnh tranh của Hetlaxin với R-AgTx trong liên kết với kênh kali KcsA-K v 1.1 (A) và

KcsA-K v 1.3 (B)

Cho đến thời điểm hiện tại, từ loài H laoticus phân bố ở Thái Lan chỉ có hai toxin đã được cô

lập và xác định trình tự là Hetroscorpin-1 (HS-1) và HelaTx1 HS-1 có khối lượng phân tử của 8.293

Da, chứa 6 gốc cysteine và thuộc họ scorpine có độc tính với côn trùng và có hoạt tính kháng khuẩn nhưng không có báo cáo nào về sự tương tác của HS-1 với các kênh kali HelaTx1 có khối lượng phân tử 2.763 Da và chứa 4 gốc cysteine, có khả năng tương tác với các kênh kali khác nhau và tương tác mạnh nhất với kênh Kv1.1 (EC50 = 9,9 ± 1,6 μM) HelaTx1 cũng liên kết với kênh Kv1.3, tuy nhiên ái lực liên kết thấp hơn nhiều so với kênh Kv1.1 Ở nồng độ 30 μM, toxin HelaTx1 chỉ tương tác 20 % đối với kênh kali

Dựa trên các kết quả thử nghiệm khả năng liên kết với kênh kali của protein từ Hetlaxin cô lập

từ nọc loài H laoticus phân bố ở Việt Nam cho thấy khả năng liên kết và ức chế hoạt động của kênh

kali Kv1.3 và Kv1.1 Đối với kênh Kv1.3, protein mới phát hiện có khả năng ức chế ở nồng độ khá thấp, 0,48 ± 0,01 μM và 6,7 ± 0,4 μM tương ứng cho Kv1.3 và Kv1.1 Những nghiên cứu này cho thấy Hetlaxincó khả năng ức chế hoạt động kênh Kv1.3 hiệu quả hơn HelaTx1 đã được công bố và

-9 -8 -7 -6 -5 -4 -3 -2 0

300 600 900 1200

1000 2000 3000 4000

Trang 13

là toxin có khả năng ức chế kênh Kv1.3 mạnh nhất được phân lập từ H laoticus cho đến nay (0,48

µM) [90] [85]Trước đây, đa số báo cáo đều cho thấy rằng các toxin của nọc bọ cạpH laoticus này

đều tác dụng trên kênh thần kinh Kv1.1 và chưa có báo cáo nào chỉ rõ sự liên kết của các protein này với Kv1.3 Hetlaxin là toxin đầu tiên tại thời điểm bài viết được tách từ nọc bọ cạp H laoticus có tác

động mạnh trên kênh Kv1.3

3.6 Khảo sát độc tính của các phân đoạn của nọc bọ cạp H laoticus lên dế

3.6.1 Kết quả khảo sát độc tính của các phân đoạn nọc thu được trên dế

Các phân đoạn của nọc bọ cạp H laoticus được thử nghiệm xác định độc tính đối với côn

trùng bằng phương pháp tiêm bên bụng dế, mỗi lô gồm 6 con và tiêm đối chứng sử dụng nước cất

cho kết quả như bảng 3.5

Bảng 3.5 Kết quả thử độc tính trên dế của các phân đoạn nọc

PĐ Các biểu hiện của dế Nhận xét

1 Dế nằm im, sau đó hoạt động bình thường Không độc

2 Dế nằm im, sau đó hoạt động bình thường Không độc

3 Dế nằm im, sau đó hoạt động bình thường Không độc

4 Dế nằm im, sau đó hoạt động bình thường Không độc

Nước cất Dế run, nằm im, sau đó bình thường Không độc

Đối với phân đoạn 5, sau khi được tiêm trong năm phút đầu tiên, dế hoạt động mạnh, chạy nhảy liên tục Đến phút thứ 10, dế bắt đầu nằm yên và đến phút thứ 26, dế có biểu hiện tử vong, tứ chi rụng ra Phân đoạn 5 được xác định là phân đoạn có độc tính đối với côn trùng

3.6.2 Xác định độc tính cấp của phân đoạn độc lên côn trùng theo đường tiêm bụng bên dế

Sau khi tiến hành tiêm bên bụng dế của các lô thử nghiệm và các lô đối chứng chúng tôi xác định được như sau :

 Xác định được liều tối đa không gây chết LD0 = 20,3 µg/g

 Xác định được liều tối thiểu gây chết 100% LD100 = 393,75 µg/g

 Xác định liều chết trung bình LD50 theo phương pháp Karber – Behrens theo bảng 3.7 ta có:

∑ab =1.600,52

Ngày đăng: 01/11/2017, 14:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Lượng nọc bọ cạp thu được theo thời gian. - Phân lập và khảo sát tính chất của một số toxin mới từ nọc bò cạp đen Heterometrus laoticus
Hình 3.1. Lượng nọc bọ cạp thu được theo thời gian (Trang 6)
Hình 3.2. Kết quả điện di 5 phân đoạn nọc so với mẫu chuẩn. - Phân lập và khảo sát tính chất của một số toxin mới từ nọc bò cạp đen Heterometrus laoticus
Hình 3.2. Kết quả điện di 5 phân đoạn nọc so với mẫu chuẩn (Trang 7)
Bảng 3.1. Khối lượng các phân đoạn nọc bọ cạp. - Phân lập và khảo sát tính chất của một số toxin mới từ nọc bò cạp đen Heterometrus laoticus
Bảng 3.1. Khối lượng các phân đoạn nọc bọ cạp (Trang 7)
Bảng 3.2.. Kết quả thử độc tính trên chuột của các phân đoạn nọc. - Phân lập và khảo sát tính chất của một số toxin mới từ nọc bò cạp đen Heterometrus laoticus
Bảng 3.2.. Kết quả thử độc tính trên chuột của các phân đoạn nọc (Trang 8)
Hình 3.3. Sắc ký đồ khi phân tách phân đoạn 4 bằng HPLC - Phân lập và khảo sát tính chất của một số toxin mới từ nọc bò cạp đen Heterometrus laoticus
Hình 3.3. Sắc ký đồ khi phân tách phân đoạn 4 bằng HPLC (Trang 8)
Bảng 3.3. Kết quả thử độc tính các phân đoạn thứ cấp - Phân lập và khảo sát tính chất của một số toxin mới từ nọc bò cạp đen Heterometrus laoticus
Bảng 3.3. Kết quả thử độc tính các phân đoạn thứ cấp (Trang 9)
Hình 3.4. Phân tích trình tự amino acid của Hetlaxin bằng khối phổ. - Phân lập và khảo sát tính chất của một số toxin mới từ nọc bò cạp đen Heterometrus laoticus
Hình 3.4. Phân tích trình tự amino acid của Hetlaxin bằng khối phổ (Trang 10)
Hình 3.5. Cấu trúc bậc 1 của Hetlaxin - Phân lập và khảo sát tính chất của một số toxin mới từ nọc bò cạp đen Heterometrus laoticus
Hình 3.5. Cấu trúc bậc 1 của Hetlaxin (Trang 11)
Hình 3.7.. Sự cạnh tranh của Hetlaxin với R-AgTx trong liên kết với kênh kali KcsA-Kv1.1 (A) và KcsA-Kv1.3 (B)  - Phân lập và khảo sát tính chất của một số toxin mới từ nọc bò cạp đen Heterometrus laoticus
Hình 3.7.. Sự cạnh tranh của Hetlaxin với R-AgTx trong liên kết với kênh kali KcsA-Kv1.1 (A) và KcsA-Kv1.3 (B) (Trang 12)
Bảng 3.5. Kết quả thử độc tính trên dế của các phân đoạn nọc. - Phân lập và khảo sát tính chất của một số toxin mới từ nọc bò cạp đen Heterometrus laoticus
Bảng 3.5. Kết quả thử độc tính trên dế của các phân đoạn nọc (Trang 13)
Bảng 3.6. Tỷ lệ tử vong của dế ở các liều khác nhau trong khoảng LD0 và LD100 sau 24 giờ tiêm. - Phân lập và khảo sát tính chất của một số toxin mới từ nọc bò cạp đen Heterometrus laoticus
Bảng 3.6. Tỷ lệ tử vong của dế ở các liều khác nhau trong khoảng LD0 và LD100 sau 24 giờ tiêm (Trang 14)
Bảng 3.7. Bảng tính theo phương pháp Karber – Behrens. - Phân lập và khảo sát tính chất của một số toxin mới từ nọc bò cạp đen Heterometrus laoticus
Bảng 3.7. Bảng tính theo phương pháp Karber – Behrens (Trang 14)
Dựa vào kết quả khảo sát độc tính các phân đoạn thứ cấp lên côn trùng như bảng 3.8, 13 phân đoạn được xác định có độc tính đối với dế thử nghiệm là phân đoạn 5.3; 5.7; 5.8; 5.9; 5.10;  5.12; 5.13; 5.15; 5.17; 5.18; 5.21; 5.24 - Phân lập và khảo sát tính chất của một số toxin mới từ nọc bò cạp đen Heterometrus laoticus
a vào kết quả khảo sát độc tính các phân đoạn thứ cấp lên côn trùng như bảng 3.8, 13 phân đoạn được xác định có độc tính đối với dế thử nghiệm là phân đoạn 5.3; 5.7; 5.8; 5.9; 5.10; 5.12; 5.13; 5.15; 5.17; 5.18; 5.21; 5.24 (Trang 15)
Hình 3.9. Sắc ký đồ của phân đoạn 5. - Phân lập và khảo sát tính chất của một số toxin mới từ nọc bò cạp đen Heterometrus laoticus
Hình 3.9. Sắc ký đồ của phân đoạn 5 (Trang 16)
5.7 Độc mạnh (5/6) 5.15 Độc mạnh (5/6) 5.23 Không độc (0/6) - Phân lập và khảo sát tính chất của một số toxin mới từ nọc bò cạp đen Heterometrus laoticus
5.7 Độc mạnh (5/6) 5.15 Độc mạnh (5/6) 5.23 Không độc (0/6) (Trang 16)
Qua hình 3.10, cho thấy cácH của gốc amin cuối đã bị ion hóa. Dựa vào kết quả của phổ NMR và phổ MS đã dự đoán  được cấu trúc của toxin 5.21.1 là dipeptide  Leu-Trp (hình 3.11) - Phân lập và khảo sát tính chất của một số toxin mới từ nọc bò cạp đen Heterometrus laoticus
ua hình 3.10, cho thấy cácH của gốc amin cuối đã bị ion hóa. Dựa vào kết quả của phổ NMR và phổ MS đã dự đoán được cấu trúc của toxin 5.21.1 là dipeptide Leu-Trp (hình 3.11) (Trang 17)
Hình 3.10. Phổ NMR của toxin 5.21.1 - Phân lập và khảo sát tính chất của một số toxin mới từ nọc bò cạp đen Heterometrus laoticus
Hình 3.10. Phổ NMR của toxin 5.21.1 (Trang 17)
Hình 3.11.. Cấu trúc của toxin 5.21.1 (Leu-Trp) - Phân lập và khảo sát tính chất của một số toxin mới từ nọc bò cạp đen Heterometrus laoticus
Hình 3.11.. Cấu trúc của toxin 5.21.1 (Leu-Trp) (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w