Ở Việt nam, nông thôn vẫn là khu vực có tỷ lệ dân số cao nhất ở nước ta hiện nay, chiếm 67% dân số với 60,5% lao động từ 15 tuổi trở lên trong cả nước, trong đó lao động làm việc trong lĩnh vực nông – lâm – thủy sản là 46,3% (Tổng cục Thống kê, 2014). Hoạt động chủ yếu của người nông dân trong khu vực này là sản xuất nông nghiệp với tư liệu sản xuất chính là đất đai, đây là hoạt động chính để tạo ta sinh kế của họ. Chính vì vậy việc ổn định sinh kế cho hộ nông dân đang là vấn đề được quan tâm nhiều hiện nay khi quá trình công nghiệp, hóa hiện đại hóa đang diễn ra một cách nhanh chóng ở nước ta. Mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta đề ra là đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, và để thực hiện được mục tiêu này thì cần phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa cũng lấy đi một lượng lớn diện tích đất sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân. Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chỉ tính riêng giai đoạn từ năm 2001 2007, tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi là trên 500.000 ha, trong đó năm 2007 đã giảm 127.000 ha, đưa diện tích đất canh tác trên cả nước chỉ còn 4,1 triệu hécta (Dương Mộng Huyền, 2010). Dự báo, từ nay đến năm 2025, khoảng 10% 15% diện tích đất nông nghiệp và các loại đất khác sẽ chuyển đổi mục đích phục vụ phát triển công nghiệp (Dương Mộng Huyền, 2010). Việc thu hồi đất nông nghiệp không chỉ làm cho các hộ nông dân mất đi tài sản sinh kế đặc biệt quan trọng là đất đai mà còn mất đi nguồn lương thực, thực phẩm cung cấp cho người tiêu dùng và ảnh hưởng đến an ninh lương thực quốc gia. Sau khi thu hồi đất nông nghiệp, một số hộ nông dân có điều kiện về trình độ, nguồn lực đã chuyển đổi nghề nghiệp, nhưng cũng rất nhiều hộ phải đối mặt với tình trạng không tìm được việc làm. Không còn hoặc còn rất ít đất sản xuất đất nông nghiệp đã buộc các hộ nông dân phải tìm kiếm một nguồn sinh kế mới, nhưng với đặc điểm của các hộ nông dân là trình độ học vấn, trình độ tay nghề còn hạn chế, quen lao động chân tay thì việc tìm kiếm nguồn sinh kế mới thay thế là rất khó khăn.
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Trang 2HÀ NỘI – 2016
Trang 3HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SINH KẾ CỦA HỘ NÔNG DÂN SAU KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ THANH NGHỊ, HUYỆN THANH LIÊM,
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp “Sinh kế của hộ nông dân sau khi thuhồi đất nông nghiệp trên địa bàn xã Thanh Nghị huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam”
là công trình nghiên cứu của tôi Số liệu kết quả nghiên cứu là trung thực và chưađược sử dụng trong bất cứ khóa luận, luận văn, luận án nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đượccảm ơn và trích dẫn trong khóa luận này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Đinh Thị Bích Ngọc
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn chân thành, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới quý Thầy/ Côgiáo Học viện Nông nghiệp Việt Nam, quý Thầy/ Cô giáo Khoa Kinh tế và Pháttriển nông thôn đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt cho tôi cả về kiến thức chuyênmôn và đạo đức con người trong suốt 4 năm học qua
Đặc biệt tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Quyền Đình
Hà, Bộ môn phát triển nông thôn đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi tậntình trong quá trình thực tập để tôi có thể hoàn thành cuốn luận văn tốt nghiệp này
Nhân dịp này tôi cũng xin cảm ơn các bác, các chú lãnh đạo của UBND xãThanh Nghị, các hộ gia đình trong xã đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôitrong quá trình thực tập và thu thập số liệu tại xã
Cuối cùng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân,bạn bè - những người đã luôn ở bên, động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũngnhư nghiên cứu và hoàn thành báo cáo này
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Đinh Thị Bích Ngọc
Trang 6TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng sinh kế của hộ nôngdân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm, tỉnh HàNam; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm ổn định sinh kế cho các hộ nông dân bịthu hồi đất trên địa bàn xã Để đạt được mục tiêu chung này, đề tài cần triển khaicác mục tiêu cụ thể như sau: (1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sinh kếcủa hộ nông dân; (2) Đánh giá thực trạng sinh kế của hộ nông dân sau khi thu hồiđất nông nghiệp ở xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; (3) Phân tíchcác yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sinh kế của hộ nông dân sau khi bị thu hồi đấtnông nghiệp trên địa bàn xã; (4) Đề xuất một số giải pháp nhằm ổn định sinh kế chocác hộ nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn xã
Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chỉ tínhriêng giai đoạn từ năm 2001 - 2007, tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi là trên500.000 ha, trong đó năm 2007 đã giảm 127.000 ha, đưa diện tích đất canh tác trên
cả nước chỉ còn 4,1 triệu héc-ta (dẫn theo Dương Mộng Huyền, 2010) Việc thu hồiđất nông nghiệp không chỉ làm cho các hộ nông dân mất đi tài sản sinh kế đặc biệtquan trọng là đất đai mà còn mất đi nguồn lương thực, thực phẩm cung cấp chongười tiêu dùng và ảnh hưởng đến an ninh lương thực quốc gia
Xã Thanh Nghị là một xã thuộc vùng bán sơn địa nằm ở phía nam của huyệnThanh Liêm, tỉnh Hà Nam có vị trí địa lý thuận lợi với dân số là 10.437 người năm
2014 (UBND xã Thanh Nghị, 2014) Số liệu của nghiên cứu được thu thập từ 60 hộgia đình bị thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho xây dựng nhà máy xi măng, đườnggiao thông tại xã với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu bao gồm: phươngpháp thống kê mô tả, thống kê so sánh và phân tích hồi qui Binary Logistic để phântích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của các hộ nông dân sau khi thuhồi đất nông nghiệp
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong vòng 3 năm từ năm 2013 đến năm 2015thì số hộ bị thu hồi đất nông nghiệp trong xã là 225 hộ với tổng diện tích là
Trang 7158.000m2 (tương đương với 15,8ha) đây đa phần là đất trồng 2 vụ lúa của ngườidân và làm cho diện tích đất nông nghiệp của xã giảm xuống còn 6.933.400m2 Diệntích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm 2,23% tổng diện tích đất nông nghiệp hiện cócủa xã, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của các hộ nông dân mà cònảnh hưởng tới các mục tiêu về phát triển sản xuất nông nghiệp của xã Có sự thayđổi đáng kế về sinh kế của các hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất, cơ cấu việc làmcủa các hộ nông dân có sự chuyển dịch rõ rệt, số lao động có việc làm sau khi thuhồi của nhóm hộ điều tra tăng lên, lao động tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp có
xu hướng giảm đi và có xu hướng tăng lên trong lĩnh vực phi nông nghiệp và laođộng kiêm ngành nghề khác Đối với nhóm I, sau khi thu hồi đất thì tỷ lệ lao độngthuần nông ở nhóm này giảm mạnh còn 8,89% còn lao động phi nông nghiệp đãtăng lên tới 84,44%, ở nhóm II tỷ lệ lao động tham gia vào sản xuất nông nghiệpgiảm xuống còn 45,1%, còn lao động phi nông nghiệp và lao động kiêm đều tăngvới tỷ lệ lần lượt là 41,18% và 13,72% và nhóm III sau khi thu hồi đất thì có sựgiảm nhẹ về tỷ lệ lao động thuần nông còn 51,92%, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp
và lao động kiêm trước thu hồi đất là 22,92% và 18,75%, sau khi thu hồi đất thìtăng lên lần lượt là 28,45% và 19,23%
Về thu nhập thì sau khi bị thu hồi đất, thu nhập của các hộ dân không có sựthay đổi lớn Trước khi thu hồi đất thì tổng thu nhập bình quân của một hộ điều tra
là 61,72 triệu đồng và thu nhập bình quân trên một lao động trên 1 năm là 25,18triệu đồng, sau khi thu hồi đất thì có sự tăng lên về thu nhập của các hộ điều tra vớimức thu nhập trung bình là 74,75 triệu đồng trên một hộ dịch vụ Nguồn thu từ hoạtđộng thương mại dịch vụ chiếm trên 40% tổng thu nhập Việc sử dụng tiền đền bùcủa hộ còn chưa hiệu quả, chỉ có khoảng 22,05% số tiền đền bù được sử dụng vàoviệc đầu tư sản xuất kinh doanh Các hộ cũng có sự đa dạng về các hoạt động sinh
kế của hộ mình nhằm thích ứng với những thay đổi sau khi thu hồi đất với nhiều môhình sinh kế mới và đa dạng, phù hợp với điều kiện của từng hộ
Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sinh kế của hộ dân bị thu hồi đất bao gồm:trình độ học vấn của chủ hộ, vốn tài chính của hộ, phương án sử dụng tiền đền bù,
Trang 8sự đa dạng về các hoạt động sinh kế và ảnh hưởng từ cơ quan chính quyền địaphương Trong đó, phương án sử dụng tiền đền bù và sự đa dạng về các hoạt độngsinh kế có ảnh hưởng nhiều nhất đến kết quả sinh kế của hộ sau khi thu hồi đất nôngnghiệp.
Từ kết quả nghiên cứu, một số giải pháp được đề xuất nhằm nâng cao thunhập, ổn định và đảm bảo sinh kế cho người dân vùng thu hồi đất bao gồm việc tiếptục canh tác trên phần diện tích đất nông nghiệp còn lại tránh gây lãng phí nguồnđất vốn đã khan hiếm Đồng thời đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phươngtheo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sử dụng hợp lý số tiền đền bùsao cho tạo ra được hướng sinh kế bền vững trong tương lai Cần có sự chung taygiúp sức của chính quyền đại phương trong việc giúp đỡ các hộ mất đất tìm kiếmviệc làm mới, ổn định cuộc sống thông qua các hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, mởlớp đào tạo nghề, nâng cao trình độ của người lao động nhằm đáp ứng được các yêucầu của công việc hiện nay
MỤC LỤC
Trang 9Trang
Trang 10LỜI CAM ĐOAN i
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của hộ nông dân sau khi thu
hồi đất
13
2.2.1 Kinh nghiệm về giải quyết việc làm và ổn định sinh kế cho hộ
nông dân sau khi thu hồi đất ở một số nước trên thế giới
16
2.2.2 Kinh nghiệm về giải quyết việc làm và ổn định sinh kế cho hộ
nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam
19
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
4.1 Thực trạng sinh kế của hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất nông 36
Trang 11nghiệp trên địa bàn xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà
Nam
4.1.1 Tình hình thu hồi đất nông nghiệp tại xã Thanh Nghị 364.1.2 Tác động của thu hồi đất tới các nguồn lực sinh kế của hộ điều tra 384.1.2.1 Tác động tới nguồn vốn con người của hộ 39
4.1.2.5 Tác động tới nguồn lực tài chính của hộ 56
4.1.4 Một số mô hình sinh kế được áp dụng của nhóm hộ điều tra 634.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sinh kế của hộ nông dân sau
khi thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn xã Thanh Nghị
4.3 Một số giải pháp nhằm ổn định sinh kế cho các hộ nông dân bị
thu hồi đất nông nghiệp ở xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm,
tỉnh Hà Nam
69
PHỤ LỤC
Phụ lục 1
Phụ lục 2
828284
Trang 12DFDI Department for International Development - Bộ phát
triển Quốc tế Anh
Trang 13DANH MỤC BẢNG
3.1 Tình hình đất đai của xã Thanh Nghị năm 2013 27
4.1 Tình hình thu hồi đất nông nghiệp của xã Thanh Nghị giai đoạn
4.2 Tình hình bồi thường sau thu hồi đất của xã Thanh Nghị 38
4.4 Tình hình việc làm của lao động trong nhóm hộ điều tra trước
và sau khi thu hồi đất
41
4.5 Tổng hợp chất lượng nguồn lao động của hộ điều tra 434.6 Đánh giá về sự thay đổi về trình độ học vấn và sức khỏe của
4.7 Mức độ tham gia của hộ điều tra vào các tổ chức đoàn thể trong
hồi đất
58
4.15 Cơ cấu sử dụng tiền đền bù của các hộ điều tra 594.16 Đánh giá chung của hộ về đời sống sau thu hồi đất 614.17 Ý kiến của hộ nông dân về ảnh hưởng của mất đất đến an ninh
4.19 Tổng hợp các biến và dấu kỳ vọng trong mô hình Binary
Logistic
664.20 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Binary Logistic 67
Trang 14DANH MỤC BIỂU ĐỒ
4.1 Nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp của các hộ điều tra
sau khi thu hồi đất
Trang 15PHẦN I
MỞ ĐẦU
I.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt nam, nông thôn vẫn là khu vực có tỷ lệ dân số cao nhất ở nước ta hiệnnay, chiếm 67% dân số với 60,5% lao động từ 15 tuổi trở lên trong cả nước, trong
đó lao động làm việc trong lĩnh vực nông – lâm – thủy sản là 46,3% (Tổng cụcThống kê, 2014) Hoạt động chủ yếu của người nông dân trong khu vực này là sảnxuất nông nghiệp với tư liệu sản xuất chính là đất đai, đây là hoạt động chính để tạo
ta sinh kế của họ Chính vì vậy việc ổn định sinh kế cho hộ nông dân đang là vấn đềđược quan tâm nhiều hiện nay khi quá trình công nghiệp, hóa hiện đại hóa đangdiễn ra một cách nhanh chóng ở nước ta
Mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta đề ra là đến năm 2020 nước ta cơ bản trởthành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, và để thực hiện được mục tiêunày thì cần phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, quátrình công nghiệp hóa hiện đại hóa cũng lấy đi một lượng lớn diện tích đất sản xuấtnông nghiệp của các hộ nông dân Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn, chỉ tính riêng giai đoạn từ năm 2001 - 2007, tổng diện tích đấtnông nghiệp bị thu hồi là trên 500.000 ha, trong đó năm 2007 đã giảm 127.000 ha,đưa diện tích đất canh tác trên cả nước chỉ còn 4,1 triệu héc-ta (Dương MộngHuyền, 2010) Dự báo, từ nay đến năm 2025, khoảng 10% - 15% diện tích đất nôngnghiệp và các loại đất khác sẽ chuyển đổi mục đích phục vụ phát triển công nghiệp(Dương Mộng Huyền, 2010) Việc thu hồi đất nông nghiệp không chỉ làm cho các
hộ nông dân mất đi tài sản sinh kế đặc biệt quan trọng là đất đai mà còn mất đinguồn lương thực, thực phẩm cung cấp cho người tiêu dùng và ảnh hưởng đến anninh lương thực quốc gia Sau khi thu hồi đất nông nghiệp, một số hộ nông dân cóđiều kiện về trình độ, nguồn lực đã chuyển đổi nghề nghiệp, nhưng cũng rất nhiều
hộ phải đối mặt với tình trạng không tìm được việc làm Không còn hoặc còn rất ítđất sản xuất đất nông nghiệp đã buộc các hộ nông dân phải tìm kiếm một nguồnsinh kế mới, nhưng với đặc điểm của các hộ nông dân là trình độ học vấn, trình độ
Trang 16tay nghề còn hạn chế, quen lao động chân tay thì việc tìm kiếm nguồn sinh kế mớithay thế là rất khó khăn.
Xã Thanh Nghị nằm ở phía Nam thành phố Phủ Lý, phía Đông tiếp giáp vớiquốc lộ 1A và có dòng sông Đáy – một con sông lớn chảy qua các tỉnh thành HàNội, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định – chảy trên địa bàn xã, đây là vị trí địa lý rấtthuận lợi cho vận chuyển hàng hóa, giao thương với các tỉnh khác, tạo điều kiện chocho phát triển các hạ tầng kinh tế - xã hội, đầu tư phát triển các xí nghiệp, xây dựngnhà ở, thu hút vốn đầu của các doanh nghiệp góp phần vào tiến trình công nghiệphóa hiện đại hóa đất nước Trong thời gian gần đây, quá trình công nghiệp hóa hiệnđại hóa đang diễn ra một cách nhanh chóng trên địa bàn xã, cùng với đó là một loạthoạt động thu hồi đất nông nghiệp của các hộ nông dân để xây dựng cơ sơe hạ tầng,nhà xưởng của các nhà máy, xí nghiệp Trước khi thu hồi đất, sinh kế của người dântrong xã chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, nguồn thu nhập chủ đa phần là từcây trồng và vật nuôi, tuy nhiên việc xây dựng các nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn
xã ngày càng nhiều, cùng với đó là diện tích nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp đi đãlàm cho sinh kế của các hộ nông dân bị đảo lộn và thay đổi lớn Do đất sản xuấtnông nghiệp không còn nhiều như trước nữa, tập quán canh tác thì lạc hậu nênngười nông dân trong xã buộc phải thay đổi sinh kế để phù hợp với tình hình mới.Cũng có nhiều hộ dân trong xã đã thực hiện chuyển đổi sinh kế thành công nên đờisống vật chất và tinh thần được nâng lên cao nhưng cũng không ít hộ đang loayhoay và gặp khó khăn với bài toán chuyển đổi sinh kế, tìm kiếm hướng sinh kế mớiphù hợp và hiệu quả Việc không chuyển đổi sinh kế thành công đã gây ra những tácđộng tiêu cực đến các hộ nông dân bị thu hồi đất trong xã như: mất công ăn việclàm, thất nghiệp, thu nhập bấp bênh, đời sống khó khăn, dễ dàng sa ngã vào các tệnạn xã hội Vấn đề đặt ra hiện nay là: thực trạng thu hồi đất nông nghiệp ở xã diễn
ra như thế nào? Sinh kế của các hộ nông dân sau khi mất đất nông nghiệp thay đổi
ra sao? Các hộ sử dụng tiền đền bù vào những mục đích gì, có góp phần ổn địnhcuộc sống trong tương lai không? Các yếu tố nào sẽ ảnh hưởng đến kết quả sinh kếcủa hộ? Và làm sao để ổn định sinh kế, đảm bảo an sinh xã hội cho họ?
Trang 17Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn như trên, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Sinh kế của hộ nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp trên
địa bàn xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam”
I.2 Mục tiêu nghiên cứu
I.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng sinh kế của hộ nông dân sau khi thu hồi đất nôngnghiệp ở xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; từ đó đề xuất một số giảipháp nhằm ổn định sinh kế cho các hộ nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn xã
I.2.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sinh kế của hộ nông dân;
(2) Đánh giá thực trạng sinh kế của hộ nông dân sau khi thu hồi đất nôngnghiệp ở xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam;
(3) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sinh kế của hộ nông dân saukhi bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn xã;
(4) Đề xuất một số giải pháp nhằm ổn định sinh kế cho các hộ nông dân bị thuhồi đất trên địa bàn xã
I.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sinh kế của hộ nông dân sau khi mất đấtnông nghiệp, các nguồn lực sinh kế, sự chuyển đổi việc làm, thu nhập và cuộc sốngcủa hộ nông dân xã Thanh Nghị sau khi mất đất nông nghiệp
Đối tượng khảo sát của đề tài là các hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp tại
xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
I.4 Phạm vi nghiên cứu
I.4.1 Phạm vi về nội dung
Do khuôn khổ về thời gian có hạn nên khi thực hiện nghiên cứu đề tài tậptrung tìm hiểu về thực trạng sinh kế của các hộ nông dân sau khi thu hồi đất vớicách tiếp cận theo khung sinh kế thông qua việc phân tích các nguồn lực về tựnhiên, vật chất, xã hội, tài chính và nguồn vốn con người Mục đích của cách tiếpcận này là để biết được sự biến động về các nguồn lực trong hộ, tìm hiểu cách thức
mà các hộ nông dân kết hợp và sử dụng các nguồn lực nhằm kiếm sống cũng như đểđạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ
I.4.2 Phạm vi về không gian
Đề tài được nghiên cứu tại xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
I.4.3 Phạm vi về thời gian
Thời gian nghiên cứu đề tài: Thông tin số liệu thứ cấp được thu thập qua 3năm (2013- 2015), thông tin sơ cấp được điều tra khảo sát trong năm 2016
Trang 18Thời gian thực hiện đề tài: Đề tài được thực hiện từ ngày 25/01/2016 đến ngày23/05/2016
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan
2.1.1.1 Khái niệm về đất nông nghiệp
a Khái niệm
Theo Luật đất đai năm 1993 quy định về đất nông nghiệp tại Điều 42 thì:
“Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nôngnghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm vềnông nghiệp”
Trang 19Đất nông nghiệp được định nghĩa là đất sử dụng vào mục đích sản xuất,nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối
và mục đích bảo vệ, phát triển rừng (Nguyễn Thị Huyền, 2013)
Đất nông nghiệp đôi khi còn được gọi là đất canh tác hay đất trồng trọt lànhững vùng đất, khu vực thích hợp cho sản xuất, canh tác đất nông nghiệp, bao gồm
cả trồng trọt và chăn nuôi Đây là một trong những nguồn lực chính trong nôngnghiệp (Đình Thi, 2012)
Tóm lại, đất nông nghiệp trong đề tài này được hiểu là vùng đất được sử dụngcho sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản
2.1.1.2 Một số khái niệm về sinh kế, sinh kế bền vững
a Sinh kế
Ý tưởng về sinh kế đã được đề cập tới trong các tác phẩm nghiên cứu củaRobert Chambers vào những năm 1980 Về sau có nhiều tác giả, các tổ chức nghiêncứu đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra những định nghĩa về sinh kế như sau:
Theo R Chamber và Conway (1991) thì sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản(bao gồm cả vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết cho mộtphương tiện sinh hoạt (dẫn theo Nguyễn Văn Vượng, 2014)
Trong nhiều nghiên cứu của mình, F Ellis cho rằng một sinh kế bao gồmnhững tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã
Trang 20hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó (đạtđược thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh
kế đều thuộc về các cá nhân hoặc mỗi hộ nông dân (Ellis, 2000, dẫn theo NguyễnVăn Vượng, 2014)
Theo Bộ phát triển Quốc tế Anh (DFID) (2003) Một sinh kế có thể được miêu
tả như một tập hợp các nguồn lực mà khả năng con người có được kết hợp vớinhững quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạtđược các mục tiêu và ước nguyện của họ
Tóm lại, trong nghiên cứu này sinh kế được hiểu là toàn bộ những hoạt độngcủa con người để đạt được mục tiêu dựa trên những nguồn lực sẵn có của con ngườinhư các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn vốn, lao động, trình độ phát triểncủa khoa học công nghệ
b Sinh kế bền vững
Hiện nay, sinh kế bền vững đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhànghiên cứu cũng như hoạch định chính sách phát triển của nhiều quốc gia trên thếgiới Sinh kế bền vững đã nổi bật lên thành một khái niệm phát triển vào đầu nhữngnăm 1990, dựa trên những tiến bộ về sự hiểu biết về nạn đói và mất an ninh lươngthực trong những năm 1980
Theo R Chamber (1989); T Reardon, and J E Taylor (1996), một sinh kếđược xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những
áp lực và những cú sốc, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiênnhiên
Các chính sách để xác định sinh kế cho người dân theo hướng bền vững đượcxác định liên quan chặt chẽ đến bối cảnh kinh tế vĩ mô và các tác động của các yếu
tố bên ngoài Tiêu biểu cho các nghiên cứu này là Ellis (2004), Barett và Reardon(2000), các nghiên cứu này chỉ ra mối liên hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ hộisinh kế, và cải thiện nghèo đói của người dân, đồng thời nhấn mạnh vai trò của thểchế, chính sách cũng như mối liên hệ và hỗ trợ xã hội đối với cải thiện sinh kế, xóađói giảm nghèo Sự bền vững trong các hoạt động sinh kế phụ thuộc vào rất nhiềuyếu tố như khả năng trang bị nguồn vốn, trình độ lao động, các mối quan hệ cộng
Trang 21đồng, các chính sách phát triển Tuy vậy, sự bền vững của tài nguyên thiên nhiên làyếu tố nền tảng trong việc quyết định một sinh kế có bền vững hay không.
Vậy, một sinh kế được coi là bền vững khi con người có thể đối phó và phụchồi từ những áp lực và các cú sốc đồng thời có thể thể duy trì và nâng cao khả năngtài sản cả ở hiện tại lẫn trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồntài nguyên thiên nhiên
2.1.2 Nội dung nghiên cứu sinh kế hộ nông dân
2.1.2.1 Phân tích khung sinh kế bền vững
Phân tích sinh kế bền vững đơn giản là tìm hiểu về sinh kế của người dân và
từ đó tìm cách để làm cho chúng trở nên bền vững Để thực hiện điều này chúng ta
sử dụng công cụ mang tên “khung sinh kế bền vững” Khung sinh kế bền vững làmột công cụ trực quan hóa được Cơ quan phát triển quốc tế Vương Quốc Anh pháttriển với mục đích là giúp người sử dụng nắm được những khía cạnh khác nhau củacác loại hình sinh kế, đặc biệt là những yếu tố làm nảy sinh vấn đề hoặc những yếu
tố tạo cơ hội Một sinh kế được coi là bền vững khi nó có khả năng liên tục duy trìhay củng cố mức sống ở hiện tại mà không làm hủy hoại các nguồn tài nguyênthiên Theo Chamber và Conway (1992), sinh kế bền vững không được khai tháchoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế ở hiện tại và tương lai, trênthực tế thì nó thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang lại nhiều điều tốt đẹp chothế hệ tương lai
Sơ đồ 2.1 Khung sinh kế bền vững
(Nguồn: DFID- Department for International Development,2003)
Xã hội
Chính sách, tiến trình và
cơ cấu
-Ở các cấp khác nhau Chính phủ, luật pháp, chính sách công, các động lực, các quy tắc
- Chính sách và thái độ với khu vực tư nhân
- Các thiết chế công dân, chính trị và kinh tế
Kết quả sinh kế
- Thu nhập nhiều hơn
- Cuộc sống đầy đủ hơn
- Giảm khả năng tổn thương
- An ninh lương thực được cải thiện
- Công bằng xã hội được cải thiện
- Tăng tính bền vững của tài nguyên thiên nhiên
- Giá trị không sử dụng của tài
Các chiến lược sinh kế
-Các tác nhân xã hội (nam, nữ, hộ gia đình, cồng đồng )
- Các cơ sở tài nguyên thiên nhiên
- Các cơ sở thị trường
- Đa dạng
- Sinh tồn hoặc tính bền vững
Trang 22Khung sinh kế bền vững giúp cho người sử dụng hiểu được các loại hình sinh
kế hiện hữu và dùng nó làm cơ sở để lập kế hoạch cho các hoạt động phát triển vàcác hoạt động khác Thành phần cơ bản của khung sinh kế bền vững bao gồm: Bốicảnh dễ bị tổn thương, các nguồn lực sinh kế, chính sách và thể chế, chiến lược sinh
kế và kết quả sinh kế Khung sinh kế bền vững không đơn thuần chỉ là công cụ phântích, người ta xây dựng nó với dụng ý sẽ cung cấp nền tảng cho các hoạt độnghướng đến sinh kế bền vững Khung sinh kế giúp chúng ta sắp xếp những nhân tốgây cản trở hoặc tăng cường các cơ hội sinh kế, đồng thời cho ta thấy cách thứcchúng liên quan với nhau như thế nào Nó không phải là mô hình chính xác trongthực tế mà nó chỉ đưa ra một cách tư duy về sinh kế, nhìn nhận nó trên góc độ phứchợp và sâu rộng nhưng vẫn trong khuôn khổ có thể quản lý được Khung sinh kếluôn được đặt trong trạng thái động, nó không có điểm đầu, điểm cuối Giá trị củamột khung sinh kế giúp cho người sử dụng nhìn nhận một cách bao quát và có hệthống các tác nhân gây ra nghèo khổ và mối quan hệ giữa chúng Có thể đó lànhững cú sốc hoặc những xu hướng bất lợi, các chính sách và thể chế kém hiệu quảhoặc là việc thiếu cơ bản các hoạt động sinh kế
Mục đích sử dụng khung sinh kế là để tìm hiểu những cách thức mà con người
đã kết hợp và sử dụng các nguồn lực, khả năng nhằm kiếm sống cũng như để đạtđược các mục tiêu và ước nguyện của họ Mà những mục tiêu và ước nguyện màcon người đạt được nhờ sử dụng và kết hợp các nguồn lực khác nhau có thể gọi làkết quả sinh kế Đây là những thứ mà con người muốn đạt được trong cuộc sống kể
cả trước mắt cũng như lâu dài
Nghiên cứu kết quả sinh kế sẽ cho cũng ta hiểu được động lực nào dẫn tới cáchoạt động nào mà họ đang thực hiện và những ưu tiên của họ là gì Đồng thời cũngcho thấy phản ứng của người dân trước những cơ hội và nguy cơ mới
a Bối cảnh dễ bị tổn thương
Bối cảnh dễ bị tổn thương đề cập tới phạm vi người dân bị ảnh hưởng và bịlâm vào các loại sốc, xu hướng gồm cả xu hướng kinh tế, xã hội, môi trường và sựdao động Nó có tác động rất lớn và sâu sắc đến các nguồn lực sinh kế và chiến lượcsinh kế của con người, chính những điều này đã khiến sinh kế và tài sản sinh kế bị
Trang 23trở nên giới hạn và không kiểm soát được Một đặc điểm quan trọng trong khả năngtổn thương là con người không thể dễ dàng kiểm soát những yếu tố trước mắt hoặclâu dài hơn Khả năng tổn thương hay sự bấp bênh trong sinh kế tạo ra từ yếu tố này
là một thực tế thường trực cho rất nhiều hộ nghèo Điều này chủ yếu do họ không
có khả năng tiếp cận với những nguồn lực giúp họ có thể bảo vệ mình trước nhữngtác động xấu
Ở Việt Nam, bối cảnh tổn thương tác động rất mạnh đến chiến lược xóa đóigiảm nghèo, do người nghèo là người dễ bị tổn thương nhất, sức chống đỡ vớinhững cú sốc là rất yếu, cùng với thu nhập rất hạn chế nên sinh kế của họ thườngkhông bền vững, hiện tượng tái nghèo thường phổ biến Như vậy có thể thấy, nhữngnhân tố cấu thành hoàn cảnh dễ bị tổn thương rất quan trọng vì chúng có tác độngtrực tiếp lên tình trạng tài sản và những lựa chọn của con người và mỗi chúng sẽ mở
ra cơ hội để họ theo đuổi những sinh kế có lợi
b Các nguồn lực sinh kế
Khung sinh kế xác định 5 loại nguồn lực trung tâm mà dựa vào đó tạo ranhững sinh kế : Nguồn vốn con người, nguồn lực xã hội, nguồn lực tự nhiên, nguồnlực vật chất, nguồn lực tài chính
Nguồn vốn con người: Nguồn vốn con người bao gồm kỹ năng, kiến thức,
khả năng lao động và sức khỏe con người, các yếu tố này giúp cho con người có thểtheo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kếsinh nhai của họ Ở mức độ gia đình, nguồn vốn con người là yếu tố về số lượng vàchất lượng lao động có sẵn, yếu tố này thay đổi này phụ thuộc quy mô hộ, trình độ
kỹ năng, khả năng lãnh đạo và tình trạng sức khỏe Ví dụ nguồn lực về con ngườinhư trình độ học vấn, trình độ tay nghề, kỹ thuật chuyên môn, khả năng giao tiếp,trình độ quản lý…
Nguồn vốn con người được xem là yếu tố cấu thành nên kế sinh nhai, nó đượcxem là nền tảng hay phương tiện để đạt mục tiêu thu nhập Việc hỗ trợ nguồn vốncon người có thể được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp Để đầu tư cho vốn nhânlực bản thân người dân cần phải tham gia các khóa đào tạo hay trường học, học hỏitrau dồi kỹ năng, tham gia các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Nguồn lực xã hội: Vốn xã hội là những nguồn lực xã hội dựa trên những gì
mà con người vẽ ra để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ Nghiên cứu vốn xã
Trang 24hội là nghiên cứu sự tương tác với cộng đồng, mối quan hệ với cộng đồng, các hoạtđộng mở rộng tiếp cận với các thể chế, như thể chế chính trị và cộng đồng thôngqua việc tham gia các tổ chức, đoàn thể
Nguồn lực tự nhiên: nguồn lực tự nhiên là những yếu tố được sử dụng trong
tự nhiên, nó cung cấp và phục vụ rất hữu ích cho phương kế kiếm sống của conngười Có rất nhiều nguồn lực hình thành nên vốn tự nhiên, từ các hàng hóa vô hìnhnhư không khí , tính đa dạng sinh học đến các tài sản có thể phân chia được sử dụngtrực tiếp trong sản xuất như: đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng…Trong khung sinh kế bền vững, mối quan hệ giữa các nguồn lực tự nhiên vàcác tồn tại có sự gắn kết thực sự Nhiều thảm họa tàn phá sinh kế của người nghèothường xuất phát từ các tiến trình của tự nhiên, tàn phá nguồn vốn tự nhiên (lũ lụt,bão, cháy rừng, động đất) và tính mùa vụ thì ảnh hưởng lớn đến những biến đổitrong năng suất và giá trị của các nguồn vốn tự nhiên qua các năm (DFID, 2001)
Nguồn lực vật chất: Nguồn lực vật chất coi là phương tiện để con người có
thể thực hiện cũng như phát triển chiến lược sinh kế của mình Nguồn lực vật chấtbao gồm các cơ sở hạ tầng xã hội, tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như: đườnggiao thông, hệ thống cấp thoát nước, cung cấp năng lượng, nhà ở, các phương tiệnsản xuất, phương tiện đi lại, thông tin liên lạc
Nguồn lực tài chính: Nguồn lực tài chính được con người sử dụng để hướng
tới mục tiêu sinh kế của họ Định nghĩa được sử dụng ở đây không mang tính chấtkinh tế mà nó bao gồm những dòng tích trữ và có thể góp phần vào việc tiêu dùngsản phẩm Tuy nhiên, nó phải được thực hiện để đạt được một nền tảng sinh kế quantrọng, đó là giá trị của tiền mặt hoặc tính thanh khoản, người ta có thể làm theonhững cách sinh kế khác Có hai nguồn vốn sinh kế chủ yếu là:
Vốn có sẵn: Tiết kiệm là loại vốn tài chính được ưa thích vì nó không bị ràng
buộc về tính pháp lý, chúng có thể có nhiều hình thức như: tiền mặt, tín dụng ngânhàng hoặc tài sản thanh khoản khác như nữ trang Nguồn lực tài chính có thể tồn tạidưới dạng các tổ chức cung cấp tín dụng
Dòng tiền đều: Ngoại trừ thu nhập, loại này hầu hết là trợ cấp hoặc sự chuyển
giao Để có sự tạo lập rõ ràng vốn tài chính từ những dòng tiền này phải xác thực(trong khi sự đáng tin cậy hoàn toàn không bao giờ được đảm bảo có sự khác nhaugiữa việc trả nợ một lần với sự chuyển giao thường xuyên vào kế hoạch đầu tư)
Trang 252.1.2.2 Chiến lược sinh kế của người dân
Chiến lược sinh kế của các hộ gia đình là quá trình ra quyết định về các vấn đềliên quan trực tiếp đến hộ gia đình, bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ,tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và phi vật chất(Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2015)
Chiến lược sinh kế bao gồm những lựa chọn và quyết định của người dân vềnhững việc như:
• Họ sử dụng nguồn vốn với sự kết hợp tài sản sinh kế như thế nào?
• Quy mô các hoạt động thu nhập mà họ theo đuổi ?
• Cách thức quản lý và sử dụng các nguồn lực như thế nào để bảo tồnđược các tài sản sinh kế và ổn định thu nhập?
• Những cách nào mà người dân dùng để đối phó với những rủi ro, những
cú sốc do sự thay đổi của hoàn cảnh gây ra?
Đối với người nông dân thì đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất, khi mấtđất tức là mất đi công cụ, phương tiện để đảm bảo đời sống, tức là họ chịu một cúsốc rất lớn Ngoài ra, hoàn cảnh của họ cũng có nhiều thay đổi như nhận đượckhoản tiền bồi thường, hỗ trợ; các nguồn vốn sinh kế khác thay đổi, người dân phảilựa chọn hoạt động nào để đảm bảo sinh kế, từ đây xuất hiện nhiều mô hình sinh kế
đa dạng như: trồng trọt – chăn nuôi, trồng trọt – chăn nuôi – làm thuê, trồng trọt –buôn bán nhỏ, buôn bán nhỏ - làm thuê, buôn bán nhỏ - cho thuê nhà trọ, chuyêndịch vụ Những nông dân có các chiến lược sinh kế tốt thì cuộc sống thay đổi theohướng tích cực, ngược lại thì cuộc sống sẽ thay đổi theo hướng tiêu cực
2.1.2.3 Kết quả sinh kế
Việc có một chiến lược sinh kế tốt sẽ đem lại cho người dân cuộc sống tốt hơn,
an ninh lương thực được đảm bảo, thu nhập cao và ổn định hơn Kết quả của nhữnghoạt động sinh kế mà người dân đang áp dụng tăng lên làm cho thu nhập thay đổitheo chiều hướng cao lên Đời sống của người dân được nâng cao ngoài do tiền vànhững tài sản, người ta còn đánh giá mức sống thông qua những thứ phi vật chấtnhư giáo dục (tỷ lệ đi học, trình độ học vấn), mức độ tiếp cận các dịch vụ y tế củacác thành viên trong hộ, mức độ tham gia các hoạt động văn hóa xã hội Sử dụngbền vững các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, hoạt động sản xuất đi đôi với bảo vệmôi trường sẽ tạo nên một sinh kế bền vững
Trang 262.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của hộ nông dân sau khi thu hồi đất
2.1.3.1 Điều kiện kinh tế của hộ trước khi thu hồi đất nông nghiệp
Đối với mỗi gia đình, để đảm bảo cuộc sống được ổn định thì yêu cầu đầu tiên
là phải có điều kiện về kinh tế Nếu có điều kiện về kinh tế tức là điều kiện vềnguồn lực tài chính được đảm bảo, từ đó có thể nâng cao nguồn lực về vật chất cho
hộ mình Việc xây dựng các nhà máy xi măng trên đất nông nghiệp của các hộ dân
đã ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống sinh kế của hộ, cụ thể là ảnh hưởng đến đờisống kinh tế Trước đây, sinh kế chính của hộ là làm nông nghiệp với các mô hìnhnhư trồng trọt – chăn nuôi, thì nay chuyển dần sang các mô hình trồng trọt – chănnuôi – làm thuê, trồng trọt – làm thuê, buôn bán nhỏ - làm thuê… điều này đã làmcho thu nhập của người nông dân thay đổi một cách rõ rệt Những hộ có chiến lượcsinh kế tốt thì việc chyển đổi sinh kế sẽ dễ dàng và mang lại kết quả cao, thu nhậpcao hơn, cuộc sống ổn định hơn Tuy nhiên, không ít hộ nông dân lao đao không tìmđược hướng sinh kế mới cho mình khi mà phần đất nông nghiệp – nguồn sinh kếduy nhất của gia đình – bị mất, không tìm được công việc phù hợp, việc sử dụngtiền đền bù không đúng cách đã làm cho đời sống của các hộ trở nên bấp bênh,thiếu bền vững
2.1.3.2 Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn của lao động
Trình độ tay nghề, kỹ thuật chuyên môn, trình độ học vấn là những yếu tốquan trọng quyết định thu nhập của người lao động trong nền kinh tế thị trường.Theo những nghiên cứu ở nước ta và những nước khác cho thấy, những người cótrình độ cao hơn thì nhìn chung, có tiền lương và tiền công cao hơn
Một nhóm các nhà nghiên cứu, đứng đầu là Michael T French, một chuyêngia về Kinh tế học Sức khỏe (health economics) tại trường Đại học Miami (UM), đãphát hiện ra rằng điểm trung bình (Grade Point Average – GPA) ở phổ thông là nhân
tố dự đoán chắc chắn cho thu nhập trong tương lai (Mỹ Hòa, 2014 ) Nghiên cứunày cho thấy, điểm trung bình phổ thông cứ tăng một điểm thì thu nhập hàng nămcủa người trưởng thành sẽ tăng khoảng 12% đối với nam và 14% đối với nữ (MỹHòa, 2014)
Một nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thành thực hiện năm 2006, sử dụng số liệu
từ cuộc điều tra “Mức sống dân cư Việt Nam” năm 2002 cho thấy việc quy định
Trang 27tăng thêm một năm học phổ thông làm tăng tiền lương của người lao động đã tốtnghiệp trung học phổ thông thêm 11,43% Từ đó cho thấy, người lao động trongnhững hộ mất đất nông nghiệp có trình độ học vấn và trình độ chuyên môn còn rấthạn chế sẽ khó có thể tìm được việc làm có thu nhập cao từ các hoạt động kinh tếngoài nông nghiệp
2.1.3.3 Tuổi của lao động chính trong hộ
Tuổi của lao động chính trong hộ là một trong yếu tố chính quyết định đếnchiến lược sinh kế cũng như khả năng thay đổi sinh kế của hộ Đối với những hộ cólao động chính có tuổi cao thì khả năng tìm kiếm việc làm mới là khó khăn, khó đápứng được với các yêu cầu của công việc hiện nay Đa số người lao động lớn tuổigặp khó khăn trong việc tiếp nhận các kiến thức mới, tính sáng tạo trong công việckhông cao, điều này đã gây ra nhiều trở ngại trong việc tìm kếm sinh kế mới, cuộcsống thiếu ổn định Đồng thời, những lao động có độ tuổi cao thường khó thay đổi
có những thói quen trong cách làm việc, cách suy nghĩ như khi còn lao động trongnông nghiệp như: không quy định giờ làm việc, không có kỷ luật trong công việc,
dễ tự ái… Đối với những hộ có lao động chính còn trẻ thì khả năng tìm kiếm việclàm sẽ dễ dàng hơn do khả năng tiếp thu các kiến thức mới nhanh hơn, năng động,tính sáng tạo trong công việc cao, trình độ học vấn cao, dám đối đầu với nhữngthách thức, là người chấp nhận rủi ro để đạt được kết quả tốt nhất, từ đó làm tăngthu nhập, cuộc sống được đảm bảo
2.1.3.4 Đa dạng sinh kế
Khi đất sản xuất nông nghiệp (tư liệu sản xuất chính của hộ) bị mất đi thìngười dân sẽ phải tìm kiếm các nguồn sinh kế mới nhằm tạo ra thu nhập thu nhậpmới thay thế cho nguồn thu nhập bị mất đi sau khi thu hồi đất từ đó đảm bảo cuộcđảm bảo cuộc sống Đa dạng chiến lược sinh kế là một trong những lựa chọn của rấtnhiều của hộ nông dân nhằm giúp các hộ dễ dàng thích nghi với sự thay đổi củahoàn cảnh, tận dùng tốt các nguồn lực hiện có, giảm thiểu các rủi ro trong chiếnlược sinh kế của mình từ đó tăng thu nhập, đem lại kết quả sinh kế cao, đời sốngcủa hộ không ngừng được nâng lên Chính vì vậy, việc đa dạng sinh kế của hộ sẽlàm cho thu nhập của hộ thay đổi từ đó tác động đến kết quả sinh kế mà hộ đạt
Trang 28được, đồng thời cũng cho thấy được các cách mà hộ ứng phó khi mất đi nguồn sinh
kế vốn có như thế nào, theo hướng tích cực hay tiêu cực
2.1.3.5 Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi
Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nhiều hay ít cũng là một trong những yếu
tố ảnh hưởng đến kết quả sinh kế của hộ, bởi vì khi thu hồi đất nông nghiệp sẽ làmcho tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của hộ giảm xuống, mà sinh kế của các
hộ nông dân lại phụ thuộc chủ yếu vào đất đai để sản xuất nông nghiệp Bên cạnh
đó, diện tích đất nông nghiệp bị mất nhiều sẽ gây ra sự dư thừa lao động trongngành nông nghiệp, dẫn đến tình trạng thất nghiệp gia tăng, từ đó làm ảnh hưởngđến thu nhập và đời sống của hộ
2.1.3.6 Phương án sử dụng tiền đền bù của hộ
Khi thu hồi đất nông nghiệp, nguồn tự nhiên giảm xuống nhưng bù đắp vào đó
là nguồn lực tài chính của hộ được tăng lên nhờ các khoản tiền đền bù, hỗ trợ Sinh
kế của người dân có bền vững hay không khi có các khoản tiền đền bù này? Nguồnvốn tài chính nếu được sử dụng hợp lý nó sẽ trở thành công cụ tốt để các hộ nôngdân thực hiện các chiến lược sinh kế của mình, đem lại kết quả cao từ đó đời sốngđược nâng cao hơn, giúp cho sinh kế trong tương lai của hộ bền vững Ngược lại,nếu hộ sử dụng các khoản tiền đền bù không hợp lý, không đúng cách, không nhằmmục đích sinh lợi lâu dài mà chỉ phục vụ các lợi ích trước mắt, không đầu tư vàoviệc giáo dục nâng cao trình độ thì làm cho sinh kế trong tương lai không bền vững
2.1.3.7 Vai trò của chính quyền địa phương và các chính sách có liên quan
Người dân bị suy giảm đất nông nghiệp dẫn tới mất việc làm, cuộc sống rơivào tình trạng khủng hoảng Trước tình hình này, vai trò của các cấp chính quyền là
vô cùng quan trọng trong việc định hướng, hỗ trợ cho người dân tìm được hướngsinh kế mới mới ổn định và bền vững Các cấp chính quyền cần phải có nhữngchính sách thỏa đáng trong việc thu hồi đất và cơ chế đền bù đất cho các hộ nôngdân, đồng thời có các hỗ trợ về tái định cư, hỗ trợ về việc làm cho hộ Bên cạnh đó,các cấp chính quyền cần tuyên truyền các chính sách hỗ trợ của nhà nước đối vớinông dân mất đất, giám sát và thúc đẩy các hoạt động mà doanh nghiệp trong vùngcam kết sẽ thực hiện như vấn đề về môi trường, vấn đề về việc làm, đào tạo nghềcho người lao động, đảm bảo an ninh trật tự, hạn chế các tệ nạn xã hội xảy ra khingười dân có tiền đền bù trong tay
Trang 292.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm về giải quyết việc làm và ổn định sinh kế cho hộ nông dân sau khi thu hồi đất ở một số nước trên thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm ở Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia có điều kiện tự nhiên và phong tục tập quántương đối giống Việt Nam Là nước đông dân nhất thế giới, với trên 1.3 tỷ ngườinhưng cũng giống như Việt Nam, gần 70% dân số Trung Quốc vẫn sống ở khu vựcnông thôn, hàng năm có tới hơn 10 triệu lao động đến tuổi tham gia vào lực lượnglao động Vì thế nhu cầu giải quyết việc làm càng trở nên gay gắt Sau cải cách và
mở cửa nền kinh tế năm 1978, Trung Quốc thực hiện phương châm “Ly nông bất lyhương” thông qua chính sách khuyến khích phát triển mạnh mẽ công nghiệp HươngTrấn nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động xã hội ởnông thôn, từ đó rút ngắn khoảng cách nông thôn và thành thị Trung Quốc coi việcphát triển công nghiệp nông thôn là con đường giải quyết vấn đề việc làm và sinh
kế của người dân Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá đã thu hút lực lượng laođộng dôi dư ở nông thôn Bên cạnh đó, chính sách khuyến khích đầu tư của nhànước cùng với sự đầu tư của kinh tế tư nhân vào khu vực phi nông nghiệp đã thúcđẩy sự phát triển của các doanh nghiệp địa phương Trong những năm đầu đã có đến20% thậm chí có nơi 50% tổng thu nhập của người dân nông thôn là từ các doanhnghiệp địa phương (Phạm Sỹ Liêm, 2012)
Cùng với việc đưa ra các chính sách phát triển thì nhà nước cũng đẩy mạnhxây dựng CSHT nông thôn, tạo điều kiện cho các hộ nông dân sản xuất hàng hoá,thu mua bảo trợ hàng hoá nông nghiệp, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thịtrường tín dụng
Chỉ trong vòng hơn 10 năm (từ 1978 đến 1991) Trung Quốc đã thu hút được
96 triệu lao động vào các xí nghiệp Hương Trấn (bằng 13,80% lực lượng lao động ởnông thôn), tạo ra được 1.162 tỷ nhân dân tệ (chiếm đến 60% giá trị sản phẩm khuvực nông thôn, 1/3 giá trị sản lượng công nghiệp và 1/4 GDP cả nước) Đây là mộtthành công lớn, nó đã làm cho tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ trên 70% (năm1978) xuống còn dưới 50% (năm 1991) (Phạm Sỹ Liêm, 2012)
Trang 30Trong những năm gần đây, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân (vấn
đề tam nông) vẫn được chú trọng phát triển ở Trung Quốc Những chính sách nhằmnâng cao thu nhập cho nông dân luôn được coi trọng Trong đó đặc biệt chú trọngviệc nâng cao thu nhập, cải thiện sinh kế cho người nghèo bằng việc mở mang cácngành nghề dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, chính sách vốn, tín dụng
Từ thực tiễn phát triển công nghiệp và giải quyết vấn đề sinh kế cho người dânnông thôn Trung Quốc trong thời gian qua có thể rút ra một số bài học kinh nghiệmsau:
Thứ nhất: Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, đa dạng hoá
ngành nghề, khuyến khích nông dân đầu tư dài hạn để phát triển sản xuất, mở manghoạt động phi nông nghiệp đã góp phần lớn tạo nên tốc độ phát triển kinh tế vàlàm đa dạng mô hình sinh kế cho người dân nông thôn, thu hút nhiều lao động vàocác hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn
Thứ hai: Trong một giai đoạn nhất định, nhà nước bảo hộ sản xuất trong nước.
Điều này giải quyết vấn đề lao động, việc làm ở nông thôn Từ đó sinh kế của ngườidân cũng được cải thiện hơn
Thứ ba: Việc hạn chế lao động di chuyển giữa các vùng, miền làm hạn chế
sinh kế của người dân nông thôn Do các doanh nghiệp sẽ gây khó dễ trong việc trảlương hoặc hạn chế trong việc sử dụng tay nghề của người dân
2.2.1.2 Kinh nghiệm ở Hàn Quốc
Hàn Quốc là một quốc gia có nhiều sự tương đồng với sự phát triển kinh tếcủa Việt Nam Trước những năm 70, Hàn Quốc cũng là một nước nông nghiệp,nông nghiệp chiếm 50% GDP Hàn Quốc Nông dân Hàn Quốc cũng là người Châu
Á, mang ý thức hệ của người Á Đông: mặc cảm, tự ti Trước năm 1970, GDP bìnhquân đầu người của Hàn Quốc tương tự nước ta vào năm 1991, 1992, khoảng 300 –
350 USD/người/năm (Phương Thảo, 2013)
Cũng là nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, năm 1954 thực hiện cải cáchruộng đất Nhà nước mua lại đất của chủ có trên 3ha để bán lại cho nông hộ thiếuđất với phương thức trả dần để tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển Từ năm 1965đến năm 1971 tốc độ phát triển nông nghiệp tăng 2,50% Năm 1971 đến năm 1978tăng 6,90%, 3/5 đất hoang được nông hộ khai thác sử dụng có hiệu quả kinh tế cao
Trang 31Năm 1975 tự túc được nhiều lương thực và nhiều nông sản khác, chăn nuôi tăng 8 –10%/ năm Cơ cấu sản xuất chuyển dịch theo hướng hàng hóa với hệ thống cây,con, ngành nghề có giá trị kinh tế cao Thu nhập phi nông nghiệp chiếm 35% tổng
số (Phương Thảo, 2013)
Trước năm 1970 Hàn Quốc lấy CNH – HĐH làm trọng điểm, công nghiệptăng trưởng rất nóng nhưng lại ko có cơ hội vì không có thị trường Trong khi đónông nghiệp tăng chậm Khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa giàu –nghèo lớn
Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra 1 con đường giải phóng đó là phong trào
“Sumomidon” (phong trào xây dựng nông thôn mới) Học tập phương châm “Lấynông nghiệp nuôi công nghiệp, lấy công nghiệp phát triển nông nghiệp” Một mặtvẫn phát triển công nghiệp, mặt khác đầu tư vào nông nghiệp, phát huy nội lực củangười nông dân trên mảnh đất của họ để phát triển kinh tế Chính phủ đầu tư, hỗ trợvào nông nghiệp bằng vật chất để phát triển nông nghiệp, nông thôn Với tư tưởng
là chỉ đầu tư tài chính một phần mà chủ yếu là vật chất bằng cách đưa sản phẩmcông nghiệp không thể ra thị trường tiêu thụ về nông thôn như sắt, thép xây dựng
cơ sở vật chất như: đường giao thông, các công trình công cộng (trường học, bệnhviện ) (Phương Thảo, 2013)
Từ thực tiễn của Hàn Quốc rút ra kinh nghiệm: Phát triển công nghiệp songsong với đầu từ phát triển nông nghiệp Như vậy vừa thực hiện được CNH – HĐHđất nước vừa đảm bảo được an ninh lương thực Phát triển nông nghiệp, nông thôntheo từng bước không nóng vội, hoàn thành cấp này mới làm tiếp cấp kia
2.2.2 Kinh nghiệm về giải quyết việc làm và ổn định sinh kế cho hộ nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam.
2.2.2.1 Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội
Theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh xã hội trong 5 năm (2001 2004) số người mất việc do bị thu hồi đất phục vụ cho các nhu cầu: xây dựng khucông nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị ở Hà Nội là gần 800.000 người Trong 8năm (từ 2001 đến 2007), Hà nội đã triển khai hơn 2.800 dự án đầu tư liên quan đếnthu hồi đất Thành phố đã bàn giao cho chủ đầu tư gần 1.300 dự án với 6.300 ha đất,trong đó trên 80% là đất nông nghiệp, liên quan đến gần 180.000 hộ dân Bình quânmỗi năm Hà Nội đã giải phóng mặt bằng gần 1.000ha (Vân Anh, 2008)
Trang 32-Trong những năm qua, mặc dù Trung Ương và Thành phố đã có những chínhsách về hỗ trợ việc làm và học nghề nhưng lại chưa đồng bộ và hiệu quả, dẫn đếnnguy cơ thất nghiệp ở người nông dân mất tư liệu sản xuất là đất đai rất lớn Bởi họkhó học nghề mới, phần lớn lại ở độ tuổi cao, trình độ văn hoá hạn chế, không đápứng được nhu cầu lao động chất lượng cao Một bộ phận nông dân khi bị thu hồitrên 30% diện tích đất nông nghiệp đã trở thành hộ nghèo Ở 5 quận, huyện bị thuhồi nhiều nhất, có 1.223 hộ nghèo với 4.389 nhân khẩu (Vân Anh, 2008).
Hạn chế chủ yếu trong cơ chế chính sách hỗ trợ hiện có được Hà Nội chỉ ra
là việc bồi thường, hỗ trợ đều dưới hình thức chi trả trực tiếp tiền cho người dân bịthu hồi (tức là mới chỉ quan tâm đến khía cạnh vật chất) dẫn đến tình trạng ngườidân dùng tiền để mua sắm chứ ít quan tâm đến học nghề, chuyển đổi nghề để có thểđảm bảo cuộc sống ổn định khi Nhà nước thu hồi đất
Mới đây Hà Nội đã đưa ra các chủ trương tìm cách hỗ trợ nông dân bị thuhồi đất như sau:
Một là, UBND thành phố đề xuất thành lập Quỹ hỗ trợ ổn định đời sống, phổ
cập giáo dục, học nghề và việc làm cho các hộ nông dân bị mất trên 30% đất sảnxuất nông nghiệp được giao theo NĐ64/CP của Chính phủ Quỹ này sẽ có vốn banđầu là 40 tỷ đồng từ ngân sách thành phố cấp, tiếp theo sẽ trích nguồn kinh phí củacác nhà đầu tư khi được giao đất
Hai là, trẻ em của các gia đình bị thu hồi đất sẽ được hỗ trợ học phí phổ
thông trong 3 năm Người lao động có nhu cầu học nghề sẽ được cấp thẻ học nghề
có giá trị tối đa 6 triệu đồng, ưu tiên những người này tham gia kinh doanh các hoạtđộng dịch vụ tại các khu đô thị và khu công nghiệp Hỗ trợ 100% kinh phí bảo hiểm
y tế cho người trên 60 tuổi đối với nam và trên 55 tuổi đối với nữ
Ngoài ra các giải pháp khác được UBND Thành phố quan tâm đó là xây dựng,ban hành quy chế ưu tiên đấu thầu kinh doanh dịch vụ tại các khu đô thị, KCN mớihình thành, xã hội hoá các hoạt động dịch vụ tại các khu đô thị, KCN xây dựng trêndiện tích đất nông nghiệp Cho người dân có đất bị thu hồi tham gia kinh doanh, đặcbiệt sẽ ưu tiên cho lao động của hộ bị thu hồi trên 30% diện tích đất sản xuất Có cơchế về đầu tư, xây dựng hạ tầng nông thôn tại các khu vực thu hồi nhiều đất nôngnghiệp để tạo điều kiện kinh doanh dịch vụ phục vụ các KCN, khu đô thị, giải quyết
Trang 33việc làm tại chỗ, đảm bảo sự gắn kết hạ tầng của khu đô thị và KCN với vùng dâncư.
Từ thực tiễn giải quyết việc làm cho người dân mất đất tại Hà Nội ta thấy:
Thứ nhất, chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề bằng thẻ học nghề sẽ tránh được
việc người dân sử dụng tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề vào việc khác mà không phải làviệc học nghề Tuy vậy, Hà Nội chưa quan tâm rõ đến từng đối tượng, chưa cóchính sách cho những người lao động đã qua độ tuổi lao động hoặc gần hết tuổi laođộng Họ không có điều kiện chuyển đổi nghề mới
Thứ hai, Hà Nội đã có chính sách hỗ trợ học phí cho con em những hộ bị mất
đất Lập quỹ hỗ trợ ổn định đời sống
2.2.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc là tỉnh có tốc độ đô thị hóa nhanh, trong vòng 10 năm (từ 1997 đến2007) nhờ phát triển các KCN tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 17,10%.Nhưng cũng chính vì thế mà nhiều diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hồi để xâydựng các khu đô thị, KCN… Mỗi năm trên địa bàn tỉnh có hàng nghìn nông dân bịmất việc làm Theo thống kê của các cơ quan chức năng, sau 10 năm kể từ khi táilập tỉnh (năm 1997), Vĩnh Phúc đã thu hồi hơn 4.000ha đất nông nghiệp để xâydựng các KCN, khu đô thị và hạ tầng Việc thu hồi đất đã khiến hơn 10.000 hộ dânmất một phần hoặc toàn bộ đất ở, đất canh tác Sau khi bị thu hồi đất, có khoảng45.000 lao động nông thôn mất hoặc thiếu việc làm Thời gian tới đây, đất nôngnghiệp ở nhiều địa phương trong tỉnh sẽ tiếp tục bị thu hồi để phục vụ sự nghiệpcông nghiệp hóa - hiện đại hóa Số lượng nông dân không còn tư liệu sản xuất sẽtiếp tục gia tăng, tạo sức ép rất lớn trong vấn đề giải quyết việc làm Trước thựctrạng đó, các cấp, các ngành chức năng của tỉnh đã có nhiều chủ trương, biện phápgiải quyết cơ bản…(Quang Nam, 2014)
Với quan điểm: Có “an cư” mới “lạc nghiệp” Để sớm ổn định đời sống chongười dân có đất ở bị thu hồi phải nhanh chóng giải quyết tốt vấn đề tái định cư chodân Đây là quan điểm nhất quán của tỉnh Vì vậy, tỉnh chủ trương khi tái định cưcho dân phải bảo đảm nơi ở mới có điều kiện sống, sinh hoạt tốt hơn nơi ở cũ Trênthực tế đã có nhiều địa phương làm khá tốt việc này, được dư luận nhân dân đánhgiá cao như Vĩnh Yên, Mê Linh, Phúc Yên…
Trang 34Tỉnh Vĩnh Phúc cũng đã sớm xây dựng đề án “Dạy nghề cho lao động nôngthôn, lao động ở vùng dành đất phát triển công nghiệp” Theo đề án, từ thời điểmthực hiện cho đến năm 2010, tỉnh sẽ dành khoảng 87 tỷ đồng để đầu tư xây dựng,nâng cấp hệ thống trường dạy nghề, mua sắm, hiện đại hóa máy móc thiết bị; hỗ trợhọc phí cho 14.000 lao động nông thôn (chủ yếu là thanh niên); phát triển hệ thốngcác trung tâm giới thiệu việc làm… Tỉnh phấn đấu nâng tỷ lệ lao động được đào tạonghề lên 45% vào năm 2010 Đến nay toàn tỉnh đã có 52 cơ sở đào tạo nghề, với cơcấu nghề đào tạo khá đa dạng, quy mô đào tạo hơn 31.000 lao động mỗi năm, cơbản đã đáp ứng được nhu cầu học nghề của người lao động Ngành nông nghiệpVĩnh Phúc đã tổ chức 385 lớp đào tạo về các nghề chăn nuôi, trồng trọt, thuỷ sản,thú y, điện, kinh tế, tin học cho trên 11.640 nông dân tham gia học tập Để nângcao hơn nữa số lượng thanh niên nông thôn được đào tạo nghề cũng như được nhậnvào làm việc tại các khu, cụm công nghiệp, tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chínhsách để hỗ trợ như: các hộ gia đình dành đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ nếutham gia các khóa đào tạo nghề dài hạn sẽ được hỗ trợ 10 tháng/khóa học; tham giahọc bổ túc văn hóa và nghề sẽ được hỗ trợ 15 tháng/khóa học (mức hỗ trợ 200.000đồng/học viên/tháng) Tỉnh hỗ trợ các doanh nghiệp khi tiếp nhận lao động nôngthôn vào làm việc với mức 500.000 đồng/người (nếu lao động chưa được đào tạonghề); 200.000 đồng/người (nếu lao động đã được đào tạo nghề), hỗ trợ học phí vớimức từ 250 ngàn đến 300 ngàn đồng/tháng/ học viên /khoá học đào tạo nghề; hỗ trợ
1 triệu đồng/người/ khoá đào tạo ngoại ngữ, giáo dục định hướng xuất khẩu laođộng Tỉnh cũng khuyến khích đưa lao động đi làm việc ngoài tỉnh theo chế độ mỗilao động thuộc hộ có đất chuyển đổi mục đích sử dụng đi làm việc ở các tỉnh phíaBắc được hỗ trợ 300 nghìn đồng, đi miền Trung 500 nghìn đồng và đi miền Nam là
700 nghìn đồng Từ nay đến năm 2010, tỉnh sẽ mở 3.000 lớp đào tạo các nghề mới
cơ khí, may, điện, điện tử cho trên 90.000 nông dân; đồng thời mở các điểm tưvấn, thông tin việc làm, cơ chế chính sách, thị trường lao động từ tỉnh đến huyện, xãphục vụ người dân Chính từ những chủ trương đúng đắn này mà đến nay, 23% laođộng nông thôn có đất bị thu hồi đã được nhận vào làm việc ổn định trong các khucông nghiệp (Quang Nam, 2014)
Trang 35Đối với những lao động bị thu hồi đất nhưng tuổi đã cao, khó chuyển đổinghề, tỉnh xác định hướng giải quyết là tạo việc làm tại chỗ Để làm được điều này,một mặt, tỉnh chú trọng đến công tác quy hoạch, phát triển các làng nghề truyềnthống, các nghề thủ công, tiểu thủ công… Huy động Hội Nông dân, Hội Phụ nữ…vào cuộc, nhằm định hướng, dạy nghề, tạo việc làm cho những đối tượng phù hợp,
có nhu cầu Mặt khác, một mô hình được dư luận đánh giá có tính “đột phá” đã vàđang được tỉnh áp dụng rộng rãi Đó là mô hình “đổi đất lấy dịch vụ” Quyết định2502/2004/QĐ - UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc giao đất dịch vụcho các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi để xây dựng khu công nghiệp, khu đôthị… đã nêu rõ: các hộ gia đình, cá nhân có đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm 40%tổng diện tích đất nông nghiệp trở lên của hộ gia đình, cá nhân đó sẽ được cấp đất
để làm dịch vụ Cứ 1 sào (360m2) đất thu hồi sẽ được cấp 10m2 đất dịch vụ (tốithiểu 20m2, tối đa 100m2) Đất “dịch vụ” sẽ được nông dân sử dụng để xây nhà chocông nhân thuê, kinh doanh hàng ăn, tạp phẩm… tùy từng gia đình Đây thực sự làmột quyết định đúng đắn, được sự đồng tình, nhất trí cao của đông đảo người dân
có đất bị thu hồi Đất “dịch vụ” không những giải quyết việc làm cho một lực lượnglớn lao động mà còn có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy nhanh tiến độ giảiphóng mặt bằng… (Quang Nam, 2014)
Từ thực tiễn giải quyết việc làm, ổn định đời sống cho người dân tỉnh VĩnhPhúc ta thấy: Tỉnh Vĩnh Phúc đã có chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cụ thể cho từngđối tượng Tỉnh cũng đã có những hỗ trợ dành cho những lao động bị thu hồi đấtnhưng tuổi đã cao Tuy nhiên đó mới chỉ là những giải pháp bước đầu giải quyếtđược tình trạng thiều việc làm và thất nghiệp của hộ nông dân Các biện pháp đóchưa mang tính đồng bộ và dài hạn, chưa gắn kết với các Sở, Ban, Ngành và lồngghép sâu rộng với các chương trình, dự án của Tỉnh cũng như trên phạm vi toànquốc
2.2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan
Trong những năm gần đây, việc thu hồi đất diễn ra ngày càng nhiều, vấn đềgiải quyết việc làm nâng cao thu nhập, đảm bảo sinh kế bền vững cho người nôngdân đặc biệt là những hộ bị thu hồi đất nông nghiệp đang là vấn đề cấp thiết được
Trang 36các cấp các ngành và nhiều người quan tâm Ở nước ta đã có một số các công trìnhnghiên cứu về vấn đề này như:
Thực trạng sinh kế của hộ nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn xã Hưng Đông, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An – Nguyễn Thị Hoài Thương,
Khóa luận tốt nghiệp (2015) Nghiên cứu này đã phân tích thực trạng sinh kế củacác hộ dân sau khi mất đất với diện tích mất đất khác nhau Đối với những hộ códiện tích đất mất trên 70% thì khả năng tìm kiếm nguồn sinh kế ổn định lâu dài làrất thấp, thu nhập của hộ cũng giảm và giảm nhiều hơn so với những hộ mất đất íthơn Việc sử dụng phương pháp phân tích sâu anova đã chỉ ra rằng, có sự khác biệt
về cơ cấu lao động giữa các nhóm hộ có mức diện tích đất thu hồi khác nhau, vềthay đổi thu nhập thì nhóm hộ có diện tích đất thu hồi từ 30% đến 60% thu nhập cơbản không thay đổi còn 2 nhóm còn lại thì có thu nhập tăng Nghiên cứu đã đánhgiá các tác động tới nguồn lực của hộ khi thu hồi đất nông nghiệp, phân tích các yếu
tố ảnh hưởng đến sự thay đổi sinh kế Tuy nhiên, nghiên cứu chưa chỉ ra các yếu tố
cụ thể, chưa đi sâu phân tích các yếu tố tác động trực tiếp đến sinh kế của hộ nôngdân, chiều hướng tác động, để đưa ra những giải pháp phù hợp
Nghiên cứu của Huỳnh Văn Chương (Trường Đại học Nông Lâm, Đại họcHuế ) và Ngô Hữu Hoạnh (Trường Cao đẳng Công nghệ - Kinh tế và Thủy lợi Miền
Trung, Bộ NN&PTNT) về “Ảnh hưởng của việc chuyển đất nông nghiệp sang đất
phi nông nghiệp đến sinh kế người nông dân bị thu hồi đất tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam” Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng nhiều hộ dân tuy có thu nhập
cao hơn sau khi chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp để thựchiện quá trình đô thị hoá nhưng người dân không yên tâm do thu nhập không ổnđịnh và cuộc sống tiềm ẩn những bất ổn Nghiên cứu cũng cho thấy cần có nhữnggiải pháp cụ thể hơn về tạo việc làm, tư vấn sử dụng nguồn vốn bồi thường, hỗ trợđền bù, tái định cư từ phía Nhà nước để người dân bị thu hồi đất có sinh kế bềnvững sau thu hồi đất
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Vượng về “Nghiên cứu chiến lược sinh kế của
người dân ở khu tái định cư thủy điện Tuyên Quang trên địa bàn huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang”, Luận văn thạc sỹ (2014) Kết quả nghiên cứu cho ta thấy được
thực trạng sinh kế của người dân khu tái định cư, chiến lược sinh kế mà họ đang áp
Trang 37dụng rất đa dạng, đồng thời chỉ ra rằng việc vẫn áp dụng các sinh kế truyền thống
sẽ gặp nhiều khó khăn và rủi ro Nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đếnsinh kế như yếu tố về dân tộc, yếu tố về trình độ học vấn, các chính sách của nhànước đồng thời cho thấy mức độ ảnh hưởng cũng như chiều hướng ảnh hưởng củacác yếu tố này đến sinh kế của hộ
Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sinh kế của nông hộ ở Đồng bằng sông Cửu Long – Nghiên cứu của Võ Văn Tuấn và Lê Cảnh Dũng thuộc Viện Nghiên cứu
Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long, Trường Đại học Cần Thơ Nghiên cứu này đãtìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sinh kế nông hộ dựa trên tiếp cận sinh kếbền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Vương Quốc Anh Sử dụng mô hình hồi quiTobit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sinh kế là một phương phápmới nhằm thấy được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sinh kế của hộ.Nghiên cứu cho thấy tài sản sinh kế hộ chuyên canh thấp hơn hộ canh tác kết hợp(lúa - thủy sản, lúa-màu) Nông hộ chuyên canh tôm ở vùng ven biển gặp khó khăn
về ô nhiễm nước và dịch bệnh trên tôm (vốn tự nhiên) và các vấn đề xã hội trongkhi đó nông dân sản xuất lúa và mía đối mặt với sự suy giảm vốn tài chính do giánông sản thấp Kết quả sinh kế hộ có sự ảnh hưởng tích cực của các nguồn vốn tàichính, xã hội và vật chất Chất lượng lao động cũng thúc đẩy hộ đạt kết quả sinh kếtốt; tuy nhiên, giảm giá nông sản đã làm cho hộ trồng lúa và hoa màu chưa đạt đượckết quả sinh kế kỳ vọng
Trang 38PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý và địa hình
Thanh nghị là một xã thuộc vùng bán sơn địa nằm ở phía nam của huyệnThanh Liêm, tỉnh Hà Nam:
- Phía bắc giáp địa phận xã Thanh Tân
- Phía nam giáp địa phận xã Thanh Hải
- Phía đông giáp địa phận xã Thanh Tâm và xã Thanh Hương
- Phía tây giáp địa phận tỉnh Hòa Bình
Thanh Nghị là xã đồng bằng thấp trong lưu vực sông Đáy, thuộc đồng bằngBắc Bộ Con sông Đáy, thuộc hệ thống sông Hồng, chảy cắt ngang qua địa bàn xã,gần như theo hướng Bắc Nam Mặt khác, xã Thanh Nghị còn có hệ thống đườnggiao thông thuận lợi, có tuyến quốc lộ 1A chạy theo hướng Bắc – Nam từ thành phốPhủ Lý qua xã xuống Ninh Bình Với vị trí như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi để xãphát triển kinh kế xã hội, đồng thời thu hút các nhà đầu tư xây dựng các nhà máy xínghiệp nhờ lợi thế về vận chuyển hàng hóa qua đường bộ và đường thủy, từ đó giảiquyết nhu cầu việc làm, nâng cao đời sống cho người dân
3.1.1.2 Điều kiện khí hậu và thời tiết
Thanh Nghị có điều kiện thời tiết, khí hậu mang đặc trưng của khí hậu nhiệtđới gió mùa, nóng và ẩm ướt Nhiệt độ trung bình hàng năm của xã vào khoảng 23-
Trang 3924oC, số giờ nóng trung bình khoảng 1.300 – 1.500giờ/năm, trong năm thường có
8-9 tháng có nhiệt độ trung bình trên 20oC, (trong đó có 5 tháng có nhiệt độ trung bìnhtrên 25oC) và chỉ có 3 tháng nhiệt độ trung bình dưói 20oC, nhưng không có thángnào nhiệt độ dưới 16oC (Ban địa chính xã, 2014) Hai mùa chính trong năm (mùa
hạ, mùa đông) với các hướng gió thịnh hành: về mùa hạ là gió tây nam và đôngnam; mùa đông gió bắc, đông và đông bắc
Lượng mưa trung bình trong một năm của xã vào khoảng 1.900mm, năm có
lượng mưa cao nhất tới 3.176mm (năm 1994), năm có lượng mưa thấp nhất cũng là1.265,3mm (năm 1998) (Ban địa chính xã, 2014)
Độ ẩm trung bình hàng năm của xã là 85%, không có tháng nào có độ ẩm
trung bình dưới 77% Tháng có độ ẩm trung bình cao nhất trong năm là tháng 3(95,5%), tháng có độ ẩm trung bình thấp nhất trong năm là tháng 11 (82,5%) (Banđịa chính xã, 2014)
Khí hậu có sự phân hóa theo chế độ nhiệt với hai mùa tương phản nhau là mùa
hạ và mùa đông cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp tương đối là mùa xuân và mùa thu.Mùa hạ thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, mùa đông thường kéo dài từ giữatháng 11 đến giữa tháng 3; mùa xuân thường kéo dài từ giữa tháng 3 đến hết tháng 4
và mùa thu thường kéo dài từ tháng 10 đến giữa tháng 11(Ban địa chính xã, 2014)
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Tình hình sử dụng đất đai
Bảng 3.1 Tình hình đất đai của xã Thanh Nghị năm 2013
STT Chỉ tiêu Đơn vị Diện tích Cơ cấu (%)
709,14510,05267,18242,8777,3985,5634,14
30,8622,1911,6310,573,373,721,57
Trang 40III Đất chưa sử dụng ha 977,54 42,53
(Nguồn: Ban thống kê xã,2016)
Qua bảng 3.1 ta thấy, diện tích đất chưa sử dụng của xã chiếm nhiều nhấttrong tổng diện tích đất tự nhiên của xã (42,53%) Nguyên nhân của tình trạng này
là do xã có địa hình đồi núi, diện tích chưa sử dụng chủ yếu là đất đồi núi chưađược khai hoang Diện tích đất nông nghiệp đứng thứ 2 (với 30,86%) trong đó câyhàng năm chiếm 22,19% và cây lâu năm chiếm 3,37% so với tổng diện tích đất tựnhiên của xã
3.1.2.2 Dân số, lao động và việc làm
Theo thống kê của xã, tổng dân số của xã tính đến tháng 12 năm 2014 là10.437 người, gồm 3.020 hộ trong đó có 1.905 hộ nông nghiệp chiếm 63%, hộ phinông nghiệp là 1.115 hộ chiếm 37% (Ban thống kê xã, 2014)
Số người trong độ tuổi lao động của xã là 6943 người trong đó lao động nữchiếm 3.285 người tương ứng với 47% (Ban thống kê xã, 2014)
Số lao động trong nông nghiệp chiếm 42%, lao động trong công nghiệp là36%, còn lại là lao động trong ngành dịch vụ và các ngành nghề khác (Ban thống kê
Tính đến hết năm 2014 thì :Thu nhập bình quân đầu người trên 1 năm của xã
là 24 triệu đồng; Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 7,10%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt40,12% ; Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn quốc gia đạt80% (Ban thống kê xã, 2014)
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu