Tài liệu: Bức tranh toàn cảnh về quá trình Nam tiến của người Việt là một tài liệu đề cập đến nội dung như chính tựa đề của bài viết. Tài liệu này giúp chúng ta có cách nhìn sâu sắc và khách quan nhất về lịch sử dân tộc trong việc phát triển đất nước. Bài viết này còn giúp chúng ta sẽ có cách nhìn đúng đắn.
Trang 1Bức tranh toàn cảnh về quá trình Nam tiến của người Việt
Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sự xâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phong kiến mang nặng tính cục bộ mà cho rằng Đại Việt là của người Kinh (tức người Việt), Champa là của người Chăm và đất Nam Bộ ngày nay thuộc quyền sở hữu của Chân Lạp (tức Campuchia sau này), cách nhìn này dễ gây ra tâm lí tỵ hiềm trong lòng dân tộc.
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Cương giới lãnh thổ luôn là một vấn đề thiêng liêng của từng quốcgia, từng dân tộc Việc phân định ranh giới giữa các quốc gia với nhauluôn mang nhiều sự tranh chấp Nhiệm vụ của nhà sử học khi nghiên
Trang 2cứu vấn đề này là phải làm rõ nguồn gốc, xuất xứ của đường cươnggiới, phải tuyệt đối đứng trên quan điểm khách quan để giải thích vềcương giới quốc gia, không bị chi phối bởi quan điểm dân tộc hẹp hòi
mà có ý thức lệch lạc về vấn đề, cũng như khoa học phải gắn liền vớiđời sống thực tiễn, thực hiện được điều đó thì mới làm rõ và giải thíchchính xác vấn đề cần phải giải quyết Biên giới lãnh thổ của một quốcgia khi ra đời thường không đồng nhất với hiện nay, điều đó khôngngoại lệ đối với Việt Nam, qua các thời kỳ lịch sử Đặc biệt, vào giaiđoạn trung đại, khi mà vấn đề biên giới lãnh thổ chưa được xác định
rõ ràng thì sự xung đột lấn chiếm hoàn toàn có thể được hiểu theo quyluật khách quan của lịch sử Đối với mọi quốc gia, sự toàn vẹn lãnhthổ và biên giới là rất thiêng liêng Do biến thiên của các nhân tố lịch
sử, chính trị và thiên nhiên, vấn đề biên giới luôn chứa đựng nhiềuyếu tố phức tạp và nhạy cảm Nước ta có đường biên giới trên đất liềnvới 3 quốc gia là Trung Quốc, Lào và Campuchia Đường biên giới đóhình thành trong suốt chiều dài lịch sử từ thời Văn Lang cho tới ngàynay và trải qua không ít biến động Giữa Việt Nam và các nước cóchung đường biên giới vào quãng thời gian này thì không có đườngbiên giới rõ ràng mà chỉ có các vùng biên giới Trên lãnh thổ ViệtNam của chúng ta đã từng chứng kiến sự ra đời và phát triển của bavương quốc Đó là vương quốc Văn Lang ở phía Bắc ra đời vàokhoảng thế kỷ VII trước công nguyên, vương quốc Champa ở miềnTrung ra đời vào khoảng thế kỷ II sau công nguyên và vương quốcPhù Nam ra đời ở phía Nam vào khoảng thế kỷ I sau công nguyên Sựhưng thịnh của các vương quốc này mỗi thời kỳ một khác, ví như
Trang 3trong khi Âu Lạc đang chìm trong Bắc thuộc thì ở phía Nam vươngquốc Phù Nam phát triển rất rực rỡ, đã áp đặt sự cai trị ở rất nhiều nơitrong đó có một phần đất Champa và Chân Lạp… Nhưng đến trướckhi Âu Lạc giành được độc lập từ tay bọn đô hộ Trung Quốc thì PhùNam đã suy yếu và diệt vong.
Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sựxâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phongkiến mang nặng tính cục bộ mà cho rằng Đại Việt là của người Kinh(tức người Việt), Champa là của người Chăm và đất Nam Bộ ngàynay thuộc quyền sở hữu của Chân Lạp (tức Campuchia sau này), cáchnhìn này dễ gây ra tâm lí tỵ hiềm trong lòng dân tộc Khi tìm hiểu vềtình hình quản lý ở đồng bằng hay miền núi trước đây thì thấy rằng sựchặt chẽ hay lõng lẽo có sự khác nhau ở từng vùng miền, nhưng lãnhthổ của quốc gia chung gắn bó với hai trung tâm chính trị của đấtnước ở phía Bắc là Thăng Long (Hà Nội), phía Nam là Chà Bàn(thành Đồ Bàn, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định ngày nay) Giữa ĐạiViệt và Champa luôn luôn có sự tranh chấp Sự tranh chấp đó làkhông thể tránh khỏi bởi tư duy bành trướng của giai cấp phong kiếnhai nhà nước, luôn luôn sảy ra trình trạng xung đột tùy vào sự hưngvong của hai tập đoàn phong kiến ở hai miền, trong khi nhân dân chỉmuốn hòa bình, an cư lạc nghiệp
Trong các cuộc chiến tranh giữa Đại Việt và Champa phần thắngthường nghiêng về Đại Việt bởi những yếu tố nội lực và ngoại lực tácđộng Đại Việt có cở sở kinh tế, quân sự vững mạnh hơn, cùng với đó,
Trang 4là sự tiếp xúc trao đổi với Trung Hoa làm cho các khí tài về quân sựcủa Đại Việt được cải tiến, Bên cạnh đó, việc đối diện với một nướcláng giềng to lớn, luôn âm mưu xâm lược, các triều đại phong kiếnĐại Việt luôn phải có ý thức đề phòng, rèn luyện võ bị, võ nghệ Trảiqua nhiều cuộc chiến tranh với Trung Quốc, ít nhiều đã để lại nhữngnghệ thuật tác chiến trong chiến tranh Chính vì vậy, trong cuộcđương đầu với Champa, Đại Việt lần lượt chiến thắng và hệ quả đấtđai của Champa mất dần vào Đại Việt Nói như vậy, không phải lúcnào Đại Việt cũng giành chiến thắng, khi nhà Trần suy yếu, Champadưới sự lãnh đạo của vua Chế Bồng Nga đã xây dựng cho mình mộtlực lượng quân sự hùng mạnh Nhiều lần đánh thắng Đại Việt, thậmchí đã ba lần đánh đuổi vua tôi nhà Trần tháo chạy khỏi kinh đôThăng Long Tuy nhiên, theo chúng tôi, học thuyết chiến tranh của vịvua Champa này không phải là chiếm đất đai, mà làm cho các quốcgia láng giềng suy yếu Tuy nhiên, nhìn chung trong những cuộc đụngđầu lịch sử đó, vương quốc Champa đã thất bại, để rồi cư dân Champatrở thành một dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc đang sinh sống ởViệt Nam hiện nay.
Cùng với sự thu hẹp dần của Champa là quá trình di dân vào ThủyChân Lạp (Nam Bộ ngày này) mà trước đây thuộc lãnh thổ của vươngquốc Phù Nam chứ không phải vùng đất của Chân Lạp Khi ngườiViệt vào vùng đất này thì hầu như không có người ở và đã bị hoanghóa
Trang 5Qua việc một số học giả trong và ngoài nước, đã vẽ những bản đồ để
mô tả lại cương giới lãnh thổ nước ta qua các thời kỳ, với ý thức làmột người yêu thích lịch sử, chúng tôi đã mạnh dạn viết bài này để cóthể góp phần đóng góp cho công cuộc biên soạn trên Bài này khôngphải để gây sự tranh cãi về sự xâm lược, thôn tính hay sự bành trường
về phương Nam của người Việt, mà mong muốn trả lại cho lịch sửnhững vấn đề nó đã diễn ra Chúng ta không nên né tránh mà phải đốidiện với nó, tránh được sự kích động, âm mưu chia rẽ dân tộc của cácthế lực bên ngoài Bởi việc phân định biên giới lãnh thổ không chỉ làvấn đề của quá khứ mà nó đang rất nóng bỏng, gây ra nhiều sự tranhcãi giữa các quốc gia láng giềng với nhau
II BIÊN GIỚI PHÍA NAM CỦA NGƯỜI VIỆT QUA CÁC THỜI KỲ
1 Khảo cứu về biên giới của vương quốc đầu tiên của người Việt
Cương vực lãnh thổ của nước Văn Lang đã được ghi chép trong nhiều
sách sử Theo sách Thông Điển của Đỗ Hựu đời Đường thì “Châu Phong (735 – 812) là nước Văn Lang xưa”; theo Cựu đường Thư Địa
lý Chí: “Châu Phong ở Tây Bắc An Nam, trị sở là Gia Ninh Đời Hán
(từ năm 206 trước Công nguyên đến năm 220), huyện Mê Linh thuộchuyện Giao Chỉ,… đất Văn Lang xưa” Như vậy, theo hai sách trênthì nước Văn Lang ở vào huyện Mê Linh đời Hán và ở Châu Phongđời Đường, nhưng hai sách này chỉ chép tên nước Văn Lang, không
đề cập gì đến cương vực đất đai của nó Đại Việt sử lược cuốn sách cổ
Trang 6nhất còn sót lại có ghi chép về 15 bộ thời Văn Lang mà nhà sử họcĐào Duy Anh qua khảo cứu của mình đã chỉ cụ thể như sau:
1 Giao Chỉ: vị trí ở hữu ngạn sông Hồng, gồm miền Hà Nội ngàynay và miền xung quanh, sang đời Đường thì vị trí của huyệnGiao Chỉ có dời về phía Tây Bắc một chút
2 Việt Thường: Tên nước xưa trong truyền thuyết, tương đươngvới miền Hà Tỉnh ngày nay
3 Vũ Ninh: Tương đương với huyện Quế Dương và Võ Giảng tỉnh
Hà Bắc ngày nay
4 Quân Ninh: Khoảng miền huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa ngàynay
5 Gia Ninh: Phú Thọ ngày nay
6 Ninh Hải: Miền Nam Khâm Châu tỉnh Quảng Đông Trung Quốcngày nay
7 Lục Hải: Miền Quảng Ninh ngày nay
8 Thang Tuyền: Thang Châu ở gần Ung Châu
9 Tân Xương: gồm miền Phú Thọ, Vĩnh Phúc ngày nay
10 Bình Văn: Không rõ
11 Văn Lang: Làng Hi Cương huyện Sơn Vi tỉnh Phú Thọ
12 Cửu Chân: Tương đương với miền Nam Thanh Hóa vàNghệ An
13 Nhật Nam: Ở phía Nam dãy Hoành Sơn
14 Hoài Hoan: Ở miền Nghệ An ngày nay
15 Cửu Đức: Ở miền Hà Tĩnh ngày nay
Trang 7Đại Việt sử lược là cuốn sách sử ra đời giai đoạn sau này, các tên
huyện đều lấy từ tên gọi thời Bắc thuộc, nên có cái tên Nhật Namtrong danh sách này, là vùng đất phía Nam dãi Hoành Sơn Thật racương giới phía Nam của Văn Lang chỉ tới ngang Hoành Sơn Rấtnhiều học giả trong nước đã có sự nhầm lẫn đáng tiếc khi cho rằngbiên giới phía Nam của Văn Lang đến ngang đèo Hải Vân Theo nhưngười lập danh sách này thì đất 15 bộ ấy không thể ở ngoài phạm vicủa miền Bắc nước Việt Nam cùng với một dải miền Nam tỉnh QuảngTây của Trung Quốc Sau đó học giả Đào Duy Anh đi đến kết
luận: “biên giới phía Bắc của Văn Lang – Âu Lạc lấn vào miền Nam tỉnh Quảng Tây ngày nay Biên giới phía Nam thì đến Hoành Sơn Biên giới phía Tây thì không được rõ rệt như thế Có lẽ là miền thượng lưu sông Đà, sông Mã, sông Chu, sông Lam, một dải dọc biên giới Việt – Lào ngày nay” Về sau Tiến sĩ Huỳnh Công Bá trong Lịch
sử Việt Nam cổ trung đại khi khảo cứu Dư địa chí của Nguyễn Trãi và
tham khảo các tài liệu khác, xác định 15 bộ của nước Văn Lang là:
1 Văn Lang: Vùng Lâm Thao, Bạch Hạc, Vĩnh Phúc ngày nay
2 Phúc Lộc: Vùng Sơn Tây, Bắc Ninh ngày nay
3 Tân Hưng: Vùng Tuyên Quang, Hưng Hóa về sau
4 Vũ Định: Vùng Thái Nguyên, Cao Bằng ngày nay
5 Vũ Ninh: Khu vực Quế Dương, Quế Võ thuộc Bắc Ninh ngàynay
6 Lục Hải: Thuộc Lạng Sơn ngày nay
7 Ninh Hải: Vùng Quảng Yên và phía Nam Khâm Châu
8 Dương Tuyền: Thuộc Hải Dương ngày nay
Trang 89 Chu Diên: Khu vực giữa sông Hồng và sông Đáy thuộc Hà Tây.
10 Giao Chỉ: Ở hữu ngạn sông Hồng, gồm Hà Nội và vùngphụ cận
11 Bình Văn: Có thể là vùng Ninh Bình, Nam Định, TháiBình ngày nay
12 Cửu Chân: Thuộc Thanh Hóa ngày nay
13 Hoài Hoan: Thuộc đất Nghệ An ngày nay
14 Cửu Đất: Thuộc đất Hà Tĩnh ngày nay
15 Việt Thường: Cũng thuộc đất Hà Tĩnh ngày nay
Sự khảo cứu của hai nhà sử học tuy có khác nhau về địa danh nhưngđều cho rằng lãnh thổ quốc gia Văn Lang thuộc khu vực miền Bắc vàBắc Trung Bộ nước ta ngày nay và bao gồm cả phần đất của QuảngTây, Quảng Đông và Vân Nam Trung Quốc ngày nay Biên giới phíaNam của nước Văn Lang có thể xác định là tiếp giáp với Hoành Sơntrên đất Quảng Bình và nếu có xa nhất thì cũng chỉ đến sông Gianh.Còn biên giới phía tây và phía đông thì núi và biển đã trở thành nhữngcương giới tự nhiên của nước Văn Lang
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý đến tính chất tương đối của ranh giới lãnhthổ ở thời bấy giờ Vì trong những thời gian quá xa xưa, cách chúng
ta 3000 năm, trong xã hội có giai cấp đầu tiên, cũng như ngay cảtrong xã hội phong kiến về sau này, đường ranh giới của quốc giakhông thể nào xác định một cách rạch ròi như nước ta ngày nay.Chúng ta có thể căn cứ vào những công trình nghiên cứu về sau này
mà bổ sung những hiểu biết về cương giới Văn Lang, nhưng có thể
Trang 9nói rằng: Những điều đó cũng chỉ có thể bổ sung thêm mà vẫn khôngđảo lộn những hiểu biết của chúng ta hiện nay.
2 Cương giới lãnh thổ của Âu Lạc thời Bắc thuộc
Đất nước rơi vào ách Bắc thuộc hơn nghìn năm, trong thời gian này
có nhiều sự biến chuyển về lãnh thổ nước ta tùy thuộc vào cách chiacủa triều đình phong kiến phương Bắc nhưng tựu trung lại thì phầnlãnh thổ của nước Âu Lạc được nằm trong hai phần đất Giao Chỉ vàCửu Chân
Dưới thời Hán thì đất Giao Chỉ là đất Bắc Bộ ngày nay, trừ miền TâyBắc còn phạm vi thống trị của nhà Hán, một góc Tây Nam tỉnh NinhBình bấy giờ là địa đầu của quận Cửu Chân và một dải bờ biển từThái Bình đến huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, bấy giờ chưa được bồiđắp, cộng thêm một vùng đất về phía Tây Nam tỉnh Quảng Tây QuậnCửu Chận thì tương đương với phía Bắc dãy Hoành Sơn gồm 3 tỉnhThanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay Về phía Nam dãi HoànhSơn, nhà Hán lập thêm quận Nhật Nam
Dưới thời Tam Quốc và Lưỡng Tấn thì sau khi nhà Ngô chia GiaoChâu làm Quảng Châu và Giao Châu thì đất Giao Châu sau này vàothời kỳ độc lập tự chủ thì chúng ta không còn gồm dải đất ở miềnQuảng Tây nữa Thời kỳ này, thì Champa đã đánh chiếm toàn bộ quậnNhật Nam lấy Hoành Sơn làm ranh giới phía Bắc của mình
Sự khảo cứu của học giả Đào Duy Anh trong sách Đất nước Việt Nam qua các đờicho rằng “Theo tình hình châu huyện của An Nam đô hộ
Trang 10phủ của nhà Đường như trên thì chúng ta thấy phạm vi thống trị của
Đô hộ phủ mà phủ thành là địa điểm Hà Nội ngày nay rộng hơn phạm vi của Giao Châu thời Tam Quốc và thời Nam Bắc Triều Nếu không kể các châu ky my ở miền Tây bắc lệ thuộc Phong Châu, chỉ kể các châu thuộc địa phận tỉnh Quảng Tây ngày nay của Trung Quốc,
và các châu Lâm Ảnh là đặt khống ở miền nam Hoành Sơn”.
Năm 347, vua Champa là Phạm Văn đã đánh chiếm được toàn bộquận Nhật Nam do nhà Hán lập ra, Champa còn nhiều lần cho quânđánh chiếm quận Cửu Chân, nhưng đều bị đánh bại Về sau núi ĐồngTrụ được coi là giới hạn phía Nam của nước ta thời Bắc thuộc vớivương quốc Champa Đến thời điểm bây giờ, việc xác định địa điểmchính xác của núi Đồng Trụ còn dựa nhiều vào truyền thuyết Nhưngkhởi nghĩa Hai Bà Trưng thì đã được chính sử ghi lại rõ ràng, cáccuộc khởi nghĩa này đã nổ ra ở Nhật Nam (Nghệ An xưa) Như vậy có
lẽ vào thế kỷ I, sông Lam là biên giới của quận Cửu chân và quậnNhật Nam (hiện tại vẫn có nhiều cơ sở khoa học để chứng minh rằngdòng chảy phần Hạ lưu sông Lam xưa khác với bây giờ, nếu điều đó
là sự thật thì việc xác định ranh giới xưa là rất phức tạp) Từ thế kỷ II,III, IV nhiều cuộc nổi dậy và xâm lấn đã nổ ra Các cuộc nổi dậy vàxâm lấn này do các lãnh chúa và thủ lĩnh địa phương người Chăm ởđồng bằng ven biển Hà Tĩnh cầm đầu Nhưng các lãnh chúa này đã bị
đánh bật về phía Nam Sông Lam (theo An Tĩnh cổ lục) (Các lãnh chúa
vùng đồng bằng ven biển Hà Tĩnh vì trong số họ một số là ngườiChampa, một số chưa thể khẳng định được là người Việt hay ngườiChampa, kể cả Mai Thúc Loan)
Trang 11Đầu thế kỷ VI, Lý Bí khởi nghĩa ở Cửu Đức (Nghệ An) lập ra nướcVạn Xuân (544 – 602) Nhưng rồi vua Champa là Can-Thực-Luật-Bạt-Ma lại vượt qua Sông Lam Các thế kỷ VIII (780), IX (802 – 803)quân Champa lại tiếp tục chiếm đóng Châu Hoan và Châu Ái nhưngrồi lại bị quân Đường đánh bật về phía Nam Sông Lam.
Cho ta thấy rằng tuy trải quả các thời kỳ bị đô hộ khác nhau củaphong kiến phương Bắc, cương giới lãnh thổ của Âu Lạc tuy có sựthay đổi ít nhiều nhưng phần đất cơ bản là ở miền Bắc và Bắc Trung
Bộ nước ta
III Biên giới phía Nam của Đại Việt thời kỳ độc lập tự chủ
3.1
Nước Đại Cồ Việt dưới các thời Ngô – Đinh – Tiền Lê
Thế kỷ X, Đinh Bộ Lĩnh lập nước Đại Cồ Việt Lúc này ranh giới củaĐại Cồ Việt và Champa gọi là Nam Giới Các sách An Tĩnh Cổ Lục,Phong thổ ký, các huyện Hà Tĩnh đều nhắc đến cửa Nam Giới và núiNam Giới là giới hạn phía Nam của Đại Cồ Việt thời kỳ này Đốichiếu với địa hình thì cửa Nam Giới chính là cửa Sót ngày nay, nơisông Hà Hoàng (bao gồm Sông Nghèn và Sông Sót ngày nay) đổ raBiển Như vậy vào thời điểm bấy giờ có thể cửa Sót còn nằm về phíaNam của núi Nam Giới (Thạch Hải, Hà Tĩnh ngày nay) Điều này là
có cơ sở vì theo Địa chí Can Lộc thì “Sông Nghèn có thể là dòng chảy chính của Hạ Lưu sông Lam ngày xưa”.
Năm 981, Đại Cồ Việt sau nhiều lần bị Champa quấy rối, Lê Hoàn lầnđầu tiên đem quân đi chinh phạt Champa, chiếm được Địa Lý Châu
Trang 12(Quảng Ninh, Quảng Bình) Champa đã phải dời kinh đô (Indrapura)
từ miền Đồng Dương vào thành Phật Thệ (Vijaya, tức Bình Địnhngày nay) Sau đó Lê Hoàn trả Địa Lý Châu lại cho Champa Sự kiệnnày đánh dấu một bước ngoặt: Champa từ trước vẫn là một nước lớn(đối với Đại Cồ Việt) nhưng từ sau sự kiện này đã trở thành một “tiểuquốc” chịu thần phục Đại Cồ Việt
Do bước đầu mới thoát khỏi ách Bắc thuộc hơn 1000 năm nên còn rấtnon yếu và chưa ổn định Việc vua Đinh Tiên Hoàng chọn Hoa Lư(Ninh Bình) là vùng có địa thế hiểm trở để làm kinh đô, mạnh về mặtphòng thủ quân sự lại xa với phương Bắc, thuận lợi cho công cuộcchống ngoại xâm là minh chứng rõ ràng nhất Tình hình chính trị liêntục biến động tạo cơ hội cho phong kiến phương Bắc thực hiện dã tâmthôn tính nước ta lần nữa Các triều đại Ngô – Đinh – Tiền Lê do phảichấn hưng đất nước nên chưa có điều kiện với tay tới các khu vựcmiền núi mà lãnh thổ trước đây thuộc Vương quốc Văn Lang – ÂuLạc Vì vậy vùng đất quản lý chỉ bó hẹp trong phạm vi đồng bằng Bắc
Trang 13Đến triều Hậu Lý, Lý Thái Tổ (1010 – 1028) đã hạ được các đồn lũy
và thành của vương quốc Champa ở Kỳ Hoa (Nam Cẩm Xuyên và KỳAnh bây giờ) Từ đây, Hoành Sơn trở thành biên giới phía Nam củaĐại Việt Sau khi mở rộng biên giới đến dãy Hoành Sơn, CửaNhượng và dãy Hoành Sơn trở thành pháo đài liên hoàn bảo vệ biêngiới phía Nam của Đại Việt
Dưới thời Lý Thánh Tông, Champa được nhà Tống nâng đỡ nênkhông những không triều cống Đại Việt nữa mà còn tăng cường tổchức quân đội, luyện tập quân lính, đem quân quấy phá vùng biênthuỳ Vì thế, năm 1069, vua lại quyết định thân chinh, cử Lý ThườngKiệt làm tiên phong dẫn 5 vạn quân đi đánh Champa và tiến thẳng tớikinh đô của Champa Vua Champa là Chế Củ đem vợ con bỏ trốnkhỏi kinh thành Đồ Bàn (Bình Định) đến tận vùng Panduranga (PhanRang, Phan Thiết ngày nay) nhưng bị Lý Thường Kiệt truy đuổi Bịbắt đưa về Thăng Long, vua Chế Củ đã xin dâng ba châu Bố Chính,
Địa Lý, Ma Linh để được chuộc tội Điều này có ghi trong Phủ biên tạp lục: “Lý Thánh Tông, năm Thiên Huống Bảo Tượng thứ 2 (1069),
Kỷ Dậu, mùa xuân, vua đi đánh Chiêm Thành, bắt vua nước ấy là Chế Củ đem về Chế Củ xin lấy ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh
để chuộc tội Vua nhận, tha cho Chế Củ về nước”.
Cương giới phía Nam của Đại Việt từ thời điểm này kéo dài đến sôngThạch Hãn (Bắc Quảng Trị)
3.2 Thời Trần
Trang 14Bước vào thiên niên thế kỷ thứ 14 đánh dấu một khúc quanh mớitrong chính sách bang giao giữa Champa và Đại Việt.”Nhân dịp viếngthăm Champa vào năm 1301, thượng hoàng Trần Nhân Tôn hứa gảcông chúa Huyền Trân (tức là em gái của vua Trần Anh Tôn) cho vuaChế Mân, với điều kiện Champa phải nhường cho Đại Việt hai Châu
Ô và Lý Tháng 6 năm Bính Ngọ (1306) là ngày kết hôn giữa vua ChếMân và công chúa Huyền Trân Tháng giêng năm Đinh Mùi (1307),vua Trần Anh Tôn đổi hai châu Ô và Lý thành châu Thuận và châuHóa Sau khi Chế Mân dâng hai châu Ô và châu Lý cho nhà Trần làmsính lễ thì người Việt đã di cư vào hai vùng đất này để khai phá Theođánh giá chung của nhiều nhà sử học, hai châu Ô, Lý mà nhà Trần đãđổi thành Thuận – Hóa là dải đất từ Nam Quảng Trị vào đến BắcQuảng Nam ngày nay Vấn đề được đặt ra là địa bàn thực tế phía namcủa châu Hóa thời Trần Theo khảo cứu của học giả Đào Duy Anh
trong Đất nước Việt Nam qua các đời, thì Trà Kệ là huyện Quảng
Điền về sau, Bồ Đài là huyện Phong Điền ngày nay, Bồ Lãng ở vùng thượng du sông Hương, Sa Lệnh là phía đông Huế, Thế Vang là huyện Phú Vang, Lợi Bồng tương đương với huyện Hương Thủy, và huyện Tư Dung thì Ông cho rằng đặt vào khoảng huyện Phú Lộc ngày nay Và cũng theo Đào Duy Anh, biên giới phía Nam của châu Hóa thời thuộc Trần vào đến sông chợ Cửi, tức sông Thu Bồn của
Quảng Nam – Đà Nẵng Phan Khoang, trong Việt sử xứ Đàng Trong,
cho rằng “huyện Phú Lộc, huyện Phú Vang thuộc tỉnh Thừa Thiên ngày nay và huyện Hòa Vang, huyện Đại Lộc, phủ Duy Xuyên thuộc tỉnh Quảng Nam ngày nay là đất Hóa Châu xưa” Vậy biên giới phía
Trang 15Nam của châu Hóa thời Trần là ở đâu? Và người Việt đã vượt qua đèoHải Vân để khai triển vùng đất Bắc Quảng Nam mà Champa đã giaocho nhà Trần chưa? Những vấn đề này đã được Tiến Sĩ Huỳnh Công
Bá qua sự khảo cứu của mình đã làm rõ ngọn ngành những vấn đềnày Qua sự tìm hiểu của mình, bằng những tư liệu khi đi thực địa tại
vùng đất này, Ông cho rằng: “Qua các tư liệu trên, cho thấy ít nhất là khoảng 10 năm sau ngày đám cưới Huyền Trân – Chế Mân, đã có người Việt đến khai khẩn vùng đất Bắc Quảng Nam Địa bàn khai phá lúc bấy giờ diễn ra trên địa bàn trong điểm của đồng bằng sông Thu Bồn và ở phía nam sông này, thuộc đất của huyện Duy Xuyên về sau Như vậy biên giới phía nam của châu Hóa thời Trần không dừng lại ở Bắc sông chợ Cửi (Thu Bồn) Căn cứ vào bản cổ chỉ của tộc Trà làng Phú Xuân (thuộc tổng Quảng Hóa, phủ Duy Xuyên) lập ngày 21 tháng 9 năm Thái Đức 3 (1780), vốn là một tộc họ người Chăm ở lại khai thác đất đai cùng người Việt nơi vùng “tam giác châu” Ô Da – Thu Bồn cho biết đến đến cuối thời Trần, do chiến tranh Chiêm – Việt, ông tổ tộc này phải bỏ chỗ ở cũ là làng La Vân (tức Phú Xuân
về sau), chạy vào làng Đồng Dương (ở phía Nam sông Ly Ly), là thôn nhà của ông Chế Tịnh (một người Chăm khác) ở trọ, chúng tôi cho rằng biên giới phía nam của châu Hóa lúc bấy giờ có khả năng đến sông Ly Ly (Hương An)”[3: tr 42] Và cũng theo Tiến Sĩ Huỳnh Công Bá
đi đến nhận định rằng: “Trong buổi đầu quốc gia Đại Việt, Bắc Quảng Nam đã thuộc về Thuận – Hóa Nếu Thuận Hóa là “phên dậu phía Nam” của nước Đại Việt thì huyện Điện Bàn chính là “phên dậu của phên dậu”, một thời làm “cột mốc biên giới” che đỡ cho cả
Trang 16Thuận – Hóa trong công cuộc tái thiết xây dựng, và một thời gian dài sau đó sẽ trở thành “hành lang quân sự” của những cuộc chiến tranh”.
Như vậy, biên giới phía Nam của Đại Việt thời Trần là sông Ly Ly ởphía Nam của huyện Điện Bàn (Quảng Nam ngày nay)
3.3 Thời Hồ
Để ổn định biên giới phía Nam do Champa trước kia thường xuyênđánh phá ở thời Trần mạt, Hồ Quy Ly muốn làm cho Champa suy yếu
và thần phục nhà Hồ để tránh hậu họa về sau Vì vậy năm 1402, nhà
Hồ cho xây dựng con đường Thiên lý từ thành Tây Đô đến Hoá
Châu, Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Đời Hán Thương năm Thiệu
Thành thứ 2 (1402), Nhâm Ngọ, tháng 3, sửa đường sá từ thành Tây
Đô đến Hoá Châu, dọc đường đặt phố xá để truyền thư, gọi là đường thiên lý”.
Tháng 7 năm 1402, Hồ Quý Ly cử đại binh đi đánh Champa và thắng
trận Phủ biên tạp lục cho biết: “Vua nước ấy là Ba- Đích lại dâng
đất Chiêm Động và Cổ Luỹ Động Quý Ly nhận chia làm 4 châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, đặt An phủ sứ lộ Thăng Hoa, biên làm quân ngũ, khuyên dân nộp trâu thì cho quan tước để lấy trâu cấp cho dân
Trang 17ngay này Cũng theo Ông thì châu Thăng là miền Thăng Bình và DuyXuyên Châu Hoa là miền Tam Kỳ Ba huyện Lê Giang, Đô Hòa và
An Bị của châu Thăng tương đương với ba huyện Lễ Dương tứchuyện Thăng Bình, Huyện Duy Xuyên và Huyện Quế Sơn ngày nay.Châu Hoa thì tương đương với phủ Tam Kỳ thời Nguyễn, tươngđương với huyện Hà Đông, tức thành phố Tam Kỳ ngày nay, miềnnguồn Chiên Đàn và miền nguồn Hữu Bang Châu Tư thì thuộc trongphạm vi của hai huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh trong lưu vực sông TràKhúc, ở miền Bắc tỉnh Quảng Ngãi, huyện Trì Bình ở dưới, huyệnBạch Ô ở trên Châu Nghĩa trong phạm vi của lưu vực sông Vệ vàhuyện Mộ Đức hiện ở miền Đông Nam tỉnh Quảng Ngãi
Như vậy dưới thời nhà Hồ, trong một thời gian biên giới về phía Namcủa Đại Việt đã vượt qua sông Trà Khúc hơn 50km về phía Nam đếnhuyện Mộ Đức thuộc tỉnh Quảng Ngãi ngày nay Nhưng sau đó trongkhi Đại Việt bị quân Minh xâm lược thì Champa đã nhân cơ hội đóchiếm lại 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa
3.4 Thời Lê sơ
Trong những đời vua đầu của thời hậu Lê, sau khi mới giành đượcđộc lập, việc nội trị được ưu tiên hàng đầu nên trước những hànhđộng quấy rối của Champa ở biên giới, vua Lê Nhân Tông chỉ choquân đánh vào thành Đồ Bàn, bắt được vua Champa là Ba Đích Lạiđưa về Thăng Long và lập cháu (gọi chú) của Ba Đích Lại là MahaQuý Lai lên thay chứ không lấy lại Chiêm Động Cổ Luỹ (4 châuThăng, Hoa, Tư, Nghĩa mà nhà Hồ đã sáp nhập trước đây)
Trang 18Đến năm 1470, vua Champa là Bàn La Trà Toàn, một mặt cầu việnnhà Minh, mặt khác xuất 10 vạn quân ra cướp Hoá Châu Để chấmdứt sự quấy phá của Champa, vua Lê Thánh Tông thân chinh đem 26vạn quân đi đánh Champa Vua cho vẽ bản đồ Champa để biết rõnhững nơi hiểm yếu của vương quốc này, vua Trà Toàn bị đánh bại.Sau chiến thắng này, vua Lê Thánh Tông cho một số quân đóng tạikinh đô Champa chứ không rút hết về nước như trước nữa Trong khikhi vua Lê Thánh Tông đánh vào kinh đô của Champa thì một viêntương của Champa là Bố Trì Trì đem quân chạy về phía Nam đèo Cả,
tự lập làm Vua, xin sắc phong được nhà Lê đồng ý Với ý định tạonên sự yên ổn lâu dài ở phía Nam, vua Lê Thánh Tông cắt phần đấtven biển từ đèo Cù Mông tới đèo Cả (hay Đại Lãnh) lập nên mộtnước riêng gọi là nước Hoa Anh Lại lấy phần thượng nguyên ở phíatây Hoa Anh – vùng Cheo Reo để Lập nước Nam Bàn
Như vậy Chiêm Thành ngăn cách hẳn với Đại Việt bằng hai nước, tuynhỏ nhưng cũng là tấm đệm từ miền núi ra đến biển Điều này cũng
được Lê Quý Đôn ghi lại ở Phủ biên tạp lục: “Tháng 2 đánh thành
Chà – Bàn Quân Thuận Hoá bắt sống được Trà Toàn Tướng nước
ấy là Bố Trì chạy đến Phan Lung, giữ đất ấy xưng vương, chỉ còn lại được 2 phần 5 đất nước, sai người vào cống Bèn phong Bố Trì làm Chiêm Thành vương, lại phong Hoa Anh vương và Nam Bàn vương, chia làm 3 nước”.
Vua Lê cho những viên quan Champa đã đầu hàng giữ những chức vụquan trọng đối với vùng đất mới Ba Thái được cử làm Đại Chiêm