1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Kinh tế du lịch khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái (19862013) (LV thạc sĩ)

93 109 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh tế du lịch khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái (19862013) (LV thạc sĩ)Kinh tế du lịch khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái (19862013) (LV thạc sĩ)Kinh tế du lịch khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái (19862013) (LV thạc sĩ)Kinh tế du lịch khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái (19862013) (LV thạc sĩ)Kinh tế du lịch khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái (19862013) (LV thạc sĩ)Kinh tế du lịch khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái (19862013) (LV thạc sĩ)Kinh tế du lịch khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái (19862013) (LV thạc sĩ)Kinh tế du lịch khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái (19862013) (LV thạc sĩ)Kinh tế du lịch khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái (19862013) (LV thạc sĩ)Kinh tế du lịch khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái (19862013) (LV thạc sĩ)Kinh tế du lịch khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái (19862013) (LV thạc sĩ)Kinh tế du lịch khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái (19862013) (LV thạc sĩ)Kinh tế du lịch khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái (19862013) (LV thạc sĩ)Kinh tế du lịch khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái (19862013) (LV thạc sĩ)

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Thị Thu Thủy

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực

Người thực hiện

Lý Thị Bình Thư

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tác giả luận văn xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hà Thị Thu Thủy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tác giả trong quá

trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Lịch sử trường Đại học sư phạm - ĐH Thái Nguyên, đã chỉ bảo tận tình, động viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Trong thời gian thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Tỉnh Uỷ, UBND tỉnh Yên Bái, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái; Huyện ủy, UBND các huyện Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải và thị xã Nghĩa Lộ, cùng các ban ngành đoàn thể trong tỉnh Yên Bái, các địa phương đã cung cấp tư liệu để tác giả hoàn thành luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn những nhận xét, đánh giá của Hội đồng khoa học bảo vệ luận văn

Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2015

Tác giả

Lý Thị Bình Thư

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt iv

Danh mục bảng biểu v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TIỀM NĂNG DU LỊCH CỦA KHU VỰC MIỀN TÂYTỈNH YÊN BÁI 13

1.1 Địa lí tự nhiên 13

1.2 Con người và tài nguyên nhân văn 17

1.3 Điều kiện kinh tế 24

Chương 2: HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở KHU VỰC MIỀN TÂY TỈNH YÊN BÁI (1986 -2013) 27

2.1 Cơ sở phát triển du lịch khu vực miền Tây 27

2.1.1.Chủ trương đường lối của Đảng, các cấp chính quyền 27

2.1.2 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 29

2.1.3.Nguồn nhân lực 32

2.1.4.Lượng khách du lịch 32

2.2 Các loại hình du lịch ở khu vực miền Tây 37

2.2.1 Du lịch văn hóa 38

2.2.2.Du lịch sinh thái 43

2.2.3 Du lịch cộng đồng 51

Chương 3: TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ DU LỊCH ĐỐI VỚI KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC MIỀN TÂY TỈNH YÊN BÁI 55

3.1 Tác động về kinh tế 55

3.1.1.Đóng góp cho ngân sách của địa phương và của tỉnh 55

Trang 5

3.1.2 Tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương 56

3.1.3.Động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển 56

3.1.4 Quảng bá cho sản xuất địa phương 58

3.1.5 Khuyến khích nhu cầu tại địa phương 59

3.2 Tác động về xã hội 60

3.2.1.Giải quyết việc làm cho người lao động 60

3.2.2.Giải quyết tình trạng đói nghèo 62

3.2.3 Góp phần nâng cao dân trí 64

3.2.4 Làm thay đổi diện mạo các vùng có hoạt động du lịch 64

3.2.5.Góp phần phát huy các giá trị văn hóa dân tộc 66

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU, LƯỢC ĐỒ

Trang

Bảng 1.1: Diện tích, dân số, các đơn vị hành chính khu vực miền Tây 17

Bảng 1.2: Các điểm du lịch khu vực Mường Lò và Miền Tây 23

Bảng 2.1: Cơ sở vật chất phục vụ du lịch 31

Bảng 2.2: Lượng khách du lịch đến miền Tây từ 2000 đến năm 2013 34

Bảng 3.1: Doanh thu từ TM -DV - DL giai đoạn từ 1986 -2013 55

Bảng 3.2: Tỷ trọng cơ cấu ngành kinh tế 56

Bảng 3.3: Tổng số lao động trực tiếp trong ngành du lịch miền Tây 61

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Du lịch là một ngành kinh tế có tốc độ phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ.Từ chỗ ban đầu là hoạt động mang tính tâm linh của giới quý tộc, tầng lớp thượng lưu, đến nay du lịch đã trở thành một hiện tượng phổ biến và là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của mọi người dân Du lịch phát triển góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ cho các quốc gia và giải quyết nhiều công ăn việc làm cho xã hội; thúc đẩy sự phát triển của các ngành liên quan như xây dựng, thương mại, sản xuất hàng tiêu dùng, bảo hiểm, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông,…

Theo kết quả nghiên cứu của Hội đồng du lịch và lữ hành quốc tế (WTTC), năm 2012 du lịch đóng góp 6500 tỷ USD cho kinh tế toàn cầu, tạo việc làm cho khoảng 260 triệu người trên thế giới Dự báo trong 10 năm tới, ngành du lịch sẽ tăng trưởng trung bình 4,5% mỗi năm Cùng với đó giá trị đóng góp cho kinh tế toàn cầu sẽ tăng lên mức 10.000 tỷ USD mỗi năm, tương đương 10% GDP toàn cầu Tới năm 2020, ngành du lịch sẽ tạo ra khoảng 328 triệu việc làm tương đương tỷ lệ 1/10 lao động toàn thế giới làm việc trong ngành du lịch[10]

Với hiệu quả to lớn đó, du lịch đã được nhiều nước trên thế giới trong đó

có Việt Nam chọn là ngành ưu tiên phát triển số một trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mình Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nêu

rõ: “ Liên kết chặt chẽ các ngành liên quan đến hoạt động du lịch để đầu tư

phát triển một số khu du lịch tổng hợp và trọng điểm đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”[37].Trong chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội

2011 – 2020 Đảng nhấn mạnh: “Tập trung phát triển một số ngành dịch vụ có

lợi thế, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao như du lịch, hàng hải, hàng không, viễn thông, công nghệ thông tin, y tế ….Hình thành một số trung tâm

Trang 9

dịch vụ, du lịch có tầm cỡ khu vực và quốc tế đa dạng hóa sản phẩm và các loại hình du lịch, nâng cao chất lượng để đạt tiêu chuẩn quốc tế”[36, tr.9]

Hiện nay, ngành du lịch nước ta đang có bước phát triển đáng kể nếu năm 2007 đón và phục vụ 4,1 triệu lượt khách du lịch quốc tế đến với Việt Nam thì đến năm 2012 số lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt 6,8 triệu lượt người Doanh thu từ du lịch đạt 160 nghìn tỷ đồng, tăng 23% so với năm 2011; thu hút trên 1,7 triệu lao động làm trong ngành du lịch, trong đó có 550 nghìn

lao động trực tiếp và 1,2 triệu lao động gián tiếp[10]

Yên Bái là một trong những địa bàn sinh tụ của người Việt cổ với trên 30 dân tộc anh em cùng chung sống, là nơi có nền văn minh sông Hồng, sông Chảy, là trung điểm giao lưu giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc của tổ quốc, có nhiều lợi thế về giao thông đường sắt, đường bộ và đường thủy Nơi đây có nhiều di tích lịch sử cách mạng, hệ thống các đình, đền, chùa gắn liền với lịch

sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Bên cạnh đó, Yên Bái còn là nơi có khí hậu mát mẻ, cảnh quan thiên nhiên với danh thắng cấp Quốc gia Ruộng bậc thang Mù Cang Chải, hồ Thác Bà, khu du lịch Suối Giàng…Những tiềm năng vốn có trên là điều kiện thuận lợi để tỉnh Yên Bái có thể khai thác, phát triển nhiều loại hình du lịch hấp dẫn Cùng với công cuộc đổi mới, công cuộc công nghiệp hóa hiện - đại hóa đất nước, Tỉnh ủy- UBND tỉnh Yên Bái cũng có nhiều định hướng nhằm phát huy tiềm năng của tỉnh, từng bước đa dạng hóa các hoạt động kinh tế, giải quyết các vấn đề an sinh xã hội nhằm xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân

Miền Tây Yên Bái gồm có các huyệnVăn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải và thị xã Nghĩa Lộ Nơi đây có thiên nhiên hùng vĩ, có nhiều di tích lịch

sử văn hóa, với 17 dân tộc anh em chung sống từ lâu đời, có một nền văn hóa đậm đà bản sắc Nơi đây còn có cánh đồng rộng lớn thứ hai Tây Bắc – Mường

Lò - nổi tiếng với gạo trắng nước trong, những người dân nơi đây sống nhân hậu, trung thực và hiếu khách.Vùng đất thiên thời, địa lợi, nhân hòa ấy từ lâu

Trang 10

đã là điểm đến thân thiện, an toàn, hấp dẫn nhiều du khách trong và ngoài nước Để tạo nên sự khác biệt với các vùng miền khác về đặc thù văn hóa, UBND tỉnh Yên Bái đã phê duyệt Đề án “ Xây dựng thị xã văn hóa - du lịch Nghĩa Lộ 2013 -2020” với mục tiêu xây dựng Nghĩa Lộ trở thành trung tâm văn hóa, du lịch miền Tây Điều đó cho thấy, khu vực miền Tây được coi là khu du lịch trọng điểm của tỉnh

Với mong muốn tìm hiểu thêm về tiềm năng du lịch và hoạt động du lịch của khu vực, qua đó thấy được những nỗ lực của các địa phương trong quá trình chuyển dịch cơ cấu cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững tạo nên sự phát triển của các ngành kinh tế, nâng cao đời sống cho nhân dân, bảo tồn, phát

triển các giá trị văn hóa của địa phương tôi đã chọn đề tài “ Kinh tế du lịch khu

vực miền Tây tỉnh Yên Bái (1986 – 2013)” để làm luận văn thạc sĩ

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đóng vai trò là một ngành kinh tế có vị trí vai trò quan trọng trong khu vực dịch vụ nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung Du lịch hay kinh tế du lịch đã trở thành đề tài nghiên cứu của rất nhiều tác giả, các nhà nghiên cứu, các nhà kinh tế học…Cụ thể:

2.1 Các sách đã xuất bản trong nước

Cuốn “Du lịch và kinh doanh Du lịch”, TS.Trần Nhạn – NXB Văn hoá

Thông tin – Hà Nội 1996 Trên cơ sở khái niệm về du lịch và kinh doanh du lịch, các loại hình du lịch, cuốn sách tập trung nghiên cứu về tài nguyên du lịch cũng như những tác động của hoạt động kinh doanh du lịch đối với các ngành kinh tế khác

Trong cuốn “Tổng quan về Du lịch”, NXB Giáo dục 1999, tác giả Vũ

Minh Đức đã cho chúng ta có một cái nhìn cận cảnh hơn nữa về sự phát triển của du lịch Việt Nam cũng như du lịch thế giới Những tác động của du lịch thế giới đến các mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội

Trang 11

Cuốn “Pháp lệnh du lịch”, NXB Chính trị quốc gia 1999, văn bản pháp

lí được Quốc hội khóa X thông qua, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 5 năm 1999 Pháp lệnh là cơ sở để phát triển du lịch trong nước và du lịch quốc tế đẩy mạnh giao lưu, hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Cuốn sách“Kinh tế du lịch” của tác giả Nguyễn Hồng Giáp, NXB

Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2000, đã làm rõ khái niệm kinh tế du lịch, tiềm năng du lịch, đặc điểm các loại hình du lịch Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, tác giả đưa ra được những tác động của kinh tế du lịch đến kinh

tế - xã hội

Cuốn sách“ Kinh tế du lịch và du lịch học” của tác giả Đổng Ngọc Minh –

Vương Lôi Bình (NXB trẻ, 2001) Cuốn sách đã cung cấp thông tin chi tiết về

du lịch, kinh tế du lịch, đặc điểm các loại hình du lịch; đứng trên góc độ nghiên cứu tác giả đề cập đến vấn đề nghiên cứu học thuật đối với hoạt động du lịch

Cuốn “Giáo trình kinh tế Du lịch”, NXB Lao Động – Xã hội Hà Nội

2004 của tác giả GS.TS Nguyễn Văn Đính và TS.Trần Thị Minh Hoà Là cuốn giáo trình dành cho sinh viên khoa du lịch, tìm hiểu về du lịch với vai trò là một ngành kinh tế Cuốn sách đã đề cập đến khái niệm du lịch, kinh tế

du lịch, vị trí vai trò của du lịch cũng như các loại hình du lịch hiện có

Cuốn “Luật Du lịch”, NXB Chính trị Quốc gia cho biết Luật được Quốc

hội khoá XI, kỳ họp thứ VII, thông qua ngày 14-6-2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2006 Việc xây dựng Luật này nhằm thể chế hoá Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn, kích thích đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần xoá đói giảm nghèo

ở những vùng có tiềm năng phát triển du lịch

2.2 Các bài Tạp chí, Luận văn

Bên cạnh những cuốn sách tìm hiểu về du lịch, còn có những công trình

khoa học tìm hiểu về du lịch như Luận án tiến sĩ của Vũ Đình Thụy với đề

Trang 12

tài“Những điều kiện và giải pháp chủ yếu để phát triển Du lịch Việt Nam

thành ngành kinh tế mũi nhọn…” tại Đại Học Kinh tế quốc dân – Hà Nội

năm 1996 đây là công trình khoa học làm rõ sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam từ 1986 và đưa ra những giải pháp chủ yếu để du lịch trở thành

ngành kinh tế mũi nhọn

Cùng với tác phẩm trên còn có rất nhiều các công trình khác tìm hiểu về

du lịch như: “Tài nguyên Du lịch Việt Nam” của Nguyễn Văn Thành (2002),

“Vài suy nghĩ về phát triển Du lịch Việt Nam – Du lịch nhân dân và Du lịch quốc tế” Dương Minh Trung (2004)…Chủ yếu khai thác về tài nguyên – tiềm

năng của du lịch Việt Nam (Tạp chí du lịch Việt Nam – Tổng cục du lịch)

Ở Yên Bái, với mục đích từng bước đưa du lịch trở thành một ngành kinh tế quan trọng của tỉnh; Sở văn hóa thông tin và du lịch đã phối hợp cùng các sở ban ngành, các nhà nghiên cứu để đánh giá tiềm năng du lịch của tỉnh nhà:

Các bài viết: “ Định hướng đầu tư xây dựng thị trường, sản phẩm du lịch

các tỉnh Phú Thọ - Yên Bái – Lào Cai” của tác giả Hà Văn Siêu; “Yên Bái tiềm năng phát triển và cơ hội đầu tư” UBND tỉnh Yên Bái đã đề cập đến những

định hướng chung về phát triển ngành kinh tế du lịch của tỉnh với các tỉnh lân

cận Trong đó khu vực miền Tây là một trong những tuyến trong tuyến “du lịch

về nguồn” của ba tỉnh Phú Thọ - Yên Bái- Lào Cai

Đối với khu vực miền Tây đã có các nghiên cứu:

Luận văn “Người Thái đen với sự phát triển du lịch Mường Lò – tỉnh

Yên Bái” của Đoàn Thị Hương Lý (2009) được bảo vệ tại Đại học KHXH &

NV Hà Nội; tác giả đã cho thấy tiềm năng du lịch của vùng Mường Lò – nơi được xem là vùng đất tổ của người Thái đen Qua nghiên cứu cho thấy văn hóa tộc người chính là một kho tài nguyên du lịch giá trị của vùng Mường Lò -Nghĩa Lộ - Văn Chấn

Trang 13

Luận văn “ Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân trên

địa bàn huyện Văn Chấn” của tác giả Lê Lâm Bằng (2010); tác giả đã tìm hiểu

đầy đủ những điều kiện về tự nhiên – xã hội cho sự phân bố và phát triển của cây chè trên địa bàn huyện Văn Chấn Đặc biệt là vùng chè Suối Giàng – với những đề xuất bảo tồn và xây dựng mô hình liên kết ngành kinh tế để Suối Giàng trở thành vùng du lịch sinh thái với hoạt động nghỉ dưỡng, tham quan và nghiên cứu

Luận văn “Bảo tồn và phát triển nghề dệt thổ cẩm truyền thống của

người dân bản Paket và bản Lè phường Trung tâm – thị xã Nghĩa Lộ” của tác

giả Vũ Văn Trường (2011), tác giả đã đề cập đến thái độ trong việc bảo tồn nghề truyền thống của người Thái để phát triển du lịch cộng đồng

Luận văn “Khai thác Ruộng bậc thang khu vực Mù Cang Chải và vùng

phụ cận cho phát triển du lịch” của tác giả Hoàng Mạnh Thắng (2011) khóa

luận chuyên ngành du lịch được bảo vệ tại Đại học KHXH & NV Hà Nội Với mục đích tìm hiểu để phục vụ cho phát triển du lịch nên nghiên cứu của tác giả

đã khái quát được toàn cảnh về huyện Mù Cang Chải, tiềm năng khai thác du lịch mà cụ thể là hoạt động du lịch văn hóa, du lịch nông thôn gắn với khai thác Ruộng bậc thang một hình thức canh tác nông nghiệp của người Mông

Ngoài ra còn có nghiên cứu“đời sống văn hóa tinh thần của người Mông

ở huyện Mù Cang Chải” – tác giả Nguyễn Thị Kim Dung (2012) qua việc

nghiên cứu này tác giả cũng đã có ý kiến đề xuất việc bảo tồn và khai thác các giá trị văn hóa tinh thần của người Mông để phục vụ cho du lịch cộng đồng và

du lịch sinh thái ở địa phương

Luận văn “Văn hóa Thái với hoạt động du lịch Mường Lò (Nghĩa Lộ)”-

tác giả Nguyễn Kim Lê (2012), trên cơ sở nghiên cứu tổng quan về đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của người Thái Mường Lò (Nghĩa Lộ), tác giả đã

có những đánh giá về sự đóng góp của những giá trị văn hóa Thái trong việc phát triển du lịch ở thị xã Nghĩa Lộ

Trang 14

Phạm Thị Phương trong luận văn “Tiềm năng – Thực trạng và những

giải pháp phát triển du lịch tỉnh Yên Bái” (2012), đã làm rõ những tiềm năng

du lịch và thực trạng khai thác các tiềm năng đó của ngành du lịch Yên Bái; trên cơ sở những thực trạng tác giả cũng đã có đề xuất giải pháp để phát triển

du lịch tỉnh Yên Bái nhằm khai thác những thế mạnh sẵn có, mang lại hiệu quả kinh tế cao

2.3 Các công trình nghiên cứu địa phương

Cuốn “Yên Bái nơi hội tụ của đồng bào dân tộc” của nhà nghiên cứu Hà

Lâm Kỳ (NXB Văn hóa dân tộc, năm 1996) Cuốn sách đã khái quát về đặc điểm tự nhiên, tên gọi, tên gốc, đời sống của đồng bào dân tộc sinh sống trên đất Yên Bái

Cuốn “Mỗi nét tinh hoa” của tác giả Hà Lâm Kỳ làm chủ biên (NXB

dân tộc, năm 2001), nêu lên những nét đẹp trong đời sống văn hóa tinh thần của các dân tộc Yên Bái; Tác giả cũng đề cập đến việc khai thác một loại hình du lịch, đó là du lịch văn hóa với những tiềm năng của nó

Cuốn “Lịch sử Đảng bộ thị xã Nghĩa Lộ ” (Ban Tuyên giáo Thị ủy –

2005) Đã trình bày những nét cơ bản về dân cư cùng lịch sử hình thành của thị

xã Nghĩa Lộ qua các thời kỳ lịch sử, từ 1986 –2005 Đảng bộ thị xã Nghĩa Lộ

đã vận dụng các nghị quyết của TW Đảng tạo ra những bước chuyển mình rõ rệt về kinh tế - xã hội theo hướng thương mại- dịch vụ

Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Mù Cang Chải” (của BCH huyện ủy –

2007) đã khái quát quá trình phát triển Đảng bộ huyện Mù Cang Chải trong việc lãnh đạo nhân dân các dân tộc trong huyện thực hiện các nhiệm vụ kinh tế

- xã hội của địa phương đến năm 2000

Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Chấn 1954 -2007” (tập 2 - Ban

tuyên giáo huyện ủy, 2006), đã nêu một cách tổng quát quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện trong các giai đoạn thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của

Trang 15

địa phương, đặc biệt trong giai đoạn cùng cả nước thực hiện đổi mới đi lên công nghiệp hóa – hiện đại hóa

Cuốn “Yên Bái đất và người trên hành trình phát triển”của NXB văn

hóa thể thao – Công ty Văn hóa trí tuệ Việt xuất bản năm 2006 Không chỉ nêu được một hành trình phát triển của Yên Bái, mà qua đó đã nhấn được những ngành kinh tế có tiềm năng và đóng góp cho tỉnh Tuy nhiên, về du lịch mới dừng lại ở khắc họa những đặc trưng văn hóa và khả năng khai thác du lịch của tỉnh Yên Bái

Sự đóng góp của hoạt động du lịch còn nêu trong các tài liệu, bản báo cáo hàng năm, báo cáo nhiệm kỳ của UBND huyện và huyện ủy các huyện

thị miền Tây như: Tổng hợp số liệu kinh tế- xã hội – các phòng tài chính;

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ các huyện, thị; Báo cáo tổng kết của Sở văn hóa – thể thao và du lịch tỉnh…

Nhìn chung, cho đến nay chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào trình bày chi tiết và có hệ thống về hoạt động kinh tế du lịch trong hơn 20 sau đổi mới ở khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái

3 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu tìm hiểu về ngành kinh tế du lịch miền Tây: tiềm năng, các hoạt động du lịch và tác động kinh tế du lịch đối với kinh tế - xã hội của khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái

3.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu những đặc điểm tự nhiên, dân cư và xã hội thấy được tiềm năng phát triển của kinh tế du lịch ở khu vực miền Tây; Đánh giá mức độ đóng góp của hoạt động kinh tế này đối với sự phát triển về mọi mặt đời sống kinh tế- chính trị- văn hóa – xã hội của địa phương Từ mục đích này nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn là:

Trang 16

- Làm nổi bật được những yếu tố tự nhiên, dân cư, xã hội để thấy được tiềm năng khai thác du lịch như một ngành kinh tế đóng góp cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của các huyện thị khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái

-Trên cơ sở những tiềm năng đó hoạt động du lịch được khai thác như thế nào , kết quả cụ thể của việc khai thác đó theo chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh, ngành và địa phương

-Đánh giá được sự ảnh hưởng của hoạt động kinh tế du lịch đối với sự phát triển kinh tế xã hội của khu vực Từ đó phân tích, làm rõ những tác động hai chiều mà hoạt động kinh tế này về kinh tế, về xã hội tại các địa phương khu vực miền Tây

3.3 Phạm vi nghiên cứu

-Về thời gian nghiên cứu là từ năm 1986 đến năm 2013

-Về không gian là khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái bao gồm thị xã Nghĩa

Lộ, huyện Mù Cang Chải, huyện Trạm Tấu và huyện Văn Chấn

Luận văn cũng có tìm hiểu những hoạt động du lịch ở một số địa phương khác trong tỉnh, để có bức tranh toàn diện về ngành kinh tế này lấy cơ

sở cho việc đánh giá vai trò của ngành trong chiến lược kinh tế chung của tỉnh

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

- Nguồn tài liệu chung:

+ Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc từ Đại hội lần thứ VI, VII, VIII, IX, X,XI

+ Các sách, báo chuyên khảo của ngành du lịch; sách giáo trình kinh tế học, kinh tế du lịch của một trường Đại học: Tạp chí du lịch, báo Đầu tư

+ Khóa luận tốt nghiệp có liên quan đến hoạt động kinh tế - văn hóa –

xã hội của khu vực miền Tây Yên Bái

-Nguồn tài liệu địa phương:

+ Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái Đại đại biểu Đảng

bộ các huyện Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Văn Chấn và thị xã Nghĩa Lộ

Trang 17

+ Báo cáo thống kê của Cục thống kê tỉnh Yên Bái; Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ hàng năm của Sở Văn hóa- thể thao và du lịch Yên Bái + Báo cáo tình hình KT – XH của UBND các huyện, thị miền Tây -Tư liệu điền dã: thông tin qua dân cư sinh sống trong các khu quy hoạch

du lịch của địa phương như làng văn hóa Nghĩa An, khu sinh thái Suối Giàng, dân cư xã Dế Xu Phình, La Pán Tẩn… tranh ảnh có liên quan đến hoạt động

du lịch, các di tích, danh thắng, sinh hoạt văn hóa

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic:

Phương pháp lịch sử được sử dụng để tái hiện lại bức tranh toàn cảnh kinh tế khu vực miền Tây một cách chân thực, khoa học, phản ánh đúng lịch sử

và quy luật vận động của quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội của khu vực từ năm 1986 đến năm 2013 trong quá trình thực hiện các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng

Từ bức tranh chung của du lịch Yên Bái và khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái Phương pháp lôgic được sử dụng để khái quát tiềm năng khai thác của du lịch miền Tây.Trên cơ sở đường lối chung của Đảng, chính quyền các địa phương đã khai thác các tiềm năng đó như thế nào để thấy rằng du lịch và các sản phẩm của du lịch đã góp phần hình thành nên một bộ phận kinh tế của khu vực Phương pháp logic đã giúp cho việc nhận định, đánh giá vạch ra bản chất,

lý giải, khái quát và rút ra kết luận một cách toàn diện và sâu sắc

Tìm hiểu về kinh tế du lịch tại một khu vực miền núi bao gồm 4 huyện thị xa ở miền Tây của tỉnh Yên Bái luận văn còn sử dụng kết hợp các phương pháp kinh tế học (phân tích, tổng hợp, so sánh), địa lí học, dân tộc học…cùng với phương pháp điền dã: điều tra phỏng vấn

5 Đóng góp của luận văn

Trang 18

Trên cơ sở tìm hiểu về hoạt động kinh tế du lịch các địa phương đánh giá được đầy đủ hơn và khai thác tối đa tiềm năng sẵn có của mình; có những giải pháp huy động các nguồn lực để hướng tới sự phát triển bền vững trong xu thế hội nhập, công nhiệp hóa-hiện đại hóa

Việc đánh giá được những đóng góp của hoạt động kinh tế và những ảnh hưởng tiêu cực của nó sẽ giúp các địa phương đưa ra những giải pháp và điều chỉnh hợp lý để tạo điều kiện cho hoạt động thương mại dịch vụ phát triển

Nguồn tư liệu để dạy học lịch sử địa phương

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục Nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1:Tiềm năng du lịch khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái

Chương 2:Hoạt động du lịch ở khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái (1986 -2013) Chương 3: Tác động của kinh tế du lịch đối với kinh tế - xã hội khu vực miền Tây

tỉnh Yên Bái (1986 -2013)

Trang 19

Lược đồ hành chính khu vực miền tây tỉnh Yên Bái

Nguồn:Cổng thông tin điện tử Yên Bái

Trang 20

và Phú Thọ; Phía Đông giáp huyện Văn Yên và Trấn Yên; Phía Tây giáp Sơn La, Lai Châu Nằm ở vị trí này khu vực miền tây tỉnh Yên Bái là điểm giao lưu thuận tiện của giao thông vận tải đường bộ Với quốc lộ 32, quốc lộ 37 thuận tiện cho lưu thông giữa các huyện, thị xã trong khu vực với các địa phương khác trong tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Phú Thọ, Lai Châu, Sơn La

Giao thông thuận tiện là yếu tố rất quan trọng thu hút khách du lịch với khu vực miền Tây của tỉnh Khiến cho du lịch ngày càng có điều kiện phát triển trở thành ngành kinh tế phát triển nhanh và bền vững

Địa hình

Điều kiện địa hình ở mỗi nơi thường chế định cảnh đẹp và sự đa dạng của phong cảnh nơi đó Địa hình khu vực chủ yếu là núi cao, nơi có địa hình núi cao nhất là Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Suối Giàngvới độ cao trên 1000m so với mực nước biển.Tiếp đến huyện Văn Chấn và thị xã Nghĩa Lộ với độ cao trung bình so với mực nước biển 400m Khu vực miền Tây Yên Bái là vùng đồi núi với nhiều phong cảnh đẹp và là nơi có thể tiến hành các hoạt động du lịch Các dãy núi cao, rừng già và đồi thấp tạo nên nhiều phong cảnh hùng vĩ, hữu tình, những hang động có vẻ đẹp kì vĩ, huyền diệu như hang Thẩm Han, Thẩm

Lé, Thẩm Thoong, hang Cua Đỏ,… Điều kiện địa hình này cho phép Yên Bái phát triển nhiều loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng, du lịch tham quan nghiên cứu

Trang 21

Khí hậu

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Yên Bái có nhiệt độ trung bình

22 – 230 C; lượng mưa trung bình 1.500 - 2.200 mm/năm; độ ẩm trung bình 83

- 87% Điều kiện khí hậu tạo nên điều kiện cho thảm thực vật phát triển đặc biệt là rừng, cây dược liệu và cây nông nghiệp Tuy nhiên, khí hậu Yên Bái hay

có các hiện tượng thời tiết đặc biệt như sương muối (xuất hiện chủ yếu ở độ cao trên 600m) mưa đá (xuất hiện rải rác ở một số vùng, càng lên cao càng có nhiều mưa đá, thường xuất hiện vào cuối mùa xuân đầu mùa hạ và thường đi kèm với hiện tượng dông và gió xoáy cục bộ Ngoài ra ở các vùng cao trên 1000m thỉnh thoảng còn có băng tuyết vào cuối tháng mùa đông

Yên Bái có hai vùng khí hậu lớn, có ranh giới được xác định bởi đường phân thủy của dãy núi cao theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, dọc theo hữu ngạn sông Hồng Khu vực miền Tây nằm trong vùng khí hậu phía Tây: Phần lớn vùng này có độ cao trung bình trên 700m, địa hình chia cắt mạnh, mang tính chất khí hậu á nhiệt đới, ôn đới, ít chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc

Có gió Tây Nam nóng, khô nên khí hậu vùng này có nét đặc trưng là nắng nhiều, mưa ít so với vùng phía Đông Xuất phát từ các yếu tố địa hình, khí hậu, đặc thù có thể chia khí hậu vùng phía Tây thành 3 tiểu vùng sau:

Tiểu vùng Mù Cang Chải: Vùng này có độ cao trung bình từ 900m, có nhiều nắng nhất tỉnh và chịu ảnh hưởng của giáo mùa Tây Nam Do có độ cao địa hình lớn nên nhiệt độ thấp, nhiệt độ trung bình 18- 200 C, về mùa đông lạnh

có khi xuống tới 00C Tổng nhiệt độ năm 6.500 – 70000C, lượng mưa: 1.800 -

Trang 22

Tiểu vùng Văn Chấn - Tú Lệ độ cao trung bình vùng này 250 - 300m, có thung lũng Mường Lò với diện tích trên 2.200ha, nhiệt độ trung bình 22 -230 C, tổng nhiệt độ cả năm 80000 C

Nền khí hậu của khu vực thích hợp với sức khỏe của con người và thuận lợi với hoạt động du lịch Tuy nhiên, cần lưu ý tới hiện tượng thời tiết thất thường như sương muối, mưa đá, băng tuyết ở những vùng núi cao ở Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải

Nguồn nước

Khu vực không có sông lớn mà có hàng chục khe suối lớn nhỏ, hệ thống ngòi suối đều bắt nguồn từ núi cao và chủ yếu từ dãy Hoàng Liên Sơn Trên địa hình dốc cao như vậy đã tạo nên những thác nước kì vĩ, không chỉ cung cấp nước cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, làm thủy điện mà còn tạo ra cảnh quan thiên nhiên thơ mộng cho hoạt động tham quan, các thác nước nhiều tầng cũng tạo nên những cảnh quan thiên nhiên thơ mộng hiếm có như thác Nậm

Mơ, Dề Thàng…

Trong khu vực có nhiều mỏ nước khoáng có giá trị phát triển du lịch, sản xuất nước khoáng tiêu biểu như:

Suối khoáng nóng Bản Bon (Xã Sơn A huyện Văn Chấn được đưa lên

bề mặt đất qua nền đá gốc là đã vôi, kèm theo nhiều bọt khí, nhiệt độ nguồn nước đạt 540C, nước trong suốt, không màu, thoảng mùi H2S với độ PH = 6,7 cặn khô 2590mg/lít, kiểu nước Sunfat Canxi có độ khoáng hóa thấp M = 211,8 mg/lít, Br2 = 0,15 mg/lít, I2 = 0,0667 mg/lít

Nước khoáng nóng xã Phù Nham (Huyện Văn Chấn) được phun lên từ mỏ than bùn, diện tích 15x15m Kết quả phân tích cho thấy: Nhiệt độ nguồn nước đạt 380C lưu lượng 0,8m/s Độ PH = 7,3 cặn khô 2.800 mg/lít, kiểu nước Sunfat Canxi có độ khoáng hóa thấp M = 2.115,8 hàm lượng Si không cao H2SiO3 = 51mg/lít, Br2 = 0,15 mg/lít, T2 = 0,0667 mg/lít

Trang 23

Nước khoáng nóng Rừng Si (thị trấn nông trường Nghĩa Lộ), diện tích 2m2 Kết quả phân tích cho thấy: nhiệt độ nguồn nước đạt 410 C, độ PH = 8 căn khô 2.920 mg/lít, kiểu nước Sunfa - Canxi - Manhee, có độ khoáng hóa M= 2.750,8 mg/lít, hàm lượng H2SiO3 = 3 mg/lít

Điểm nước khoáng nóng Bản Bon đã được đưa vào sử dụng rộng rãi Các điểm còn lại đang tiếp tục nghiên cứu điều tra, đánh giá trữ lượng, chất lượng để khai thác phục vụ phát triển tiềm năng du lịch, cũng như phực vụ cho sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân bản địa

Nhìn chung, tài nguyên nước của khu vực tương đối dồi dào, chất lượng tốt, ít bị ô nhiễm Nguồn tài nguyên này có giá trị lớn trong phát triển kinh tế xã hội và đời sống của nhân dân nhất là hoạt động du lịch

Tài nguyên sinh vật

Nằm trên độ cao trung bình từ 600m - 1000m cho nên khu vực có nhiều rừng và cảnh quan thiên nhiên Hệ thống rừng già, rừng nguyên sinh phong phú, đa dạng có thể phục vụ du lịch sinh thái nghỉ dưỡng hoặc nghiên cứu khoa học: Khu du lịch sinh thái Suối Giàng (Văn Chấn) với khí hậu quanh năm mát mẻ; khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải với 788 loại thực vật trong đó

có 33 loài thuộc loại quý hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam; khu danh thắng cấp quốc gia Ruộng bậc thang Mù Cang Chải

Đặc biệt, Mù Cang Chải có khu bảo tồn các loài sinh vật cảnh với trung tâm là là xã Chế Tạo và vùng ngoại vi phía Bắc, phía Đông các xã Dế Su Phình, Pú Luông, Nậm Khắt Trong những cánh rừng ngút ngàn, qua nhiều năm khảo sát người ta đã phát hiện ra 22 loài bò sát, lưỡng cư; 127 loài chim, riêng họ khiếu có tới 41 loài như:khướu vằn, khướu đuôi đỏ, khướu đất Pigmi, khướu lùn đuôi đỏ, khướu mào cổ hung, khướu mỏ dẹt vàng, Quý hiếm hơn cả

là loài niệc cổ hung Aceros Nipalensis, hiện nay chỉ còn thấy ở Mù Cang Chải

và vườn quốc gia Pù Mát (Nghệ An) Nơi đây, chỉ còn 28 - 30 cá thể nhưng cũng là quần thể niệc cổ hung lớn nhất Việt Nam Các loài thú hết sức phong

Trang 24

phú với 53 loài khác nhau như cầy vằn, nhím đuôi ngắn, cu li nhỏ, chó sói, khỉ mốc, lợn lòi, nai, khỉ mặt đỏ, sơn dương, gấu, ngựa, báo gấm, báo lửa, báo hoa mai, vọc xám… Đặc biệt là loài vượn đen tuyền với hơn 200 cá thể, hiện nay ở Việt Nam mới chỉ xác định ở hai địa điểm là phía Bắc huyện Văn Bàn (Lào Cai) và vùng giáp gianh giữa Mù Cang Chải (Yên Bái) và Mường La (Sơn La)

Trên nền địa hình cao, nhiều dốc núi, ở Mù Cang Chải có hơn 700 ruộng bậc thang…Ruộng bậc thang không chỉ cho năng suất ổn định, góp phần cải thiện đời sống dân cư, hạn chế chặt phá rừng làm nương rẫy mà còn tạo ra cảnh quan thiên nhiên kì vĩ Đó là sản phẩm hội tụ các giá trị văn hóa tộc người H’Mông Năm 2007 Ruộng bậc thang Mù Cang Chải được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích danh thắng cấp quốc gia

Có thể thấy khu vực miền Tây có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên tương đối đa dạng Dựa vào nguồn tài nguyên này trong xu thể hội nhập của đất nước ngành du lịch Yên Bái đang nỗ lực phát triển đa dạng và phong phú các loại hình du lịch, tạo ra một ngành kinh tế du lịch nhằm khai thác tiềm năng của tỉnh, trong đó khu vực miền Tây được xác định là một hướng quan trọng

1.2 Con người và tài nguyên nhân văn

Dân cư, dân tộc

Bảng 1.1 Diện tích, dân số, các đơn vị hành chính khu vực miền Tây

STT Tên đơn vị Số

Số phường, thị trấn

Diện tích ( Km 2 )

Dân số TB

2009 ( người)

Mật độ dân số

2009 ( Ng/km 2 )

Trang 25

Theo số liệu điều tra dân số năm 2009 dân số của khu vực là 2.471,52 người, dân cư phân bố không đồng đều giữa các huyện, thị xã Mật độ dân cư trung bình năm 2009 là 78 người/ km2, Nghĩa Lộ là nơi có mật độ dân cư đông đúc nhất 918 người/km2 đứng thứ hai toàn tỉnh, nơi có mật độ dân cư thưa thớt

là Trạm Tấu và Mù Cang Chải từ 35 – 41 người/km2

Khu vực có 17 dân tộc anh em cùng chung sống Các dân tộc chiếm tỷ

lệ cao là Kinh, Tày, Thái, Mông, Dao Trong đó, người Mông chiếm 89% dân số toàn huyện Mù Cang Chải, chiếm 77% dân số toàn huyện Trạm Tấu, thị xã Nghĩa Lộ có 23,4% dân số là người Thái….Đặc điểm khí hậu, đất đai cho thấy cư dân miền Tây Yên Bái không chỉ giỏi làm nông nghiệp, nghề rừng, làm vườn mà các dân tộc vùng miền Tây Yên Bái còn thạo các nghề thủ công, sử dụng máy móc công nghiệp hiện đại Con người nơi đây với truyền thống yêu quê hương, làng bản, người dân nơi đây luôn gắn bó đoàn kết để vượt qua mọi khó khăn trở ngại trong cuộc sống Hơn nữa cuộc sống giữa núi rừng, với bản tính lương thiện, thật thà, giàu lòng hiếu khách của người dân đất Việt nói chung và khu vực miền Tây Bắc nói riêng luôn luôn làm cho du khách cảm thấy gần gũi thân quen khi đến du lịch vùng đất này

Trang 26

Di tích căng Đồn - Nghĩa Lộ - được công nhận là khu di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 27/9/1996 theo quyết định số 2410 - QĐ/VH của Bộ trưởng Bộ văn hóa thông tin Hiện nay khu di tích bao gồm 1 đài tưởng niệm Căng Nghĩa

Lộ, 1 tượng đài chiến thắng Nghĩa Lộ mang hình tượng anh bộ đội cụ Hồ và nhân dân các dân tộc trong chiến dịch giải phóng Nghĩa Lộ tháng 10/1952, cùng với bia ghi tên các liệt sĩ Nơi đây đã từng là cứ điểm trọng yếu, là đại bản doanh của bộ chỉ huy của quân khu mà thực dân Pháp xây dựng nên Cũng chính tại nơi này, nhiều đồng bào, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh

Đèo Lũng Lô thuộc bản Dạ, xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, đèo

có tên gọi khác là Đèo Đao Nằm giữa ranh giới của 2 huyện Văn Chấn (tỉnh Yên Bái) và huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La), đèo có chiều dài 15 km Lũng Lô một địa danh đã đi vào sử sách trong cuộc kháng chiến chống Pháp hào hùng của dân tộc như một huyền thoại Nơi ghi lại những câu ca vang dội và hào hùng của quân và dân cả nước, dốc sức cho chiến trường Điện Biên Phủ:

“ Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ

Đèo Lũng Lô anh hò chị hát

Dù bom đạn xương tan thịt nát

Không sờn lòng không tiếc tuổi xanh"

Đèo Lũng Lô - cung đường huyền thoại, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận và xếp hạng là di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 2011 vào đúng dịp

kỷ niệm 57 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ

Nơi thành lập đội du kích Khau Phạ - Ngày 27/8/2012 đã được Bộ VHTT & DL công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia theo quyết định số 3270/QĐ- BVHTTDL Đây là những ghi nhận xứng đáng đối với những cống hiến, hy sinh anh dũng của Đội du kích hoạt động trên xứ núi Mù Cang Chải

Là một di tích nằm trên vùng đồi núi hiểm trở, trải dài và rộng từ chân đèo Cao Phạ lên đỉnh đèo (dài trên 20km) Địa bàn hoạt động của đội du kích rộng, có nhiều địa điểm có giá trị lịch sử, trong đó có ba điểm trọng yếu, diễn ra những

Trang 27

sự kiện quan trọng trong suốt gần 8 năm hoạt động của đội du kích Khau Phạ

Đó là: Bản Trống Tông Khúa - nơi thành lập đội du kích Khau Phạ; nhà của ông Lý Nủ Chu - cơ sở cách mạng của Đội du kích Khau Phạ (bản Lìm Mông)

và Hang Dơi - địa điểm phục kích Pháp dưới chân đèo Khau Phạ năm 1948

Làng bản văn hóa các dân tộc

Du lịch văn hóa cộng đồng ngày càng phát triển, vừa mang lại lợi ích

kinh tế cho người dân vừa bảo tồn những nét văn hóa truyền thống độc đáo Làng văn hóa là một điểm đến hấp dẫn của du lịch văn hóa cộng đồng, tìm hiểu giá trị văn hóa bản địa Hiện nay, tỉnh Yên Bái ước có 450 làng được công nhận là làng văn hóa (2010), riêng khu vực miền Tây có khoảng 53 làng văn hóa Trong tương lai, các làng cổ dân tộc thiểu số như: làng cổ Pang Cáng dân tộc Mông (Suối Giàng - Văn Chấn), làng cổ Viềng Công dân tộc Thái (Hạnh Sơn - Văn Chấn), làng du lịch xã La Pán Tẩn (Mù Cang Chải), làng văn hóa xã nghĩa An (Nghĩa Lộ) sẽ trở thành địa điểm lí tưởng để thu hút du khách trong

hành trình khám phá miền Tây Bắc

Làng nghề truyền thống

Nguồn nguyên liệu để sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ và có khả năng phát triển thành làng nghề truyền thống ở Yên Bái tập trung ở vùng Nghĩa Lộ - Mường Lò, Lục Yên và dọc sông Hồng Tại khu vực miền Tây, các làng nghề truyền thống của cộng đồng các dân tộc thiểu số phục vụ du lịch đã

và đang được phục hồi phát triển: Nghề làm giấy dó, nấu rượu đao của dân tộc Dao; Rượu ngô La Pán Tẩn dân tộc Mông; Đan lát, rèn, chạm khắc bạc, dệt thổ cẩm, dệt vải của dân tộc Mông, dân tộc Thái, dân tộc Mường…

Lễ hội truyền thống

Lễ hội là một bảo tàng sống về mặt sinh hoạt văn hóa tinh thần của các dân tộc Nơi diễn ra lễ hội là trung tâm thể hiện ý thức cộng đồng, là trung tâm tích tụ văn hóa nghệ thuật đã được sàng lọc, đúc kết từ thế hệ này sang thế hệ khác Là khu vực có sự quần tụ của nhiều tộc người, mỗi dân tộc có

Trang 28

sắc thái sinh hoạt văn hóa tinh thần khác nhau, tạo nên lễ hội mang đậm bản sắc dân tộc

Vùng văn hóa Văn Chấn - Mường Lò có thể coi là một xứ sở của nhiều

lễ hội tộc người Vùng trong với cánh đồng Mường Lò được xếp vào cánh đồng lớn thứ hai trên vùng Tây Bắc, đây được xem là vùng đất cội nguồn của người Thái đen Nói đến Mường Lò là nói đến văn hóa lúa nước, văn hóa nông nghiệp nên đến vùng đất này chúng ta sẽ gặp lế hội Hạn Khuống của người Thái - mỗi dịp tổ chức lễ Hội Hạn Khuống thu hút được rất đông người dân và du khách thập phương đến xem và tìm hiểu Hạn Khuống không chỉ toát lên vẻ đẹp tâm hồn của những chàng trai cô gái Thái, mà còn giới thiệu tới người xem những phong tục tập quán truyền thống của đồng bào dân tộc Thái như múa xòe, ném còn, đánh quay, tó mắc lẹ những trò chơi dân gian đặc sắc chỉ có ở vùng đất

Tổ của người Thái đen Gắn với văn hóa nông nghiệp người Thái còn có Lễ hội cầu mưa

Vùng ngoài của huyện Văn Chấn còn có lễ hội “tăm khẩu mẩu” (Hội giã cốm) hội “Lồng tồng” (Hội xuống đồng) của người Tày; ở vùng cao của huyện

Văn Chấn, đến với người Dao xã Minh An hay Nậm Lành ta sẽ được dự lễ hội

“Nhiang chầm đao”, lễ “cấp sắc” rất độc đáo mà chỉ có ở tộc người này Cùng

với người Dao, chủ yếu là Dao quần chẹt còn là dân tộc Mông Đen nơi “ đầu

gió, đầu mây”, đó là lễ hội “Gầu Tào” của xã Suối Giàng, Suối Bu Lên Gia

Hội, người Giáy có tục hát “Kháng giêng” khác với nhiều dân tộc anh em

khác, chỉ người Giáy mới có tục hát này

Văn hóa ẩm thực

Văn hóa ẩm thực vùng Nghĩa Lộ - Mường Lò có xôi ngũ sắc, cá sỉnh nướng, thịt trâu hun khói, rêu đã vùi than…Ngoài ra, chè Suối Giàng (Văn Chấn), nếp Tú Lệ, rượu táo mèo…tạo nên nét khác biệt đặc trưng của Yên Bái

Món xôi ngũ sắc - trở thành món ăn đặc trưng của dân tộc Thái Mường

Lò (Nghĩa Lộ) nói riêng và của vùng Tây Bắc nói chung Để có xôi ngon, thơm

Trang 29

dẻo người làm nghề phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các quy trình từ khâu chọn

lá nhuôm màu đến việc đồ xôi Nguyên liệu để nấu xôi phải là gạo nếp Tú Lệ hạt to, trong, một loại nếp thơm ngon và nổi tiếng nhất vùng Bốn loại lá rừng dùng để nhuộm các màu đỏ - xanh - tím - vàng được người dân lựa chọn kĩ lưỡng, lá không được quá non hay quá già Sau đó rửa sạch, khi đã có nước màu, gạo nếp được cho vào ngâm khoảng 10 tiếng rồi vớt ra để ráo nước Gạo ráo nước sẽ được đồ trong chõ xôi truyền thống của đồng bào gọi là Mỏ Lửng - Tay lung Chõ xôi hình bầu dục bằng thân cây cọ hoặc gỗ thơm được gọt đẽo

để thủng hai đầu, đầu trên có nắp đậy, đầu dưới lắp bằng phên nứa, mỗi chõ xôi được hơn 1kg gạo

Ngày nay xôi ngũ sắc cũng không còn bó hẹp trong các ngày hội, ngày Tết của bản làng người Thái, mà nó trở thành món ẩm thực độc đáo, thành niềm tự hào của người Mường Lò (Yên Bái) Mỗi khi có dịp tham gia các hội chợ ẩm thực, hoặc trong những dịp địa phương tổ chức lễ hội, hay đơn giản chỉ là đón đoàn khách du lịch ghé thăm, xôi ngũ sắc cũng được làm để giới thiệu với du khách gần xa Món xôi ngũ sắc này cũng đi vào kỉ lục Guinness Việt Nam năm 2008, với mâm xôi ngũ sắc lớn nhất Việt Nam có trọng lượng 1,3 tấn, đường kính 2,8 m, dày 30 cm Xôi ngũ sắc - nét văn hóa

ẩm thực sẽ là món quà chào đón du khách trong những dịp hành hương về với cội nguồn dân tộc

Món cá Sỉnh - cá Sỉnh được người Thái ở Văn Chấn - Nghĩa Lộ coi là món đặc sản đáng tự hào bởi loại cá này chỉ sống duy nhất ở nơi đây Cá sỉnh ưa sống ở nơi nước siết, mình thon dài, đầu nhỏ, vẩy trắng, lăn tăn như hoa bạc, hai bên lườn ánh xanh Con nào to nhất cũng chỉ bằng bốn ngón tay, thịt chắc, vị ngọt đậm, thơm không hề có vị tanh, xương ít lại rất mềm

Cá sỉnh có thể chế biến thành nhiều món thơm ngon, độc đáo như: món Pa mẳm (cá mắm), Pa Khính xổm (cá chua), Pa Kính Giảng (cá sấy), Pa chen (cá rán), Pa pỉnh tộp (cá nướng), Pa mọ (cá hấp)… Khi thưởng thức, du khách sẽ rất khó quên được món ăn dân tộc này

Trang 30

Chè Shan tuyết Suối Giàng – nằm trên độ cao gần 1.400m so với mực nước biển, khí hậu của Suối Giàng tương tự như Sa Pa, Đà Lạt Du khách đến đây có thể trèo lên những cây chè cổ thụ hàng trăm tuổi, hái những búp chè xanh non Giống chè Shan tuyết càng già, thân càng mốc trắng, tạo hình uốn lượn xù xì, lá càng xanh ngắt một vẻ đẹp tự nhiên là điều thích thú cho những ai ham thích tự nhiên Nhìn bao quát cả đồi chè mới thấy những thân chè trắng mốc dị bản đã làm nên sự hấp dẫn của vùng che Suối Giàng Suối Giàng bốn mùa bồng bềnh trong mây, hấp dẫn du khách bởi khí hậu, vị ngọt của chè tuyết cổ thụ, của mật ong tinh khiết và tiếng khèn, tiếng sáo, tiếng đàn môi cùng lời hát trao tình của các chàng trai cô gái Mông réo rắt gọi mời…đã tạo cho nơi đây một sức hút mãnh liệt đối với du khách

Bảng 1.2: Các điểm du lịch khu vực Mường Lò và Miền Tây

STT Điểm du lịch Địa điểm Loại hình du lịch

1 Di tích Căng Đồn Nghĩa Lộ Thị xã Nghĩa Lộ Tham quan, tìm hiểu

3 Chợ Mường Lò Thị xã Nghĩa Lộ Mua sắm

4 Làng nghề dệt thổ cẩm Thị xã Nghĩa Lộ Tham quan, mua sắm

5 Khu du lịch Suối Giàng Văn Chấn Sinh thái, nghỉ dưỡng,

tìm hiểu văn hóa

6 Suối nước nóng bản Bon Văn Chấn Sinh thái

7 Suối nước nóng bản Hốc Văn Chấn Sinh Thái

8 Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải Sinh thái, nghiên cứu

12 Danh thắng Ruộng bậc thang

Trang 31

1.3 Điều kiện kinh tế

Ngày nay, sau gần ba mươi năm thực hiện đường lối đổi mới, khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái đã có nhiều sự thay đổi đáng kể Đã có các công trình công nghiệp dân dụng mọc lên, đường xá được nâng cấp mở rộng, đời sống nhân dân ngày một được cải thiện Tận dụng tối đa các thế mạnh của vùng đất giàu tiềm năng, các huyện thị khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái đã nắm bắt thời

cơ khai thác tối đa những tiềm năng sẵn có Trên cơ sở đó, nhanh chóng xác định các ngành kinh tế mũi nhọn để đầu tư phát triển, tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH Trong những năm 1986 đến năm 2000, tỉ trọng ngành nông- lâm nghiệp phát triển ổn định, công nghiệp – xây dựng tăng dần từ 5% - 9%, các ngành dịch vụ được điều chỉnh hợp lí hơn Trong xu thế hội nhập, đẩy mạnh CNH – HĐH đến năm 2012 tổng giá trị các ngành sản xuất

và dịch vụ đạt 688,7 tỉ đổng tăng 16,5% so với năm 2001, trong đó nông – lâm nghiệp tăng 10%, công nghiệp – xây dựng 18,2%, dịch vụ tăng 20,2%

Trong nông nghiệp, diện tích cấy lúa năng suất thấp giảm dần, một phần chuyển sang làm vườn, chăn nuôi, trồng cây ăn quả Công tác chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đã có kết quả đáng ghi nhận.mặc dù diện tích sản xuất nông nghiệp giảm nhưng do tích cực đưa giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất giá trị ngành trồng trọt năm 2012 tăng 20% so với năm

2001 Tỉnh đã có quy hoạch đối với sản xuất nông – lâm nghiệp ở vùng miền Tây theo hướng phát triển bền vững: vùng cánh đồng Mường Lò và vùng trong huyện Văn Chấn chuyên canh sản xuất lúa, cây màu, vùng ngoài và vùng thượng huyện Văn Chấn là vùng trồng cây ăn quả (cam), chè, gỗ rừng trồng, nuôi ba ba giống…

Trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, tổng giá trị sản lượng đạt 387 tỷ đồng Hiện nay, trong khu vực có hơn 20 xí nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoạt động đã tạo lập môi trường sản xuất – kinh doanh sôi động, lành mạnh, góp phần giải

Trang 32

quyết việc làm cho hàng nghìn lao động, tăng nhanh giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng trên địa bàn Trong đó từ 1986 – 2000 giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng chỉ đạt 54,1 tỷ đồng, đến năm 2012 tăng lên 328 tỷ đồng tăng gấp 3 lần so với năm 2001 Sản phẩm công nghiệp chủ yếu là các sản phẩm công nghiệp chế biến và vật liệu xây dựng như: chế biến gỗ, chè, gạch, khai thác kháng sản tăng từ 10 – 20%; sản phẩm thủ công nghiệp đạt 25% so với năm 2001 Nhiều dự án đã và đang được đầu tư xây dựng như mở rộng: nâng cấp quốc lộ 37 đoạn TP Yên Bái – Văn Chấn, quốc lộ 32 đoạn ngã ba Kim đi Mù Cang Chải, nhà máy thủy điện Văn Chấn… Đây là nền tảng cho sự phát triển của khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái

Phát huy lợi thế với vùng thiên nhiên kỳ vĩ hoang sơ của vùng rừng núi Tây Bắc của những khu rừng gia nguyên sinh tại Trạm Tấu, Mù Cang Chải, với trung tâm văn hóa Mường Lò Khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái có điều kiện phát triển du lịch thương mại dịch vụ với những thắng cảnh đẹp: đèo Lũng Lô, đèo Ách, đèo Khau Phạ, hang Thẩm Lé…cùng các lễ hội đậm đà bản sắc dân tộc vùng cao Tây Bắc

Kết cấu hạ tầng cơ sở được nâng lên một bước, bộ mặt của các trung tâm huyện lị đã có bóng dáng của những thị trấn, thị xã dân cư đông đúc.Tại đây hơn 90% số hộ dân cư được sử dụng lưới điện quốc gia và các dịch vụ bưu chính viễn thông Đến năm 2010, đã hoàn thành việc bàn giao lưới điện nông thôn, đã có 80% số thôn xã có bưu điện văn hóa, 70% số hộ dân cư được cung cấp thường xuyên các dịch vụ viễn thông như điện thoại, internet Hệ thống giao thông được đầu tư xây dựng, khu vực có hơn 200km đường quốc lộ đi qua

và đều được rải nhựa Các tuyến đường tỉnh lộ, huyện lộ, các trục đường liên thôn, liên xóm được nhựa hóa hoặc bê tông hóa

Bức tranh kinh tế của khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái giai đoạn gần đây

đã có những gam màu sáng, hoạt động kinh tế sôi động mang lại hơi thở mới trong cuộc sống của người dân nơi đây Đời sống vật chất cũng như tinh thần

Trang 33

của người dân nơi đây được cải thiện rõ rệt nhờ các biện pháp chăm lo đầu tư

cơ sở hạ tầng phát triển văn hóa, giáo dục… Đây là một nhân tố quan trong thúc đẩy cho hoạt động thương mại dịch vụ và du lịch phát triển

Tiểu kết chương 1

Là vùng kinh tế động lực của tỉnh Yên Bái, khu vực miền Tây với trung tâm là thị xã Nghĩa Lộ đã và đang được quan tâm đầu tư phát triển để trở thành điểm nối giao lưu của tỉnh Yên Bái với các tỉnh vùng Tây Bắc, trung du và đồng bằng Bắc Bộ Trong quá trình phát triển bên cạnh phát huy thế mạnh của khu vực, Đảng bộ và nhân dân các huyện thị luôn cố gắng nỗ lực đa dạng hóa các hoạt động kinh tế, tìm kiếm vốn đầu tư, khai thác tiềm lực, phát huy nội lực

để nâng cao đời sống Bên cạnh sự ổn định của hoạt động kinh tế nông – lâm nghiệp, sự chuyển mình nhanh chóng của công nghiệp- xây dựng, sơ sở hạ tầng không ngừng được cải thiện đã mở ra cơ hội cho hoạt động du lịch dịch vụ có điều kiện phát triển

Khu vực miền Tây của tỉnh Yên Bái với nhiều tiềm năng du lịch phong phú cả về tài nguyên du lịch tự nhiên lẫn tài nguyên du lịch nhân văn Tự nhiên

và lịch sử đã tạo cho mảnh đất này có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp như hồ Suối Giàng, Ruộng bậc thang Mù Cang Chải, di tích lịch sử văn hóa như khu di tích Căng Đồn – Nghĩa Lộ, khu tưởng niệm Hồ Chí Minh, nơi thành lập đội du kích Khau Phạ, khu ủy Tây Bắc, đèo Lũng Lô Đến với khu vực miền Tây, du khách được đắm mình trong các lễ hội với những phong tục, tập quán riêng đậm đà bản sắc dân tộc Thắng cảnh của miền Tây còn giữu được nhiều vẻ hoang sơ, môi trường sinh thái chưa bị ô nhiễm rất hấp dẫn khách du lịch Cùng với cảnh sắc thiên nhiên, con người vùng miền Tây Yên Bái thân thiện, hòa đồng, chính là những yếu tố ghi dấu hình ảnh Yên Bái đối với những người từng đặt chân đến vùng đất này… Đây chính là tiền đề quan trọng để phát triển

du lịch, tạo điều kiện tổ chức được nhiều loại hình du lịch như: du lịch văn hóa,

du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch tham quan nghiên cứu

Trang 34

Chương 2 HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở KHU VỰC MIỀN TÂY TỈNH YÊN BÁI

(1986 -2013)

2.1 Cơ sở phát triển du lịch khu vực miền Tây

2.1.1.Chủ trương đường lối của Đảng, các cấp chính quyền

Tháng 12 năm 1986 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật thực trạng kinh tế - xã hội đất nước sau 10 năm thống nhất đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện nhầm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, đi vào ổn định và phát triển, mở ra một trang mới trên con đường phát triển không ngừng của dân tộc ta Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trong kế hoạch 5 năm (1986 - 1990) tỉnh uỷ Hoàng Liên Sơn đã tập chung lãnh đạo, chủ động triển khai công cuộc đổi mới trên địa bàn tỉnh, lấy đổi mới kinh

tế làm trọng tâm, tìm cách tháo gỡ thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh

tế Trước mắt là đổi mới cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, tập chung mọi nguồn lực, các thành phần kinh tế thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn là lương thực - thực phẩm - hàng tiêu dùng và xuất khẩu Tiếp tục đổi mới cơ chế khoán theo chỉ thị 100 trong nông nghiệp, ổn định quy mô các HTX, quản lý chặt chẽ hơn ruộng đất, củng cố các đội thuỷ lợi, chú trọng giống cây trồng, thực hiện chính sách ưu tiên vốn sản xuất cho nông nghiệp Xác định là khu vực có địa hình rộng, đa dạng với đông đảo các thành phần dân tộc, Đảng bộ huyện Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải và thị xã Nghĩa Lộ, từ năm 1986 - 2000 trên cơ sở Nghị quyết của Đại hội Đảng lần VI,VII, VIII đã quán triệt định hướng phát triển kinh tế - xã hội qua từng giai đoạn kế hoạch nhà nước 5 năm

Nghị quyết Đại hội Đảng lần IX (2001) đưa ra mục tiêu: “phát triển du

lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn…”[37] Đồng thời, quán triệt

nghị quyết Đại Hội Đảng lần IX, Bộ Chính trị ra quyết định số 179 – CT/TW

về phát triển du lịch trong tình hình mới, chiến lược phát triển du lịch Việt Nam

Trang 35

từ 2001 đến 2010 Nghị quyết Đại hội Đảng X và kế hoạch 5 năm (2006 – 2010), ngành du lịch triển khai kiện toàn tổ chức bộ máy đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực quản lý chuyên môn với hoạt động du lịch

Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng IX, tỉnh Yên Bái có những chiến lược phù hợp để từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kì hội nhập của đất nước để tranh thủ các nguồn lực phát triển kinh tế xã hội Nghị quyết

Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV nêu rõ “ Phấn đấu tăng trưởng kinh tế ở mức

cao và ổn định.Phát huy mọi nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - xã hội Cải thiện rõ nét đời sống vật chất tinh thần của nhân dân…phát huy mọi nguồn lực, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh cộng nghiệp hóa xây đựng tỉnh Yên Bái trở thành tỉnh phát triển trong khu vực niềm núi Bắc Bộ”[71]

Thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng Bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XVI, Ban thường vụ tỉnh ủy Yên Bái đã có Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 18/5/2007

về đẩy mạnh phát triển du lịch đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh

Trên cơ sở Nghị quyết số 07- NQ/TU Sở Văn hóa - thể thao và Du lịch

đã xây dựng Đề án Phát triển du lịch Yên Bái đến năm 2010 và tầm nhìn 2015 Theo đó quy hoạch phát triển du lịch Yên Bái thành ba khu vực:

Khu du lịch vùng hồ Thác Bà, Khu du lịch thành phố Yên Bái và dọc sông Hồng, Khu du lịch vùng văn hóa Mường Lò và khu vực miền Tây gồm: Khu du lịch Suối Giàng, khu trung tâm thị xã Nghĩa Lộ, suối nước nóng bản Bon, bản Hốc, Đèo Cao Phạ, Đỉnh Pú Luông và danh thắng quốc gia ruộng bậc thang Mù Cang Chải

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XVII đã nhấn mạnh

việc phát triển kinh tế du lịch của tỉnh “…Phát triển ngành du lịch dịch vụ đạt

mức tăng trưởng cao, chiếm tỉ trọng lớn trong GDP…phát triển du lịch sinh thái, văn hóa, di tích lịch sử từng bước đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh”[72]

Trang 36

Ngày 11 tháng 03 năm 2011, Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái đã ra quyết

định số 341/QÐ- UBND “ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển sự

nghiệp văn hóa, thể dục thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái giai đoạn 2011 -2020

và tầm nhìn đến năm 2025” Theo đó, sẽ xây dựng Nghĩa Lộ trở thị xã văn hóa

du lịch của khu vực miền Tây với các tuyến du lịch phụ cận trong khu vực như

khu du lịch sinh thái Suối Giàng, danh thắng ruộng bậc thang Mù Cang Chải… Qua các văn bản pháp lí trên có thể thấy rằng Đảng bộ tỉnh Yên Bái, Sở Văn

hóa, Thể thao và Du lịch đã vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng để phát

triển ngành kinh tế du lịch để khai thác tiềm năng hỗ trợ cho sự phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh nhà

2.1.2 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch là cả một hệ thống có quan hệ chặt chẽ với

nhau bao gồm: đường xá, các phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc,

các khách sạn, nhà nghỉ…bởi một địa điểm có thể có sức hấp dẫn với khách du

lịch nhưng nếu không có những cơ sở hạ tầng như trên thì ở đó du lịch cũng

không thể phát triển được Như vậy, để phát triển du lịch thì các điều kiện cơ sở

hạ tầng chính là những đòn bẩy quan trọng cho khả năng khai thác các tài

nguyên du lịch, phát triển du lịch thành một ngành kinh tế bền vững

Khu vực miền Tây có hơn 1000 km đường bộ, trong đó đường quốc lộ

250 km( quốc lộ 32: Thu Cúc – Văn Chấn - Nghĩa Lộ - Mù Cang Chải, quốc lộ

37: Yên Bái – Văn Chấn) Đến năm 2010, tuyến quốc lộ 32 đã hoàn thành giai

đoạn 2 (Nghĩa Lộ - Vách Kim) như vậy tuyến quốc lộ 32, tiếp tục nâng cấp cải

tạo tuyến quốc lộ 37 theo đó khi hoàn thành từ tuyến quốc lộ này sẽ bắt nhanh

vào tuyến cao tốc Hà Nội – Lào Cai trong tuyến hành lang kinh tế Côn Minh –

Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng Tuy nhiên, chất lượng giao thông của các tuyến

nội tỉnh, liên huyện còn nhiều đoạn xấu, quanh co nhiều đồi dốc làm hạn chế

đến sự phát triển kinh tế xã hội và chưa hấp dẫn du khách

Trang 37

Phương tiện vận chuyển: xe khách, tắc xi đã được các công ty vận tải du lịch đẩy mạnh đầu tư ở tất cả các phương tiện vận chuyển Chất lượng xe được cải thiện, tiện nghi hơn, đặc biệt khâu phục vụ, đưa đón khách đảm bảo nhu cầu

đi lại, tham quan vừa tạo sự thoải mái, an toàn, hài lòng đối với khách du lịch

Trong cơ sở hạ tầng còn phải đề cập đến hệ thống công trình điện nước Các sản phẩm của nó phục vụ trực tiếp cho việc nghỉ ngơi, giải trí của du khách Hiện nay trong khu vực, nhà máy nước thị xã Nghĩa Lộ công suất 3.500m3/ ngày, các huyện lị đều có nhà máy nước hoặc nguồn nước sạch Mặc

dù đảm bảo phục vụ sản xuất, sinh hoạt của dân cư, nhưng nhiều địa phương hệ thống thoát nước chưa đáp ứng yêu cầu vệ sinh môi trường

Hệ thống lưới điện ở khu vực tương đối đồng bộ, tính đến thời điểm này, 90% số dân được dùng điện lưới quốc gia, nguồn điện đảm bảo cung cấp về cơ bản đáp ứng đầy đủ nhu cầu sử dụng nguồn năng lượng điện của các khu du lịch, điểm du lịch và nhu cầu của du khách

Mạng lưới thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông ở khu vực trong những năm gần đây đã có những chuyển biến rõ rệt Đến nay sóng phát thanh

đã phủ đến 95%, sóng truyền hình phủ đến 90% các địa bàn dân cư Mạng lưới thông tin bằng điện thoại di động đã phủ sóng hầu hết các trung tâm huyện lị, thị tứ, thị trấn Mật độ máy đạt 20,8 máy/100 dân Cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm các cơ sở lưu trú, cơ sở phục vụ ăn uống, các cơ sở thể thao và vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển và các cơ sở phục vụ du lịch khác Đây là các yếu quan trọng có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của du lịch, quy định nên sản phẩm du lịch và hiệu quả kinh tế của du lịch Đó cũng là một trong những tiêu chí cho sự lựa chọn của du khách đến hay không đến các điểm du lịch

Cơ sở lưu trú bao gồm: khách sạn, nhà nghỉ, làng du lịch Cùng với sự tăng nhanh của hệ thống cơ sở lưu trú của toàn tỉnh Yên Bái Các cơ sở lưu trú, nhà hàng phục vụ nhu cầu khách du lịch ở khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái cũng không ngừng được nâng cấp, đầu tư

Trang 38

Bảng 2.1 Cơ sở vật chất phục vụ du lịch

tính

Số lượng

Nhà hàng

ăn uống

Cơ sở lưu trú

Công

ty du lịch

Khu

du lịch

(Nguồn số liệu: Sở VHTTDL Yên Bái – 2010)

Như vậy với 18 cơ sở phục vụ du lịch năm 2010 ngành dịch vụ du lịch

có 10 cơ sở lưu trú với gần 540 phòng với hơn 700 giường, tuy nhiên mới chỉ

có 03 nhà hàng đủ năng lực phục vụ nhu cầu ăn uống của khách Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của các huyện thị xã đến năm 2013 toàn khu vực có

13 cơ sở lưu trú với hơn 700 phòng và 900 giường, số cơ sở lưu trú được tăng lên ở thị xã Nghĩa Lộ và huyện Mù Cang Chải Tại các làng văn hóa, làng nghề

và khu du lịch sinh thái các điểm lưu trú tại đây đã được đầu tư để phục vụ nhu cầu du lịch cộng đồng của du khách….Ngoài ra, các cơ sở dịch vụ phục vụ du lịch của các thành phần kinh tế tư nhân ở khu vực rất đa dạng, phòng nghỉ, nhà hàng…đáp ứng đa dạng các đối tượng, riêng Nghĩa Lộ cơ sở lưu trú phục vụ du lịch lên tới 22 cơ sở, Văn Chấn có 10 cơ sở, Mù Cang Chải 5 cơ sở, Trạm Tấu

2 cơ sở Như vậy, đến nay toàn khu vực có 45 cơ sở lưu trú, 3 khách sạn, 4 nhà

khách và 38 nhà nghỉ tương ứng với 989 buống, 1920 phòng

Trang 39

Cơ sở phục vụ ăn uống ở khu vực khá phong phú, đa dạng gồm hệ thống nhà hàng, quán cà phê, quán giải khát…Nếu năm 2010 chỉ có 3 nhà hàng đủ đủ chất lượng, đến năm 2013 có 5 nhà hàng lớn trung bình có thể phục vụ 400 xuất ăn Ngoài ra còn có khoảng 40 cơ sở phục vụ ăn uống, đáp ứng tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch Các cơ sở dịch vụ ăn uống bên ngoài khách sạn tại các điểm du lịch đặc biệt tại các bản làng dân tộc cũng tương đối phát triển Ngoài

ra tại các huyện thị còn có các quán nhỏ phục vụ các món ăn bình dân

Tuy nhiên, các khu vui chơi giải trí trong khu vực để phục vụ mục đích

du lịch chưa phát triển do chưa được đầu tư đồng bộ Tại các khách sạn các loại hình giải trí được đầu tư hiện đại và đủ năng lực thỏa mãn nhu cầu tại chỗ của

du khách

2.1.3.Nguồn nhân lực

Cùng với sự phát triển du lịch một cách nhanh chóng, nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch nước ta hiện nay là một vấn đề cấp bách Và nó cũng là biểu hiện phần nào cho thấy sự phát triển của du lịch Việt Nam.Việc đào tạo nguồn nhân lực là một vấn đề vừa cấp thiết, vừa cơ bản nhằm tạo ra nguồn lực luôn có đủ tri thức, năng lực đáp ứng đòi hỏi sự phát triển

Yên Bái cùng với sự ra đời và hoạt động của ngành du lịch, việc đào tạo nhân lực cho ngành du lịch được chú ý từng bước Ngoài đội ngũ nhân lực được đào tạo tại các trường Đại học, trung học chuyên nghiệp của ngành du lịch, năm 2008 Bộ giáo dục và đào tạo đã quyết định nâng cấp trường trung cấp nghệ thuật Yên Bái thành trường Cao đẳng văn hóa và du lịch Yên Bái Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Yên Bái quyết tâm trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực các chuyên ngành về Quản lý văn hóa, Du lịch và dịch vụ du lịch, các loại hình nghệ thuật Căn cứ vào những dự báo nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực Văn hoá Nghệ thuật và Du lịch của tỉnh Yên Bái và khu vực đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 Trường Cao đẳng Văn hóa

Trang 40

Nghệ thuật và Du lịch chú trọng đào tạo nguồn nhân lực du lịch (cán bộ du lịch, nghề dịch vụ du lịch) ở trình độ Cao đẳng và Trung cấp cho các tỉnh Tây Bắc

Đặc biệt trong các khoa Du lịch tại các trường đào tạo cũng đã phân ra rất nhiều các chuyên ngành khác nhau Du lịch khách sạn, Du lịch và ăn uống, văn hoá Du lịch, Du lịch học…Với sự định hướng cụ thể như vậy đã phát huy được phần nào khả năng và tri thức của chuyên ngành đào tạo

Trong quá trình đào tạo, các cơ sở đào tạo cũng đều chú trọng đến việc đưa sinh viên đi thực tập, thực tế, tạo cho sinh viên tiếp xúc, cọ sát với các hoạt động du lịch đa dạng và ngày càng được chuẩn hoá Những hoạt động này được

tổ chức rất năng động, có sự kết hợp giữa các môn học, có sự bổ trợ lẫn nhau trong các môn học, giữa lý thuyết và thực hành Giúp sinh viên trưởng thành,

bổ khuyết những thiếu hụt từ lý thuyết trên giảng đường

Ngoài nguồn nhân lực này, ngành du lịch khu vực miền Tây với đặc trưng là vùng văn hóa dân tộc Mường Lò, phòng văn hóa thể thao du lịch các huyện thị

đã phát huy tiềm năng tại chỗ là các nghệ nhân cao tuổi, truyền dạy phong tục, các điệu xòe Đặc biệt hơn, trong quá trình phát triển Đề tài "Nghiên cứu, bảo tồn, lưu truyền 6 điệu xòe cổ của đồng bào dân tộc Thái vùng Nghĩa Lộ - Mường Lò", thông qua nghệ nhân Lò Văn Biến, thị xã Nghĩa Lộ đã làm rất tốt hai khái niệm "bảo tồn" và "lưu truyền" Cụ thể, thị xã đã xây dựng được một

hệ thống bài giảng bao gồm đĩa hình, tư liệu, cứ liệu, hiện vật về 6 điệu xòe cổ; sưu tầm được dàn nhạc cụ và bảo tồn được bản nhạc cổ phục vụ xòe cổ; thành lập được đội nghệ nhân nòng cốt bao gồm 8 thành viên là những người am hiểu

về xòe cổ và được truyền dạy chính thống từ nhà sưu tầm văn hóa dân tộc Thái

- Lò Văn Biến Từ đầu mối này, 48 đội xòe nòng cốt thuộc 6 lứa tuổi và thành phần gồm: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Người cao tuổi đã được thành lập, đào tạo và đi vào hoạt động Đến nay, tất cả 7 xã, phường của thị xã đều có đội văn nghệ, trong đó việc biểu diễn và

Ngày đăng: 01/11/2017, 10:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w