SKKN Rèn luyện kỹ năng văn nghị luận cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCSSKKN Rèn luyện kỹ năng văn nghị luận cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCSSKKN Rèn luyện kỹ năng văn nghị luận cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCSSKKN Rèn luyện kỹ năng văn nghị luận cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCSSKKN Rèn luyện kỹ năng văn nghị luận cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCSSKKN Rèn luyện kỹ năng văn nghị luận cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCSSKKN Rèn luyện kỹ năng văn nghị luận cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCSSKKN Rèn luyện kỹ năng văn nghị luận cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCSSKKN Rèn luyện kỹ năng văn nghị luận cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCSSKKN Rèn luyện kỹ năng văn nghị luận cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCSSKKN Rèn luyện kỹ năng văn nghị luận cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCSSKKN Rèn luyện kỹ năng văn nghị luận cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCSSKKN Rèn luyện kỹ năng văn nghị luận cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCS
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HUYỆN LỆ THỦY
TRƯỜNG THCS KIẾN GIANG
-* * * *
* -Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn luyện kỹ năng văn nghị luận
cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCS
NGƯỜI THỰC HIỆN : NGÔ MẬU TÌNH
Năm học : 2010-2011
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Văn bản nghị luận là một kiểu văn bản mà việc tạo lập là vô cùng khó đối vớihọc sinh THCS Nó không chỉ đòi hỏi phải có kiến thức chính xác sâu rộng, phongphú; những suy nghĩ, quan điểm đúng đắn về văn chương, về đời sống xã hội, mà đòihỏi cả sự tư duy lôgíc, chặt chẽ, với những cách lập luận sắc sảo, thấu tình đạt lí thìmới có thể hấp dẫn thuyết phục được người đọc người nghe
Dạng bài mà học sinh phải tạo lập thì nhiều, mỗi dạng lại có những yêu cầu cáchthức nghị luận khác nhau Nào là nghị luận văn chương, rồi nghị luận đời sống xã hội.Trong đó, riêng nghị luận văn chương lại có những dạng cụ thể hơn nữa, kiến thức lạiphức tạp hơn
Nghị luận văn chương gồm có nghị luận về một vấn đề văn học, một nhân vậtvăn học, một tác phẩm hay đoạn trích văn học…Đó là chưa kể nhân vật thì có nhiềukiểu, tác phẩm văn học thì có nhiều thể loại, với những đặc điểm không giống nhau
Do vậy, nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi có
tham vọng đề cập đến vấn đề rèn luyện kỹ năng làm bài văn nghị luận văn học cho
học sinh giỏi môn Ngữ văn THCS.
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng văn nghị luân văn học, góp phầnlàm tốt công tác bồi dưỡng học sinh giỏi cấp huyện
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Điều tra khảo sát thực tế nhằm tìm hiểu thực trạng học sinh học tập làm văn phầnnghị luận văn học lớp THCS
- Phân tích, tổng hợp và nghiên cứu lí luận để tìm hiểu cơ sở khoa học của đềtài
- Tổng kết kinh nghiệm dạy phân môn tập làm văn
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Thời gian: Bắt đầu từ năm học 2010-2011
- Đề tài đề cập đến một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng làm bài văn nghị luậnvăn học THCS
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN:
1 Cơ sở lý luận:
Trong nội dung chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 7- tập II, Ngữ văn 8- tập II
và Ngữ văn 9- tập II, có đưa ra những bài học về cách thức tạo lập văn bản nghị luận,nhưng chưa đầy đủ cụ thể hệ thống để đáp ứng được việc tạo lập các văn bản mà đề raquá phong phú, đa dạng Thời lượng dành cho việc học tập thực hành các dạng bàinghị luận cũng là quá ít ỏi, không đầy đủ ở tất cả các dạng, nhất là ở lớp 9
Lớp 7: Gồm 14 tiết, tìm hiểu chung về đặc điểm bài văn nghị luận, cách làm bài
văn lập luận chứng minh, cách làm bài văn lập luận giải thích ( không kể tiết làm bàikiểm tra)
Lớp 8: Gồm có 6 tiết, ôn tập về luận điểm và hướng dẫn cách sử dụng yếu tố
miêu tả, tự sự và biểu cảm vào bài văn nghị luận ( không kể tiết kiểm tra)
Lớp 9: Gồm có 14 tiết, hướng dẫn về về phép lập luận phân tích và tổng hợp,
cách làm bài nghị luận về sự việc hiện tượng đời sống; về một vấn đề tư tưởng đạo lí;
về một bài thơ đoạn thơ và về một tác phậm truyện hoặc đoạn trích
So lượng kiến thức bài học tập làm văn với lượng thời gian hướng dẫn học trênlớp cho học sinh lớp 9 như vậy là quá ít Mỗi dạng lớn chỉ được học chung chungtrong ba bốn tiết học
Do vậy, học sinh rất khó hình thành cho mình những kỹ năng nghị luận văn họccần thiết để đáp ứng với việc bồi dưỡng học sinh giỏi
2 Cơ sở thực tiễn:
- Sách giáo khoa không có những bài hướng dẫn cụ thể cho cách làm bài văn lậpluận như cảm nhận, phân tích, bình luận, chứng minh…hay cách làm các bài văn với
đề mở, đề có tính chất tổng hợp cho từng đối tượng nghị luận riêng Đặc biệt, không
có bài hướng dẫn cụ thể cách làm bài lập luận phân tích hay cảm nhận về từng đốitượng cụ thể như: về một nhân vật văn học, về toàn bộ tác phẩm (đoạn trích), về mộtphương diện yếu tố nội dung, nghệ thuật…của tác phẩm (đoạn trích); không có bàihọc hướng dẫn cách làm bài lập luận bình luận hay giải thích, chứng minh về một vấn
đề tư tưởng đạo lí, chỉ hướng dẫn chung theo phương pháp bình luận;…
- Có ba bài viết văn hoàn chỉnh, thì cũng chỉ có thể lựa chọn được ba dạng bài racho học sinh làm Nếu làm nghị luận về hiện tượng đời sống thì không làm nghị luận
về vấn đề tư tưởng đạo lí Còn khi làm nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích,bài thơ hoặc đoạn thơ thì chọn đối tượng này lại mất đối tượng kia (Đối tượng ở đây
là cả bài, cả đoạn hay chỉ một phượng diện khía cạnh nào đó)
Trang 4Nhưng đề thi khảo sát chất lượng văn hoá, đề tuyển sinh lớp 10, nhất là đề thihọc sinh giỏi Ngữ văn các cấp thì lại phong phú đa dạng hơn những gì các em đượctrang bị qua chương trình sách giáo khoa, đề ra lại còn ngày càng mới lạ, vì ai ra đềcũng không muốn lặp lại đề người khác ra rồi, năm trước làm rồi… Viết một bài nghịluận đã được học đã khó, viết một bài không được hướng dẫn cụ thể trong chươngtrình lại càng khó hơn
4 Học sinh hiện nay nói chung đa số không ham muốn học tập môn Ngữ văn,
nhất là ngại làm những bài văn Thời gian các em chủ yếu đầu tư cho việc các mônthuộc khoa học tự nhiên Có lẽ ngoài nguyên nhân khách quan từ xã hội, thì một phầncũng do làm văn quá khó, lại mất nhiều thời gian “Công thức” làm văn cho các emlại không được hình thành cụ thể Các em không phân biệt rõ các thao tác nghị luậnchính mà mình sử dụng Càng ngày, kĩ năng tạo lập văn bản của học sinh càng kémhơn, và rất hiếm có những bài văn nghị luận có được sức hấp dẫn, thuyết phục bởicách lập luận rõ ràng, chính xác, đầy đủ và chặt chẽ từng luận điểm luận cứ…Bài viếtcủa các em khi thì sai về yêu cầu thao tác nghị luận, khi lại không sát, không đúng vớinội dung nghị luận của đề bài Ví dụ, đề bài yêu cầu cảm nhận các em lại làm như mộtbài phân tích, thiếu cảm xúc, thái độ tình cảm; đề bài yêu cầu nghị luận về một nộidung của tác phẩm các em lại nghị luận về toàn bộ tác phẩm đó; các em không khôngphân biệt được viết như thế nào là bài bình giảng, viết như thế nào là bài phân tíchmột đoạn thơ bài thơ; hoặc khi nghị luận kết hợp giải quyết một ý kiến nào đó liênquan tới tác phẩm, các em lại quên mất việc giải quyết ý kiến đó (quên giải thích ýkiến, quên xoáy vào tác phẩm để làm rõ ý kiến) mà cứ sa vào nghị luận toàn bộ tácphẩm…
Nguyên nhân mấu chốt là học sinh thiếu kĩ năng hoặc còn non kém về kĩ nănglàm bài văn nghị luận
Vậy nên, việc nâng cao mở rộng, luyện tập thêm cho học sinh kĩ năng làm bàivăn nghị luận là rất cần thiết
II.KÜ n¨ng lµm c¸c d¹ng NGHỊ LUẬN VĂN HỌC:
* Kĩ năng làm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
1 Kĩ năng chung
- Đọc kĩ bài thơ, đoạn thơ để nắm được nội dung và nghệ thuật cơ bản
- Nắm được những thông tin xuất xứ: tác giả, hoàn cảnh ra đời bài thơ Đặc biệt
phải thấy được sự chi phối của phong cách nghệ thuật của tác giả và hoàn cảnh ra đờiđến giá trị bài thơ, đoạn thơ
- Nghị luận về bài thơ, đoạn thơ thường phải bám vào các đặc điểm riêng của thơ
ca nhất là đặc trưng về nghệ thuật để khai thác làm rõ nội dung nghị luận Đó là thể
Trang 5thơ, là hình ảnh, ngôn từ, giọng điệu, các biện pháp tu từ…Vì vậy, có thể đặt các câuhỏi sau để định hướng cho việc nghị luận
+ Nội dung chủ yếu của bài thơ, đoạn thơ là gì?
+ Có thể chia bố cục của bài thơ, đoạn thơ không?
+ Bài thơ, đoạn thơ sử dụng những từ ngữ nào hay, độc đáo? Giá trị biểu đạt là gì?+ Biện pháp tu từ nào được sử dụng có hiệu quả và hiệu quả như thế nào?
+ Trong bài thơ, đoạn thơ có những hình ảnh nào cần phân tích? Phân tích ra sao?+ Giọng điệu chủ đạo của bài thơ, đoạn thơ như thế nào?
+ Bài thơ, đoạn thơ gợi liên tưởng đến đoạn thơ, bài thơ nào?
+ …
- Tuỳ theo yêu cầu về thao tác nghị luận và đối tượng nghị luận cụ thể để có cách
khai thác, lập luận và diễn đạt phù hợp Khi làm bài có thể vận dụng phép so sánh đốichiếu với những câu thơ, đoạn thơ khác của tác giả hoặc của tác giả khác Nếu là đề
mở, cần vận dụng linh hoạt các thao tác nghị luận phù hợp, có hiệu quả, nhất là thaotác giảng bình
2 Kĩ năng làm bài nghị luận về một đoạn thơ
- Khi nghị luận cần đặt đoạn thơ trong mạch cảm xúc chung của toàn bài để có
những lí giải phù hợp
- Sau khi phân tích, bình giá những khía cạnh nội dung và nghệ thuật, cần đánh
giá vẻ đẹp riêng của đoạn thơ đó và vai trò vị trí của đoạn thơ đối với cả bài Thậmchí từ một đoạn thơ, cần bước đầu thấy được phong cách nghệ thuật của tác giả
- Dàn bài :
a Mở bài:
+ Giới thiệu khái quát về tác giả (chỉ nên giới thiệu vị trí văn học của tác giả,không đi sâu vào các phương diện khác)
+ Giới thiệu về bài thơ
+ Dẫn đoạn thơ cần nghị luận và nêu khái quát những ấn tượng chung về đoạnthơ đó ( hoặc nên khái quát nội dung đoạn thơ)
b.Thân bài: Tiến hành nghị luận về các yếu tố nghệ thuật, các phương diện nội
dung của đoạn thơ Chú ý làm nổi bật và nhấn mạnh hơn ở những đặc sắc về nội dung
và nghệ thuật Mức độ phân tích, đánh giá, nhận xét, và bày tỏ cảm xúc, tình cảm củamình về đoạn thơ cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu về thao tác nghị luận
cơ bản của từng đề ra
Trang 6c Kết bài: Đánh giá vai trò ý nghĩa của đoạn thơ trong việc thể hiện chủ đề tư
tưởng của toàn bài Nêu những cảm nghĩ, ấn tượng sâu đậm nhất về đoạn thơ.
3 Kĩ năng làm bài nghị luận về một bài thơ
Các đối tượng của đề bài nghị luận về một bài thơ là rất phong phú đa dạng Cóthể nghị luận về toàn bộ bài thơ, có thể nghị luận về một phương diện của bài thơ:một nhân vật trữ tình, một khía cạnh nội dung hay nghệ thuật tiêu biểu…Mỗi đốitượng ấy cũng có một số kĩ năng riêng Cụ thể:
Dạng 1: Nghị luận về toàn bộ bài thơ
- Cần phát hiện mạch cảm xúc của bài thơ và mạch cảm xúc ấy chi phối bố cục
bài thơ như thế nào? Nắm vững nội dung từng phần, từng đoạn một cách cụ thể
- Vì là nghị luận cả bài nên ở nhiều câu, nhiều đoạn không bắt buộc phải khai
thác kĩ như nghị luận về một đoạn Người viết cần biết lướt qua, tóm lược ở nhữngđoạn, những câu không góp phần nhiều vào việc thể hiện giá trị của bài thơ
- Cần thấy được vị trí của bài thơ đối với sự nghiệp của tác giả, cũng như của cả
một giai đoạn văn học, một thời kì văn học, thậm chí là cả của nền văn học dân tộc
- Có những bài thơ, nhất là những bài thơ dài, người viết có thể trình bày cách
cảm, cách hiểu của mình theo chiều dọc ( về từng phương diện nội dung của bài) Khikhai thác từng phương diện cũng yêu cầu khai thác cả những tín hiệu nghệ thuật đặcsắc góp phần diễn đạt nội dung ấy
- Dàn bài chung:
a Mở bài
+ Giới thiệu khái quát về tác giả ( vị trí văn học, phong cách nghệ thuật của tácgiả mà không đi sâu vào những phương diện khác)
+ Giới thiệu bài thơ, nội dung bao trùm bài thơ
+ Bước đầu đánh giá về bài thơ đó (tuỳ theo đề bài và nội dung cụ thể của bài thơ
mà đưa ra những đánh giá, nêu ấn tượng cho phù hợp…)
b.Thân bài
+ Có thể nêu sơ qua hoàn cảnh ra đời của bài thơ
+ Tiến hành thuyết minh, phân tích, bình giảng, nêu cảm xúc về lần lượt từngkhổ thơ đoạn thơ (theo bố cục) các phương diện cụ thể của bài thơ Chú ý, làm nổi bậtđược những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật Trong khi trình bày, có thể liên hệ sosánh với những bài thơ, đoạn thơ, câu thơ khác để ý được nổi bật, thuyết phục
c.Kết bài:
Trang 7+ Đánh giá vai trò vị trí của bài thơ đối với sự nghiệp văn học của tác giả, đối vớivăn học dân tộc nói chung
+ Khẳng định lại những cảm xúc, những suy nghĩ tâm đắc nhất về bài thơ
Ví dụ: Cảm nhận về bài thơ “ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của Nguyễn Khoa Điềm.
1 Mở bài: Giới thiệu bài thơ và nêu những ấn tượng chung về bài thơ
2 Thân bài:
- Cảm nhận chung về hình thức kết cấu bố cục của bài thơ: chia ba đoạn, với ba khúc ru,
ba khúc ru có sự đan xen lời ru của tác giả và lời ru của người mẹ dành cho em bé Ba khúc
ru được lặp lại những câu đầu, được sắp xếp theo trình tự tăng tiến, với sự mở rộng về không gian, về tính chất công việc người mẹ làm, đặc biệt về sự nâng cao phát triển trong tình cảm, ước mơ của người mẹ…Nhờ thế vẻ đẹp của hình tượng người mẹ cũng như tình cảm của tác giả dành cho mẹ cũng được nhấn mạnh, tô đậm hơn lên.
- Lần lượt cảm nhận cụ thể:
+ Vẻ đẹp của người mẹ Tà Ôi: một người phụ nữ giàu tình yêu thương, giàu ước mơ và giàu nghị lực… Đó là vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong cuộc sống lao động và chiến đấu, vẻ đẹp của những người mẹ anh hùng.
+ Tình cảm thái độ của tác giả dành cho mẹ: sự thấu hiểu, cảm thương, niềm trân trọng, khâm phục, ngợi ca tự hào…
* Lưu ý: Có thể theo một trong hai cách: Cảm nhận từng khúc ru hoặc cảm nhận về hình tượng thơ: Người mẹ và tình cảm tác giả…Ở đây hướng dẫn theo cách thứ hai, cảm nhận về hình tượng thơ Khi trình bày phải biết dừng lại ở những câu thơ, từ ngữ đặc sắc để cảm nhận sâu kĩ hơn, làm xoáy trọng tâm…)
3 Kết bài: Khẳng định giá trị của bài thơ về cả nội dung và nghệ thuật; nâng cao, mở rộng.
Dạng 2: Nghị luận về một phương diện của bài thơ
-Vì chỉ cảm nhận về một phương diện nội dung hay nghệ thuật của bài thơ, nên
khi làm bài tránh phân tích, cảm nhận cả bài Và như vậy không thể khai thác theo bốcục bài thơ được
- Nếu nghị luận về một phương diện nội dung bài thơ thì người viết phải biếtchọn những biểu hiện như hình ảnh, câu từ nào trong bài thơ liên quan đến phươngdiện cần nghị luận để phân tích, chứng minh
- Nếu nghị luận về phương diện nghệ thuật thì phải phát hiện và phân tích tất cảnhững yếu tố nghệ thuật tiêu biểu Sau đó phải tìm hiểu xem vẻ đẹp nghệ thuật ấy thểhiện tập trung nhất ở những yếu tố nào như hình ảnh thơ, nhạc điệu, từ ngữ, các biện
Trang 8pháp tu từ… Nhưng không phải chỉ đơn thuần là nghị luận về nghệ thuật mà điều cầnthiết, quan trọng ở dạng bài này là người viết phải biết phân tích đánh giá được nhữngnghệ thuật ấy nhắm biểu đạt nội dung, tư tưởng nào mà tác giả gửi gắm Nếu khôngnghệ thuật có hay có đặc sắc đến mấy cũng thành vô nghĩa.
- Sau khi làm xong phải biết đánh giá giá trị, vai trò của phương diện nội dunghay nghệ thuật vừa nghị luận đối với giá trị của toàn bài thơ
- Dàn bài :
Mở bài: Giới thiệu bài thơ và phương diện nội dung hay nghệ thuật mà đề bài
yêu cầu nghị luận Đồng thời nêu ấn tượng chung về giá trị của phương diện đó trongtoàn bài thơ
Thân bài: Bám vào bài thơ để tìm các hình ảnh, câu từ liên quan đến vấn đề
nghị luận để khai thác trình bày
Kết bài: Khẳng định giá trị chung của cả bài thơ nói chung và của nội dung vừa
nghị luận nói riêng Có thể liên hệ mở rộng
Dạng 3: Nghị luận về nhân vật trữ tình trong bài thơ
- Nhân vật trữ tình ở đây là người bày tỏ thể hiện cảm xúc, chứ không phải là
nhân vật là đối tượng trữ tình trong bài thơ Vậy nên, nghị luận về nhân vật này lànghị luận về diễn biến tâm trạng, tình cảm cảm xúc của nhân vật thể hiện trong bàithơ Có nhân vật trữ tình trực tiếp ( thường là tác giả, tự xưng) và nhân vật trữ tìnhnhập vai ( nhập vai vào một nhân vật khác, nhưng đằng sau đó vẫn là tâm tư tình cảmcủa tác giả gửi gắm thể hiện)
- Tâm trạng cảm xúc của nhân vật trữ tình luôn có sự vận động, phát triển thay
đổi Muốn nắm bắt được điều này, thường chúng ta nên phân chia bài thơ ra từngphần đoạn tương ứng với tính chất, đặc điểm và ý nghĩa của tâm trạng được thể hiệntrong đó
- Lần theo mạch cảm xúc đó để phân tích, trình bày những suy nghĩ, nhận xét của
mình.Khi trình bày cần cùng lúc phải chú ý hai điểm: Một là các tín hiệu nghệ thuậttiêu biểu ( chi tiết, hình ảnh, cách ngắt nhịp, cách dùng từ, biện pháp tu từ… ) Hai là,tâm tư tình cảm mà tác giả thể hiện qua những tín hiệu nghệ thuật đó
- Sau khi phân tích cần tổng hợp, khái quát nâng cao theo cách định danh, gọi têncho tâm trạng, cảm xúc, tình cảm
- Có thể liên hệ tới tâm trạng của những nhân vật khác tương đồng hoặc tươngphản để bài viết sâu sắc hơn
- Nên có những lời bình, bày tỏ thái độ nhận xét của mình về nhân vật để bài viết
có dấu ấn riêng
Trang 9Tóm lại, có thể đặt ra và trả lời những câu hỏi sau:
+ Nhân vật trữ tình trong bài thơ thuộc kiểu nhân vật nào?
+ Bài thơ có thể chia những phần đoạn như thế nào? Mỗi phần đoạn ấy thể hiện tâmtrạng cảm xúc gì của nhân vật? Những tín hiệu nghệ thuật nào góp phần diễn tả tâmtrạng, cảm xúc ấy?Tình cảm cảm xúc của nhân vật đó gợi liên tưởng đến nhân vật nào?+ Tâm trạng cảm xúc của nhân vật trữ tình có thể là tiểu biểu cho thế hệ, tầng lớpnào không?
- Dàn bài chung
a Mở bài
+ Dẫn dắt giới thiệu nhân vật
+ Nêu ấn tượng chúng về nhân vật đó
b.Thân bài: Lần lượt nghị luận về các biểu hiện, các sắc thái cảm xúc tâm trạng,
tình cảm của nhân vật thể hiện trong bài thơ dựa theo mạch cảm xúc của bài Mỗi biểuhiện nên trình bày thành một đoạn riêng, có liên kết để sau đó nâng cao, đánh giá về
tư tưởng, tình cảm của nhân vật
c.Kết bài:
Đặt trong hoàn cảnh ra đời của bài thơ để khẳng định lại tâm trạng, cảm xúc củanhân vật và đánh giá về vai trò ý nghĩa của việc thể hiện những tâm trạng ấy trong giátrị chung của toàn bộ bài thơ
- Giới thiệu bài thơ “ Mùa xuân nho nhỏ” của nhà thơ Thanh Hải
- Nhấn mạnh: đọc bài thơ, ta xúc động, trân trọng biết bao trước những cảm xúc, tình cảm chân thành mà thi nhân gửi gắm thể hiện.
b Thân bài: Lần lượt trình bày các luận điểm nhỏ sau
- Trước hết đó là niềm say mê, ngây ngất, là tình yêu thiết tha của Thanh Hải trước vẻ đẹp của mùa xuân thiên nhiên, đất trời ( phân tích tín hiệu nghệ thuật làm rõ)
- Không chỉ vậy nhà thơ còn hết sức tự hào, hạnh phúc, sướng vui trước mùa xuân của đất nước, trước sức trỗi dậy vươn lên, sự phát triển mạnh mẽ của dân tộc ta trong thời kì đổi mới.( phân tích dẫn chứng)
Trang 10- Càng yêu mến, tự hào về quê hương đất nước, nhà thơ càng thiết tha, khao khát được cống hiến, đóng góp một phần nhỏ bé của mình- một mùa xuân nho nhỏ, mong muốn nhắn nhủ mọi thế hệ chúng ta hãy chung tay vào góp sức xây dựng đất nước để cho mùa xuân đất nước
sẽ càng tươi đẹp hơn ( phân tích dẫn chứng)
- Cả bài thơ là một khúc ca xuân, một khúc ca tự hào, ngợi ca đất nước quê hương ( phân tích kĩ hơn ở khổ cuối) của nhà thơ, của những con người yêu đất nước thiết tha.
c Kết bài:
- Khẳng định: Tình yêu thiên nhiên, đất nước với những cảm xúc chân thành thiết tha của Thanh Hải chính là một nội dung cơ bản làm nên giá trị, sức sống lâu bền của bài thơ.
- Cảm nghĩ, rút ra bài học cho bản thân, cho thế hệ trẻ về lí tưởng sống, cống hiến…
II.2 Kĩ năng làm bài nghị luận về một tác phẩm truyện(đoạn trích)
1 Kĩ năng chung
- Đối với một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, khi nghị luận ta cần chú ý khai
thác những yếu tố hình thức như nghệ thuật xây dựng cốt truyện, tình huống truyện,nghệ thuật miêu tả xây dựng nhân vật ( thông qua ngoại hình, cử chỉ, hành động, lờinói, nội tâm…), việc sáng tạo những chi tiết, những hình ảnh giàu ý nghĩa, hay việc
sử dụng các biện pháp tu từ…Từ đó làm toát lên giá trị nội dung của tác phẩm ( nộidung hiện thực, nội dung tư tưởng)
- Cần đọc kĩ tác phẩm hoặc đoạn trích để khái quát được giá trị nội dung và nghệ
thuật cơ bản Biết tóm tắt đầy đủ các sự việc, nội dung chính mà tác phẩm( đoạn trích) kểlại, biết hệ thống các nhân vật và mỗi nhân vật ấy thuộc kiểu loại nhân vật nào Đồngthời ghi nhớ, thuộc lòng những chi tiết, hình ảnh tiêu biểu viết về nhân vật, sự việc…
- Tìm hiểu thêm những thông tin về tác giả và hoàn cảnh ra đời tác phẩm để hỗ
trợ cho việc nghị luận được sâu sát
- Nghị luận về một tác phẩm văn xuôi thường có đối tượng yêu cầu là:
+ Nghị luận về đặc điểm phong cách của tác giả qua tác phẩm
Mỗi đối tượng nghị luận như thế cần vận dụng phương pháp làm bài phù hợp,tránh sai lạc, thiếu sót
Trang 11Dạng 1: Nghị luận về toàn bộ tác phẩm ( hoặc đoạn trích)
- Vì là nghị luận về toàn bộ tác phẩm nên cần chú ý nghị luận đầy đủ trên cả hai
phương diện: giá trị nội dung và nghệ thuật ( như đã trình bày trên) Thường thì trướckhi nghị luận, cần tóm tắt tác phẩm hoặc đoạn trích, rồi nghị luận về giá trị nội dung,nghệ thuật
+ Mỗi tác phẩm phản ánh và thể hiện một nội dung riêng, nên cần nhận ra nộidung hiện thực của tác phẩm là gì để nghị luận về bức tranh hiện thực đó thông quaviệc cảm nhận phân tích về các nhân vật, sự việc, các chi tiết liên quan Có thể trìnhbày thành những đoạn riêng biệt đối với từng biểu hiện của giá trị hiện thực ( Hiệnthực đời sống, số phận con người, hay hiện thực bức tranh xã hội đất nước…).Từ nộidung hiện thực, chuyển qua nghị luận về giá trị nội dung tư tưởng (tư tưởng nhân đạo,
tư tưởng yêu nước, những triết lí suy ngẫm của tác giả thể hiện qua tác phẩm, sứcsống mãnh liệt của con người…)
+ Cần khái quát được những nét nghệ thuật thành công của tác phẩm, chọn vàphân tích chứng minh một số nét nghệ thuật tiêu biểu nhất như nghệ thuật xây dựngnhân vật, tạo tình huống… (có dẫn chứng)
Trình tự trình bày giữa các các ý, các đoạn là do người viết lựa chọn sao cho phù hợp, dễ lập luận…
- Đánh giá khái quát được giá trị, vị trí của tác phẩm trong sự nghiệp sáng tác của
tác giả và sự đóng góp của tác giả vào nền văn học nước nhà
- Trong qua trình nghị luận có thể dùng phương pháp so sánh với những tác
phẩm tác giả khác để bài viết sâu sắc hơn
- Dàn bài chung:
a Mở bài:
+ Giới thiệu về tác phẩm, đoạn trích ( xuất xứ, giá trị)
+ Nêu ấn tương chung về tác phẩm, đoạn trích
b Thân bài: Nên lần lượt trình bày các ý cơ bản sau
+ Tóm tắt thật ngắn gọn nội dung hoặc cốt truyện của tác phẩm đề làm nền choviệc nghị luận về giá trị nội dung và nghệ thuật tác phẩm
+ Nghị luận về giá trị nội dung (thường tiến hành trước): Mỗi nội dung trình bàymột đoạn, có phân tích nhân vật, sự việc để làm rõ
+ Nghị luận về nghệ thuật: Chỉ cần trình bày một đoạn, tập trung phân tích kĩ ở nétnghệ thuật thành công nhất, còn những nghệ thuật khác có thể chỉ cần liệt kê ra mà thôi