1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

SKKN Rèn luyện kỹ năng giải bài tập nâng cao phần dung dịch – BDHSG Hóa 9

10 368 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 320,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Rèn luyện kỹ năng giải bài tập nâng cao phần dung dịch – BDHSG Hóa 9SKKN Rèn luyện kỹ năng giải bài tập nâng cao phần dung dịch – BDHSG Hóa 9SKKN Rèn luyện kỹ năng giải bài tập nâng cao phần dung dịch – BDHSG Hóa 9SKKN Rèn luyện kỹ năng giải bài tập nâng cao phần dung dịch – BDHSG Hóa 9SKKN Rèn luyện kỹ năng giải bài tập nâng cao phần dung dịch – BDHSG Hóa 9SKKN Rèn luyện kỹ năng giải bài tập nâng cao phần dung dịch – BDHSG Hóa 9SKKN Rèn luyện kỹ năng giải bài tập nâng cao phần dung dịch – BDHSG Hóa 9SKKN Rèn luyện kỹ năng giải bài tập nâng cao phần dung dịch – BDHSG Hóa 9SKKN Rèn luyện kỹ năng giải bài tập nâng cao phần dung dịch – BDHSG Hóa 9SKKN Rèn luyện kỹ năng giải bài tập nâng cao phần dung dịch – BDHSG Hóa 9SKKN Rèn luyện kỹ năng giải bài tập nâng cao phần dung dịch – BDHSG Hóa 9SKKN Rèn luyện kỹ năng giải bài tập nâng cao phần dung dịch – BDHSG Hóa 9SKKN Rèn luyện kỹ năng giải bài tập nâng cao phần dung dịch – BDHSG Hóa 9SKKN Rèn luyện kỹ năng giải bài tập nâng cao phần dung dịch – BDHSG Hóa 9

Trang 1

a më ®Çu

Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay của đất nước nhằm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, hội nhập với thế giới thì việc nâng cao chất lượng giáo dục là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của mỗi nhà trường nói chung và của mỗi giáo viên nói riêng, nó xuyên suốt quá trình dạy học và là việc làm thường xuyên không thể một sớm một chiều

Trong những năm lại đây, Bộ Giáo dục - Đào tạo cũng như các đơn vị giáo dục địa phương và gần gủi nhất là các đơn vị trường học đã ráo riết tìm các biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại trà cho học sinh.Tuy nhiên, một mảng chất lượng có vai trò không kém phần quan trọng trong nhà trường đó chính là hoạt động mũi nhọn của chất lượng học sinh giỏi

Trong 3 năm trở lại đây, chất lượng giáo dục học sinh giỏi cấp tỉnh của Phòng Giáo dục – Đào tạo Lệ Thủy có những bước nhảy vọt đáng kể, đặc biệt là môn Hóa học, điều đó càng thôi thúc tôi suy nghĩ rồi tìm tòi ra những dạng toán hóa quan trọng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9

Môn Hoá học là môn học mới mẻ được học sinh bắt đầu làm quen từ năm học lớp

8 Có thể nói, đây là môn học khó nhưng không kém phần thú vị Học sinh giỏi môn Hóa học 9 cấp huyện được tập trung bồi dưỡng từ những ngày đầu tháng tư của năm học trước để ôn luyện và tham dự kì thi HSG cấp tỉnh Năm học 2011-2012 tôi có may mắn được tiếp xúc và trực tiếp giảng dạy các em trong khoảng thời gian khá dài và tôi cảm nhận các em còn lúng túng nhiều trong dạng bài tập nâng cao phần dung dịch Vậy, làm thế nào để giúp các em thành thạo trong vấn đề này, tạo cho các em hứng thú mãnh liệt vào môn học, kích thích các em sự say mê nghiên cứu, tìm tòi và học tốt những dạng bài tiếp theo để làm thế nào đó ta có thể đạt được và vượt chỉ tiêu chất lượng mũi nhọn học sinh giỏi đã đặt ra Vì thế tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và áp dụng sáng kiến: “Rèn luyện kĩ năng giải bài tập nâng cao phần dung dịch nhằm nâng cao chất lượng học sinh giỏi bộ môn”

Trang 2

b néi dung:

1 Cơ sở lí luận:

Cùng với sự đổi mới phát triển của đất nước- Nền giáo dục của Việt Nam có những biến đổi sâu sắc về mục tiêu, nội dung sách GK và cả phương pháp giáo dục, một trong những đổi mới cơ bản hiện nay là đổi mới mục tiêu dạy học ở trường phổ thông THCS

Định hướng được thể chế hóa trong luật giáo dục điều 24.2: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực tự giác chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học môn học; Bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rèn lụyên kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh"

Vì vậy việc làm tốt nhiêm vụ ở trường phổ thông là nâng cao chất lượng dạy học trong đó có chất lượng mũi nhọn - BDHSG các môn văn hoá ở trường PTCS trước hết cần tạo nền móng vững chắc cho việc tiếp tục học ở bậc cao hơn, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực,đào tạo nhân tài cho CNH - HĐH đất nước

2 Cơ sở thực tiễn:

Chất lượng dạy học ở trường PTCS xuất phát từ nhu cầu của công cuộc đổi mới đất nước đang diễn ra hiện nay

Đất nước muốn có những con người năng động sáng tạo với một trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao hay không là do sự quyết định của đội ngủ giáo viên ở các trường phổ thông quýêt định một phần lớn Tuy nhiên, một thực tế cho thấy rằng, một đội ngủ không ít giáo viên khi đảm nhiệm vai trò BDHSG cho nhà trường thường được chăng hay chớ, không chủ động trong kế hoạch, không lựa chọn, sắp xếp và thâm nhập nội dung một cách chu đáo để tổ chức cho học sinh học tập có hiệu quả Điều đó đã vô tình

bỏ sót đi một lượng lớn đội ngủ học sinh có năng lực mà đáng lẻ các em chính là mầm móng trí tuệ cho tương lai đất nước

Tháng 10 năm học 2011- 2012, tôi được giao nhiệm vụ dẫn dắt đội tuyển học sinh giỏi Hóa 9 cấp huyện tham dự kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh, trong quá trình giảng dạy các em, tôi nhận thấy, kĩ năng giải bài tập nâng cao phần dung dịch còn lúng túng nhiều

Khi tiến hành kiểm tra 10 em trong đội dự tuyển BDHSG về kỉ năng giải bài tập nâng cao phần dung dịch , tôi nhận thâý các em còn quá yếu, kết quả cụ thể trên 10 em

dự kiến nằm trong đội tuyển chính thức như sau:

Điểm

Trang 3

Trong các dạng bài cho bồi dưỡng học sinh giỏi Hoá 9, tôi nhận thấy, dạng bài tập nâng cao phần dung dịch cho HS là một dạng đáng lưu ý, chúng có thể không khó lắm nhưng rất đa dạng và có nhiều điểm mấu chốt mà nếu như không có sự hướng dẫn của giáo viên thì rất có thể các em sẽ không thành công đựợc khi gặp phải

Vậy, làm thế nào để các học sinh tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi được làm quen với nhiều dạng bài tập nâng cao phần dung dịch với cách làm dễ hiểu, quen thuộc và thao tác một cách nhuần nhuyển Giải quyết vấn đề này một cách hiệu quả sẽ giúp các

em làm tốt dạng bài tập này, xây dựng cho các em niềm yêu thích môn học, kích thích các em say mê tìm hiểu, có hứng thú mãnh liệt nào môn học nhằm học tốt hơn bộ môn Hoá học, đem lại chất lượng cao trong công tác mũi nhọn của nhà trường, tạo nhân tố

cơ bản cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi của bậc cao hơn Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi thấy đây là hướng dạy đúng đắn và hữu ích

3 Giải pháp:

Qua thời gian trực tiếp bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn Hoá học 9 của huyện tôi đã áp dụng đề tài vào giảng dạy và tôi nhận thấy, để thực hiện tốt đề tài này, giáo viên cần áp dụng một số biện pháp sau:

* Tìm tòi, phát hiện các dạng bài của loại bài tập nâng cao phần dung dịch phù hợp với đối tượng bổi dưỡng học sinh giỏi Hóa 9

Thật vậy, để có cách nhìn tổng quát về loại bài này, giáo viên phải chịu khó đầu

tư trí tuệ, thời gian để tìm tòi, phát hiện ra các bài tập và xếp chúng vào các nhóm cùng dạng theo thứ tự từ đơn giản đến phức tạp, tuyệt đối không nên bỏ qua các dạng cơ bản

vì rất có thể nếu chưa được làm quen chắc chắn học sinh sẽ lúng túng khi gặp phải

* Đưa ra định huớng làm bài phù hợp đối với từng dạng bài

Sau khi có các dạng bài cơ bản, giáo viên nhận xét, phân tích từng dạng bài và đưa ra cách giải phù hợp Nếu càng có nhiều cách giải cho một dạng bài càng tốt Tuy nhiên, giáo viên phải có chọn lọc và nên đưa ra cách giải đơn giản nhất , tránh phức tạp hoá vấn đề và làm cho học sinh thêm rối rắm

* Giảng bài và hướng dẫn cho học sinh làm bài

Có người cho rằng, giảng bài chỉ áp dụng cho việc học của đại trà học sinh còn học sinh giỏi chỉ nên đưa ra các dạng cho các em làm nhưng tôi thì cho rằng không nên xem nhẹ việc giảng giải cho học sinh giỏi Khi đưa ra một dạng bài tập, giáo viên phải vấn đáp học sinh từ những điều cơ bản nhất để tạo nên cơ sở làm bài cho các em Gv không nên tự đưa ra cách làm bài tổng quát rồi yêu cầu học sinh đọc thuộc và làm theo

mà tất cả các bước làm giáo viên phải cùng học sinh xây dựng nên, cách làm bài phải xuất phát từ kiến thức, suy luận của học sinh để học sinh tinh tưởng vào cách làm bài

và dễ ghi nhớ

Sau khi đã xây dựng cách làm, Gv cần cho học sinh làm bài tập áp dụng ngay Khi đã

có đầy đủ các dạng bài, mỗi lần học sinh tiếp cận với loại bài tập này giáo viên yêu cầu

Trang 4

Dạng bài tập về dung dịch có rất nhiều, mỗi dạng đều có một cách làm riêng nhưng nói chung là khá rắc rối Sau đây tôi xin tổng hợp và giới thiệu 2 dạng bài quan trọng trong phần bài tập nâng cao phần dung dịch phục vụ cho công tác BDHSG Hóa 9: Dạng bài tập oleum và dạng bài tập liên quan tới tinh thể ngậm nước.

A Dạng bài tập liên quan tới oleum.

Có thể nói, ngay cả khi gặp cụm từ này các em cũng đã bỡ ngỡ, còn khi đã đi sâu rồi các em vẫn rất khó hiểu khái niệm này Và một điều quan trọng: khi lí thuyết chưa thông thì chắc chắn phần kỉ năng áp dụng bài tập dạng này ngay cả các bài đơn giản các em sẽ lúng túng vô cùng Theo tôi, trong trường hợp này, GV phải giải thích cho các em hiểu “oleum” là gì, và khi các em đã hiểu một cách chủ động thì giáo viên mới tổng hợp và hướng dẫn cho các em những bài tập liên quan tới hỗn hợp này

Oleum là gì?

SO3 có khả năng tan trong H2SO4, phản ứng như sau: nSO3 + H2SO4 -> H2SO4 nSO3

Vậy, oleum là gì? oleum là hỗn hợp của axit sunfuric đậm đặc với SO3 và có công thức

H2HO4 nSO3

+ Các dạng bài tập liên quan tới oleum:

Bài tập 1: Hoà tan 6,76g oleum (H2SO4.nSO3) vào nước thành 200ml dung dịch

H2SO4 Biết 10ml dung dịch này trung hoà vừa hết 16ml NaOH 0,5M.

1 Tính n.

2 Tính hàm lượng % của SO3 có trong oleum trên

(Kì thi chọn HSG tỉnh Quảng Bình năm học 2003 –

2004)

Hướng dẫn giải:

- GV phải hướng dẫn được cho học sinh viết được phương trình hóa học khi cho oleum vào nước, sản phẩm của phản ứng là gì?

- Muốn tìm được n ta cần tìm được tỉ lệ nSO3/nH2SO4 để biết được tương ứng một phân tử H2SO4 có bao nhiêu phân tử SO3, đó chính là n

Giải:

1 H2SO4.nSO3 + nH2O = (1+n) H2SO4

H2SO4 + 2NaOH = Na2SO4 + 2H2O

CM của H2SO4 = 0,5.16/10.1/2 = 0,4M

Số mol H2SO4 do 6,76g oleum tạo thành = 0.4.0,2 = 0,08 → để tạo 1 mol H2SO4 cần 6,76/0,08 = 84,5g

Gọi số mol SO3 trong 84,5g ole um là x thì H2SO4 là (1-x), ta có phương trình

98.(1-x) + 80x = 84,5 → x = 0,75 → trong oleum số mol SO3/H2SO4 = 0,75/0,25 = 3

n = 3

2 Hàm lượng % của SO3 trong oleum trên = 240/338 ≈= 71(%)

Bài tập 2: Cho 13,44 lit SO3 (đktc) hấp thụ hết vào 90g dung dịch H2SO4 98% thu được oleum có công thức H2SO4.nSO3

Trang 5

a) Xác định công thức oleum.

b) Nêu cách pha chế 2 lit dung dịch H2SO4 0,5M từ nước và oleum có công thức trên

(Tuyển sinh vào lớp 10 chuyên Quảng Bình năm học 2004 –

2005)

Hướng dẫn giải:

- Muốn xác định được công thức của oleum ta phải tìm được tỉ lệ nSO3/nH2SO4 để biết được tương ứng một phân tử H2SO4 có bao nhiêu phân tử SO3, đó chính là n

Tuy nhiên đối với dạng bài này, có điểm khó ở chỗ, số mol của SO3 đã dễ tìm nhưng số mol H2SO4 nếu học sinh không phát hiện được thì sẽ dẫn đến sai bởi, ngoài số mol của

H2SO4 trong dung dịch ban đầu rồi còn có một lượng do SO3 phản ứng với nước, cộng hai số mol này lại mới được tổng số mol H2SO4, khi đó ta mới tìm được công thức của oleum

- Ở câu b, muốn pha chế dd H2SO4 từ oleum thì phải viết được phương trình oleum phản ứng với nước và điều quan trọng phải tìm được tỉ lệ mol trong phương trình

Với cách hướng dẫn trên, ta tiến hành giải như sau:

a) Xác định công thức oleum

Trong 90g dung dịch H2SO4 98% có số mol H2SO4 = 90.98% /98 = 0,9 mol

Số mol H2O = 90.2% / 18 = 0,1 mol Số mol SO3 = 13,44/22,4 = 0,6 mol

H2O + SO3 = H2SO4

Tổng H2SO4 = 1mol; SO3 = 0,5 mol  n = 0,5

b) Nêu cách pha chế 2 lit dung dịch H2SO4 0,5M

+ tính lượng axit cần dùng = 2.0,5 = 1 mol )

+ tính lượng oleum cần dùng = 92g

H2SO4 0,5 SO3 + 0,5 H2O = 1,5H2SO4

+ Pha chế: cho lượng oleum đã tính ở trên vào bình định mức có sẵn nước (khoảng 1,5 đến 1,8 lit) để pha loãng rồi chế từ từ nước vào bình cho đến vạch 2 lit

Bài tập 3: Một loại oleum X trong đó SO3 chiếm 71% theo khối lượng Lấy 8,45 gam

X hoà tan vào 20 gam dung dịch H2SO4 10%, thu được dung dịch Y

a) Xác định công thức oleum X và viết phương trình phản ứng

b) Hãy tính nồng độ phần trăm của dung dịch Y

(Kì thi chọn học sinh giỏi Tỉnh Quảng Bình năm học 2010 – 2011)

Hướng dẫn làm bài:

- Dựa vào phần trăm về khối lượng của SO3 ta tìm được công thức của oleum

- Một điều lưu ý để làm được câu b là phải xác định được khi hòa tan oleum vào dung dịch H SO thì oleum sẽ tác dụng với nước tạo thành H SO Vậy, dung dịch sau phản

Trang 6

Với cách hướng dẫn trên, ta tiến hành giải như sau:

a) Đặt công thức oleum là H2SO4.nSO3 , ta có:

%SO3 = 100 71

80 98

+ n

n ⇒ n = 3; Công thức oleum H2SO4 .3SO3

H2SO4.3SO3 + 3H2O → 4H2SO4

8,45 gam 9,8 gam

b) Tổng khối lượng H2SO4 là: 9,8 +

100

10 20

= 11,8 gam Nồng độ phần trăm dung dịch H2SO4 : 100 41 , 48 %

20 45 , 8

8 , 11

= +

B Dạng bài tập liên quan đến tinh thể ngậm nước:

* Dạng bài tập này có một số dạng cơ bản như sau:

+ Loại 1: Bài toán tính khối lượng chất tan trong tinh thể ngậm nước và thành phần

phần trăm khối lượng nước kết tinh trong tinh thể ngậm nước

a): Tính khối lượng chất tan trong tinh thể ngậm nước:

- Dựa vào công thức tinh thể ngậm nước, tính khối lượng mol tinh thể và khối lượng chất tan (muối khan) có trong 1mol tinh thể

- Dựa vào khối lượng tinh thể ngậm nước để tính khối lượng chất tan trong lượng tinh thể ngậm nước này

b): Tính thành phần phần trăm nước kết tinh trong tinh thể ngậm nước:

- Tính khối lượng nước kết tinh có trong 1 mol tinh thể ngậm nước

- Tính % về khối lượng theo công thức cho sẵn

+ Loại 2: Bài toán tính khối lượng tinh thể ngậm nước cần thêm vào dung dịch cho

sẵn:

Loại toán này thường lấy tinh thể và dung dịch cho sẵn cùng loại chất tan như thêm CuSO4 5H2O vào dung dịch CuSO4; thêm CaCl2 4H2O vào dung dịch CaCl2

Khi làm dạng toán này cần lưu ý:

- Dùng định luật bảo toàn khối lượng để tính khối lượng dung dịch tạo thành: Khối lượng dung dịch tạo thành = khối lượng tinh thể + khối lượng dung dịch cho sẵn

- Khối lượng chất tan trong dung dịch tạo thành = khối lượng chất tan trong tinh thể+ khối lượng chất tan trong dung dịch cho sẵn

- Trong trường hợp này có thể áp dụng sơ đồ chéo để giải

+ Loại 3: Bài toán tính lượng chất tan tách ra hay cần thêm vào khi thay đổi nhiệt độ

dung dịch bảo hòa cho sẵn

Đối với dạng bài tập này thường giải qua các bước như sau:

- Tính khối lượng chất tan và khối lượng dung môi có trong dung dịch bão hòa ở nhiệt độ t1

- Đặt a gam là khối lượng chất tan A cần thêm hay tách ra khỏi dung dịch ban đầu, sau khi thay đổi nhiệt độ từ t1 sang t2 (nếu đề bài yêu cầu tính lượng tinh thể ngậm

Trang 7

nước tách ra hay cần thêm vào do thay đổi nhiệt độ dung dịch bão hòa cho sẵn thì

ta nên gọi ẩn số là số mol)

- Tính khối lượng chất tan và khối lượng dung môi có trong dung dịch bão hòa ở nhiệt độ t2

- Áp dụng công thức tính độ tan hay nồng độ % của dung dịch để tìm a hoặc n

* Một số dạng bài tập áp dụng:

Bài tập 4: Cho dung dịch A chứa CuSO4 nồng độ x%, sau khi cho bay hơi 20% lượng nước thì dung dịch trở nên bão hoà Thêm 2,75g CuSO4 vào dung dịch bão hoà thì có 5g CuSO4.5H2Okết tinh tách ra

a) Tính nồng độ % của dung dịch bão hoà

b) Tính nồng độ % của dung dịch A

(Kì thi chọn HSG tỉnh Quảng Bình năm học 2004 – 2005)

Hướng dẫn làm bài:

a) Tính nồng độ % của dung dịch bão hoà

Trong 5g CuSO4.5H2O có 3,2g CuSO4 và 1,8gH2O

Lượng CuSO4 tách ra từ dung dịch bão hoà là 3,2 - 2,75 = 0,45g

Lượng H2O tách ra từ dung dịch bão hoà là 1,8g

Tỉ lệ của CuSO4 và H2O tách ra từ dung dịch bão hoà đúng bằng tỉ lệ của dung dịch bão hoà, suy ra C% bão hoà = 0,45/(0,45 + 1,8) = 20%

b) Tính nồng độ % của dung dịch A

C% = 1/(1 + 4.5/4) = 1/6 = 16,67%

Bài tập 5: Có 166,5 gam dung dịch MSO4 41,56% ở 100oC Hạ nhiệt độ dung dịch xuống 20oC thì thấy có m1 gam MSO4.5H2O kết tinh và còn lại m2 gam dung dịch X Biết m1 – m2 = 6,5 gam và độ tan của MSO4 ở 20oC là 20,9 gam/100gam H2O Xác định công thức muối MSO4.

(Kì thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh Khánh Hòa năm học 2008 – 2009)

Hướng dẫn làm bài:

m1 = 86,5 g ; m2 = 80 g  → C% của dd X = 20,9 100% 17,3%

+

4

MSO

m trong 80 g dd X =17,3.80/100 = 13,84 gam

4

MSO

m trong dd đầu:166,5.41,56 69, 2

4

MSO

m trong muối kết tinh: 69,2-13,84= 55,36 g

khối lượng nước trong muối kết tinh: 31,14 g

Số mol H O trong muối kết tinh:31,14 =1,73 mol

Trang 8

n MSO4 trong muối kết tinh =1 2

5n H O=0,346 mol

=> M+ 96 = 55,36 160

0,346 = => M = 64 => muối là CuSO4.

Bài tập 6: Làm bay hơi 320 gam nước từ 640 gam dung dịch AB(SO4)2 bão hoà ở

200C có (A,B là kí hiêu hoá học của 2 nguyên tố) rồi đưa về nhiệt độ ban đầu thì có m

gam AB(SO4)212H2O kết tinh tách ra

1) Xác định m biết rằng nồng độ dung dịch AB(SO4)2 bão hoà ở 200C là 5,5% và khối lượng mol của AB(SO4)2 = 258 gam

2) Xác định công thức AB (SO4)2 biếtrằng tỷ lệ thành phần khối lượng của O trong

oxit B và OH trong hiđroxit B = 208/289 (Nguyên tố B có hoá trị không đổi)

(Kì thi tuyển vào lớp 10 chuyên Quảng Bình năm học 2008 – 2009)

Hướng dẫn làm bài:

1) Khối lượng AB(SO4)2 ban đầu = 640.0,055 = 35,2g

Khối lượng muối AB(SO4)2 trong tinh thể tách ra = m.(258/474)g

→ AB(SO4)2 còn lại trong dung dịch = 35,2 - m.(258/474) = (8342,4 - 126m)/237g Khối lượng dung dịch sau khi bay hơi nước = 640 - 320 - m = (320 - m ) g

C% của dung dịch còn lại = = 0,055 → m = 36,925 gam

2.) B2Ox → thành phần O trong oxit = 16x: (16x + 2MB)

B(OH)x → thành phần OH trong hiđroxit = 17x: (17x + MB)

→ = 208/289 → MB = 9x → x = 3 ; MB = 27 → B là Al

MA = 258 - (96.2 + 27) = 39 Vậy A là K → CT của hợp chất là: KAl(SO4)212H2O

4 Kết quả

Trong thời gian giảng dạy, tôi đã áp dụng trực tiếp nội dung của đề tài vào công tác bồi dưõng học sinh giỏi môn Hoá học 9 một cách toàn vẹn trong 5 buổi dạy và 1 buổi kiểm tra đánh giá, phải nói, kết qủa thu được là khá thành công thể hiện rõ trên 3 mặt chủ yếu sau:

1 Hứng thú tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn.

8342,4 - 126a

237(320 - m)

16x/(16x + 2MB)

17x/(17x + M B )

8342,4 - 126a

237(320 - m)

8342,4 - 126a

237(320 - m)

8342,4 - 126a

237(320 - m)

Trang 9

Trong 10 học sinh tham gia trong đội tuyển học sinh giỏi bộ môn Hoá học 9 chưa có

em nào bỏ học, chuyển môn học và đặc biệt không có em học sinh nào nghĩ 1 buổi học Tất cả các buổi học các em đều đi sớm, hăng say học tập và tranh luận, đối chiếu kết qủa bài làm rất sôi nỗi Tôi nhận ra trên khuôn mặt các em niềm yêu thích bộ môn

và có thái độ kính trọng giáo viên giảng dạy Tôi biết, tôi đã tạo cho các em một hứng thú mãnh liệt vào môn học

2 Khả năng suy luận, tính toán và tư duy hoá học của học sinh.

Tôi vẫn nhớ, hồi đầu khi mới bắt đầu làm quen với bộ môn, các em cảm thấy rất khó học, thậm chí những nội dung kiến thức cơ bản, những dạng bài đơn giản các em đều cảm thấy rất rối rắm Nay càng học, các em càng biểu hiện khả năng tính toán, suy luận một cách chặt chẽ, có cơ sở Sau khi đã được rèn luyện kĩ năng giải bài tập các em

có thể nhận dạng các bài tập, đưa ra cách giải một cách nhanh chống, đúng đắn và có khả năng cao trong việc tiếp cận những dạng bài tiếp theo của chương trình bồi dưỡng

3 Chất lượng bồi dưỡng bộ môn.

Từ việc có hứng thú vào môn học, có khả năng tính toán, suy luận và tư đuy hoá học, các học sinh trong đội bồi dưỡng đã cố gắng miệt mài rèn luỵên kĩ năng làm bài tập nâng cao phần dung dịch một cách say mê, chủ động Thật vây, kết quả bài kiểm tra đợt 1 về dạng bài nâng cao phần dung dịch trên 10 học sinh rất đáng phấn khởi thể hiện rõ trên kết qủa như sau:

Điểm

5 Bài học kinh nghiệm

Từ những nổ lực của bản thân trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi với chuyên đề

“Rèn luyện kĩ năng giải bài tập nâng cao phần dung dịch” cho học sinh, mặc dù đợt kiểm tra chưa được tiến hành và còn nhiều khó khăn đang đợi ở phía trước nhưng kết quả ban đầu là đáng phấn khởi, có tác dụng kích thích, động viên cô trò tiếp tục phấn đấu ở chặng đường tiếp theo Trong qúa trình áp dụng đề tài vào giảng dạy tôi thấy giáo viên chúng ta cần quan tâm đúng mức các vấn đề sau:

+ Giáo viên phải chịu khó đầu tư trí tuệ, thời gian để tìm tòi, phát hiện các dạng bài của loại bài lập nâng cao phần dung dịch phù hợp với học sinh giỏi lớp 8 Sau đó xếp chúng vào các nhóm cùng dạng theo thứ tự từ đơn giản đến phức tạp, tuyệt đối không nên bỏ qua các dạng cơ bản vì rất có thể nếu chưa được làm quen chắc chắn học sinh

sẽ lúng túng khi gặp phải.

+ Đưa ra hướng giải phù hợp đối với từng dạng bài Nếu càng có nhiều cách giải cho một dạng bài càng tốt Tuy nhiên, giáo viên phải có chọn lọc và nên đưa ra cách giải đơn giản nhất , tránh phức tạp hoá vấn đề và làm cho học sinh thêm rối rắm.

+ Giảng bài và tổ chức cho học sinh làm bài Chú ý tới nhiều ý tưởng mà học sinh

Trang 10

+ Cần động viờn, khuyến khớch việc học của học sinh bằng cỏch cho điểm, khen ngợi, tuyờn dương sau khi học sinh hoàn thành bài tập.

c Kết luận

Là một giỏo viờn cũn khỏ trẻ, chắc chắn cũn tham gia và cống hiến nhiều cho ngành Giỏo dục địa phương, trong quỏ trỡnh giảng dạy tụi đó cố gắng tỡm hiểu để truyền đạt cho cỏc em kĩ năng giải bài tập nõng cao phần dung dịch phục vụ cho cụng tỏc bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 và tụi thấy chất lượng của học sinh bồi dưỡng đạt đựơc là khỏ tốt.Tụi mạnh dạn viết ra đõy nhưng nghĩ rằng vẫn cũn nhiều điều cần được gúp ý, kớnh mong cỏc đồng chớ đọc và bổ sung thờm để đề tài hoàn chỉnh hơn nhằm ỏp dụng

cú hiệu quả hơn cho cụng tỏc dạy học, xin sự cổ vũ nhiệt tỡnh của cỏc đồng chớ!

Xin chõn thành cảm ơn!

Lệ Thuỷ ngày 20 thỏng 5 năm 2012

ĐÁNH GIÁ CỦA HĐKH TRƯỜNG Giỏo viờn thực hiện:

Chủ tịch HĐKH trường: Lờ Thị Hồng Nhung.

Lờ Trọng Ty

Tài liệu tham khảo:

- Quyết định 16 của Bộ Giáo dục đào tạo về chuẩn kiến thức kĩ năng

- Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2008-2009

của Sở Giỏo dục - Đào tạo Quảng Bỡnh, Phũng Giỏo dục Lệ Thuỷ

- Sỏch giỏo khoa, sỏch giỏo viờn Hoỏ học 8, 9

- 500 bài tập Hoỏ học ở trường THCS của Lờ Đỡnh Nguyờn, Hoàng Tấn Bửu

- Hướng dẫn giải nhanh bài tập Húa học của Cao Cự Giỏc

Ngày đăng: 31/10/2017, 18:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w