Phân tích sự biến động của lãi suất và sự tác động của các biến sốkinh tế vĩ mô lạm phát, tỷ giá hối đoái, cung tiền, GDP đến sự thayđổi của lãi suất ở Việt nam qua các năm từ 1998 đến
Trang 1Phân tích sự biến động của lãi suất và sự tác động của các biến sốkinh tế vĩ mô ( lạm phát, tỷ giá hối đoái, cung tiền, GDP ) đến sự thayđổi của lãi suất ở Việt nam qua các năm từ 1998 đến 2013
có thể dựa vào lãi suất trong một thời kỳ để dự báo tình hình kinh tếtrong tương lai Trên cơ sở đó cung cấp thông tin cần thiết hỗ trợ cácdoanh nghiệp lập kế hoạch chi tiêu, sản xuất , giúp ngân hàng và cácnhà đầu tư đưa ra quyết định hợp lý về các vấn đề cho vay, nhận gửi, dựtrữ, chọn mua tài sản nào, đầu tư ở mức bao nhiêu Chính vì nhữngvai trò trên nhóm chúng em nhận thấy việc nghiên cứu về sự biến động,
và xem xét các yếu tố tác động đến sự biến động của lãi suất là thực sự
có ý nghĩa và cần thiết cần thiết
Mục đích nghiên cứu:
Báo cáo sự thay đổi của lãi suất qua các năm từ 1998 đến 2013,đồng thời xem xét các yếu tố tác động dẫn đến sự thay đổi đó
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Các số liệu kinh tế vĩ mô ( lãi suất, ,lạm phát, tỷ giá hối đoái, cung tiền, GDP ) từ 1998 đến 2013
Phương pháp:
Thống kê mô tả, dãy số thời gian, hồi quy tương quan
Trang 2Phần 1: Tổng quan
I Các khái niệm:
• Lãi suất là tỷ lệ mà theo đó tiền lãi được người vay trả cho việc
sử dụng tiền mà họ vay từ một người cho vay Cụ thể, lãi suất (I/m) làphần trăm tiền gốc (P) phải trả cho một số lượng nhất định của thờigian (m) mỗi thời kỳ (thường được tính theo năm) Ví dụ, một công tynhỏ vay vốn từ một ngân hàng để mua tài sản mới cho doanh nghiệpcủa mình, và ngược lại người cho vay nhận được tiền lãi theo lãi suấtquy định cho việc trì hoãn sử dụng các khoản tiền và thay vào đó bằngviệc cho vay nó cho người vay Lãi suất thường được thể hiện nhưmột tỷ lệ phần trăm của tiền gốc trong một khoảng thời gian một năm
• Trong kinh tế vĩ mô (macroeconomics), lạm phát là sự tăng mứcgiá chung của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị củamột loại tiền tệ Khi so sánh với các nước khác thì lạm phát là sự giảmgiá trị tiền tệ của một quốc gia này so với các loại tiền tệ của quốc giakhác Theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu lạm phát của một loại tiền tệtác động đến phạm vi nền kinh tế một quốc gia, còn theo nghĩa thứ haithì người ta hiểu lạm phát của một loại tiền tệ tác động đến phạm vi nềnkinh tế sử dụng loại tiền tệ đó Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phầnnày vẫn là một vấn đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô.Ngược lại với lạm phát là giảm phát Một chỉ số lạm phát bằng 0 haymột chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự "ổn định giá cả"
• Tỷ giá hối đoái (còn được gọi là tỷ giá trao đổi ngoại tệ, tỷ giá
đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác Nó cũng đượccoi là giá cả đồng tiền của một quốc gia được biểu hiện bởi một tiền tệkhác Ví dụ, một tỷ giá hối đoái liên ngân hàng của yên Nhật (JPY, ¥)với đô la Hoa Kỳ (US$) là 91 có nghĩa là 91 Yên sẽ được trao đổi cho 1USD hoặc 1 USD sẽ đổi được 91 Yên Gọi là giá cả vì Tỷ giá hối đoáiđược xác định trong thị trường ngoại hối, rộng mở cho một loạt loạingười mua và người bán khác nhau nơi việc trao đổi tiền tệ là liên tục:
24 giờ một ngày, ngoại trừ những ngày cuối tuần, tức là giao dịch từ20:15 GMT Chủ nhật cho đến 22:00 GMT thứ Sáu
Trang 3• Cung ứng tiền tệ, gọi tắt là cung tiền, chỉ lượng cung cấp tiền
tệ trong nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu mua hàng hóa, dịch vụ, tàisản, v.v của các cá nhân (hộ gia đình) và doanh nghiệp (không kểcác tổ chức tín dụng)
Product) là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ nhất định (thường là quốc gia) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm).
II Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế thị trường:
- Lãi Suất với quá trình huy động vốn
Lý thuyết và thực tiễn đều cho thấy để phát triển kinh tế cần phải cóvốn và thời gian Các nước tư bản phát triển phải mất hàng trăm nămphát triển công nghiệp và quá trình lâu dài tích tụ vốn từ sản xuất vàtiêu dùng Đối với Việt Nam trên con đường phát triển kinh tế thì vấn
đề tích luỹ và sử dụng vốn có tầm quan trọng đặc biệt cả về phươngpháp nhận thức và chỉ đạo thực tiễn Vì vậy chính sách lãi suất có vaitrò hết sức quan trọng trong việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xãhội và các tổ chức kinh tế đảm bảo đúng định hướng vốn trong nước làquyết định, vốn ngoài nước là quan trọng trong chiến lược CNH-HĐHnước ta hiện nay
Việc áp dụng một chính sách lãi suất hợp lý đảm bảo nguyên tắc: lãisuất phải bảo tồn được giá trị vốn vay, đảm bảo tích luỹ cho cả ngườicho vay và người đi vay Cụ thể:
Tỷ lệ lạm phát < lãi suất tiền gửi < lãi suất tiền vay < tỷ suất lợinhuận bình quân
Lãi suất ngắn hạn < lãi suất dài hạn (đối với cả tiền gửi và tiềnvay)
- Lãi suất với quá trình đầu tư
Quá trình đầu tư của doanh nghiệp vào tài sản cố định được thựchiện khi mà họ dự tính lợi nhuận thu được từ taì sản cố định này nhiềuhơn số lãi phải trả cho các khoản đi vay để đầu tư Do đó khi lãi suất
Trang 4huy động thấp, lãi cho vay thấp các hãng kinh doanh có điều kiện tiếnhành mở rộng đâu tư và ngược lại Trong môi trường tiền tệ hoàn chỉnh,ngay cả khi một doanh nghiệp thừa vốn thì chi tiêu đầu tư có kế hoạchvẫn bị ảnh hưởng bởi lãi suất, bởi vì thay cho việc đầu tư vào mở rộngsản xuất doanh nghiệp có thể mua chứng khoán hay gửi vào ngân hàngnếu lãi suât của nó cao.
Đặc biệt trong thời kỳ nền kinh tế bị đình trệ, hàng hoá ứ đọng vàxuống giá, có dấu hiệu thừa vốn và áp lực lạm phát thấp cần phải hạ lãisuất vì nguyên tắc cơ bản là lãi suất phải nhỏ hơn lợi nhuận bình quâncủa đầu tư, sự chênh lệch này sẽ tạo động lực cho các doanh nghiệp mởrộng quy mô đầu tư
- Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm
Thu nhập của một hộ gia đình thường được chia thành hai bộ phận:tiêu dùng và tiết kiệm Tỷ lệ phân chia này phụ thuộc vào nhiều nhân tốnhư thu nhập, vấn đề hàng hoá lâu bền và tín dụng tiêu dùng, hiệu quảcủa tiết kiệm trong đó lãi suất có tác dụng tích cực tới các nhân tố đó.Khi lãi suất thấp chi phí tín dụng tiêu dùng thấp, người ta vay nhiềucho việc tiêu dùng hàng hoá nghĩa là tiêu dùng nhiều hơn khi lãi suấtcao đem lại thu nhập từ khoản tiều để dành nhiều hơn sẽ khuyến khíchtiết kiệm, do đó tiết kiệm tăng
- Lãi suất với quá trình phân bổ các nguồn lực
Tất cả các nguồn lực đều có tính khan hiếm Vấn đề là xã hộiphải phân bổ và sử dụng các nguồn lực sao cho hiệu quả Nghiên cứutrong nền kinh tế thị trường cho thấy giá cả đóng vai trò cực kỳ quantrọng trong việc phân bổ các nguồn lực giữa các ngành kinh tế Như ta
đã biết, lãi suất là một loại giá cả, nghĩa là lãi suất có vai trò phân bổhiệu quả các nguồn lực khan hiếm của xã hội Để quyết định đầu tư vàomột ngành kinh tế một dự án hay một tài sản nào đó chúng ta đều phảiquan tâm đến sự chênh lệch giữa giá trị tỷ suất lợi tức thu được với chiphí ban đầu Điều này có nghĩa là phải xem việc đầu tư này có mang lạilợi nhuận hay không và có đảm bảo hiệu quả kinh doanh để trả khoảntiền lãi của số tiền vay cho chi phí ban đầu hay không Khi quyết định
Trang 5tâm tới chênh lệch giữa lợi nhuận đem lại và số tiền vay phải trả Khichênh lệch này là dương, thì nguồn lực sẽ được phân bổ tới đó và là sựphân bổ hiệu quả.
- Lãi suất vai trò của nó đối với Ngân Hàng Thương mại
NHTM với hai nghiệp vụ chính trong hoạt động kinh doanh củamình là huy động vốn và sử dụng vốn đã phản ánh quy mô hoạt độngcủa các NHTM Với phương châm “đi vay để cho vay”, NHTM huyđộng vốn tạm thời nhàn rỗi trong các doanh nghiệp và dân cư để chovay phát triển kinh tế và các nhu cầu tiêu dùng khác của nhân dân Đểhuy động vốn và cho vay có hiệu quả, NHTM phải xác định lãi suấttiền gửi và lãi suất tiền vay một cách hợp lý Nừu lãi suất huy động tiềngửi quá thấp thì không khuyến khích các doanh nghiệp và dân cư gửitiền vào, dẫn đến NHTM không đủ vốn cho vay để đáp ứng yêu cầukhách hàng
Lãi suất Ngân hàng là nhân tố quan trọng quyết định kết quả hoạtđộng kinh doanh của NHTM và khách hàng Nừu lãi suất hợp lý sẽ làđòn bẩy quan trọng thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá phát triển vàngược lại Bởi vậy lãi suất Ngân hàng vừa là công cụ quản lý vĩ mô củaNhà nước vừa là công cụ điều hành vi mô của các NHTM
Do vậy, khi huy động tiền gửi mà với lãi suất thấp thì khôngkhuyến khích doanh nghiệp và dân cư gửi tiền nhàn rỗi vào ngân hàng,
sẽ dẫn đến hậu quả là NHTM không đủ vốn để cho vay đáp ứng yêucầu vay vốn của khách hàng Ngược lại, nếu lãi suất cho vay cao, cácdoanh nghiệp sản xuất kinh doanh không có lãi hoặc lãi quá thấp sẽ thuhẹp sản xuất hoặc ngừng hoạt động để gửi vốn vào ngân hàng
Phần 2: thực trạng biến động lãi suất và các nhân tố tác động đến sự thay đổi lãi suất
Các biến số kinh tế: lãi suất,tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái, cung
tiền, GDP qua các năm (1998-2013)
Trang 6Nguồn: vietstock
Năm suất(%) Lãi
Tỷ lệ lạm phát (%)
Tỷ giá hối đoái ( đồng/US D)
Cung tiền ( tỷ Đ)
GDP (tỷ Đ)
I Báo cáo tình hình thay đổi của lãi suất, lạm phát, tỷ giá hối đoái,
cung tiền, GDP qua các năm
1 Lãi suất
Trang 72011 và quay về xấp xỉ mức của năm 2007 Sau những năm có nhiềubất ổn, xáo trộn, thị trường ngoại hối và tỷ giá dần lấy lại sự ổn định,lòng tin vào đồng Việt Nam được củng cố, tình trạng đô la hóa từngbước giảm bớt, dự trữ ngoại hối tăng đáng kể.Từ quý IV năm 2011 đếnnay, điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, đặc biệt làdiễn biến lạm phát, đồng thời hài hòa trong mối quan hệ với tỷ giá đãphát huy tác dụng trong việc hỗ trợ ổn định thị trường ngoại hối và tỷgiá.
1998-2000:
Mức lãi suất giảm từ 11,4% -> 6,24 %, tức là giảm 5,16% ( giảm1.83 lần) từ 1998 so với năm 2000 Một phần là do Cuộc khủng hoảngtài chính châu Á, bắt đầu ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trườngchứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác ởvài nước châu Á, nhiều quốc gia trong đó được coi như là "những con
Hổ Đông Á" Cuộc khủng hoảng này còn thường được gọi là Khủng
Trang 8hoảng tiền tệ châu Á ->Khủng hoảng tài chính Đông Á làm người ta
nhận thức rõ hơn sự cần thiết phải có một hệ thống tài chính - ngânhàng vững mạnh, minh bạch
2000-2008:
Mức lãi suất liên tục tăng qua các năm, cụ thể năm 2000 là6,24%, đến 2008 là 13,46%, tăng 7,04%( tăng 2,16 lần) Kinh tế ViệtNam thời kì này liên tục tăng trưởng với tốc độ tăng tương đối khá, đưanước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đangphát triển có mức thu nhập trung bình Năm 2000, Việt nam kí hiệpđịnh BTA với Hoa Kỳ, Đây là bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử trong quan
hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam Đến năm WTO nhận được đượcquyết định phê chuẩn chính thức của Quốc hội nước CHXHCN ViệtNam Kể từ đây, Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của WTO Tìnhhình phát triển kinh tế thuận lợi nên lãi suất các Ngân hàng cũng tănglên, đây là dấu hiệu tốt cho việc đầu tư
2008-2013:
Từ năm 2008, lãi suất của Việt Nam giảm nhẹ, cụ thể từ 13,46%năm 2008, giảm còn 8,48% năm 2013( giảm 4,98%, tức 1,6 lần) 1phần do cuộc khủng khoảng kinh tế thế giới năm 2008, làm giảm mạnhlãi suất và gây ra lạm phát của nền kinh tế ào năm 2010, sau khủnghoảng của thị trường tài chính thế giới năm 2008, nhà nước ta vẫn ápdụng những chính sách tiền tệ thận trọng trong tình hình nền kinh tế cảnước vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong quá trình phục hồi, để ngừngviệc chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng thương mại, ngân hàng nhànước đã phải sử dụng biện pháp hành chính quy định mức lãi suất huyđộng không được vượt quá 14%/năm Kết thúc năm 2010, lãi suất huyđộng dao động từ 13% đến 14%.Tháng 7/2011, lạm phát tăng đến 22%
đã đẩy hàng loạt mức lãi suất vượt mức buộc ngân hàng nhà nước phải
sử dụng các biện pháp cứng rắn hơn để ổn định tình hình thị trường tiền
tệ Tuy nhiên có vẻ những hành động của NHNN không có mấy kết quảkhi kết thúc năm 2011, mặt bằng lãi suất vẫn ở mức cao, lãi suất chovay ở ngưỡng 17%-19%
Trang 9Những biến động mạnh trong năm 2011 đã tạo thách thức choNHNN trong việc điều chỉnh mặt bằng lãi suất trong năm 2012 Lạmphát giảm từ mức 20% xuống còn dưới 7% đã ổn định phần nào nềnkinh tế Lãi suất cho vay cũng giảm chỉ còn 12%- 13% Từ đó, các quyđịnh bó buộc của NHNN đối với các NHTM cũng được dần cởi bỏ.
thị trường tiền tệ cũng không mấy biến động Đến cuối năm, lãi suấthuy động giảm nhẹ xuống còn quanh mức 8%-9%/năm kỳ hạn 12 thángtrở lên, lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh chỉ còn 8%-11,5%/nămtrung và dài hạn Những nỗ lực của chính phủ đã được đến đáp, cácdoanh nghiệp cũng vững tin hơn tập trung vào sản xuất kinh doanh,phát triển đất nước
Nhận xét chung: Mức lãi suất đạt mức cao nhất vào năm2008(13,46%), Mức lãi suất thấp nhất vào năm 2000(6,24%), Mức lãisuất trung bình là 8,63% Phù hợp với biến động kinh tế thế giới
2. Lạm phát
Lạm phát là 1 trong những nhân tố có ảnh hường đến lãi suất tíndụng Lạm phát là 1 hiện tượng của tiền tệ Khi lạm phát tăng lên, 1trong những chính sách để giảm phát chính là áp dụng các biện pháp đểhút lượng tiền lưu thông về Đồng thời các cá nhân trong nền kinh tếđang dự trữ tiền cũng không dám cho vay do lo sợ đồng vốn của mình
sẽ bị mất giá, bởi vậy họ chuyển sang hướng dự trưc vàng, ngoại tệ… 2điều này khiến khả năng cung ứng vốn trên thị trường giảm nhanhchóng, khiến cho lãi suất tăng Một khi giảm phát thì NHTWsẽ giảm lãisuất tín dụng nhằm giúp cá nhân, tổ chức dễ dàng tiếng cận được nguồnvốn hơn Do đó, lạm phát là 1 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thayđổi của lãi suất
Trang 10duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 7%/năm Tỷ lệ lạmphát của nức ta giai đoạn này rất thấp, tốc độ tăng CPI chỉ dừng lại ởmức 1 con số thậm chí năm 2000 còn giảm phát khi tỷ lệ lạm phát0,6% Nguyên nhân là do giá lương thực, thực phẩm và nhiều nông sảnkhác giảm mạnh trên thị trường thế giới như thóc, gạo cà phê… Trongkhi chính sách tiền tệ nới lỏng Có thể kết luận rằn giai đoạn này là giaiđoạn lạm phát vừa phải.
2004-2009:
Từ năm 2004, lạm phát ở Việt nam luôn duy trì ở mức cao (xấp
xỉ 10%), lạm phát cao hơn hẳn so với thời kì trước, năm 2004 là 8%( tăng 4 lần so với 2003), năm 2009 là 5.3% Trước tình hình đó, nước
ta đã không có những giải pháp thỏa đáng Vì lẽ đó , thời kì này lạmphát nước ta rơi vào tình trạng khó kiểm soát Nguyên nhân là do cùng
đà suy thoái kinh tế thế giới, giá dầu thô tăng cao, giá cả lương thực vànguyên vật liệu tăng đột biến cộng với tác động của thiên tai đã làm chonền kinh tế Việt Nam bộc lộ những nhược điểm của nền kinh tế trongquá trình chuyển đổi
2010-2013
Năm 2010, lạm phát cả nước là 9,3% Chỉ số tiêu dung CPI tháng12/2010 của cả nước tăng 1,98%, qua đó đẩy mức lạm phát của cả nướclên 9,3% năm 2010 Con số này vượt gần 3% so với chỉ tiêu được Quốchội đề ra hồi đầu năm 2010
Lạm phát năm 2011 của Việt Nam cao nhất trong 10 năm gần đó(14%) Nguyên nhân của tình trạng lạm phát cao năm 2011 về cơ bản là
do tiền tệ đã được nới lỏng trong 1 thời gian dài So với các nước trongkhu vực, tỗ độ tăng cung tiền M2 của việt nam khá cao, trung bình giaiđoạn 2000-2010, tốc độ tăng cung tiền M2 của Việt Nam dẫn đầu vớimức tăng 31,4%, sau đó là Trung Quốc(17,8%), Inđonẽia(13%) Đồngthời, tỷ lệ tín dụng trên GDP cũng tăng nhanh, từ 39,7% năm 2001, lên135,8% năm 2010 Tín dụng tăng nhanh đã giúp giới đầu cơ đẩy giá bấtđộng sản tăng cao trong 1 thời gian dài , đặt nền kinh tế trong trạng thái
Trang 11bong bóng bất động sản( khuyễn khích người dân tiết kiệm ít và tiêudùng nhiều, tạo áp lực cho giá cả.
Lạm phát năm 2012 bắt đầu giảm xuống(5,5%), ổn định hơn sovới năm 2011 Đây là kết quả và chịu sự chi phối lớn của sự tăng chậmlại rõ rệt của tổng cầu, cả tổng cầu tiêu dùng và tổng cầu đầu tư, cả tổngcầu trong nước và xuất khẩu Do sức mua trong và ngoài nước đều tăngchậm nên doanh nghiệp Việt nam gặp khó khăn về đầu ra cho hàng hóa,dịch vụ trong năm 2012 Năm 2012 có khoảng 5 vạn công ty giải thể,cộng với năm 2011 khoảng 10 vạn công ty chiến khoảng 1 nửa sốdoanh nghiệp ở Việt Năm, khiến số công ty bị giải thể nhiều nhất trongthời gian qua
Lạm phát trong năm 2013 giảm còn 4,9%( giảm 2,8% so với năm2011) và ổn định hơn nhiều so với trước đây
3 Tỷ giá hối đoái
Từ các năm 1998 – 2013 tỷ giá hối đoái liên tục tăng dẫn đến sựmất giá của đồng nội tệ Từ mức 13268 đ/USD năm 1988 đến năm
2013 NHTW đã nâng lên mức 20935 đ/USD Việc phá giá đồng nội tệ
là điều cũng dễ hiểu nằm ở chính sách tiền tệ của NHTW nhằm kíchthích xuất khẩu thu hút ngoại tệ và mục tiêu tăng trưởng kinh tế