Tổ chức thu đúng, thu đủ và thu kịp thời thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu đối với hàng hoá một trong những nhiệm vụ quan trọng của các Cục Hảiquan Địa phương nhằm góp phần ổn định nguồn thu
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU……… 1
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐÔN ĐỐC THUẾ, CHỐNG NỢ ĐỌNG THUẾ KÉO DÀI VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG TÁC ĐÔN ĐỐC THUẾ, CHỐNG NỢ ĐỌNG THUẾ KÉO DÀI………3
1 Một số vấn đề cơ bản về thuế………3
1.1 Khái niệm về thuế……… 3
1.2 Đặc điềm của thuế……….4
1.3 Phân loại thuế………5
1.4 Vai trò của thuế……….6
2 Vai trò của công tác đôn đốc thuế, chống nợ đọng thuế kèo dài và sự cần thiết của công tác đôn đốc thuế, chống nợ đọng thuế kéo dài……….… 11
2.1 Vai trò và vị trí của công tác đôn đốc thuế, chống nợ đọng thuế kéo dài……… ………11
2.2 Ảnh hưởng của việc nợ thuế kéo dài……… 11
2.3 Sự cần thiết của công tác đôn đốc thuế, chống nợ đọng thuế kéo dài……… 12
2.4 Một số biện pháp đôn đốc thuế, chống nợ thuế kéo dài………… 12
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÔN ĐỐC THUẾ, CHỐNG NỢ ĐỌNG THUẾ KÉO DÀI TẠI CHI CỤC HẢI QUAN NAM ĐỊNH… 14
1 Quá trình hình thành và phát triển của Chi cục Hải quan Nam Định.14 1.1 Quá trình hình thành và phát triển……… 14
1.2 Bộ máy tổ chức tại Chi cục ……… 15
2 Thực trạng công tác đôn đốc thuế, nợ đọng thuế kéo dài, nợ thuế phát sinh tại Chi cục Hải quan Nam Định……….18
2.1 Công tác thu thuế và quản lý thuế tại Chi cục Hải quan Nam Định ……….………… 18
2.2 Các biện pháp đôn đốc thuế, chống nợ thuế kéo dài, nợ thuế phát sinh tại Chi cục Hải quan Nam Định trong thời gian qua……….………….21
Trang 2CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP PHỤC VỤ CHO CÔNG TÁC ĐÔN ĐỐC THUẾ, CHỐNG NỢ ĐỌNG THUẾ KÉO DÀI……… 26
1 Đánh giá công tác thu thuế và đôn đốc thuế tại Chi cục Hải quan Nam Định trong thời gian qua………26
2 Một số giải pháp trong công tác đôn đốc thuế, chống nợ đọng thuế kéo dài, nợ thuế phát sinh tại Chi cục Hải quan Nam Định……….….30
2.1 Động viên tuyên truyền về pháp luật……… …………30 2.2 Nêu cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ công chức…… …… 30 2.3 Tập trung chống gian lận thuế qua giá……….……….31
2.4 Đưa lên phương tiện thông tin đại chúng, đưa lên mạng Internet các
đối tượng đã được nhắc nhở……… 32 2.5 Phối hợp với các cơ quan chức năng……….33
2.6 Thực hiện nghiêm túc các Chỉ thị của Chính phủ, các văn bản của
Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan trong công tác này……… 34
KẾT LUÂN……… ………… 36
Trang 3GATT : General Agreement on Tariffs and Trade (Hiệp ước chung về
thuế quan và mậu dịch)
WTO : World Trade Organization (Tổ chức Thương mại thế giới)
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Thuế nhập khẩu là một trong những nguồn thu chủ yếu của Ngân sáchNhà nước, đồng thời là công cụ điều tiết nền kinh tế của các Quốc gia trênThế giới Tổ chức thu đúng, thu đủ và thu kịp thời thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu đối với hàng hoá một trong những nhiệm vụ quan trọng của các Cục Hảiquan Địa phương nhằm góp phần ổn định nguồn thu cho ngân sách nhà nước,thực hiện chính sách phát triển Kinh tế đất nước, đồng thời tạo lập được mộtmôi trường kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, thúc đẩy sảnxuất-kinh doanh ngày càng phát triển
Sau khi Việt Nam tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN(AFTA/ASEAN), tổ chức thương mại thế giới WTO, để mở rộng giao lưuthương mại, đẩy nhanh quá trình hợp tác quốc tế, đẩy mạnh phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước, ngành Thuế và Hải quan bắt đầu thực hiện Hiệp định
ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT/AFTA) từ ngày 1/1/2003 với lộtrình cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu từ 40 - 50% xuống còn 20%, đến năm
2010 còn 5% và đến năm 2015 xuống 0%, nhằm tạo thuận lợi cho tự dothương mại khu vực và quốc tế
Trước bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, ngoài việc cắtgiảm thuế suất thuế nhập khẩu và thực hiện các chính sách ưu đãi thuế quan làquá trình tất yếu của Việt nam thì lưu lượng hàng hòa xuất nhập khẩu ngàycàng tăng, xuất hiện nhiều hành vi gian lận, trốn thuế ngày càng tinh vi hơn
Đó cũng là thách thức đối với cơ quan Hải quan trong việc giám sát quản lýhàng hóa xuất nhập khẩu và hoàn thành chỉ tiêu thu Ngân sách Nhà nước
Vì vậy, nhận thức được tầm quan trọng nêu trên,qua quá trình công táctại Chi cục Hải quan Nam Định và vận dụng kiến thức hiện có của mình, tôi
mạnh dạn đi vào tìm hiểu và đưa ra chuyên đề: “ Công tác đôn đốc thuế, chống nợ đọng thuế kéo dài tại Chi cục Hải quan Nam Định”.
Trang 5Vì trình độ nghiên cứu còn hạn chế, do thời gian hạn hẹp nên chuyên
đề chắc không tránh khỏi những khiếm khuyết Rất mong nhận được các ýkiến đóng góp nhiệt tình của tập thể cán bộ công chức Chi cục Hải quan NamĐịnh cùng các thầy cô để chuyên đề được hoàn thiện hơn Tôi xin chân thànhcảm ơn
Chuyên đề nhằm phân tích thực trạng tình hình đôn đốc thuế, chống nợđọng thuế kéo dài, tại Chi cục Hải quan Nam Định trong năm 2007 và 2008,
để làm rõ các vấn đề còn tồn đọng trong công tác thu thuế, đôn đốc thuế,chống nợ thuế kéo dài, để từ đó có các biện pháp đốc thu nhằm đảm bảonguồn thu cho Ngân sách Nhà nước đồng thời nâng cao hiệu lực quản lý nhànước về Hải quan
Với nội dung của bài chuyên đề tốt nghiệp ngoài Lời mở đầu, kết luận và Tàiliệu tham khảo được trình bày bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về công tác đôn đốc thuế, chống nợ thuế kéo dài và sự cần thiết của công tác đôn đốc thuế, chống nợ đọng thuế kéo dài.
Chương 2: Thực trạng công tác đôn đốc thuế, nợ đọng thuế kéo dài tại Chi cục Hải quan Nam Định.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường đôn đốc thuế, chống
nợ đọng thuế kéo dài.
CHƯƠNG I
Trang 6LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐÔN ĐỐC THUẾ, CHỐNG
NỢ THUẾ KÉO DÀI VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG TÁC ĐÔN
ĐỐC THUẾ, CHỐNG NỢ THUẾ KÉO DÀI
1 Một số vấn đề cơ bản về thuế:
1.1.Khái niệm về thuế:
Sự ra đời và tồn tại của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành cácgiai cấp đối kháng và sự xuất hiện của Nhà nước - pháp luật
Thuế là một thực thể pháp lý nhân định nhưng sự ra đời và tồn tại của
nó không chỉ phụ thuộc vào ý chí con người mà còn phụ thuộc vào các điềukiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất định
Sự xuất hiện sản phẩm thặng dư trong xã hội là cơ sở chủ yếu để thuếtồn tại và phát triển Như vậy, thuế là phạm trù có tính lịch sử và là một tấtyếu khách quan, thuế ra đời xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng của Nhànước và sự tồn tại của thuế không tách rời quyền lực Nhà nước
Nói về thuế, C.Mác đã viết: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhànước, là thủ đoạn giản tiện cho kho bạc thu tiền” Ph Ăng ghen đã chỉ rõ:
“ Đặc trưng thứ hai của Nhà nước là sự thiết lập một trật tự công cộng Đểduy trì quyền lực công cộng đó cần phải có sự đóng góp của công dân củaNhà nước, đó là thuế má.” V.I Lê-nin cho rằng “Thuế là cái Nhà nước thucủa dân mà không bù lại”
Theo Đại từ điển kinh tế thị trường: “Thuế là một hình thức phân phốithu nhập tài chính của Nhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vàoquyền lực chính trị, tiến hành phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội mộtcách cưỡng chế bắt buộc không hoàn lại”
Theo Giáo trình Luật Tài chính Việt Nam - Trường Đại học Luật HàNội: “Thuế là khoản nộp bắt buộc mà các pháp nhân và thể nhân có nghĩa vụphải nộp cho Nhà nước trên cơ sở các văn bản pháp luật do Quốc hội, Uỷ ban
Trang 7Thường vụ Quốc hội ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trựctiếp cho đối tượng nộp”
Như vậy, tuỳ theo góc độ đề cập, quan niệm về thuế còn khác nhau.Điểm chung của các quan niệm này là hoặc mới chỉ nêu được những yếu tố
cơ bản của thuế hoặc mới chỉ coi thuế là một khoản đóng góp nghĩa vụ bắtbuộc (vẫn nhìn nhận thuế như một “gánh nặng” phải làm mà chưa thấy đượcnhững quyền lợi mà đối tượng nộp thuế được hưởng khi làm nghĩa vụ nộpthuế cho Nhà nước)
Xuất phát từ cách tiếp cận nêu trên, có thể định nghĩa: "Thuế là một
khoản tiền hoặc hiện vật mà các tổ chức, nhân thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi đóng góp theo luật định cho Nhà nước theo mức độ, thời hạn cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu chi của Nhà nước, điều tiết vĩ mô nền kinh tế, phân phối lại một phần thu nhập và của cải của xã hội, kiểm soát quá trình phân phối và mức chi tiêu trong nền kinh tế, thay đổi tập quán tiêu dùng của xã hội và không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế Một phần thuế mà các tổ chức và nhân đóng góp cho Nhà nước được trả về với người dân một cách gián tiếp dưới các hình thức như trợ cấp xã hội, phúc lợi xã hội và các quỹ tiêu dùng khác".
1.2 Đặc điểm của thuế:
Để phân biệt thuế với các hình thức động viên tài chính khác, thuế cómột số đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp Mức thuế mà các tổ
chức, nhân đóng góp cho nhà nước và mức độ cung cấp hàng hoá, dịch vụcông cộng mà nhà nước đem lại cho người nộp thuế không nhất thiết phảingang bằng nhau Mức đóng góp nhiều hay ít được căn cứ vào kết quả hoạtđộng kinh tế, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, cam kết trong hội nhập kinh
tế quốc tế (KTQT) và nhu cầu chi tiêu chung của xã hội Người nộp thuế sẽnhận được một phần các dịch vụ công cộng mà nhà nước cung cấp chung cho
Trang 8cả cộng đồng, giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết phải bằng khoản thuế
mà họ nộp- không mang tính đối giá (khác với phí, lệ phí- có tính chất đối giá)
Thứ hai, thuế là một hình thức động viên tài chính của nhà nước mang
tính quyền lực, tính cưỡng chế và tính pháp lý Điều đó thể hiện trên các góc
độ sau:
- Thuế do và chỉ do cơ quan quyền lực nhà nước quy định
- Không một cơ quan nào ngoài cơ quan quyền lực có quyền đặt ra thuế
- Khoản thu cho nhà nước nhưng không phải do cơ quan quyền lực quyđịnh không phải khoản thu về thuế mà là những khoản thu tài chính khác Vídụ: công trái do Chính phủ quy định
Thứ ba, thuế chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế (mức độ tăng
trưởng của nền kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, giá cả, thị trường.v.v),thể chế chính trị, tâm lý, tập quán của các tầng lớp dân cư, truyền thống vănhoá, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Do chịu sự ràng buộc của các yếu tố này,nên chúng ta có thể nói, thuế mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội tổng hợp
1.3 Phân loại thuế
Có nhiều cách để phân loại thuế
- Nếu căn cứ theo tính chất chuyển dịch của thuế, có thể chia thuế
thành 2 loại: thuế trực thu và thuế gián thu
* Thuế trực thu, là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản
của người nộp thuế
Thuộc thuế trực thu gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhậpđối với người có thu nhập cao, v.v
* Thuế gián thu, là loại thuế không đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài
sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua việc mua bán,tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ Người tiêu dùng hoặc người được cung cấphàng hoá dịch vụ là người chịu thuế này (người nộp thuế không phải là ngườichịu thuế )
Trang 9Thuộc thuế gián thu gồm: thuế giá trị gia tăng (thuế giá trị gia tăng),thuế xuất khẩu – thuế nhập khẩu (thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu), thuế tiêuthụ đặc biệt (thuế tiêu thụ đặc biệt), v.v
- Nếu căn cứ trên cơ sở đánh thuế, có thể chia thuế thành 3 loại:
Thuế tiêu dùng, là loại thuế có cơ sở đánh thuế là phần thu nhập được
tiêu dùng trong hiện tại, như thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt.v.v;
* Thuế thu nhập, là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập thực tế
kiếm được của các tổ chức nhân, như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thunhập đối với người có thu nhập cao, v.v…;
* Thuế tài sản, là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản lưu
giữ hay chuyển dịch, như thuế chuyển quyền sử dụng đất, v.v…
1.4 Vai trò của thuế:
Thuế quan đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc điều tiết nền kinh
tế đất nước, bảo hộ và khuyến khích sản xuất trong nước phát triển, đóng góp
số thu cho ngân sách Tuy nhiên, khi Việt Nam đã là thành viên chính thứccủa WTO, việc bảo hộ sản xuất trong nước bằng con đường thuế quan khôngcòn phù hợp Vậy làm thế nào để thuế quan góp phần thúc đẩy tăng trưởngkinh tế nhanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiệnđại hóa Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ thương mại với 160nước và vùng lãnh thổ, tham gia 86 hiệp định thương mại, 46 hiệp định hợptác đầu tư và 40 hiệp định chống đánh thuế 2 lần, thu hút đầu tư trực tiếpnước ngoài của trên 70 nước, chính thức là thành viên thứ 150 của WTO năm
2006 Đối với mỗi quốc gia, thuế quan có vai trò quan trọng trong việc bảo hộnền sản xuất trong nước; đóng góp nguồn thu cho ngân sách và điều tiết hoạtđộng xuất khẩu, nhập khẩu của mỗi quốc gia
Các nhà kinh tế học thường đề cập vai trò của thuế đối với ngân sáchNhà nước và đời sống xã hội Bởi vì trên thực tế, thông qua hoạt động thu
Trang 10thuế, Nhà nước tập trung được một bộ phận của cải của xã hội từ đó hình thànhnên quỹ ngân sách Nhà nước và thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội.
Về phương diện Luật học, thuế là một thực thể do Nhà nước đặt rathông qua việc ban hành các văn bản pháp luật Các văn bản quy phạm phápluật không chỉ quy định nội dung các loại thuế mà còn xác lập các quyền,nghĩa vụ của các chủ thể, các biện pháp đảm bảo thực hiện thu, nộp thuế.Pháp luật thuế là sự thể chế hoá các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước.Chính vì vậy pháp luật thuế là nhân tố quyết định ý nghĩa kinh tế - xã hội củathuế và có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế và đời sống xã hội
Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trongnhững điều kiện kinh tế, xã hội nhất định Trong điều kiện nền kinh tế thịtrường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt độngkinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển kinh
tế - xã hội Vai trò của thuế được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
Pháp luật thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập
trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách Nhà nước
Nhà nước ban hành pháp luật thuế và ấn định các loại thuế áp dụng đốivới các pháp nhân và thể nhân trong xã hội.Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiệnnghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chínhquan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhà nước
Cũng như pháp luật nói chung, Pháp luật thuế có chức năng điều chỉnhcác quan hệ xã hội Mục đích chủ yếu và quan trọng nhất của sự điều chỉnhquan hệ pháp luật thu - nộp thuế là nhằm tạo lập quỹ ngân sách Nhà nước.Hầu hết ở các quốc gia, thuế là hình thức chủ yếu mà pháp luật quy định đểthu ngân sách Nhà nước
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thunội bộ của nền kinh tế quốc dân Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuấtphát từ phạm vi hoạt động mà đòi hỏi Nhà nước phải ban hành và tổ chức
Trang 11thực hiện pháp luật thuế để tập trung nguồn tài chính vào ngân sách Nhà nước
từ đó mới đáp ứng được nhu cầu chi ngày càng tăng
Thuế là công cụ quan trọng nhất để phân phối lại tổng sản phẩm xã hội
và thu nhập quốc dân theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.Hiện nay nguồn thu nước ngoài đã giảm nhiều, kinh tế đối ngoại chuyểnthành có vay có trả Trước tiên, thuế là một công cụ quan trọng để góp phần
ổn định trật tự xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho việc phát triển lâu dài
Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hệ thống pháp luật thuế mới được
áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế Thuế đã điều chỉnh được hầuhết các hoạt động sản xuất, kinh doanh, các nguồn thu nhập, mọi tiêu dùng xãhội Đây là nguồn thu chính của ngân sách Nhà nước
Pháp luật thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội
Ngoài việc huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, pháp luậtthuế còn có vai trò quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế.Điều 26 Hiến pháp 1992 ghi nhận: Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tếquốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách Là một bộ phận của hệ thốngpháp luật Việt Nam, pháp luật thuế đóng vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô củaNhà nước Thông qua việc ban hành và thực hiện pháp luật thuế, Nhà nướcthể chế hoá và thực hiện chính sách điều tiết đối với nền kinh tế, điều tiết thunhập và tiêu dùng xã hội
Điều tiết đối với nền kinh tế là yêu cầu khách quan, thường xuyên củaNhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường Thông qua các quy định củapháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế, phạm vi đối tượng nộp thuế, thuế suất,miễn giảm thuế Nhà nước chủ động phát huy vai trò điều tiết đối với nềnkinh tế Vai trò này của pháp luật thuế được thể hiện ở chổ pháp luật thuế làcông cụ tác động đến tư duy đầu tư, hành vi đầu tư của các chủ thể kinhdoanh, hành vi tiêu dùng của các thành viên trong xã hội Dựa vào công cụthuế, Nhà nước có thể thúc đẩy hoặc hạn chế việc đầu tư, tiêu dùng
Trang 12Thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước chủ động canthiệp đến cung - cầu của nền kinh tế Sự tác động của Nhà nước để điều chỉnhcung - cầu của nền kinh tế một cách hợp lý sẽ có tác động lớn đến sự ổn định
và tăng trưởng kinh tế Bằng các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước tácđộng tích cực đến cung - cầu của nền kinh tế trong tất cả các giai đoạn từ sảnxuất, lưu thông đến tiêu dùng
Điều tiết tiêu dùng là hoạt động quan trọng của Nhà nước đối với nềnkinh tế thị trường Thông qua các quy định của pháp luật thuê,ỳ Nhà nước tácđộng đến các quan hệ tiêu dùng của xã hội Nhằm hạn chế việc tiêu dùng đốivới một số hàng hóa, dịch vụ, Nhà nước tăng thuế suất thuế giá trị gia tăng,thuế xuất nhập khẩu đối với việc sản xuất kinh doanh, tiêu dùng các loạihàng hóa đó
Ðể thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước vàkhuyến khích xuất khẩu, pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có các quyđịnh khuyến khích hoặc hạn chế việc xuất, nhập khẩu đối với một số hànghóa Sự khuyến khích hoặc hạn chế này thể hiện tập trung ở biểu thuế áp dụng
có tính chất phân biệt đối với các loại hàng hóa xuất nhập khẩu
Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thịtrường tất yếu dẫn đến tình trạng suy thoái về tài chính ở một số doanhnghiệp Ðối với những ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cần khuyếnkhích, ngoài các quy định chung, pháp luật thuế còn có các quy định ưu đãi,miễn, giảm thuế nhằm khắc phục sự suy thoái về tài chính, tạo sự ổn định vàphát triển của các doanh nghiệp
Thuế góp phần khuyến khích khai thác nguyên liệu, vật tư trong nước
để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu.Thông qua pháp luật thuế, Nhànước có tác động tích cực trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển trên cơ sởtận dụng và sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực của đất nước trongviệc điều chỉnh cung - cầu và cơ cấu kinh tế
Trang 13Pháp luật thuế là công cụ góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội
Hệ thống pháp luật thuế mới được áp dụng thống nhất chung cho cácngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo sựbình đẳng và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi thế nhân
và pháp nhân
Sự bình đẳng và công bằng được thể hiện thông qua chính sách độngviên giống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế cónhững điều kiện hoạt động giống nhau, đảm bảo sự bình đẳng và công bằng
Vai trò điều tiết thu nhập của pháp luật thuế thể hiện ở sự tác động củapháp luật thuế đối với các quan hệ phân phối và sử dụng thu nhập trong xã hội
Sự vận động của nền kinh tế theo cơ chế thị trường đòi hỏi Nhà nướcphải sử dụng đồng bộ nhiều công cụ khác nhau để khắc phục những sự mấtcân đối về mặt xã hội trong đó có mất cân đối về thu nhập Nhà nước sử dụngpháp luật thuế làm công cụ để điều hòa vĩ mô thu nhập trong xã hội Sự điềutiết này thể hiện ở chổ thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nướcthực hiện việc điều tiết thu nhập của các đối tượng nộp thuế và các thành viêntrong xã hội Sự thay đổi của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế trong hệthống thuế, vế thuế suất đều có tác động đến thu nhập và sử dụng thu nhậptrong xã hội
Hiện nay, xu hướng chung của các quốc gia là xây dựng các quy phạmpháp luật thuế theo hướng hội nhập quốc tế, đơn giản hóa cơ cấu hệ thốngthuế và thuế suất Tuy vậy, việc thực hiện xu hướng chung đó không làm triệttiêu vai trò của pháp luật thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước trongđiều kiện nền kinh tế thị trường
2 Vai trò, vị trí của công tác đôn đốc thuế, chống nợ đọng thuế kéo dài
và sư cần thiết của công tác đôn đốc thuế, chống nợ thuế kéo dài
2.1 Vai trò và vị trí của công tác đôn đốc thuế, chống nợ đọng thuế kéo dài
Trang 14Công tác đôn đốc thuế và chống nợ đọng thuế kéo dài đóng vai trò rấtquan trọng trong công tác thu thuế của Ngành hải quan nói riêng và cả nướcnói chung Bởi vì, hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tốt,
và chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ nộp thuế của mình Nhưng trong tìnhtrạng khủng hoảng kinh tế như hiện nay, thì cũng không ít những doanhnghiệp làm ăn thua lỗ, dẫn đến nguồn tài chính của doanh nghiệp không đủ đểnộp thuế đúng hạn và đầy đủ Mặt khác, cũng có nhiều doanh nghiệp chai lỳ,không chịu nộp thuế đúng và đủ Từ đó, cần thiết phải đôn đốc thuế và chống
nợ đọng thuế kéo dài để đảm bảo nguồn thu của Nhà nước đúng và đủ Đặcbiệt, nguồn thu thuế hoạt động xuất nhập khẩu chiếm tỷ trọng không nhỏtrong tổng nguồn thu ngân sách Nhà nước, vì vậy, đối với ngành hải quan thìcông tác đôn đốc thuế và chống nợ đọng thuế kéo dài chiếm vai trò và vị trírất quan trọng
2.2 Ảnh hưởng của việc nợ đọng thuế kéo dài
Như chúng ta đã biết, thuế là nguồn tài chính do nhân dân đóng góp, từnguồn tài chính do nhân dân đóng góp đó mà đảm bảo hoạt động của bộ máyNhà nước, thực hiện các hoạt động an sinh xã hội…
Thuế xuất nhập khẩu cũng là một loại thuế cũng phải nộp vào ngânsách Nhà nước và chiếm tỉ trọng không nhỏ trong tổng ngân sách Nhà nước
Vì vậy, nếu các doanh nghiệp làm thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá mà khôngchịu nộp thuế đúng hạn, dẫn đến nợ thuế kéo dài thì sẽ gây tổn thất rất lớn đốivới Nhà nước Trước hết, sẽ ảnh hưởng đến số thu của ngân sách Nhà nước,không đạt được chỉ tiêu đã đặt ra Tiếp theo, là sẽ không đáp ứng được chitiêu của bộ máy Nhà nước Và cũng ảnh hưởng đến đời sống của toàn thểngười dân Vì từ nguồn thuế mà nhân dân đóng góp thì Nhà nước thực hiệncác hoạt động an sinh xã hội, xây dựng các công trình công cộng… phục vụnhân dân Nhưng số thu thuế Nhà nước không đủ, thì sẽ không thực hiện đượcnhững hoạt động trên Nợ thuế kéo dài sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tếcũng như đời sống của nhân dân Vì vậy, công tác đôn đốc thuế, chống nợ
Trang 15đọng thuế kéo dài là cần thiết đối với những Chi cục thường xuyên có nhữngdoanh nghiệp có nợ thuế kéo dài.
2.3 Sự cần thiết của công tác đôn đốc thuế, chống nợ thuế kéo dài
Từ những ảnh hưởng nêu trên thì chúng ta thấy được sự cần thiết củacông tác đôn đốc thuế, và chống nợ thuế kéo dài
- Trước hết là đảm bảo số thuế của ngân sách Nhà nước được thu đúng,thu đủ và thu kịp thời, hoàn thành được chỉ tiêu đặt ra
- Thứ hai là sẽ đảm bảo được sự hoạt động liên tục của bộ máy Nhà nước
- Thứ ba, là đảm bảo phục vụ tốt những nhu cầu an sinh của xã hội
- Thứ tư, nhờ công tác đôn đốc thuế, chống nợ thuế kéo dài mà cácdoanh nghiệp ra sức sản xuất, hoạt động có hiệu quả để đảm bảo cho nguồntài chính của mình có thể đủ để nộp thuế đúng hạn và đầy đủ
2.4 Một số biện pháp đôn đốc thuế, chống nợ thuế kéo dài
Hiện nay, các biện pháp chế tài với những trường hợp nợ thuế dây dưađược quy định rất cụ thể và áp dụng từ nhẹ đến nặng Các cấp độ chế tài là xửphạt hành chính (từ vài trăm ngàn đến vài triệu đồng), đình chỉ việc bán hóađơn, kê biên tài sản, cưỡng chế… Trong các trường hợp nợ đọng thuế kéodài, ngoài một số đối tượng quá chây ỳ trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế,cũng có một số đối tượng còn gặp phải khó khăn trong sản xuất kinh doanh(SXKD) Đối với các đối tượng SXKD gặp khó khăn, việc phạt chậm nộpthuế 0,1%/ngày so với số thuế phải nộp, cao hơn lãi suất vay ngân hàngkhoảng 3 lần, nhưng họ vẫn chấp nhận Nguyên nhân, đơn vị đang gặp khókhăn về nguồn vốn, nhưng không thể tiến hành vay ngân hàng được, đànhphải chấp nhận nộp phạt để có vốn duy trì SXKD
Theo quy định của Luật thuế, nếu DN nợ thuế kéo dài, ngoài bị phạthành chính, còn bị áp dụng các biện pháp mạnh hơn như: đình chỉ việc bánhóa đơn, kê biên tài sản, cưỡng chế, truy tố trước pháp luật… Tuy nhiên, cónhiều trường hợp ngành Thuế đã áp dụng các biện pháp chế tài mạnh, nhưngvẫn chưa thu được thuế Theo ý kiến của một số DN nợ đọng thuế kéo dài:
Trang 16Trong kinh doanh, việc rủi ro hay chậm trễ là điều không thể tránh khỏi Bởivậy, ngành Thuế có thể giải quyết cho đối tượng nộp thuế dãn việc nộp thuếtrong một thời gian nhất định; hoặc cho phép DN "chia nhỏ" số thuế đang nợ
ra nhiều phần để trả dần theo từng tháng, từng quý Đồng thời, chưa áp dụngbiện pháp tạm thời đình chỉ sử dụng hóa đơn đối với DN, nhằm tạo điều kiệncho việc kinh doanh của DN được liên tục… Làm như vậy các DN mới cóđiều kiện pháp lý để hoàn thành thủ tục thanh toán các hợp đồng và thu hồicông nợ để hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế
Chỉ thị số 15/2005/CT-TTg ngày 15-4-2005 của Thủ tướng Chính phủ
về các biện pháp xử lý nợ đọng và chống thất thu ngân sách nhà nước đã nêu
rõ: Để tăng cường xử lý nợ đọng và chống thất thu ngân sách nhà nước, phấn
đấu hoàn thành vượt mức dự toán thu nhà nước giao, tạo nguồn lực để thựchiện các nhiệm vụ quan trọng của đất nước, Bộ Tài Chính chỉ đạo cơ quanthuế, hải quan tổ chức thực hiện thu đúng, thu đủ và kịp thời các khoản thuế,phí, lệ phí và thu khác vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật
Xử lý nghiêm các trường hợp nợ đọng, chiếm dụng nguồn thu của ngân sáchnhà nước; xây dựng quy trình và biện pháp quản lý nợ, thu nợ; theo dõi chínhxác số thuế nợ đọng; phân loại các khoản nợ thuế Trong đó, cần phân tích rõnguyên nhân và đề ra các biện pháp thu nợ thích hợp, có hiệu quả; nghiên cứutrình Thủ tướng Chính phủ biện pháp xử lý các khoản nợ thuế không có khảnăng thu hồi
Trang 17Chi cục Hải quan Nam Định được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước vềHải quan trên địa bàn tỉnh Nam Định Trong quá trình thực hiện quản lý Nhànước về Hải quan, Chi cục Hải quan Nam Định đã làm tốt vai trò chức năng,nhiệm vụ của mình; đồng thời đã góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế đốingoại nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng ở địa bàn được quản
lý ngày càng phát triển Ngoài ra Chi cục đã thực hiện tốt quy trình nghiệp vụquản lý Nhà nước về Hải quan phù hợp với nền kinh tế thị trường có sự điềutiết của Nhà nước
Kể từ khi thành lập đến nay hàng hoá xuất nhập khẩu ngày càng tăngmạnh kể cả số lượng, đa dạng về loại hình và mặt hàng Ngay từ những ngàyđầu thành lập, Chi cục mới chỉ làm thủ tục hải quan cho khoảng 06 đến 10doanh nghiệp, đến nay sau hơn 10 năm thành lập số doanh nghiệp làm thủ tụcthường xuyên lên đến hơn 70 doanh nghiệp Với số lượng cán bộ công chứckhông nhiều, khối lượng công việc lớn, để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụchính trị Chi cục đã tìm ra các biện pháp nhằm điều kiện thuận lợi cho doanh
Trang 18nghiệp trong hoạt động xuất nhập cảnh, xuất nhập khẩu nhưng phải đảm bảođúng chế độ chính sách của Đảng và Pháp luật Nhà nước
Nhiệm vụ trọng tâm và khó khăn của Chi cục Hải quan Nam Định làđôn đốc, xử lý nợ đọng thuế, điểm quan trọng là phải xác định đúng đối tượngnộp thuế được áp dụng thời gian nộp thuế theo quy định Chi cục trưởng phảichịu trách nhiệm về việc cho ân hạn thuế không đúng đối tượng Một số biệnpháp thu hồi nợ tiếp tục được thực hiện như rà soát các khoản nợ của DN thua
lỗ, giải thể, phá sản; thường xuyên đôn đốc, theo dõi, nhắc nhở DN trước khiđến hạn nộp thuế, cưỡng chế; tập trung nhân lực thanh khoản các lô hàngnhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu… Kết quả đôn đốc, xử lý nợ thuế đượccoi là chỉ tiêu để đánh giá thi đua của đơn vị, nếu cuối năm đơn vị để phátsinh nợ thuế nhiều hơn năm trước thì không được đánh giá là hoàn thànhnhiệm vụ
Chi cục Hải quan Nam Định thường xuyên làm thủ tục cho các loạihình xuất nhập khẩu: Kinh doanh theo hợp đồng thương mại, gia công xuấtkhẩu, hàng đầu tư, hàng sản xuất xuất khẩu Kim ngạch xuất nhập khẩu củacác loại hình làm thủ tục Hải quan tại Chi cục ngày càng tăng Với số lượng
tờ khai lớn, năm sau cao hơn năm trước, tính đến ngày 30/09/2009 số lượng
tờ khai tại Chi cục đã lên đến 15.134 tờ khai tăng 30% so với năm 2008 Tổng
số doanh nghiệp thường xuyên có hoạt động xuất nhập khẩu làm thủ tục làhơn 50 doanh nghiệp Tính đến 30/09/2009 tổng số thuế đã thu nộp Ngânsách Nhà nước là: 50.942.273.566 đồng đạt 53% chỉ tiêu pháp lệnh
1.2.Bộ máy tổ chức tại Chi cục
Năm 2009 Chi cục Hải quan Nam Định gồm 22 cán bộ công chức, theo
mô hình tổ chức của Luật Hải quan được chia thành 2 đội: Đội Nghiệp vụ vàĐội Tổng hợp
+ Đội Nghiệp vụ thực hiện các khâu nghiệp vụ từ đăng ký tiếp nhận tờkhai, kiểm tra tính thuế, kiểm tra thực tế hàng hoá,thông quan hàng hoá
Trang 19+ Đội Tổng hợp thực hiện công tác kế toán thuế, phúc tập hồ sơ vàthanh khoản hồ sơ.
Nhìn chung trình độ năng lực của cán bộ công chức trong Chi cục làtương đối đồng đều và có khả năng đáp ứng được những yêu cầu, nhiệm vụcủa công tác quản lý nhà nước về Hải quan trên địa bàn quản lý trong tìnhhình mới
Trang 20SƠ ĐỒ BỘ MÁY TỔ CHỨC CHI CỤC HẢI QUAN NAM ĐỊNH
Thu thuế, lệ phí hải quan;
đóng dấu
"đã làm thủ tục HQ"
Kế toán thuế
Phúc tập
Thanh khoản hồ sơ CHI CỤC TRƯỞNG
(Phụ trách chung)