1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quy trình tham vấn, xác định trị giá hải quan với hàng nhập khẩu tại Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh

42 209 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 210 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xu thế tòan cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế được xem là một tất yếu khách quan và trở thành vấn đề thời sự của tất cả các quốc gia trên thế giới, Chúng ta không thể không tham gia vào sân chơi rộng lớn này. Từ ngày 11012007, Việt Nam đã trở thành thành viên đầy đủ của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), cam kết thực hiện đầy đủ các chuẩn mực quốc tế của WTO đó chính là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (General Agreement on Trade and Tariff – GATT) trong đó có Hiệp định thực hiện điều VII Hiệp định chung về thuế quan và thương mại về xác định trị giá hải quan (được gọi tắt là Hiệp định trị giá GATT), tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế mang đến cho Việt Nam nhiều cơ hội nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế trong nước tiến kịp với các nước trong khu vực. Bên cạnh đó, trong bối cảnh phải nhanh chóng thực hiện các hiệp định thương mại quốc tế và trong khu vực khiến các chính sách thương mại phải thực thi trở nên phức tạp hơn trong đó các mục tiêu đặt ra cho ngành hải quan thì vô cùng đa dạng và thay dổi liên tục nên nhiệm vụ đối với ngành hải quan ngày càng trở nên khó khăn hơn. Hải quan cũng có vai trò trong việc cải thiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua đảm bảo tính thống nhất của các thủ tục hải quan áp dụng cho các lọai hàng hóa khác nhau, tại các vùng lãnh thổ khác nhau cũng như đảm bảo giải phóng hàng nhanh. Ngòai ra, cũng cần phải tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về xác định trị giá. Vì vậy Hiệp định trị giá Hải quan là một trong những Hiệp định mang tính chất bắt buộc khi là thành viên của WTO.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong xu thế tòan cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế được xem là một tất yếu kháchquan và trở thành vấn đề thời sự của tất cả các quốc gia trên thế giới, Chúng ta không thểkhông tham gia vào sân chơi rộng lớn này Từ ngày 11/01/2007, Việt Nam đã trở thànhthành viên đầy đủ của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), cam kết thực hiện đầy đủ cácchuẩn mực quốc tế của WTO đó chính là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại(General Agreement on Trade and Tariff – GATT) trong đó có Hiệp định thực hiện điềuVII Hiệp định chung về thuế quan và thương mại về xác định trị giá hải quan (được gọi tắt

là Hiệp định trị giá GATT), tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế mang đến cho Việt Namnhiều cơ hội nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế trong nước tiến kịp với các nước trong khuvực Bên cạnh đó, trong bối cảnh phải nhanh chóng thực hiện các hiệp định thương mạiquốc tế và trong khu vực khiến các chính sách thương mại phải thực thi trở nên phức tạphơn trong đó các mục tiêu đặt ra cho ngành hải quan thì vô cùng đa dạng và thay dổi liêntục nên nhiệm vụ đối với ngành hải quan ngày càng trở nên khó khăn hơn Hải quan cũng

có vai trò trong việc cải thiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua đảm bảotính thống nhất của các thủ tục hải quan áp dụng cho các lọai hàng hóa khác nhau, tại cácvùng lãnh thổ khác nhau cũng như đảm bảo giải phóng hàng nhanh Ngòai ra, cũng cầnphải tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về xác định trị giá Vì vậy Hiệp định trị giá Hải quan

là một trong những Hiệp định mang tính chất bắt buộc khi là thành viên của WTO

Việc thực hiện hệ thống xác định trị giá tính thuế theo Hiệp định trị giá GATT đãtạo ra bước ngoặt cho hệ thống xác định trị giá tính thuế, tạo điều kiện điều kiện mở rộngthị trường xuất khẩu cho hàng hoá Việt Nam, góp phần tăng cường thu hút vốn đầu tưnước ngoài, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá trong nước

Trang 2

Đối với nhiệm vụ chính trị của Ngành Hải quan, trị giá tính thuế là một khâu trongquá trình thực thi nhiệm vụ đó, nó không chỉ hỗ trợ nâng cao chất lượng quản lý sự tuânthủ pháp luật về xác định trị giá hải quan của doanh nghiệp, vừa giúp doanh nghiệp và cơquan Hải quan tiết kiệm những chi phí quản lý, tăng cường bình đẳng và tạo thuận lợi chothương mại phát triển

Với tư cách là một “người gác cửa nền kinh tế”, Hải quan Việt Nam nói chung vàCục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, là lực lượng đầu tiên phải đối mặt vớinhững thay đổi của môi trường làm việc, lưu lượng hàng hoá ra vào các cửa khẩu ngàycàng tăng làm cho áp lực công việc đối với từng khâu nghiệp vụ quản lý ngày càng trở nêncăng thẳng, việc thực hiện Hiệp định trị giá GATT/WTO trong bối cảnh nền kinh tế đangphát triển; hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, minh bạch thống nhất; hệ thống thông tin cònhạn chế; hoạt động thanh toán, các quy định về kế toán chưa được kiểm soát chặt chẽ,thanh toán bằng tiền mặt còn phổ biến; ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận doanhnghiệp còn thấp; trong khi đó, lực lượng cán bộ công chức Hải quan tuyển dụng mới hàngnăm tăng không đáng kể, trình độ cán bộ công chức còn chưa đồng đều, tư duy theo kiểuxưa cũ, không thích thay đổi Điều đó đã đặt ra nhiều khó khăn và thách thức rất lớn đốivới cơ quan Hải quan

Để Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh vừa phải tuân thủ chuẩn mực quốc tế về xác

định trị giá hải quan vừa thực hiện vai trò quản lý của hải quan nên tôi chọn đề tài “Quy trình tham vấn, xác định trị giá hải quan với hàng nhập khẩu tại Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh” nhằm hoàn thiện hơn công tác kiểm tra, tham vấn, xác định trị

giá tính thuế tại Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh

Trang 3

CHƯƠNG I CỞ SỞ LÝ LUẬN

I Giới thiệu Cục Hải Quan Tp Hồ Chí Minh:

Cục Hải quan Tp Hồ Chí Minh là cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực Hải

quan trực thuộc Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính Cục Hải quan Tp Hồ Chí Minh có tư

cách pháp nhân, có con dấu riêng, hoạt động theo pháp luật

Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh (tiền thân là Cục Hải quan Miền Nam ViệtNam, thuộc Tổng nha Ngoại Thương) được thành lập theo Nghị định số: 09/QĐ do Chủtịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam Huỳnh Tấn Phát ký

ngày 11 tháng 7 năm 1975, với các chức năng, nhiệm vụ: giám sát, quản lý mọi hàng hóa, hành lý và phương tiện vận tải xuất nhập cảng, nhằm đảm bảo thực hiện đúng chính sách ngoại thương, chính sách ngoại hối, góp phần thực hiện đường lối ngoại giao và bảo vệ chính trị an ninh của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, Nghị định còn quy định: Cục Hải quan Miền Nam là cơ quan sự nghiệp đặc biệt, nửa vũ trang.

Trụ sở Cục Hải quan Tp Hồ Chí Minh đặt tại:

 Số 2 Hàm Nghi, phường Bến Nghé, quận 1, Tp Hồ Chí Minh

 Điện thoại: 84—8-38291422

 Fax: 84 - 8- 38290912

Cơ cấu tổ chức: Tính đến ngày 30/6/2009, Cục Hải quan Tp Hố Chí Minh hiện cótổng cộng 1902 CBCC (1811 biên chế; 91 HĐLĐ68) Cơ cấu tổ chức bộ máy Cục Hảiquan Tp Hồ Chí Minh như sau:

• Cục trưởng, phụ trách chung

• 05 Phó Cục trưởng

• 07 đơn vị tham mưu cấp phòng

Trang 4

• 11 Chi cục Hải quan trực tiếp làm thủ tục XNK.

II PHÒNG TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ

Quá trình hình thành và phát triển của Phòng Trị giá tính thuế:

1 Giai đọan 1 : Từ năm 1994 – 1998:

Trong giai đoạn này chính sách Kinh tế đối ngoại của của Việt Nam thực hiện đaphương hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh tế quốc tế, chuyển sang quan hệ mua bán hànghóa với các nước thuộc khối tư bản chủ nghĩa Trong những năm đầu thập niên này do thịtrường mới, việc mua bán giữa người mua và người bán chưa có mối quan hệ thân thiết,thường là mua đứt bán đọan, bên cạnh đó trong giai đọan này chỉ có khỏang gần 300doanh nghiệp làm thủ tục xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan TP HCM và chủ yếu là cácdoanh nghiệp Nhà nước

Dần dần qua thời gian các bạn hàng đã tạo cho nhau sự tin cậy, việc thanh toánkhông còn sự ràng buộc chặt chẽ như trước đây, các phương thức thanh toán được cả haiphía người mua và người bán hàng hóa tạo cho nhau các điều kiện thuận lợi, thông thoáng

và cũng từ đây việc khai báo của một số doanh nghiệp thiếu trung thực, giá giảm từ 40% thậm chí có những loại hàng hóa giảm 60 – 70%, điều này tạo ra sự cạnh tranh khônglành mạnh giữa các doanh nghiệp họat động kinh doanh xuất nhập khẩu

30%-Trước tình hình gian lận thương mại qua giá diễn ra khó kiểm soát nếu không cómột lực lượng chuyên trách đảm nhiệm, vì vậy ngày 12/9/1994 Phòng Giá – Thuế Cục Hảiquan TP HCM được chính thức thành lập

Đồng chí Đỗ Đình Thực Phó cục trưởng được phân công phụ trách và chỉ đạo trựctiếp Đây là Phòng Giá – Thuế đầu tiên của Ngành Hải quan

Trang 5

Với chức năng nhiệm vụ được giao là xây dựng giá tính thuế đối với tất cả cáchàng hóa chưa có trong bảng giá tối thiểu của Bộ Tài chính, kiểm tra việc thực hiện côngtác áp giá tính thuế tại các chi cục, báo cáo Tổng cục Hải quan các trường hợp giá thấptrên 10% để Tổng cục Hải quan xem xét chỉ đạo thực hiện thống nhất trong toàn Ngành

Với biên chế ban đầu 17 công chức, gồm 02 lãnh đạo Phòng, 04 cán bộ đội và 11công chức chia làm hai đội công tác,

+ Đội 1- Đội xây dựng giá tính thuế : gồm 01đội trưởng; 02 đội phó và 8 công chức.+ Đội 2 - Đội Xác định mã số thuế suất gồm 01 đội phó và 03 công chức, đội nàykhông có đội trưởng mà do đồng chí Phó trưởng phòng phụ trách trực tiếp

Kết quả đạt được : Về Giá tính thuế :

+ Xây dựng giá tính thuế cho gần 15.000 mặt hàng, xác định mã số hàng hóa chotrên 2000 trường hợp khó chi cục không xác định được hoặc xác định chưa chuẩn xác,thuế tăng do điều chỉnh giá và xác định mã số thuế suất trên 300 tỷ VNĐ

Các Bảng giá đã ngăn chặn một cách hữu hiệu việc gian lận thương mại qua giátính thuế, bình quân mỗi năm số điều chỉnh về giá tính thuế tăng thu cho ngân sách Nhànước hàng trăm tỷ VNĐ, con số này chỉ tính trên số tờ khai nhập khẩu ban đầu còn các lầntiếp theo doanh nghiệp đã tự điều chỉnh theo các Bảng giá kiểm tra đã ban hành thì khôngthể tính được

Về xác định mã số hàng hóa :

Đây là một khâu nghiệp vụ khó, về nguyên tắc mỗi hàng hóa nhập khẩu chỉ có một

mã số hàng hóa nhất định, tuy nhiên trong giai đoạn này chưa có một văn bản pháp quynào quy định cụ thể cho việc phân loại hàng hóa dẫn tới việc xác định mã số hàng hóakhông thống nhất Trong năm 1995 - 1998 đã tập hợp báo cáo Bộ cho sửa đổi bổ sungtăng thuế một số mặt hàng như: Kẹo gum trần từ 0% lên 30%, dầu gội đầu Nizoral từ 0%

Trang 6

nghị này đã được Bộ tài chính chấp nhận và ban hành các biểu thuế sửa đổi bổ sung, riêngmặt hàng nhôm mạ hợp kim nhôm kẽm tại biểu thuế chưa rõ do đó việc xếp mã số đượcxếp vào nhóm “tôn đã phủ mạ tráng kẽm”, thuế suất thuế NK 15% Căn cứ vào cácnguyên tắc của công ước HS, Phòng đã báo cáo Cục tập hợp báo cáo Tổng cục Hải quan

và được Tổng cục Hải quan chấp nhận, riêng mặt hàng này đã tăng thu cho ngân sách 21

tỷ VNĐ, sau này tại Quyết định 659A Bộ Tài chính cho điều chỉnh tăng thuế suất lên 20%

2 Giai đọan 2 từ năm 2003 đến nay :

Năm 1998 Phòng giá thuế được sát nhập với Phòng kiểm tra thu (nay là PhòngNghiệp vụ), bộ phận giá thuế chỉ làm nhiệm vụ kiểm tra báo cáo mà không thực hiện việcxây dựng giá tính thuế nữa

Song, trước yêu cầu hội nhập, cũng như tình hình gian lận thương mại qua giá diễnbiến phức tạp, một số doanh nghiệp lợi dụng các kẽ hở của chính sách để khai báo giảmgiá các mặt hàng nhập khẩu, vào tháng 01/2003 Mảng nghiệp vụ Giá – Thuế trực thuộcPhòng nghiệp vụ được hình thành, (đây là tiền thân của Phòng Trị Giá tính thuế sau này)

Với nhiệm vụ được giao tương tự nhiệm vụ của Phòng Giá – Thuế trước đây, mảnggồm 07 công chức, bằng các kinh nghiệm của mình tích lũy trong quá trình công tác xâydựng giá và xác định mã số thuế, công chức mảng nghiệp vụ giá – thuế lại tập trung cao độgiải quyết với các công việc khó khăn, phức tạp mà lãnh đạo cục tin tưởng giao phó, chỉtrong vòng 04 tháng đã xây dựng trình lãnh đạo cục ký ban hành 29 Quyết định về giá chohơn 2000 mặt hàng NK, tạo điều kiện thuận lợi cho các chi cục đối chiếu, so sánh để ápgiá tính thuế, ngăn chặn một cách hữu hiệu gian lận thương mại qua giá tính thuế

Do tính chất đặc thù của nghiệp vụ Giá – Thuế, để công tác tham mưu chủ động,nâng cao năng lực công chức làm giá và hiệu quả cao trong công tác điều hành, quản lý

Căn cứ Quyết định Số 36/QĐ-BTC ngày 17/3/2006 về việc thành lập Phòng Trị giátính thuế tại 08 Cục HQ Tỉnh, Thành phố, ngày 03/6/2003 Cục trưởng Cục HQTP ký

Trang 7

Quyết định số 1251/HQTP-TCCB tách Mảng nghiệp vụ Giá - Thuế của Phòng nghiệp vụ

ra khỏi Phòng Nghiệp vụ để thành lập Phòng Trị giá tính thuế với biên chế ban đầu 20công chức, 02 Phó trưởng phòng (trong đó có 01 Phó trưởng phòng phụ trách, đến tháng7/2003 bổ nhiệm Trưởng phòng và 01 phó trưởng phòng được điều chuyển công táckhác), do tính chất của công việc, Phòng không có đội công tác mà được chia làm 05nhóm nghiệp vụ khác nhau

Phòng có chức năng tham mưu cho lãnh đạo Cục chỉ đạo thực hiện thống nhấtcông tác giá trong toàn Cục, trực tiếp xây dựng giá tính thuế các mặt hàng chưa có trongBảng giá kiểm tra và giá tối thiểu, thực hiện chứng minh tính trung thực khách quan củagiá hợp đồng nhập khẩu, đây cũng là bước đệm cho việc thực hiện Hiệp định Trị giáGATT vào 29/12/2003

Qua từng giai đọan phát triển, cho đến ngày nay Phòng Trị giá tính thuế hiện có 25công chức, trong đó có 01 đồng chí Trưởng phòng và 02 Phó Trưởng phòng, 05 nhómcông tác, do đồng chí Phạm văn Bút Phó cục trưởng được phân công phụ trách chỉ đạotrực tiếp Với sự đoàn kết nhất trí cao trong đơn vị, Phòng đã tạo được sự tin tưởng và sựtín nhiệm trong tập thể lãnh đạo Cục và các đơn vị trực thuộc Cục Hải quan thành phố, do

đó đã có 05 công chức của Phòng được đề bạt bổ nhiệm vào cương vị lãnh đạo từ đội phóphụ trách đến Trưởng phòng, hiện có 05 công chức dự nguồn từ đội phó đến Trưởngphòng, một số công chức của phòng luân chuyển xuống các đơn vị là lực lượng nòng cốtcho công tác tham vấn xác định trị giá tại các chi cục

Thành tích đạt được:

- Từ tháng 01/2003 – 12/2006 đã ra Quyết định xây dựng giá cho trên 13.000 mặthàng điều chỉnh tăng thu trên 276 tỷ VNĐ Qua công tác kiểm tra nghiệp vụ giá tính thuếtại các chi cục đã phát hiện truy thu thuế trên 1 023 tỷ VNĐ

Trang 8

- Với sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ công chức Phòng Trị giá tính thuế, tập thểPhòng từ năm 2003 đến nay đã được Tặng 04 Bằng khen, do Ủy ban Nhân dân thành phố

Hồ Chí Minh, Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan tặng, chi bộ được công nhận là chi bộ

cơ sở trong sạch vững mạnh Có 01 công chức của Phòng được tặng Bằng khen của Chínhphủ, 01 công chức được công nhận là chiến sỹ thi đua Ngành Tài chính, 13 lượt công chứcđạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở

Với phương châm “ Thuận lợi, tận tụy, chính xác” Phòng Trị giá tính thuế luôn làngười bạn đồng hành của doanh nghiệp trong hướng dẫn xác định trị giá tính thuế theođúng quy định của pháp luật hiện hành, thực hiện công khai hóa, minh bạch hóa công tácxác định trị giá, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, góp phần cùngcác đơn vị trực thuộc Cục Hải quan thành phố phấn đấu đạt danh hiệu Anh hùng lao độngtrong thời kỳ đổi mới

II CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ

1 Nội dung các phương pháp xác định trị giá tính thuế theo GATT :

1.1 Phương pháp trị giá giao dịch của hàng nhập khẩu

Trị giá hải quan của hàng hoá nhập khẩu phải là trị giá giao dịch, đó là giá thực tế

đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho hàng hoá khi hàng hoá được bán để xuất khẩuđến nước nhập khẩu, có tính đến các khoản được điều chỉnh theo:

+/- Các khoản

điều chỉnh

a Các điều kiện áp dụng phương pháp:

Phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá giao dịch đối với hàng hoá nhậpkhẩu chỉ được áp dụng nếu thoả mãn các điều kiện:

Trang 9

(a) người mua không bị hạn chế về chuyển nhượng hoặc sử dụng hàng hoá, ngoại trừcác hạn chế sau:

(b) hoạt động bán hàng, hay giá cả, không phụ thuộc vào một số điều kiện mà từ đóngười ta không thể xác định được trị giá của những hàng hoá cần được xác định trịgiá;

(c) sau khi tiếp tục bán lại, chuyển nhượng hoặc sử dụng hàng nhập khẩu, người nhậpkhẩu không phải chuyển bất cứ một khoản tiền nào từ doanh thu mà họ đạt được,

dù là trực tiếp hay gián tiếp, cho người bán, trừ phi khoản đó thuộc khoản điềuchỉnh phù hợp với các quy định; và

(d) người mua và người bán không có quan hệ đặc biệt với nhau, hoặc trong trườnghợp người mua và người bán có quan hệ đặc biệt thì trị giá giao dịch được chấpnhận là trị giá hải quan trong trường hợp mối quan hệ đặc biệt không ảnh hưởngđến giá

Với các quy định trên đây, trị giá giao dịch đề cập đến nhiều thuật ngữ cần đượchiểu và vận dụng một cách thống nhất và chính xác, ví dụ để quyết định sử dụng trị giágiao dịch của hàng nhập khẩu là trị giá tính thuế thì cần phải như thế nào là giao dịch bánhàng để xuất khẩu sang nước nhập khẩu, như thế nào là giá thực tế đã hay sẽ phải thanhtóan, những điều kiện làm ảnh hưởng quyền định đọat hay sử dụng hàng hóa sau khi nhậpkhẩu, như thế nào thì được xem là có mối quan hệ đặc biệt giữa người mua và người, trongtrường hợp có mối quan hệ đặc biệt thì việc chứng minh mối quan hệ đó có ảnh hưởng đếngiá giao dịch như thế nào,…

Bên cạnh đó, để tạo sự công bằng, khách quan torng việc sử dụng trị giá giao dịch,Hiệp định trị giá GATT/WTO cho phép người nhập khẩu quyền được giải thích và xuấttrình các chứng từ chứng minh trị giá kê khai phản ánh đúng trị giá thực tế đã hay sẽ phải

Trang 10

Mặc dù việc xác định trị giá tính thuế là trị giá giao dịch đòi hỏi đáp ứng nhiều điềukiện ràng buộc nhưng thực tế việc sử dụng trị giá giao dịch vẫn chiếm xấp xĩ 90% thương

vụ nhập khẩu ở các nước áp dụng hệ thống xác định trị giá tính thuế theo GATT Điều nàyphần nào phản ánh được tính phổ biến và tương đối phù hợp với tính hình thương mạiquốc tế ngày nay của phương pháp trị giá giao dịch

b Các khoản điều chỉnh:

* Nguyên tắc điều chỉnh

- Đối với các khoản phải cộng, chỉ điều chỉnh khi có các điều kiện sau:

+ Các khoản này do người mua thanh toán và chưa được tính trong giá thực tế đãtrả hay sẽ phải trả

+ Khoản phải cộng phải liên quan trực tiếp đến hàng hoá nhập khẩu

+ Trường hợp lô hàng nhập khẩu có các khoản phải cộng nhưng không có các sốliệu khách quan để xác định trị giá tính thuế thì không xác định theo trị giá giao dịch vàphải chuyển sang phương pháp tiếp theo

- Đối với các khoản được trừ, chỉ điều chỉnh khi có các số liệu, chứng từ hợp pháp,hợp lệ để tách khỏi giá bán và có sẵn tại thời điểm xác định trị giá tính thuế

* Các khoản phải cộng:

- Tiền hoa hồng và phí môi giới, trừ hoa hồng mua hàng Trường hợp các chi phínày bao gồm các khoản thuế phải nộp ở Việt Nam thì không phải cộng các khoản thuế đóvào trị giá tính thuế của hàng hoá nhập khẩu

- Chi phí bao bì được coi là đồng nhất với hàng hoá nhập khẩu, bao gồm: giá muabao bì, các chi phí khác liên quan đến việc mua bán và vận tải bao bì đến nơi đóng gói,bảo quản hàng hoá

Các loại container, thùng chứa, giá đỡ được sử dụng như một phương tiện để đónggói phục vụ chuyên chở hàng hoá, và sử dụng nhiều lần thì không được coi là bao bì gắn

Trang 11

liền với hàng hoá nên không phải là khoản phải cộng về chi phí bao bì gắn liền với hànghoá

- Chi phí đóng gói hàng hoá

- Trị giá của hàng hoá, dịch vụ do người mua cung cấp cung cấp miễn phí hoặcgiảm giá, được chuyển trực tiếp hoặc gián tiếp cho người sản xuất hoặc người bán hàng,

để sản xuất và bán hàng hoá xuất khẩu đến Việt Nam (gọi tắt là trị giá của khoản trợ giúp,được xác định và phân bổ các khoản trợ giúp được thực hiện theo đúng quy định củaThông tư 40/2008/TT-BTC ngày 21/5/2008 của Bộ Tài chính)

- Tiền bản quyền, phí giấy phép

- Các khoản tiền mà người nhập khẩu phải trả từ số tiền thu được sau khi bán lại,định đoạt, sử dụng hàng hoá nhập khẩu được chuyển cho người bán dưới mọi hình thức

- Chi phí vận chuyển và mọi chi phí khác có liên quan trực tiếp đến vận chuyểnhàng nhập khẩu đến địa điểm nhập khẩu, như: chi phí bốc, dỡ, xếp và chuyển hàng, phụphí tàu già, chi phí thuê các loại container, thùng chứa, giá đỡ được sử dụng như mộtphương tiện để đóng gói phục vụ chuyên chở hàng hoá, và sử dụng nhiều lần Trị giá củakhoản điều chỉnh này được xác định trên cơ sở hợp đồng vận chuyển hoặc các chứng từ,tài liệu liên quan đến vận chuyển hàng hoá

Trường hợp lô hàng có nhiều loại hàng hoá khác nhau nhưng chứng từ vận chuyểnkhông ghi chi tiết cho từng loại hàng hoá thì người khai hải quan tự phân bổ các chi phínày cho từng loại hàng hoá bằng cách sử dụng các phương pháp phân chia theo thứ tự ưutiên sau đây:

- Phân bổ trên cơ sở biểu giá vận chuyển của người vận chuyển hàng hoá;

- Phân bổ theo trọng lượng hoặc thể tích của hàng hoá;

- Phân bổ theo tỷ lệ trị giá mua của từng loại hàng hoá trên tổng trị giá lô hàng

Trang 12

Trường hợp giá mua chưa bao gồm chi phí vận chuyển nhưng người mua không cóchứng từ, hoặc chứng từ này không hợp pháp, hợp lệ thì không được áp dụng phươngpháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá giao dịch

- Chi phí bảo hiểm hàng hoá đến địa điểm nhập khẩu

Trường hợp người nhập khẩu không mua bảo hiểm cho hàng hoá thì không phảicộng thêm chi phí này vào trị giá tính thuế

Phí bảo hiểm mua cho cả lô hàng gồm nhiều loại hàng hoá khác nhau, nhưng chưađược ghi chi tiết cho từng loại hàng hóa, thì phân bổ theo trị giá của từng loại hàng hoá

Các chi phí vận chuyển và phí bảo hiểm nêu trên nếu đã bao gồm thuế giá trị giatăng phải nộp ở Việt Nam thì không phải cộng khoản thuế này vào trị giá tính thuế

* Các khoản được trừ:

Nếu các khoản sau đây đã nằm trong trị giá giao dịch và có các số liệu khách quandựa trên các tài liệu, chứng từ hợp pháp, hợp lệ có sẵn tại thời điểm xác định trị giá tínhthuế thì được trừ ra khi xác định trị giá tính thuế:

- Chi phí cho những hoạt động phát sinh sau khi nhập khẩu hàng hoá, bao gồm cácchi phí về xây dựng, kiến trúc, lắp đặt, bảo dưỡng hoặc trợ giúp kỹ thuật, tư vấn kỹ thuật,chi phí giám sát và các chi phí tương tự

- Chi phí vận chuyển, bảo hiểm trong nội địa Việt Nam Trường hợp các chi phínày liên quan đến nhiều loại hàng hoá khác nhau thì phải phân bổ cho hàng hoá cần xácđịnh trị giá tính thuế theo nguyên tắc nêu tại điểm g và h khoản 2 mục này

- Các khoản thuế, phí, lệ phí phải nộp ở Việt Nam đã nằm trong giá mua hàng nhậpkhẩu Trường hợp các khoản phí, lệ phí liên quan đến nhiều loại hàng hoá khác nhau màkhông xác định trực tiếp được cho từng loại hàng hoá thì phân bổ theo tỷ lệ trị giá mua củatừng loại hàng hoá trên tổng trị giá lô hàng

Trang 13

- Các chi phí do người mua chịu, liên quan đến tiếp thị hàng hoá nhập khẩu, baogồm:

+ Chi phí nghiên cứu, điều tra thị trường về sản phẩm sắp nhập khẩu;

+ Chi phí quảng cáo nhãn hiệu, thương hiệu hàng nhập khẩu;

+ Chi phí liên quan đến việc trưng bày, giới thiệu sản phẩm mới nhập khẩu;

+ Chi phí tham gia hội chợ, triển lãm thương mại về sản phẩm mới;

+ Chi phí kiểm tra số lượng, chất lượng hàng trước khi nhập khẩu Trường hợp cácchi phí này là thoả thuận giữa người mua, người bán và là một phần trong giá thực tế đãthanh toán hay sẽ phải thanh toán do người mua trả cho người bán thì sẽ không được trừ rakhỏi trị giá giao dịch

+ Chi phí mở L/C để thanh toán cho lô hàng nhập khẩu, nếu chi phí này do ngườimua trả cho ngân hàng đại diện cho người mua thực hiện việc thanh toán tiền hàng

- Tiền lãi phải trả liên quan đến việc trả tiền mua hàng hoá nhập khẩu, với điều kiện:+ Tiền lãi phải trả phải được thể hiện dưới dạng văn bản và được phân biệt ra khỏigiá đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán;

+ Trong trường hợp được yêu cầu, người mua chứng minh được là trị giá khai báochính là giá đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán và lãi suất phải trả phù hợp với lãi suất tíndụng thông thường áp dụng tại thời điểm và tại nước mà thoả thuận tài chính được thực hiện

1.2 Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt :

Nguyên tắc của phương pháp này là khi không thể xác định trị giá giao dịch thực tếcủa hàng hóa nhập khẩu, trị giá hải quan được xác định trên cơ sở trị giá giao dịch đã đượcxác định trước đó của một lọai hàng hóa nhập khẩu giống hệt hàng hóa nhập khẩu đangđược định giá

1.3 Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự:

Trang 14

Nếu không thể xác định được trị giá tính thuế theo phương pháp trị giá giao dịch(Phương pháp 1) hay phương pháp trị giá giao dịch của hàng giống hệt (Phương pháp 2),thì trị giá Hải quan nhằm mục đích tính thuế của hàng hoá nhập khẩu phải là trị giá giaodịch của hàng tương tự bán để xuất khẩu đến Việt Nam vào cùng thời điểm hay cùng kỳvới lô hàng đang được xác định trị giá.

Về cơ bản Phương pháp 2 và Phương pháp 3 giống nhau trong cách tiếp cận để xácđịnh trị giá Hải quan, điểm khác biệt chủ yếu của hai phương pháp là :

- Chỉ áp dụng Phương pháp 3 khi không đủ điều kiện áp dụng Phương pháp 2 ;

- Khác nhau về « định nghĩa » hàng giống hệt và hàng tương tự

Trong đó :

(a) “hàng hoá giống hệt” là những hàng hoá giống nhau về mọi khía cạnh, kể cảcác đặc tính vật lý, chất lượng và danh tiếng uy tín Những khác biệt nhỏ bênngoài không ảnh hưởng đến đánh giá hàng hoá là hàng hoá giống hệt, trừ khichúng thoả mãn theo định nghĩa hàng hoá giống hệt

(b) “hàng hoá tương tự” là những hàng hoá, dù không giống nhau về mọi khíacạnh, nhưng có các đặc trưng giống nhau, và được làm từ các nguyên vật liệucấu thành giống nhau, như thế làm cho những hàng hoá này thực hiện được cácchức năng tương tự và có thể hoán đổi cho nhau trong giao dịch thương mại.Chất lượng của hàng hoá, danh tiếng uy tín hàng hoá và sự hiện diện của nhãnhiệu thương mại là những yếu tố nên được xem xét trong quá trình đánh giáhàng hoá đó có phải là mặt hàng tương tự hay không

1.4 Phương pháp trị giá khấu trừ:

Nếu không thể xác định được trị giá hải quan cho hàng hoá nhập khẩu theo phươngpháp trị giá giao dịch, trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt, trị giá giao dịchcủa hàng hóa nhập khẩu tương tự, thì trị giá hải quan được xác định theo phương pháp trị

Trang 15

giá khấu trừ hoặc, trừ trường hợp, theo yêu cầu của người nhập khẩu, thứ tự áp dụngphương pháp trị giá khấu trừ và phương pháp tính tóan được hoán đổi.

Nếu hàng nhập khẩu, hàng nhập khẩu giống hệt hay hàng nhập khẩu tương tự đượcbán tại nước nhập khẩu ở điều kiện như khi hàng hoá được nhập khẩu, thì theo các quyđịnh tại Điều này, trị giá hải quan của hàng nhập khẩu được xác định trên cơ sở đơn giá,

mà tại mức giá đó, hàng nhập khẩu, hàng nhập khẩu giống hệt hay hàng nhập khẩu tương

tự được bán cho người mua không có quan hệ đặc biệt với người bán hàng hoá đó, với sốlượng tổng cộng lớn nhất, vào cùng thời điểm hay cùng kỳ nhập khẩu hàng hoá đang đượcxác định trị giá, sau khi đã được khấu trừ đi các khoản sau:

(i) các khoản hoa hồng thường trả hoặc thoả thuận sẽ trả hay các khoản bổsung thường trả để bù đắp khoản lợi nhuận và các chi phí chung liênquan đến các giao dịch bán hàng tại nước nhập khẩu hàng hoá cùngphẩm cấp hay cùng chủng loại;

(ii) các chi phí thông thường về vận tải và bảo hiểm và các chi phí có liênquan phát sinh trong phạm vi của nước nhập khẩu;

(iii) các chi phí nêu tại Khoản 2 Điều 8, tuỳ trường hợp cụ thể; và

(iv) thuế hải quan và các loại thuế nội địa khác phải nộp ở nước nhập khẩu

về hoạt động nhập khẩu hay bán hàng hoá đó

Phương pháp trị giá khấu trừ được xác định trên cơ sở đơn giá bán trên thị trườngnội địa của hàng nhập khẩu đang được xác định giá hoặc của hàng nhập khẩu giống hệthay tương tự sau khi trự mọi khỏan chi phí chung và lợi nhuận, thuế nhập khẩu, thuế khác,phí vận tải và bảo hiểm trong nội địa, chi phí lắp ráp hoặc xử lý gia công thêm và các chiphí phát sinh khác trong lãnh thổ nước nhập khẩu

1.5 Phương pháp trị giá tính tóan :

Trang 16

Trị giá hải quan của hàng nhập khẩu theo quy định của Điều khoản này được xácđịnh căn cứ vào trị giá tính toán Trị giá tính toán bao gồm tổng các khoản sau:

(a) giá thành hay trị giá của nguyên vật liệu, giá thành của quá trình sản xuấthoặc của các quá trình gia công khác được sử dụng vào sản xuất hàngnhập khẩu;

(b) khoản lợi nhuận và các chi phí chung tương đương với hai khoản nàythường phát sinh trong giao dịch bán hàng cùng phẩm cấp hay cùngchủng loại với hàng hoá đang được xác định trị giá; những hàng hoá đócùng được sản xuất ở nước xuất khẩu để xuất khẩu tới nước nhập khẩu; (c) giá thành hoặc giá trị của các khoản điều chỉnh không bắt buộc, theo quyđịnh tại Khoản 2 Điều 8, do Nước thành viên lựa chọn

1.6 Phương pháp suy luận:

Nếu không thể xác định được trị giá hải quan của hàng nhập khẩu theo các quyđịnh tại những Điều từ 1 đến 6, trị giá hải quan nên được xác định sử dụng các phươngpháp hợp lý nhất quán với các nguyên tắc và quy định chung của Hiệp định thực hiệnĐiều VII Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 (GATT 1994) và trên cơ sởcác dữ liệu hiện có của nước nhập khẩu

Không xác định trị giá hải quan theo các quy định tại phương pháp này trên cơ sở:

 giá bán của hàng hoá, được sản xuất ở nước nhập khẩu, được giao dịch bán tạithị trường nội địa nước đó;

 hệ thống xác định trị giá cho phép chấp nhận sử dụng trị giá cao hơn, trongtrường hợp có từ hai trị giá trở lên để lựa chọn, làm trị giá hải quan;

 giá hàng hoá trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu;

 chi phí sản xuất, ngoại trừ trị giá tính toán của hàng hoá được xác định đối vớihàng hoá giống hệt hay tương tự;

Trang 17

 giá bán của hàng hoá xuất khẩu sang một nước khác với nước nhập khẩu;

 trị giá hải quan tối thiểu; hoặc

 trị giá áp đặt hoặc giả định

Nếu người nhập khẩu yêu cầu, người nhập khẩu sẽ được thông báo bằng văn bản

về trị giá hải quan được xác định theo các quy định và về phương pháp được sử dụng đểxác định trị giá

2 Quy định về việc kiểm tra xác định trị giá tính thuế tại cấp Cục: (Quyết định 1636/ QĐ-TCHQ)

Nhiệm vụ cụ thể phải thực hiện của cấp Cục như sau (Phòng Trị giá tính thuế):a) Kiểm tra công tác quản lý giá tại các Chi cục trực thuộc:

Hàng ngày, phòng Trị giá tính thuế (đối với đơn vị có phòng Trị giá tính thuế) hoặcphòng Nghiệp vụ (đối với các đơn vị chưa có phòng Trị giá tính thuế) phải tiến hành ràsoát các dữ liệu giá có trong cơ sở dữ liệu giá do các Chi cục gửi về qua chương trìnhGTT22, trong đó ưu tiên kiểm tra trong thời gian sớm nhất những lô hàng thuộc danh mụcquản lý rủi ro do Tổng cục quy định hoặc những mặt hàng trọng điểm do Cục trưởngquyết định Việc kiểm tra được thực hiện trên chương trình GTT22 hoặc theo chương trìnhkiểm tra do cấp Cục tổ chức, cụ thể: So sánh đối chiếu việc kiểm tra, phân loại và đề xuấttham vấn đối với các lô hàng nhập khẩu của Chi cục theo cơ sở dữ liệu có sẵn tại thời điểmkiểm tra Nếu việc kiểm tra phát hiện các Chi cục thực hiện chưa đúng quy định thì có vănbản chấn chỉnh và khắc phục ngay, đối với các trường hợp thuộc đối tượng tham vấnnhưng do Chi cục xác định dấu hiệu nghi ngờ không đúng quy định thì phải tổ chức thamvấn ngay nếu còn thời hạn tham vấn

- So sánh, đối chiếu việc tham vấn và xác định trị giá của cấp Chi cục đối với các lôhàng được phân cấp tham vấn và xác định trị giá theo quy định tại khoản 3, khoản 4 mục

II quy trình này Nếu phát hiện các Chi cục xác định trị giá không đúng trình tự, nguyên

Trang 18

tắc, các phương pháp xác định trị giá và cơ sở dữ liệu giá thì chỉ đạo, hướng dẫn các Chicục xác định lại trị giá theo đúng quy định

- Kiểm tra thời điểm ra quyết định ấn định thuế so với thời điểm ra thông báo xácđịnh trị giá (đối với trường hợp tham vấn tại Chi cục) và thời điểm nhận được thông báoxác định trị giá (đối với trường hợp tham vấn tại Cục)

- Kiểm tra việc cập nhật dữ liệu trên chương trình GTT22 tại các Chi cục có đầy

đủ không thông qua việc đối chiếu số liệu giữa chương trình GTT22 và chương trình sốliệu xuất nhập khẩu

- Kiểm tra tính đầy đủ, kịp thời, chính xác của các Chi cục trong việc cập nhật các

dữ liệu có sẵn trên hồ sơ hải quan vào cơ sở dữ liệu giá

b) Xử lý các lô hàng nghi vấn thuộc đối tượng tham vấn do Chi cục chuyển lên Phải nhanh chóng triển khai ngay việc tham vấn đối với các lô hàng thuộc đốitượng tham vấn do Chi cục chuyển lên Gửi giấy mời tham vấn theo mẫu 3 đính kèm quytrình (giấy mời giải trình và thực hiện quyền tham vấn trị giá tính thuế) và thực hiện thamvấn theo đúng hướng dẫn tại khoản 3 mục II quy trình này Thực hiện lưu trữ đầy đủ hồ sơhải quan (bản phôtô) và các tài liệu liên quan đến quá trình tham vấn giá

c) Xác định trị giá:

Đối với các trường hợp bác bỏ trị giá khai báo, phải xác định trị giá theo đúng trình

tự, nguyên tắc, các phương pháp xác định trị giá và cơ sở dữ liệu giá quy định tại khoản 4mục II quy trình này, ra thông báo xác định trị giá theo mẫu 4 đính kèm quy trình (thôngbáo về việc xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu), thông báo để doanh nghiệp biết vàthực hiện, đồng thời gửi ngay Chi cục trực thuộc nơi đăng ký tờ khai để ra quyết định ấnđịnh thuế theo quy định của Luật quản lý thuế

d) Thu thập, cập nhật, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu giá

Trang 19

Hàng ngày, phải tổ chức thu thập, cập nhật, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu giá,

cụ thể:

- Tổ chức thu thập, cập nhật các nguồn thông tin ngoài hồ sơ nhập khẩu theo đúnghướng dẫn tại quy chế xây dựng, quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu giá ban hành kèm theoQuyết định số 1102/QĐ-BTC ngày 21/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

- Cập nhật kết quả kiểm tra trị giá như sau: Đối với các lô hàng do Chi cục kiểm tratrị giá khai báo, phân loại lô hàng nghi vấn không đúng quy định, hoặc ra quyết định ấnđịnh thuế chậm so với thông báo xác định trị giá thì cập nhật kết quả chỉ đạo các Chi cụctại mục "Nhập kết quả kiểm tra trị giá tại cấp Cục" với nội dung: "Yêu cầu Chi cục xácđịnh lại trị giá hoặc xác định lại dấu hiệu nghi vấn, hoặc ra quyết định ấn định thuế đúngthời hạn quy định, "

- Cập nhật kết quả tham vấn như sau: Nếu sau khi tham vấn nhưng không bác bỏđược trị giá khai báo thì cập nhật vào chương trình GTT22 tại chức năng "Nhập kết quảkiểm tra trị giá tại Cục" với nội dung "chấp nhận trị giá khai báo" Trường hợp bác bỏđược trị giá khai báo và ra thông báo xác định trị giá thì cập nhật vào chương trình GTT22tại chức năng "Nhập kết quả kiểm tra trị giá tại Cục" với nội dung "Xác định trị giá theothông báo số: mức giá là: USD/đơn vị tính"

- Cập nhật kết quả giải quyết khiếu nại của cấp Cục theo đúng hướng dẫn củachương trình GTT22

- Thực hiện kết xuất dữ liệu, nhận dữ liệu theo hướng dẫn của chương trìnhGTT22

e) Tổng hợp, phân tích cơ sở dữ liệu giá và cung cấp thông tin hỗ trợ các Chi cụcthực hiện công tác kiểm tra, tham vấn và xác định trị giá

Hàng ngày, trên cơ sở kết quả kiểm tra trên chương trình GTT22 về công tác kiểm

Trang 20

thu thập được từ các nguồn khác và tình hình thực tế nhập khẩu tại đơn vị để phân tích và

xử lý như sau:

- Kiến nghị Tổng cục những mặt hàng cần bổ sung hoặc đưa ra khỏi danh mục mặthàng quản lý rủi ro về giá trên cơ sở phân tích đánh giá khả năng gian lận thương mại củatừng mặt hàng theo hướng dẫn tại Thông tư số 40/2008/TT-BTC ngày 21/5/2008 của BộTài chính để Tổng cục xem xét, sửa đổi bổ sung danh mục này phù hợp với tình hình thực

tế theo từng giai đoạn

- Đề xuất Tổng cục xây dựng bổ sung hoặc sửa đổi mức giá những mặt hàng thuộcdanh mục mặt hàng quản lý rủi ro về giá theo hướng dẫn tại quy chế xây dựng, quản lý, sửdụng cơ sở dữ liệu giá ban hành kèm theo Quyết định số 1102/QĐ-BTC ngày 21/5/2008của Bộ trưởng Bộ Tài chính để Tổng cục xem xét, ban hành bổ sung hoặc thay thế nhữngmức giá không còn phù hợp

- Đối với những mặt hàng không thuộc danh mục quản lý rủi ro về giá do Tổng cụcHải quan quy định thì rà soát những mặt hàng thường xuyên nhập khẩu tại địa phương, cókim ngạch nhập khẩu lớn, thuế suất cao, có khả năng gian lận thương mại để tiến hành xâydựng danh mục những mặt hàng trọng điểm cần tập trung quản lý tại địa phương và thựchiện việc kiểm tra trị giá theo quy định tại Thông tư số 40/2008/TT-BTC ngày 21/5/2008của Bộ Tài chính, đồng thời báo cáo về Tổng cục để nghiên cứu và bổ sung vào danh mụcquản lý rủi ro

g) Thực hiện các nhiệm vụ khác

Thực hiện chế độ báo cáo về Tổng cục theo đúng mẫu và thời hạn báo cáo đồngthời thực hiện các công việc khác có liên quan đến công tác giá trong phạm vi cấp Cục

(Quyết định 1636/QĐ-TCHQ)

Ngày đăng: 31/10/2017, 16:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w