DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT A/HRC/RES/27/32 Nghị quyết về xu hướng tính dục và bản dạng giới Association Bộ nguyên tắc Yogyakarta Bộ nguyên tắc về việc Áp dụng Luật Nhân quyền quốc tế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THU HÀ ANH
PHßNG, CHèNG PH¢N BIÖT §èI Xö TR£N C¥ Së B¶N D¹NG GIíI Vµ XU H¦íNG TÝNH DôC
TR£N THÕ GIíI Vµ ë VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THU HÀ ANH
PHßNG, CHèNG PH¢N BIÖT §èI Xö TR£N C¥ Së B¶N D¹NG GIíI Vµ XU H¦íNG TÝNH DôC
TR£N THÕ GIíI Vµ ë VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Hiến Pháp - Luật Hành Chính
Mã Số: 60 38 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ MINH HÀ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Thu Hà Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian nghiên cứu, tác giả đã hoàn thành Luận văn Thạc sĩ Luật học chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính với đề tài “Phòng, chống phân biệt đối xử trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục trên thế giới và ở Việt Nam”
Có được kết quả này, lời cảm ơn đầu tiên , xin được bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc nhất đến Cô giáo TS Nguyễn Thi ̣ Minh Hà , người trực tiếp hướng dẫn , dành nhiều thời gian , tâm huyết hướng dẫn tác giả hoàn thành luâ ̣n văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Luâ ̣t - Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i đã tận tình giúp đỡ và truyền đạt kiến thức để tôi được ho ̣c
tâ ̣p và nghiên cứu trong điều kiê ̣n tốt nhất
Những lời sau cùng xin dành cho gia đình, bố, mẹ, bạn bè đã luôn đồng hành, chia sẻ khó khăn và giúp đỡ tôi
Do những ha ̣n chế về mă ̣t thời gian nghiên cứu cũng như về kiến thức chuyên môn của tác giả nên những trình bày trong luâ ̣n văn này không thể tránh được những sai sót Kính mong nhận được sự góp ý của các Thầy , Cô, bạn bè để luâ ̣n văn được hoàn thiê ̣n hơn
Hà Nội, ngày 18 tháng 05 năm 2017
TÁC GIẢ
Lê Thu Hà Anh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG, CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ DỰA TRÊN CƠ SỞ BẢN DẠNG GIỚI VÀ XU HƯỚNG TÍNH DỤC 8
1.1 Các khái niệm nền tảng 8
1.1.1 Bản dạng giới 8
1.1.2 Xu hướng tính dục 10
1.1.3 Phân biệt đối xử và phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục 13
1.2 Nguyên nhân, hậu quả của sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục 15
1.2.1 Nguyên nhân của sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục 15
1.2.2 Hậu quả của sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục 19
1.3 Sự cần thiết của việc phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục 24
1.3.1 Sự cần thiết về mặt pháp lý của việc phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục 24
1.3.2 Sự cần thiết về mặt xã hội của việc phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục 25
1.4 Cơ sở pháp lý quốc tế của việc phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục 26
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32
Trang 6Chương 2: THỰC TRẠNG PHÒNG, CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI
XỬ DỰA TRÊN CƠ SỞ BẢN DẠNG GIỚI VÀ XU HƯỚNG TÍNH DỤC TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
VÀ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 33 2.1 Các quy định pháp luật về phòng, chống phân biệt đối xử
dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục tại một số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam 33
2.1.1 Các quy định pháp luật về phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên
cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục tại một số quốc gia trên thế giới 33 2.1.2 So sánh, đánh giá các quy định pháp luật về phòng, chống phân
biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục của Việt Nam với một số nước trên thế giới 45
2.2 Phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới
và xu hướng tính dục bằng các biện pháp xã hội ở một số nước trên thế giới và Việt Nam 51
2.2.1 Phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và
xu hướng tính dục bằng các biện pháp xã hội ở một số nước trên thế giới 51 2.2.2 Phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và
xu hướng tính dục bằng các biện pháp xã hội ở Việt Nam 56 2.2.3 So sánh, đánh giá các biện pháp xã hội phòng, chống phân biệt
đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục của Việt Nam với một số nước trên thế giới 61
2.3 Đánh giá chung về thực trạng phòng, chống phân biệt đối xử
dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục ở Việt Nam hiện nay 65
2.3.1 Những thành tựu chính trong việc phòng, chống phân biệt đối xử
trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục ở Việt Nam và nguyên nhân 65
Trang 72.3.2 Những hạn chế chính trong việc phòng, chống phân biệt đối xử
dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục ở Việt Nam
và nguyên nhân 68
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 73
Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG, CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ TRÊN CƠ SỞ BẢN DẠNG GIỚI VÀ XU HƯỚNG TÍNH DỤC TẠI VIỆT NAM 75
3.1 Các quan điểm về việc nâng cao hiệu quả phòng, chống phân biệt đối xử trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục tại Việt Nam 75
3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống phân biệt đối xử trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục tại Việt Nam 77
3.2.1 Những giải pháp về pháp lý 77
3.2.2 Những giải pháp về xã hội 81
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 85
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
A/HRC/RES/27/32 Nghị quyết về xu hướng tính dục và bản dạng giới
Association)
Bộ nguyên tắc
Yogyakarta
Bộ nguyên tắc về việc Áp dụng Luật Nhân quyền quốc
tế liên quan tới xu hướng tính dục và bản dạng giới
CEDAW Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với
phụ nữ
Việt Nam
iSEE Viện nguyên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường
LGBT Những người đồng tính, song tính và chuyển giới
PFLAG Cộng đồng dành cho ba mẹ, gia đình và bạn bè của
LGBT tại Việt Nam
UN HRC Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc
Liên Hợp Quốc
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giới tính là một trong những vẫn đề cơ bản của con người Giới tính của một con người được xác định khi sinh ra và sẽ là định hướng cho sự phát triển của người đó từ cách ăn mặc, giáo dục, công việc, bạn bè đến tình yêu và hôn nhân Đa phần trong số chúng ta có sự thể hiện và cảm nhận về sự phát triển giới tính trùng khớp với giới tính sinh học của mình hoặc rất ít khi nghĩ đến sự tương thích này Trong khi đó, một số nhỏ những cá nhân khác ngay từ
bé đã nhận ra cơ thể mình không khớp với giới tính mà họ cảm nhận trong tâm trí Những người này cũng có những cảm giác riêng về mặt tình cảm Chính vì họ là nhóm nhỏ, họ yếu thế nên họ thường xuyên bị đối xử một cách không công bằng trong xã hội, thậm chí họ không hề được thừa nhận Họ là LGBT: nhóm những người đồng tính, song tính và chuyển giới
Bình đẳng là một trong những quy luật hình thành các giá trị con người Không có bình đẳng thì con người sẽ không được phát triền một cách toàn diện Chính vì lẽ đó mà Điều đầu tiên trong Tuyên Ngôn Quốc tế về Quyền
con người 1948 ghi rằng: “Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về nhân
phẩm và các quyền” Đây cũng là một trong những nguyên t ắc cơ b ản của
pháp luật Việt Nam cũng như trong các công ư ớc quốc tế mà Việt Nam tham gia Và nhóm người yếu thế này cũng cần được bình đẳng Mặc dù trên thế giới đã có nhiều nước công nhận về quyền bình đẳng của nhóm người này nhưng những hiện thực về tình trạng vi phạm nhân quyền và phân biệt đối xử vẫn còn xảy ra rất nhiều Cộng đồng LGBT trên thế giới cũng như ở Việt Nam luôn phải hứng chịu những sự kỳ thị, phân biệt của xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các quyền tự do, bình đẳng và các quyền con người khác của họ Đây là vấn đề nóng và được bàn luận trên rất nhiều diễn đàn quốc tế
Trang 10và ở Việt Nam Phòng trào vận động cho quyền tự do, bình đẳng của nhóm LGBT trên thế giới diễn ra sôi nổi Không chỉ trong phạm vi các quốc gia mà còn còn mở rộng đến các tổ chức quốc tế và tổ chức khu vực Phong trào này
đã thành công trong việc nhận được sự ủng hộ của Liên minh Châu Âu và Tổ chức các nước Châu Mỹ
Những khái niệm như “bản dạng giới” hay “xu hướng tính dục” là những khái niệm còn khá mới ở Việt Nam Sự công nhận và hoà nhập của nhóm người này gặp phải không ít khó khăn và trở ngại, họ phải vượt qua những rào cản về gia đình, về định kiến xã hội… Điều này đã hạn chế những năng lực của họ trong công việc cũng như trong cuộc sống hàng ngày Tuy vậy, Nhà nước và xã hội ta đó và đang ngày càng quan tâm và nh ận thức tốt hơn các v ấn đề về phân biệt đối xử dựa trên xu hư ớng tính dục và bản da ̣ng giới mà nhúm ngư ời này gặp phải Biểu hiện như những năm gần đây, Việt Nam luôn nhất quán ủng hộ các vấn đề liên quan đến quyền không bị phân biệt đối xử của người LGBT: Bỏ phiếu thuận thông qua Nghị quyết về xu hướng tính dục và bản dạng giới (A/HRC/RES/27/32), chấp thuận khuyến nghị của Chi-lê để có một luật chống phân biệt đối xử, bất kể xu hướng tính dục hay bản dạng giới trong Rà soát Định kỳ Phổ quát (UPR) lần hai, cũng như các tiến trình trong nước như hợp pháp hóa chuyển đổi giới tính trong Bộ luật Dân sự Hay gần đây nhất, Việt Nam đã bỏ phiếu ủng hộ Nghị quyết về Bảo vệ chống lại bạo lực và phân biệt đối xử dựa trên Xu hướng tính dục và bản dạng giới vào ngày 30/6/2016 trong Kỳ họp 32 của Hội đồng Nhân quyền
Mặc dù vậy, tình trạng phân biệt đối xử trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục vẫn xảy ra thường xuyên Những người này gặp bối rối để tự bảo vệ chính bản thân mình khi không có những quy định cho họ trong hệ thống pháp luật Việt Nam Có rất nhiều hạn chế trong những quy định của pháp luật để bảo đảm quyền bình đẳng cho nhóm người này Hạn chế không
Trang 11chỉ ở việc chưa có một quy định cụ thể nào về chống phân biệt đối xử trên cơ
sở bản dạng giới và xu hướng tính dục mà còn hạn chế ngay ở những quy định hiện hành, những quy định chỉ dành cho giới nam và giới nữ
Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài "Phòng, chống phân biệt
đối xử trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục trên thế giới và ở Việt Nam" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình, với mục đích so sánh về pháp luật
và thực tiễn về vấn đề này trên thế giới và ở Việt Nam Từ những nghiên cứu
cơ bản về pháp luật, thực tiễn sẽ mang lại những bài học, kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trong việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung pháp luật liên quan đến chống phân đối xử trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục ở Việt Nam sao cho phù hợp với luật nhân quyền quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Về vấn đề nghiên cứu quyền con người nói chung, trong đó có một phần nghiên cứu về người đồng tính, song tính và chuyển giới có thể kể đến
các công trình nghiên cứu như: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội: Giáo
trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nhà xuất bản Đại học quốc gia
Hà Nội, năm 2011; sách chuyên khảo Bảo hiến và vấn đề bảo vệ quyền con
người, NXB Tư pháp năm 2015; sách chuyên khảo Quyền con người, quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp Việt Nam của Văn phòng
thường trực về nhân quyền và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh phối
hợp thực hiên, năm 2015; sách chuyên khảo Nhà nước và pháp luật Triều
Hậu Lê với việc bảo vệ quyền con người, NXB ĐHQGHN năm 2014; Thế
Huy và Phạm Quỳnh Phương Viện nghiên cứu Xã hội Kinh tế và Môi trường
iSEE, “Có phải bởi vì tôi là LGBT” Phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính
dục và bản dạng giới tại Việt Nam năm 2015… Hay các bài báo, tạp chí, các
bài kỷ yếu hội thảo của một số nhà khoa học như: ThS Thái Thị Tuyết Dung
và ThS Vũ Thị Thúy Bảo đảm quyền của người đồng tính, song tính, chuyển
Trang 12giới và vấn đề sửa đổi hiến pháp, Tạp chí Khoa học Pháp lý, Số chuyên đề về
sửa đổi Hiến pháp năm 2013; Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về
quyền của người đồng tính, tác giả Trương Hồng Quang, Viện Khoa học Pháp
lý – Bộ Tư pháp; Thực tiễn pháp luật Việt Nam về quyền của người đồng tính, tác giả Trương Hồng Quang, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp; Quyền
con người, đạo đức và pháp luật Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3/2012; Trách nhiệm nhà nước trong việc thừa nhận, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11/2012 Những
công trình nghiên cứu về quyền con người nói chung và của cộng đồng LGBT nói riêng tạo ra cơ sở lý luận chung cho các nghiên cứu khác về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bên cạnh đó, nhiều cuộc hội thảo, đối thoại được mở ra để ghi nhận những ý kiến, những bài tham luận của các nhà khoa học và các nhà lập pháp
như: Hội thảo Pháp Luật chuyển đổi giới tính trên thế giới và kinh nghiệm
cho Việt Nam do Khoa Luật ĐHQGHN và Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế
và Môi trường (iSEE) tổ chức năm 2017; Hội thảo Xác định những ưu tiên
của cộng đồng đồng tính nữ tại 5 tỉnh phía Bắc do Trung tâm Nghiên cứu và
Ứng dụng Khoa học về Giới (CSAGA) tổ chức năm 2016; Đối thoại “Being
LGBT in Asia” Vietnam National LGBT Community Dialogue do Chương trình
phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) cùng với Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ
(USAID) tổ chức năm 2013; Hội thảo Hội thảo Thúc đẩy và bảo vệ Quyền của
cộng đồng LGBT do Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) và
Tổ chức bảo vệ và thúc đẩy quyền của người LGBT tại Việt Nam (ICS) tổ chức năm 2009…
Hiến pháp 2013, Bộ Luật Dân sự 2015 và những sửa đổi trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014 là tiền đề cho việc nghiên cứu, thảo luận về ghi nhận quyền của LGBT Mặc dù vậy, thực trạng phân biệt đối xử với nhóm LGBT
Trang 13vẫn còn diễn ra và dẫn đến nhiều hậu quả không đáng có Do vậy đòi hỏi cần thiết có những đề tài đi sâu phân tích và so sánh các quy định về phòng, chống phân biệt đối xử trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục trong pháp luật
và thực trạng xã hội ở Việt Nam hiện nay Chính vì vậy, mong muốn của tác giả khi triển khai nghiên cứu đề tài này là góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định về phòng, chống chống phân biệt đối xử trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục tại một số quốc gia trên thế giới, so sánh với Việt Nam từ đó đưa ra đánh giá về thành tựu và hạn chế và nguyên nhân của những thành tự và hạn chế đó trong việc phòng, chống phân biệt đối xử với LGBT tại Việt Nam hiện nay Đồng thời kiến nghị một số biện pháp pháp lý và biện pháp xã hội cụ thể để nâng cao hiệu quả phòng, chống phân biệt đối xử trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục tại Việt Nam
vực như: thị trường lao động, y tế, quan niệm của gia đình và xã hội
- Đưa ra phân tích những thành tựu và hạn chế trong pháp luật về phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay
Trang 14- Đưa ra đề xuất, kiến nghị về việc sửa đổi, bổ sung các quy định trong pháp luật hiện hành Đặc biệt là xây dựng khung pháp lý về phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục trong hệ thống pháp luật Việt Nam nhằm phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và phù hợp với tình hình phát triển của xã hội hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả phân tích khái quát, tổng quan về khái niệm bản dạng giới và xu hướng tính dục, các quy định pháp luật trong pháp luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, ở Việt Nam và thực trạng xã hội trong việc phòng, chống phân biệt đối
xử trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục ở một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Để tiếp cận vấn đề nghiên cứu đề tài tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người, quyền công dân Ngoài ra, luận văn còn dựa trên quan điểm của Liên Hợp quốc, các Công
ước quốc tế về nhân quyền trong vấn đề giới
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phân tích – tổng hợp, xã hội học, so sánh, đánh giá để làm sáng tỏ những vấn đề liên quan Luận văn cũng khai thác thông tin tư liệu của các công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đã công bố để chứng minh cho các luận điểm
6 Những đóng góp mới của Luận văn
Luận văn làm rõ hơn những hạn chế trong các quy định pháp luật Việt Nam về phòng, chống phân biệt đối xử trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục thông qua việc chỉ ra thực trạng đang diễn ra đối với nhóm người LGBT Đồng thời phân tích, so sánh với các quy định của pháp luật quốc tế
Trang 15về vấn đề này Từ đó đưa ra các quan điểm của Nhà nước, của xã hội hiện nay
và kiến nghị các biện pháp cụ thể về pháp lý và về mặt xã hội cho Việt Nam trong việc sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về phòng, chống phân biệt đối xử trên
cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục, kiến nghị dự thảo và ban hành Luật phòng chống phân biệt đối xử trong đó có phòng, chống phân biệt đối xử trên
cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia thành 03 chương
Chương 1: Các vấn đề lý luận về phòng, chống phân biệt đối xử dựa
trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục
Chương 2: Thực trạng phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở
bản dạng giới và xu hướng tính dục tại một số quốc gia trên thế giới và ở việt nam hiện nay
Chương 3: Quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống phân
biệt đối xử trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục tại Việt Nam
Trang 16Chương 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG, CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ DỰA TRÊN CƠ SỞ BẢN DẠNG GIỚI VÀ XU HƯỚNG TÍNH DỤC
1.1 Các khái niệm nền tảng
Trước hết, theo nghĩa phổ biến nhất, “bản dạng giới” và “xu hướng tính dục” là hai trong bốn cấu thành “tính dục” Vậy “tính dục” là gì? Ngay từ những năm 1970, Ủy ban giáo dục và thông tin về tình dục ở Mỹ đã đưa ra định nghĩa hiện đại về tính dục như sau: Tính dục là tổng thể con người, bao gồm mọi khía cạnh đặc trưng của con trai hoặc con gái, đàn ông hoặc đàn bà
và có thể ổn định suốt đời Tính dục phản ánh tính cách con người, không phải chỉ là bản chất sinh dục.Vì là một biểu đạt tổng thể của nhân cách, tính dục liên quan tới yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tinh thần và văn hóa của đời sống Những yếu tố này ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách và mối quan
hệ giữa người với người và do đó tác động trở lại xã hội Rất nhiều người nhầm lẫn hai khái niệm “tính dục” và “tình dục” Tình dục là khái niệm phản ánh quan hệ tính giao giữa hai cá thể còn tính dục là một khái niệm có nội hàm rộng hơn, vừa phản ánh quan hệ tính giao giữa hai cá thể vừa chứa đựng những yếu tố vô hình và hữu hình Tính dục bao gồm bốn cấu thành: Giới tính sinh học (do các yếu tố sinh học quy định), bản dạng giới (cảm nhận cá nhân
Trang 17Theo định nghĩa dựa trên Bộ nguyên tắc Yogyakarta, được nhiều cơ quan Liên Hợp Quốc như Hội đồng Nhân quyền, Cao uỷ Nhân quyền Liên Hợp Quốc, Uỷ ban kinh tế, xã hội và văn hoá của Liên Hợp Quốc sử dụng,
“bản dạng giới” là "cảm nhận nội tâm sâu sắc và những trải nghiệm về giới của một người mà có thể không tương ứng với giới tính khi sinh ra, bao gồm nhận thức cá nhân về cơ thể (bao gồm, nếu được tự do lựa chọn, việc thay đổi ngoại hình bên ngoài hay chức năng cơ thể bằng thuốc, phẫu thuật hay các biện pháp khác) và những thể hiện về giới, bao gồm phục trang, lời nói và điệu bộ" Đây là khái niệm tách biệt với giới tính sinh học Thông thường, những người có bản dạng giới và giới tính sinh học trùng khớp nhau, họ ít khi nghĩ về sự tương thích giữa hai khái niệm này Chẳng hạn như sinh ra với giới tính sinh học là nữ, người đó phát triển và tự nhận thức, cảm nhận, thích thể hiện ra ngoài theo đúng giới tính sinh học được xác định của mình là nữ thì khi đó bản dạng giới đã trùng khớp với giới tính sinh học Số đông của nhân loại được coi là bình thường khi hai khái niệm này trùng khớp nhau và đây không phải là một quan niệm mặc định mà chỉ đơn giản vì điều này phổ biến
ở đa số mọi người
Trong khi đó, đặc biệt là trong thời hiện đại ngày nay, một số nhỏ những cá nhân ngay từ khi còn nhỏ đã nhận ra cơ thể mình không khớp với giới tính mà chúng được xác định Hoặc có những người trong quá trình dậy thì hay thậm chí ở ngưỡng trung niên mới nhận ra bản dạng giới của mình khác với giới tính sinh học Khi đó, họ chọn cách thể hiện ra bên ngoài theo cách mà họ cảm nhận để cho xã hội biết giới tính của bản thân Đây chính là
“thể hiện giới” Ví dụ, khi sinh ra đứa trẻ có giới tính sinh học là nam, đứa trẻ
đó sẽ được bố mẹ cho mặc đồ nam giới, cư xử và dạy bảo như những đứa trẻ
là nam bình thường Gia đình và xã hội luôn gắn những kỳ vọng ngầm hoặc
rõ rệt trong việc thể hiện giới của đứa trẻ đó và chính đứa trẻ cũng ý thức rất
Trang 18rõ những lựa chọn trong phạm vi giới tính được cho phép như đồ chơi, màu sắc, quần áo hay các hoạt động và trò chơi dành cho nam giới Dần dần khi lớn lên, nếu đứa trẻ đó tự cảm nhận rằng những thứ mình muốn thể hiện trùng khớp với những kỳ vọng đó, thì đứa trẻ đó sẽ vẫn phát triển bình thường với giới tính sinh học của mình là nam Ngược lại, nếu cảm nhận và mong muốn thể hiện về giới tính của đứa trẻ đó trái với những quy chuẩn và kỳ vọng của gia đình và xã hội đặt ra, như muốn mặc váy hay đồ sặc sỡ, muốn chơi búp
bê, làm những điều mà nữ giới làm… thì khi đó, bản dạng giới của nó đã không trùng khớp với giới tính sinh học Những người có bản dạng giới không trùng với giới tính khi sinh ra thường được gọi là người chuyển giới Cách gọi này áp dụng cho cả những người chưa phẫu thuật, hay những người
ăn mặc xuyên giới mà không nhận mình là nam hay nữ Nếu họ nhận mình là nam (sinh ra là nữ, nghĩ mình là nam) thì sẽ gọi là chuyển giới nam Nếu họ nhận mình là nữ (sinh ra là nam, nghĩ mình là nữ) thì sẽ gọi là chuyển giới nữ
Chính vì yếu tố cá nhân trong việc thể hiện giới, người ta đặt ra khái niệm bản dạng giới Đây chính là giới tính mong muốn của mỗi cá nhân, tồn tại trong suy nghĩ của chính họ Không phải tất cả những người có giới tính sinh học khác với giới tính bản chất mà họ tự xác định đều thể hiện giới tính
đó ra bên ngoài vì lý do xã hội hay những quy tắc xung quanh Khi thể hiện giới khác biệt so với bản dạng giới, người đó đối diện với sự mâu thuẫn nội tâm gay gắt, dai dẳng Đây là vấn đề mà nhiều người trong cộng đồng LGBT gặp phải: sống và thể hiện theo đúng bản dạng giới mong muốn hay sống và thể hiện theo quy chuẩn mà xã hội và gia đình mong muốn
1.1.2 Xu hướng tính dục
Khái niệm xu hướng tính dục (sexual orientation) - trong nhiều tài liệu dịch là khuynh hướng tính dục, là một trong những khái niệm khá mới ở Viê ̣t Nam
Trang 19Theo định nghĩa của Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (APA) thì:
Xu hướng tính dục là một sự hấp dẫn có tính bền vững về cảm xúc, sự lãng mạn, tình dục hoặc tình cảm hướng tới những người khác Nó khác với những cấu thành khác của tính dục bao gồm giới tính sinh học, bản dạng giới (cảm nhận tâm lý mình là nam hay nữ), và vai trò giới (sự tham gia vào quan niệm xã hội về hành vi nam tính hay nữ tính) Xu hướng tính dục trải dài liên tục từ hoàn toàn dị tính ái đến hoàn toàn đồng tính ái và nhiều dạng khác nhau của song tính ái.Những người song tính ái có thể có bị hấp dẫn
về tình dục, tình cảm, cảm xúc với cả người cùng giới tính của họ
và giới tính đối lập [ ] Xu hướng tính dục khác với hành vi tình dục bởi vì nó đề cập tới cả cảm nhận và quan niệm cá nhân Từng
cá nhân có thể thể hiện xu hướng tính dục của mình thông qua hành
vi tình dục của họ, và cũng có thể không [1]
Theo Bộ nguyên tắc Yogyakarta, xu hướng tính dục là "khả năng một người cảm thấy hấp dẫn về mặt cảm xúc sâu sắc, tình cảm, mối quan hệ gần gũi với những cá nhân có giới khác, cùng hay nhiều hơn một giới" Theo cách hiểu được chấp nhận phổ biến nhất, người có xu hướng tính dục hướng tới người cùng giới gọi là người đồng tính, hướng tới người khác giới là người dị tính, hướng tới cả hai giới là người song tính
Thực tế hiện nay, có năm xu hướng tính dục chính, đó là:
Một là, xu hướng tính dục khác giới (Heterosexual) - Người bị hấp dẫn
về mặt tình cảm và tình dục với người khác giới tính, không bao giờ có mong muốn mình có giới tính khác với giới tính khi được sinh ra), những người này thường được gọi là người dị tính
Hai là, xu hướng tính dục đồng giới (Homosexual) - Người bị hấp dẫn
với người cùng giới tính, không bao giờ mong muốn mình có giới tính khác
Trang 20với giới tính khi được sinh ra, trong đó nam giới (tiếng Anh gọi là "gay") và
nữ giới (tiếng Anh gọi là "lesbian"), những người này được gọi chung là người đồng tính
Ba là, xu hướng song tính (Bisexual) - Một người không cho rằng mình
mang giới tính khác với giới tính sinh học của bản thân và bị hấp dẫn với cả hai giới tính nam và nữ Trước đây, xu hướng này được sử dụng với thuật ngữ
là lưỡng giới.Tuy nhiên, nếu sử dụng thuật ngữ này sẽ dễ dẫn đến cách hiểu là người đó mang trong mình cả hai giới tính nam và nữ Thực chất, họ có cả hai
xu hướng tính dục dị tính và đồng tính, không phải mang hai giới tính.Từ đó, thuật ngữ song tính được sử dụng để thay thế thuật ngữ lưỡng giới
Bốn là, xu hướng toàn tính (Pansexual) - Người bị hấp dẫn bởi bất kỳ
giới nào Cần phân biệt xu hướng toàn tính với xu hướng song tính Khi nói dị tính, đồng tính hay song tính, chúng ta đang dựa trên quan niệm rằng mọi người đều phân ra làm hai giới (nam và nữ) Tuy nhiên ta cũng biết, xét về bản dạng giới, một người có thể nhận mình là nam, nữ, hoặc cả hai, hoặc ở đâu đó giữa nam và nữ, hay ở đâu đó ngoài nam và nữ Như vậy, người song tính bị hấp dẫn bởi nam và nữ, còn người toàn tính bị hấp dẫn bởi tất cả mọi người, không phân biệt người đó có nhận dạng giới là gì
Năm là, xu hướng tính dục không bị hấp dẫn tình dục với bất kỳ giới nào
(Asexual - Vô tính) đây là xu hướng tính dục chưa được nghiên cứu nhiều Họ
là những người không có bất kỳ sự hấp dẫn tình dục với bất kỳ người mang giới tính nào, kể cả nam và nữ, cũng như những người đồng tính khác
Những người phát triển một xu hướng tính dục nào đó thường có hành
vi tính dục ổn định, ví dụ như những người có xu hướng tính dục khác giới thì thà sống một mình hoặc tìm bạn tình khác giới chứ không thể chấp nhận thực hành vi tính dục với người cùng giới, còn những người có xu hướng tính dục đồng giới thì cũng chỉ tìm bạn tình đồng giới hoặc đành chịu sống một mình
Trang 21Cần phải phân biệt rõ với hành vi tính dục, xu hướng tính dục bao gồm cả những tình cảm và cảm nhận cá nhân và hành vi tính dục của một người có thể phản ánh xu hướng tính dục của họ, cũng có thể không
Không phải lúc nào xu hướng tính dục cũng được bộc lộ ra bên ngoài
để người khác có thể nhận thấy mà nhiều khi nó được giấu kín Đã có nhiều giả thuyết về nguồn gốc của sự phát triển các xu hướng tính dục khác nhau, vận dụng đến cả các yếu tố di truyền hay bẩm sinh và những hoàn cảnh nuôi dưỡng, giáo dục trong tuổi thơ ấu Tuy nhiên, nhiều quan điểm cho rằng xu hướng tính dục đã hình thành từ rất sớm ở hầu hết mọi người ngay từ khi còn nhỏ tuổi do những tác động qua lại phức tạp của các yếu tố sinh học, tâm lý
và xã hội Đồng thời các nhà tâm lý xác định rằng không coi xu hướng tính dục là sự lựa chọn có ý thức mà người ta có thể tùy ý thay đổi Một số người
đã cố gắng rất nhiều trong nhiều năm để thay đổi xu hướng tính dục từ đồng giới sang khác giới nhưng đều không thành công Vì những lý do đó, các nhà tâm lý không coi xu hướng tình dục là sự lựa chọn có ý thức mà người ta có thể tuỳ ý thay đổi được
1.1.3 Phân biệt đối xử và phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ
sở bản dạng giới và xu hướng tính dục
Trước hết ta phải hiểu thế nào là phân biê ̣t đối xử Theo mô ̣t nghiên cứu
của Viện iSEE thì: “Phân biê ̣t đối xử là hành xử với những người hoặc nhữn g
nhóm người nhất định một cách khác biệt , đặc biê ̣t là theo cách tiêu cực hơn
so với cách mà bạn hành xử với người khác, dựa trên những yếu tố như chủng tộc, giới tính, tính dục.v.v ” [13]
Phân biệt đối xử là hành xử với những người hoặc những nhóm người nhất định một cách khác biệt, đặc biệt là theo cách tiêu cực hơn so với cách hành xử thông thường với người khác, dựa trên những yếu tố như chủng tộc, giới tính, tính dục, v.v Phân biệt đối xử có một vài ngoại lệ được chấp thuận
Trang 22Thứ nhất là vì những yêu cầu công việc đặc biệt, ví dụ chỉ tuyển nữ giới để đảm nhận vai diễn nữ Thứ hai là những biện pháp đặc biệt ngắn hạn hay phân biệt đối xử tích cực với mục tiêu bù đắp cơ hội, hoặc hướng tới bình đẳng về lâu dài như chính sách ưu tiên dành cho những nhóm thiểu số
Phân biệt đối xử được chia làm hai loại:
Loại thứ nhất là phân biệt đối xử trực tiếp: là những đối xử kém thuận lợi hơn với những người hay nhóm người vì những yếu tố như chủng tộc, giới tính, tuổi tác, tình trạng hôn nhân, tình trạng khuyết tật, v.v Để xác định phân biệt đối xử trực tiếp, cần đáp ứng ba yếu tố Một là thiệt hại có thật (bị đánh đập, không được thăng tiến, v.v.) Hai là yếu tố đối sánh, thiệt hại này là kết quả của sự đối xử thiên vị kém hơn so với những người không cùng phân nhóm (chủng tộc, giới tính, tính dục, v.v.) nhưng có cùng những đặc điểm hoàn cảnh (năng lực, khả năng đáp ứng công việc, v.v.) và ba là yếu tố nhân quả, sự đối xử khác biệt là do các yếu tố như giới tính, chủng tộc, tình trạng khuyết tật, v.v
Loại thứ hai là phân biệt đối xử gián tiếp: Khó nhận diện hơn Phân biệt đối xử gián tiếp là khi một người đặt ra những điều kiện, hạn định áp dụng như nhau cho mọi người, nhưng điều kiện đó lại là nguyên nhân dẫn tới việc một nhóm nhỏ hơn khó có thể đáp ứng được điều kiện đó, dẫn tới những thiệt hại có thật Ví dụ một công ty đưa ra điều kiện tuyển dụng là nhân viên phải cao hơn 170 cm khiến cho nhóm phụ nữ thấp bé hơn nhiều cơ hội sẽ bị thất bại trong việc tuyển dụng
Như vậy, phân biê ̣t đối xử trên cơ sở bản da ̣ng giới và xu hướng tính dục có nghĩa là bất kỳ sự phân biệt , loại trừ hay hạn chế nào được đưa ra dựa trên cơ sở bản da ̣ng giới và xu hướng tính du ̣c nhằm mu ̣c đích tổ n ha ̣i hoă ̣c hạn chế việc n hóm LGBT được công nhận , hưởng thu ̣ hay thực hiê ̣n các quyền con người và quyền tự do cơ bản trên các lĩnh vực chính tri ̣ , kinh tế,
Trang 23văn hóa, xã hội hay bất kể lĩnh vục nào khác trên cơ sở bình đẳng Sự phân biệt đối xử được biểu hiện cụ thể trong các tình huống hàng ngày trong đời sống xã hội Có thể là ngay trong chính gia đình như cha mẹ ép buộc con cái thay đổi ngoại hình, cử chỉ và la mắng, gây áp lực là các hành vi phổ biến nhất mà người LGBT gặp phải trong gia đình của mình; hoặc các hành vi bạo lực hơn như bị nhốt, cầm giữ, ép buộc Hay trong vấn đề việc làm, nhóm LGBT thường bị từ chối khi xin việc, phân biệt đối xử khi trả lương, khiến họ thường chỉ giữ các vị trí cấp thấp, cơ bản mà khó giữ các vị trí quản lý hoặc cao hơn Cũng có thể kể đến những phân biệt đối xử trong trường học khi các bạn học sinh, sinh viên trong nhóm LGBT bị các bạn cùng trang lứa chế giễu, nhận xét và thậm chí là nạn nhân của bạo lực học đường Hoặc trong vấn đề y
tế, sự phân biệt đối xử của môi trường y tế tập trung vào việc phớt lờ các quy trình y tế chuẩn mực như tò mò quá mức về chuyện cá nhân, nhận lời khuyên không liên quan tới việc khám, điều trị và xúc phạm bằng lời nói Bên cạnh
đó, sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục còn được thể hiện trong những lĩnh vực đời sống khác Tình trạng này vẫn đang diễn ra và ngày càng sâu sắc trong chính những hoạt động xã hội thường ngày Đây là tình trạng đáng báo động Đặc biệt là khi xã hội ngày càng văn minh, phát triển và hội nhập thì càng cần hơn nữa những hồi chuông cảnh báo
để bảo vệ quyền và lợi ích của nhóm người yếu thế này như họ vốn có và cần
có Từ đó họ có cơ sở để phát triển khả năng và năng lực của mình, đóng góp nhiều hơn cho cộng đồng, cho xã hội
1.2 Nguyên nhân, hậu quả của sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục
1.2.1 Nguyên nhân của sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục
Trang 24Nguyên nhân đầu tiên và là một trong những nguyên nhân quan trọng
là những chuẩn mực giá trị truyền thống trong gia đình và truyền thống xã hội khiến nhóm người LGBT bị phân biệt đối xử Những chuẩn mực đó đòi hỏi nam giới phải mạnh mẽ, quyết đoán phải làm những công việc nặng, việc to lớn; nữ giới phải nhỏ nhẹ, tỏ ra yếu đuối, dễ thương, làm những công việc nhẹ nhàng Sau này lớn lên, theo quy luật tự nhiên, con trai phải yêu và lấy con gái làm vợ và ngược lại Những khuôn mẫu chuẩn mực đó đã được lưu truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác Vì vậy, người nào có những biểu hiện "lệch chuẩn" sẽ bị coi là sai lệch, khác người, "bệnh hoạn" và có thể làm mọi người phải sợ hãi và xa lánh Sự kỳ thị và phân biệt đối xử từ gia đình và những người thân thường bộc lộ rõ ràng hơn cả Cũng vì yêu thương nên những người trong gia đình thường dùng mọi cách để ngăn cấm khi biết con mình có quan hệ đồng giới: Từ khuyên bảo, ngọt ngào tình cảm đến những biện pháp mạnh mẽ như cấm ra ngoài, đánh đập, đưa con đến bệnh viện chữa bệnh, thậm chí sử dụng đông tây y kết hợp với cúng bái chỉ với mong muốn thay đổi giới tính cho con [10] Hơn nữa, truyền thống từ xa xưa của các nước phương Đông trong đó có Việt Nam rất coi trọng việc sinh đẻ con cái, nối dõi dòng giống, tổ tiên, đề cao gia đình tôn tộc, anh em Người đàn ông trong gia đình là trụ cột, có nghĩa vụ phải nối dõi tông đường, người phụ nữ phải công dung, ngôn hạnh, phải sinh đẻ tốt để giúp cho gia đình chồng có con nối dõi Vì vậy, mục đích chủ yếu của việc kết hôn là sinh con, nối dõi tông đường Và thật sự thì truyền thống văn hóa ảnh hưởng rất nhiều đến quan niệm của người Việt Nam về người đồng tính Người ta cho rằng những hành
vi trái với tự nhiên là những hành vi sai trái với lệ làng, phép nước, vì thế họ luôn nhìn những người đồng tính với ánh mắt chứa đầy sự khinh thị Mặt khác có người còn cho rằng đồng tính là một loại bệnh có thể lây truyền vì thế càng tránh xa người đồng tính ra càng tốt
Trang 25Một trường hợp cụ thể có thể kể đến là chuyện của gia đình nhà cô T ở Thái Bình Chồng cô T quê ở tỉnh Thái Bình, nơi việc duy trì nối dõi tông đường là rất quan trọng Vì thế, cả gia đình đã vô cùng vui mừng khi cô sinh đứa con đầu lòng là một bé trai Vào năm thứ hai đại học, con trai cô T thú nhận với gia đình rằng anh là một người đồng tính, từ lúc đó trở đi, vợ chồng
cô T bắt đầu đối xử khác biệt với con “Ngày trước thương con bao nhiêu, bây giờ cô lại càng giận, càng ghét bỏ, thậm chí càng kinh tởm nó bấy nhiêu
Ở ngoài xã hội người ta bảo đồng tính là đồi truỵ, cô cũng nghĩ người đồng tính là những đứa chẳng ra gì.” – cô T chia sẻ Cô T và chồng không còn quan tâm đến đứa con trai đầu lòng của mình nữa “Ngày nó tốt nghiệp, nó có mời cô chú đến tham dự, nhưng vợ chồng cô chẳng buồn đi.” Bao năm qua,
vợ chồng cô T đã cố gắng hết sức để “chữa trị” căn bệnh đồng tính của con trai Họ đưa con đi hết bệnh viện này đến bệnh viện kia, làm đủ kiểu xét nghiệm máu và thậm chí còn tiêm cả hoóc-môn cho con “Nghe người ta mách rằng có thể con trai cô bị một vong nữ nhập, cô chú đã đưa nó đến gặp thầy pháp ở tận miền Tây Người ta dùng phép đâm vào chỗ kín của nó trong khi tra hỏi danh tính cái vong, vậy mà nó vẫn cứ trả lời “Con là D.” Họ trói
nó vào ghế và tiếp tục đâm, còn nó thì gào thét “Đau quá! Đau quá! Con đồng tính, con thích con trai!” Lúc đó vợ chồng cô hoang mang lắm, biết rằng nếu
cứ tiếp tục thế này thì nó sẽ chết mất.”– Cô T kể Dù phải chịu nhiều đau khổ, con trai cô T vẫn rất ngoan và nghe lời bố mẹ Giờ đây nghĩ lại, cô T biết rằng con trai cô đã phải chịu đựng rất nhiều Hồi học cấp III, cậu đã từng phải nhập viện vì thần kinh không ổn định (lúc đó, gia đình vẫn chưa biết về giới tính của con) Lần thứ hai cậu nhập viện là do làm việc quá căng thẳng Trong thời gian học cao học, cậu đã phải làm thêm nhiều công việc để kiếm tiền trang trải học phí vì gia đình đã cắt mọi khoản trợ cấp sau khi cậu công khai về giới tính thật của mình “Cô còn dại dột đến nỗi nhờ bác sỹ cho nó ở
Trang 26lại khu bệnh nữ thay vì khu nam Một đêm, khi cô đang ngồi với nó, bỗng dưng nó đứng vụt dậy lẩm bẩm đếm “Nếu con đếm từ một đến sáu thì H (người yêu của nó) sẽ đến với con Chúng con đã hứa với nhau như vậy.” Nó nói, rồi gục ngã xuống sàn.” Sau nhiều lần như vậy, họ nhận ra con trai mình đang phải chịu đựng nỗi đau gấp trăm ngàn lần mình Từ đó, họ đã suy nghĩ lại
và bắt đầu yêu thương chăm sóc con hơn để bù đắp cho quãng thời gian trước đây “Giờ con trai cô đã được 30 tuổi rồi, nó đang làm việc tận bên Phillipines Tâm lý của nó đã ổn định hơn, nhưng khi công việc căng thẳng thì lại trở bệnh
Cô chú cũng không thể sống mãi với nó, khi cô chú mất đi rồi biết ai sẽ chăm sóc cho nó đây? Giờ chỉ có để cho nó sống đúng với con người của nó, thì sau này cô chú có chết mới nhắm mắt được.” – cô T bộc bạch [53]
Nguyên nhân thứ hai có thể kể đến là sự thiếu kiến thức về xu hướng tính dục và bản dạng giới hay nói dễ hiểu hơn là hiểu biết về người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) còn hạn chế, thậm chí là sai lệch Trước những năm 1990, nhận thức chung về đồng tính không được biết đến nhiều trong những tri thức về tính dục ở Việt Nam và các khái niệm về đồng tính được sử dụng một cách lẫn lộn Thực tế, từ những năm 1990, WHO đã loại đồng tính ra khỏi danh sách bệnh và đã không phải là bệnh thì không phải chữa và không thể chữa.Như đã phân tích các khái niệm ở trên, đây là hiện tượng sinh học tự nhiên.Tuy nhiên, việc thiếu kiến thức chính thống, đầy đủ
về vấn đề này đã dẫn đến thái độ phân biệt đối xử và bạo lực
Nguyên nhân thứ ba, truyền thông và báo chí cũng là những yếu tố tác động tới việc định hình nhận thức cho xã hội về cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới khi không có nhiều tài liệu liên quan đến vấn đề này Trong suốt thời gian dài, truyền thông có thái độ cực kỳ tiêu cực đối với những người LGBT và các vấn đề của họ Việc đưa tin thường giật gân với những thông tin không chính xác Đây là một nguyên nhân chính cho việc xã
Trang 27hội không chấp nhận những vấn đề xu hướng tính dục và bản dạng giới tại Việt Nam Nếu truyền thông khách quan, đầy đủ thì nhận thức của xã hội cũng có chiều hướng tích cực Nếu truyền thông thiếu tính khách quan tập trung phản ánh những góc khuất xấu trong đời sống của người đồng tính, song tính và chuyển giới thì xã hội có cái nhìn thiếu thiện cảm Khu vực nông thôn thường ít có khả năng tiếp cận các thông tin tích cực về LGBT Nhiều tờ báo địa phương vẫn đưa những thông tin giật gân thiếu chính xác về người LGBT để thu hút sự quan tâm của độc giả Những hình ảnh tiêu cực và sai lầm về người LGBT vẫn xuất hiện rộng khắp trên các trang mạng và trong ngành công nghiệp giải trí Phần lớn, những người này thường bị công chúng đem ra chế diễu và lăng mạ với ngôn từ đầy tính xúc phạm [53]
Một yếu tố quan trọng nữa đó là việc thiếu các quy định bảo vệ quyền của nhóm người yếu thế này và dễ bị tổn thương Trong đó, quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới mới phát sinh trong xã hội và có nhiều quan điểm khác nhau Quyền của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội vẫn đang ở trong tiến trình đấu tranh, vận động hợp pháp hóa ở nhiều nước
Vì vậy, thời gian này bị kéo dài và có nhiều cản trở là điều dễ hiểu
1.2.2 Hậu quả của sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới
và xu hướng tính dục
Việc phân biệt đối xử diễn ra trong rất nhiều lĩnh vực và ở mọi mặt của đời sống xã hội Ở mỗi mặt đó thì sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục lại gây ra những hậu quả khác nhau
Hậu quả đầu tiên và là một trong những hậu quả nặng nề nhất từ việc phân biệt đối xử gây là những tổn thương về mặt tâm lý của nhóm người trong cộng đồng LGBT, dẫn đến các hậu quả về mặt gia đình, giáo dục, hôn nhân Các nghiên cứu về người đồng tính và chuyển giới ở Việt Nam trong nhiều năm trở lại đây khá phổ biến đã cho thấy, khi họ bị xã hội, gia đình, bạn
Trang 28bè kỳ thị, phân biệt đối xử và đặc biệt phải đối mặt với bạo lực trong gia đình
và ngoài xã hội đã dẫn đến những tổn thương tâm lý vô vùng nghiêm trọng như trầm cảm, lo âu thậm chí là có ý định tự tử hoặc hành vi tự tử Sợ bị người khác phát hiện mình là người đồng tính là tâm lý chung Từ đó, họ luôn thận trọng trong các mối quan hệ khiến bản thân sống khép kín, thu mình hoặc sống không thật với chính mình Điều này gây tâm lý khó chịu hoặc ức chế cho họ Thêm nữa, sự kỳ thị, phân biệt đối xử còn khiến những người đồng tính không dám bộc lộ khuynh hướng tính dục đích thực của mình mà phải sống một cuộc sống hai mặt Vì che giấu, tránh sự kỳ thị của cộng đồng một người đồng tính có thể vẫn lấy chồng có con nhưng vẫn duy trì quan hệ với những người đồng tính khác Điều này thực sự không công bằng với những người thân bên cạnh họ Chính sự che giấu và sống hai mặt có thể tạo nên những hậu quả tiềm ẩn cho gia đình và xã hội Chịu sự phân biệt đối xử
và sống trong những vỏ bọc khiến nhiều người đồng tính dễ rơi vào trạng thái trầm cảm, do đó họ có thể tìm đến rượu, ma túy hoặc quan hệ tình dục với nhiều người, và thực hiện nhiều hành vi có hại cho sức khỏe của họ Những hành vi đó lại càng khiến người đồng tính bị kỳ thị nặng nề hơn, thành kiến cao hơn và bị đẩy ra ngoài lề xã hội
Hậu quả thứ hai là những hậu quả về mặt thể xác, người LGBT tại Việt Nam phải đối mặt với bạo lực chủ yếu từ chính những người quen biết ở trường học, gia đình, nơi làm việc, chứ không phải bởi người lạ ở bên ngoài Đây là sự khác biệt so với một số quốc gia khác, nơi mà hành vi bạo lực được chủ yếu thực hiện bởi người lạ Các hình thức phân biệt đối xử bạo lực như: bị tấn công bằng bạo lực bị đe dọa tấn công bằng bạo lực, bị tấn công tình dục và
bị đe dọa tấn công tình dục, bị hủy hoại tài sản… các hình thức này đã dẫn đến những hậu quả về mặt thể xác nghiêm trọng đến những người bị phân biệt đối
xử, gây ra các vấn đề về sức khỏe, thậm chí có thể tử vong So sánh với một số
Trang 29số liệu nước ngoài: Ở Mỹ, 20.8% số vụ bạo lực do phân biệt đối xử nhắm đến người đồng tính (6000 vụ trong năm 2013); Ở Brazil, 1341 người LGBT được báo cáo là bị giết chết từ năm 2007 tới 2012; 1399 người chuyển giới ở 64 quốc gia bị giết chết từ năm 2008 tới 2015 (FBI, 2013; Gay Bahia Group, 2014; TGEU, 2015) [13] Tại Việt Nam, chưa có báo cáo chính thức nào ghi nhận trường hợp người LGBT bị giết chết vì bạo lực trên cơ sở phân biệt xu hướng tính dục và bản dạng giới Một ví dụ cụ thể cho hậu quả về mặt thể xác:
Em đã từng chứng kiến rất là nhiều cái cảnh là người LGBT bị phân biệt đối xử mà nó tồi tệ lắm Anh cũng biết là có một khoảng thời gian em đi theo cái đoàn lô tô, hôm đó có một cái bạn đó bán vé, bạn đó mặc váy ngắn, thì anh cũng biết lô tô rồi, đương nhiên phải khoe da thịt, đùi này kia để thu hút ánh nhìn của mấy người khách tới chơi Bạn đó mặc váy ngắn thì có một ông say rượu, ông ấy dùng hộp quẹt ấy, ông ấy hơ Người ta đi đằng trước ông ấy đi đằng sau ông ấy lấy hộp quẹt ông ấy phá cái vùng kín của bạn đó Đau chứ anh, khó chịu dữ lắm th bắt đầu bạn ấy quay lại bạn đó phản ứng với ông đó Lúc đó tát ông hay gì đó là nguyên một gia đình ông ấy bu ra luôn, nắm đầu bạn này rồi đánh đập này kia đòi chém, đòi giết Xong
là cái đoàn lô tô không làm việc được luôn, xong rồi công an can thiệp thì mới xong Công an tới giải quyết thì chỉ có việc can ngăn hai bên rồi giải vây cho bạn đó thôi chứ bạn đó cũng chả được bồi thường hay là cũng không có phía bên kia bị truy tố pháp luật hình
sự gì hết trơn ấy, chỉ tách hai bên ra thôi [13]
Hậu quả thứ ba là những hậu quả trong vấn đề việc làm Việc làm là một trong các yếu tố quan trọng với những người trưởng thành, vừa đóng vai trò cung cấp nguồn thu nhập duy trì và phát triển cuộc sống, vừa là nơi tạo ra những cơ hội, kết nối và xây dựng vốn xã hội chủ yếu của nhiều người Từ
Trang 30trước đến nay các vấn đề phân biệt đối xử trong xin việc thường được nhắc đến liên quan tới câu chuyện về giới tính hay vùng miền Tuy vậy bị từ chối xin việc vì lý do xu hướng tính dục và bản dạng giới vẫn còn là một vấn đề chưa được khơi gợi nhiều Một phần do đặc trưng việc tuyển dụng là cũng không nêu rõ lý do từ chối mà thường chỉ chung chung là “không phù hợp với
vị trí công việc” Với những hành vi phân biệt đối xử khác trong quá trình làm việc thường gây ra những hậu quả cho nhóm người này như: bị đuổi việc, bị trả lương kém hơn so với người cùng vị trí, năng lực, bị hạn chế thăng tiến, bị buộc chuyển sang vị trí công việc khác, không được giải quyết bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội Một ví dụ cụ thể: Tốt nghiệp với tấm bằng Cử nhân và có trình độ tiếng Anh trôi chảy, P.H vẫn không thể tìm được một công việc ổn định dù ra trường đã gần hai năm Là một người chuyển giới nữ sang nam với ngoại hình của một người nam, P.H luôn gặp khó khăn với nhà tuyển dụng lao động vì giới tính của mình Tuy có vẻ bên ngoài là một người nam, trên giấy tờ P.H vẫn mang giới tính nữ P.H kể, những người tuyển dụng lao động thẳng thừng nói với anh rằng “Ở đây chúng tôi không tuyển người đồng tính!” Rất nhiều người LGBT khác cũng gặp phải tình trạng tương tự, được đào tạo bài bản nhưng vẫn không tìm được việc làm Một số người phải chấp nhận che giấu cách thể hiện giới và xu hướng tính dục của mình để mong tìm được công việc M., một người đồng tính nam giải thích:
Nhờ vào ngoại hình nam tính bên ngoài, không ai biết được giới tính thật (ý chỉ xu hướng tính dục thiểu số) của mình Mặc dù mình cũng muốn được công khai, nhưng tính chất công việc không cho phép Nếu được xã hội công nhận, mình nhất định sẽ không che giấu giới tính thật của mình đâu! [13]
Hậu quả thứ tư là trong vấn đề y tế, việc phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục gây ra những hậu quả không nhỏ cho
Trang 31nhóm LGBT Trong một khảo sát ở Việt Nam gần đây, hai phần ba (66.8%) người khảo sát cho biết họ có tiếp cận, sử dụng bất kỳ một dịch vụ y tế, bệnh viện trong 5 năm qua Đáng lưu ý, tỷ lệ người chuyển giới sử dụng dịch vụ y
tế (58.0%) thấp hơn so với các nhóm còn lại (68.5% cho người đồng tính, song tính) Cứ bốn người LGBT thì có một người từng nghe, nhìn thấy những nhận xét, hành động tiêu cực từ các nhân viên y tế Sự phân biệt đối xử của môi trường y tế tập trung vào việc phớt lờ các quy trình y tế chuẩn mực như
tò mò quá mức về chuyện cá nhân, nhận lời khuyên không liên quan tới việc khám, điều trị và xúc phạm bằng lời nói Người LGBT cũng trải qua sự từ chối hay gây khó khăn khi điều trị bởi nhân viên lễ tân, y tế trong hai trường hợp là điều trị cấp cứu (5.4%) và khám chữa bệnh thông thường (7.9%) [13] Đây là những hành vi có khả năng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người khác và làm cho nhóm người này bị hạn chế quyền tiếp cận với y tế khi có những vấn đề sức khỏe như những người khác trong xã hội Người chuyển giới cũng bị từ chối tiếp cận các dịch vụ y tế, vì phần lớn nhân viên y
tế hiện nay vẫn chưa có đủ kiến thức, kinh nghiệm về những như cầu đặc thù
và cách ứng xử với họ Bên cạnh đó, hiện nay, chưa có cơ sở y tế chính thống nào cung cấp các dịch vụ tư vấn tâm lý, tiêm hormone hoặc hỗ trợ thông tin dành cho các đối tượng muốn chuyển giới, vì phẫu thuật chuyển đổi giới tính vẫn chưa được hợp pháp hoá tại Việt Nam [69] Theo pháp luật, phẫu thuật chuyển giới chỉ được thực hiện cho người liên giới tính còn những người đã
có cơ quan sinh dục được xác định khi sinh ra (bởi nhân viên y tế, cha mẹ) thì không được phép tiến hành phẫu thuật thay đổi giới tính Vì vậy, việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ dành cho người muốn chuyển giới ở Việt Nam vẫn còn thiếu Việc phẫu thuật chuyển đối giới tính tại các cơ sở trong nước là đặc biệt nguy hiểm, vì những hoạt động này là không hợp pháp và không được bất cứ
cơ quan chức năng nào kiểm soát, chịu trách nhiệm Vì vậy, các đối tượng
Trang 32người chuyển giới khi muốn tiến hành phẫu thuật chuyển giới thường phải tự tìm kiếm thông tin (chủ yếu là thông tin truyền miệng hoặc trên các trang mạng) rồi tiến hành thực hiện tại các cơ sở ở nước ngoài Trong hoàn cảnh đó, những người có khả năng tài chính hạn hẹp thường tìm đến những phương án tiết kiệm hơn, như sử dụng hoóc-môn(hormone) và các hoá chất nhiễm tạp chất để tiêm vào cơ thể [71] Hành vi này là vô cùng nguy hiểm, có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng hoặc thậm chí là tử vong [53]
Ngoài ra, sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục còn gây ra rất nhiều hậu quả ở các lĩnh khác trong cuộc sống của những người trong cộng đồng LGBT Và tất các các sự phân biệt đó sẽ dẫn đến việc những người này sẽ không được sống đúng với bản thân mình, không được thực hiên các quyền của mình như những người khác và quan trọng hơn cả, họ sẽ không có điều kiện để phát triển và cống hiến cho xã hội
Về phương diện cá nhân, phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với việc bảo đảm cho mọi cá nhân trong cộng đồng LGBT được sống trong nhân phẩm
Trang 33và được hưởng thụ các quyền con người một cách bình đẳng như được luật pháp quốc tế và quốc gia ghi nhận Theo nghĩa đó, phòng, chống phân biệt đối
xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục cũng chính là một biện pháp cơ bản để bảo đảm thực thi các quyền con người của nhóm người này
Về phương diện cộng đồng, phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên
cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục đóng vai trò quan trọng để ngăn ngừa và xóa bỏ những nguy cơ gây ra với cộng đồng từ sự hận thù, khủng
bố, nổi loạn Một khi tình trạng phân biệt đối xử này không được giải quyết thì các hậu quả mà nó gây ra sẽ càng ngày càng nghiêm trọng Như đã phân tích ở phần trên, khi những người LGBT bị hạn chế một số quyền cơ bản như quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được làm việc, quyền được học hành, quyền được tự do đi lại thì không những không hạn chế được các tệ nạn xã hội từ việc tổn thương tâm lý gây ra sẽ ngày càng trở nên khó kiểm soát hơn Phân biệt đối xử đẩy họ vào bóng tối, tạo ra tâm lý thù địch xã hội với nhiều người trong số họ, vì thế họ trở nên rất nguy hiểm với cộng đồng
Do đó, việc phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và
xu hướng tính dục rất cần sự quyết tâm của toàn xã hội ở các mặt xã hội và đặc biệt là ở góc độ pháp luật
Về phương diện quốc tế, phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục ở Việt Nam hiện nay là rất cần thiết, phù hợp với xu hướng của quốc tế Việc này thể hiện sự văn minh của một xã hội
và sự tiến bộ của luật pháp
1.3.2 Sự cần thiết về mặt xã hội của việc phòng, chống phân biệt đối
xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục
Hiện nay, việc phòng, chống phân biệt đối xử trên cơ sở bản dạng giới
và xu hướng tính dục đang được vận động pháp điển hóa trong pháp luật một cách mạnh mẽ trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Những người
Trang 34ủng hộ việc phòng, chống phân biệt đối xử này lập nên các tổ chức và phát động những phong trào mang tích chất toàn cầu để vận động cho việc thừa nhận và pháp điển hóa các quyền con người của tất cả những người trong cộng đồng LGBT để họ không bị phân biệt đối xử do xu hướng tính dục và bản dạng giới của họ
Việc bảo vệ quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới có ý nghĩa không chỉ trong việc bảo vệ nhóm người thiểu số, yếu thế trong xã hội
mà còn là việc giải quyết một thực trạng xã hội đang rất được quan tâm hiện nay Từ đó thay đổi nhận thức của toàn xã hội, mang lại nét hiện đại cho văn hóa truyền thống còn nhiều bảo thủ và định kiến vẫn còn tồn tại ở Việt Nam hiện nay Đồng thời việc bảo về quyền này cũng là điều cho thấy, chúng ta những người dị tính bình thường sẽ thuận theo lẽ tự nhiên mà bảo vệ những quyền tự nhiên do tạo hóa mang lại cho con người, bất kể đó là ai, chỉ cần là con người - một cá nhân tự nhiên và xã hội thì sẽ được bảo vệ Từ đó hạn chế tình trạng phân biệt đối xử với những người trong cộng đồng LGBT, giúp họ phát triển và đóng góp nhiều hơn cho cộng đồng, xã hội
1.4 Cơ sở pháp lý quốc tế của việc phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục
Là thành viên của Liên Hiệp Quốc từ năm 1977, Việt Nam đã gia nhập Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR), Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) vào năm 1982 và Công ước Quyền Trẻ em (CRC) vào năm 1990 Thông qua đó, Việt Nam đã thể hiện cam kết tôn trọng phẩm giá và quyền của mọi con người như nhau Điều
1 của Tuyên ngôn Nhân quyền ghi rõ: “Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền”; Sau đó tiếp nối bởi Điều 2: “Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do nêu trong bản Tuyên ngôn này mà
Trang 35không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc, tài sản, xuất thân hay bất kỳ cơ sở nào khác.” Bình luận Chung số 20 của Ủy ban Kinh tế, Văn hóa, Xã hội Liên Hợp Quốc (E/C.12/ GC/20, 2/7/2009, đoạn 32) giải thích: “„Cơ sở khác‟ được ghi trong Điều 2, Đoạn 2 bao hàm cả xu hướng tính dục Các quốc gia cần đảm bảo xu hướng tính dục của một người không phải là rào cản để thực hiện các quyền trong Công ước, ví dụ, quyền tiếp cận trợ cấp tuất tử Thêm nữa, bản dạng giới cũng được công nhận là một cơ sở phân biệt đối xử bị cấm; ví dụ, một người chuyển giới, liên giới tính thường phải đối mặt với những vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, như quấy rối trong trường học hay công sở” Sau nhiều thập kỷ khi xu hướng tính dục và bản dạng giới ít khi được bàn luận một cách chính thức, những lo ngại về sự vi phạm nhân quyền đã khiến Hội đồng Nhân quyền coi đây là vấn đề ưu tiên để thảo luận, và chính thức đưa ra những tuyên bố chung về quyền của người LGBT Những bản tuyên bố chung về quyền con người, xu hướng tính dục và bản dạng giới đã được đề xuất ban đầu trong các phiên họp của Hội đồng Nhân quyền năm 2006 và 2008 Cuộc tranh luận xoay quanh mối quan tâm chính trị về luật phân biệt đối xử và nghĩa vụ của các nhà nước trong việc thực thi luật nhân quyền quốc tế Năm 2011 và 2012 vấn đề về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới đã được thúc đẩy mạnh mẽ hơn Tháng 3/2011, 85 nhà nước và vùng lãnh thổ đã 27 cùng ký vào bản Tuyên bố chung về việc chấm dứt các hành động bạo lực và vi phạm nhân quyền dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới Tháng 6/2011, một bản Nghị quyết (Resolution 17/19) đề cập đến bạo lực với người LGBT đã được thông qua tại Phiên họp thứ 17 của Hội đồng Nhân quyền Sự ủng hộ của các thành viên Hội đồng ở khắp nơi đã tạo điều kiện cho sự ra đời một bản báo cáo chi tiết đầu tiên của Văn phòng Hội đồng Cao Ủy Nhân quyền (A/HRC/19/41) vào
Trang 36tháng 11/2011, tổng kết lại vấn đề bạo lực và phân biệt đối xử đối với người đồng tính, song tính và chuyển giới trên khắp thế giới Báo cáo đã đưa ra các bằng chứng cho thấy những hình thức bạo lực và phân biệt đối xử mang tính
hệ thống đối với các cá nhân ở khắp nơi trên thế giới vì xu hướng tính dục và bản dạng giới của họ Báo cáo đồng thời đưa ra các khuyến nghị đối với các nhà nước nhằm bảo vệ quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới Ngày 26/9/2014, UN HRC tiếp tục thông qua nghị quyết chống lại việc phân biệt đối xử và bạo lực đối với cộng đồng LGBT, 25 trên tổng số 46 nước thành viên hội đồng, trong đó có Việt Nam, đã bỏ phiếu thuận để thông qua nghị quyết này Các nghị quyết và báo cáo của Hội đồng Nhân quyền LHQ đều chỉ rõ nghĩa vụ pháp lý của các quốc gia trong việc bảo đảm quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT), cũng như người liên giới tính (người sinh ra với những đặc điểm giới tính không điển hình là nam hay nữ): Bình luận Chung số 20 của CESCR (E/C.12/GC/20, 2/7/2009), Bình luận Chung số 28 của CEDAW (CEDAW/C/GC/28, 16/11/2010), Bình luận Chung
số 14 của CRC (CRC/C/ GC/14, 29/5/2013), các báo cáo của các Báo cáo viên Đặc biệt (A/57/138, Tháng Bảy 2 2002, A/HRC/20/27, 21 Tháng Năm 2012, A/HRC/20/27/Add.3, 19 June 2012, A/HRC/23/34, 14 Tháng Ba 2013)
Ngoài ra là bộ Nguyên tắc Yogyakarta Trong đó, mô tả các nguyên tắc
để áp dụng Luật Nhân quyền quốc tế có liên quan đến xu hướng tính dục và bản dạng giới Kể từ khi ra đời, nguyên tắc Yogyakarta đã thu hút sự chú ý đáng kể từ phía Nhà nước, các cơ quan Liên Hợp Quốc và xã hội dân sự Nguyên tắc Yogyakarta ban đầu được phát triển với hai mục đích Đầu tiên, quy định đánh giá công bằng về tình trạng hiện tại của Luật Nhân quyền quốc
tế khi áp dụng đối với nhóm thiểu số tình dục, cụ thể là những người đồng tính nam, đồng tính nữ, người lưỡng tính và người chuyển giới Tại Bộ nguyên tắc Yogyakarta là những quy phạm về quyền con người mang tính
Trang 37phổ quát và không phân biệt đối xử Không có người nào hoặc nhóm người nào nằm ngoại ngôn từ rõ ràng và minh bạch trong các Công ước quốc tế làm nền tảng của Luật Nhân quyền quốc tế Những người LGBT nói chung những người đồng tính nói riêng cũng không nằm trong số ngoại lệ của cách hiểu cơ bản của việc áp dụng Luật Nhân quyền quốc tế Mục đích thứ hai, các nguyên tắc Yogyakarta đã chi tiết các nghĩa vụ của quốc gia trong mỗi nguyên tắc trong tổng 29 nguyên tắc, nhằm mục đích nâng cao khả năng thành công của những người ủng hộ và hoạt động vì quyền của nhóm LGBT khi đối mặt với những vi phạm quyền của nhóm LGBT gây ra bởi cộng đồng [53]
Bên cạnh đó là các các quy phạm luật quốc tế của Liên Hợp Quốc về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới được thể hiện trong các Nghị quyết, các báo cáo của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về Nhân quyền và Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc như sau:
Thứ nhất, một trong những văn kiện quốc tế đầu tiên của hệ thống Liên
Hợp Quốc đề cập trực tiếp đến quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới là Tuyên bố của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc (Commission on Human Rights, nay đã được thay thế bởi UN HRC) về “Xu hướng tính dục và quyền con người” (Sexual Orientation & Human Rights) Văn kiện này được thông qua vào tháng 3/2005, do New Zealand đề xướng và nhận được sự ủng
hộ của 32 quốc gia thành viên Ủy ban
Thứ hai, Tuyên bố chung về những vi phạm nhân quyền dựa trên xu
hướng tính dục và bản dạng giới (Human rights violations based on sexual orientation and gender identity), do Na-uy khởi xướng với sự ủng hộ của 54 quốc gia khác, được công bố bởi UN HRC vào tháng 12/2006 Tuyên bố vạch
rõ những hình thức vi phạm nhân quyền dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới đang diễn ra trên thế giới, nguyên nhân của tình trạng này, đồng thời kêu gọi các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc có những hành động để ngăn chặn và chấm dứt những vi phạm đó
Trang 38Thứ ba, Tuyên bố chung về quyền con người, xu hướng tính dục và bản
dạng giới (Joint Statement on Human Rights, Sexual Orientation and Gender Identity) do Ác-hen-ti-na khởi xướng với sự ủng hộ của 66 quốc gia, được công bố bởi Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vào ngày 18/12/2008 Tuyên bố khẳng định nguyên tắc không phân biệt đối xử về quyền con người được áp dụng với vấn đề xu hướng tính dục và bản dạng giới, lên án những hành vi bạo lực và phân biệt đối xử dựa trên hai yếu tố này, đồng thời yêu cầu UN HRC thảo luận về những cách thức để ngăn ngừa và chấm dứt những vi phạm nhân quyền đó Tuyên bố cũng kêu gọi các tổ chức nhân quyền và các quốc gia nỗ lực thúc đẩy và bảo vệ các quyền của tất cả mọi người bất kể xu hướng tính dục và bản dạng giới của họ như thế nào
Thứ năm, Tuyên bố chung về việc chấm dứt các hành động bạo lực và
vi phạm nhân quyền dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới (Ending Acts of Violence and Related Human Rights Violations based on Sexual Orientation and Gender Identity – SOGI Statement) do Colombia khởi xướng với sự ủng hộ của 85 quốc gia, được công bố bởi UN HRC vào tháng 3/2011 Bản Tuyên bố kêu gọi các thiết chế nhân quyền quốc tế quan tâm đến các vấn
đề nhân quyền liên quan đến xu hướng tính dục và bản dạng giới và đưa những vấn đề này vào khuôn khổ của báo cáo UPR về thực thi quyền con người ở các quốc gia Tuyên bố cũng kêu gọi các quốc gia ngăn ngừa những hành động bạo lực, tội phạm hóa và phân biệt đối xử với các cá nhân dựa trên
xu hướng tính dục và bản dạng giới của họ
Thứ sáu, Nghị quyết về “Quyền con người, Xu hướng tính dục và Bản
dạng giới” (Human Rights, Sexual Orientation and Gender Identity - HRC/RES/17/19) do Nam Phi đề xướng, được thông qua tại Phiên họp thứ 17, tháng 6/2011 của UN HRC Đây là nghị quyết đầu tiên của một cơ quan nhân quyền Liên Hợp Quốc đề cập trực tiếp đến vấn đề quyền con người của
Trang 39LGBT Nghị quyết này yêu cầu Cao Ủy Liên Hợp Quốc về Nhân quyền tiến hành một nghiên cứu về tình trạng phân biệt đối xử và bạo lực chống lại các
cá nhân dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới trong pháp luật và thực tiễn trên thế giới, đồng thời đề xuất các phương thức sử dụng luật nhân quyền quốc tế để chấm dứt những vi phạm nhân quyền dạng này Nghị quyết cũng quyết định tổ chức một cuộc họp tiểu ban tại Phiên họp thứ 19 của Hội đồng Nhân quyền để thảo luận và đưa ra những khuyến nghị về vấn đề đã nêu
Thứ bảy, Báo cáo của Cao Ủy Liên Hợp Quốc về quyền con người về
các luật, chính sách phân biệt đối xử và các hành động bạo lực chống lại các
cá nhân dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới (Discriminatory laws and practices and acts of violence against individuals based on their sexual orientation and gender identity - A/HRC/19/41, tháng 11/2011)
Các cơ sở pháp lý của việc phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ
sở bản dạng giới và xu hướng tính dục không chỉ nằm ở các quy định trực tiếp
về phòng, chống phân biệt đối xử mà còn nằm ở các quy định trong pháp luật quốc tế về quyền của nhóm LGBT.Cho tới nay Liên Hợp Quốc đã đang nỗ lực từng bước trong việc chỉ ra những vi phạm nhân quyền đối với người đồng tính, song tính và chuyển giới cũng như yêu cầu các quốc gia thành viên
có những hành động cụ thể tuân thủ những điều luật nhân quyền quốc tế để chấm dứt các hành vi vi phạm nhân quyền Với quan điểm rõ ràng này của Liên Hợp Quốc và những động thái chung tích cực của những người có lương tri trên khắp thế giới, người người đồng tính, song tính và chuyển giới có quyền hi vọng vào một tương lai tự do, bình đẳng và không có phải chịu những sự phân biệt đối xử không đáng có Có thể thấy, pháp luật quốc tế đã
có những văn kiê ̣n có tính chất làm nền tảng cho viê ̣c xây dựng các quy ph ạm pháp luật về phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và
xu hướng tính dục ở Việt Nam
Trang 40TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Trong giai đoạn hiện nay, việc phòng, chống phân biệt đối xử trên cơ
sở bản dạng giới và xu hướng tính dục trên thế giới ngày càng được quan tâm Tình trạng phân biệt đối xử với cộng đồng LGBT diễn ra khắp nơi trên thế giới và ở Việt Nam gây ra những hậu quả khôn lường về mặt thể xác lẫn tinh thần cho những người LGBT, gây nhiều khó khăn trong cuộc sống và công việc Những hậu quả nghiêm trọng này là những hồi chuông cảnh báo cho thấy sự cần thiết của việc phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục, đặc biệt là các chủ trương, chính sách của nhà nước, các quy định của pháp luật Việc phân tích, đưa ra được những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng này sẽ tìm ra được các biện pháp phòng, chống phân biệt đối xử Các khái niệm về giới nói chung và về bản dạng giới và xu hướng tính dục nói riêng đã du nhập vào Việt Nam một thời gian song còn vấp phải những định kiến xã hội khá sâu sắc Mặc dù là một nước đang phát triển, nhưng Việt Nam đã tham gia rất nhiều các Công ước quốc tế về bình đẳng giới nói chung và về đảm bảo các quyền cho LGBT nói riêng Song việc quy định quốc tế đó chưa được tham chiếu nhiều trong các quy định của pháp luật Việt Nam Vì vậy, cần phải nắm rõ được các công ước quốc tế về vấn đề này, từ đó so sánh, đánh giá các quy định trong hệ thống pháp luật Việt Nam nhằm rút ra bài học, kinh nghiệm Đây là việc làm cần thiết trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay