1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

110 206 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở của việc hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự .... Việc p

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN ANH TUẤN

GI¸M §ÞNH T¦ PH¸P §èI VíI C¸C TéI PH¹M VÒ THAM NHòNG TRONG QU¸ TR×NH GI¶I QUYÕT Vô ¸N H×NH Sù

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN ANH TUẤN

GI¸M §ÞNH T¦ PH¸P §èI VíI C¸C TéI PH¹M VÒ THAM NHòNG TRONG QU¸ TR×NH GI¶I QUYÕT Vô ¸N H×NH Sù

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC CHÍ

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Anh Tuấn

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM THAM NHŨNG TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ 7

1.1 Khái quát về giám định tư pháp trong tố tụng hình sự 7

1.1.1 Khái niệm Giám định tư pháp trong tố tụng hình sự 7

1.1.2 Phân loại Giám định tư pháp trong Tố tụng hình sự 11

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của Giám định tư pháp trong tố tụng hình sự 15

1.1.4 Đối tượng, nội dung và thủ tục giám định tư pháp trong tố tụng hình sự 23

1.2 Khái niệm, đặc điểm giám định tư pháp đối với các tội phạm tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự 26

1.2.1 Khái niệm 26

1.2.2 Đặc điểm 29

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ THAM NHŨNG TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ 34

2.1 Qui định của pháp luật về giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự 34

2.1.1 Qui định của pháp luật về giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự trước năm 2003 34

2.1.2 Quy định của pháp luật về giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự theo qui định của BLTTHS 2003 37

2.2 Thực tiễn hoạt động giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự 63

Trang 5

2.2.1 Tình hình hoạt động giám định tư pháp đối với với các tội phạm về

tham nhũng 63

2.2.2 Nhận xét 75

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ THAM NHŨNG TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ 79

3.1 Cơ sở của việc hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự 79

3.1.1 Cơ sở và yêu cầu về mặt lập pháp 79

3.1.2 Cơ sở và yêu cầu về mặt thực tiễn 80

3.2 Hoàn thiện pháp luật về giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự 81

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự 81

3.2.2 Hoàn thiện về luật giám định tư pháp 84

3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự 86

3.3.1 Tăng cường sự lãnh đạo, kiểm tra, hướng dẫn và giải quyết những vướng mắc đối với công tác giám định tư pháp trong quá trình giải quyết các vụ án tham nhũng 86

3.3.2 Nâng cao nhận thức và năng lực của các chủ thể về giám định tư pháp trong tố tụng hình sự 88

3.3.3 Củng cố và xây dựng đội ngũ giám định viên tư pháp đủ về số lượng, chắc về nghiệp vụ 90

3.3.4 Tăng cường đầu tư, hoàn thiện cơ sở vật chất phục vụ giám định tư pháp cho các tổ chức giám định 90

3.3.5 Hoàn thiện bộ máy tổ chức giám định tư pháp trong tố tụng hình sự 91

3.3.6 Thực hiện xã hội hóa giám định tư pháp trong một số lĩnh vực giám định 93

3.3.7 Mở rộng hợp tác quốc tế trong giám định tư pháp trong tố tụng hình sự 94

KẾT LUẬN 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS Bộ luật hình sự

BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự

CQĐT Cơ quan điều tra

CQTHTT Cơ quan tiến hành tố tụng GĐTP Giám định tư pháp

GĐV Giám định viên

KLGĐ Kết luận giám định

NLTNHS Năng lực trách nhiệm hình sự NTHTT Người tiến hành tố tụng TCGĐ Trưng cầu giám định

TNHS Trách nhiệm hình sự

TTHS Tố tụng hình sự

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê số lượng GĐVTP và GĐVTP theo vụ việc 66

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những năm qua, tình hình tội phạm tham nhũng có diễn biến phức tạp trên mọi lĩnh vực, xảy ra ở nhiều ngành, nhiều cấp khác nhau, tập trung chủ yếu trên một

số lĩnh vực trọng điểm như: đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý tài sản công, tài chính, ngân hàng, quản lý sử dụng đất… Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng và sớm ban hành các Nghị quyết; Luật phòng, chống tham nhũng; Bộ luật hình sự, Bộ luật TTHS… nên đã tạo được chuyển biến tích cực trong đấu tranh, phòng ngừa tham nhũng Tuy nhiên, vẫn chưa đạt được yêu cầu ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, thể hiện ở số lượng tài sản của Nhà nước bị chiếm đoạt, lãng phí, thất thoát đặc biệt nghiêm trọng vẫn xảy

ra Việc phát hiện, khởi tố, điều tra để xử lý hình sự đối với hành vi tham nhũng gặp nhiều khó khăn trong quá trình xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm tham nhũng, đặc biệt là khó khăn trong giám định tư pháp trong quá trình giải quyết các vụ án về tham nhũng như: thời gian giám định dài; kinh phí chi trả giám định quá lớn; một số cơ quan được trưng cầu giám định từ chối né tránh; không quy định công tác giám định đối với từng tội danh cụ thể; không quy định thời gian cử Giám định viên; không quy định rõ trách nhiệm của Giám định viên; trình độ chuyên môn của một số giám định viên chưa đáp ứng được yêu cầu, kết luận giám định không chính xác, phải giám định nhiều lần… là nguyên nhân quan trọng dẫn đến thời gian giải quyết một số vụ án bị kéo dài, thậm chí không xử lý được

Việc xác định thiệt hại về tài sản trong một số vụ án tham nhũng bắt buộc phải tiến hành trưng cầu giám định về tài chính kế toán, giám định kỹ thuật, giám định chất lượng công trình… Kết luận giám định trong những trường hợp này là nguồn chứng cứ quan trọng chứng minh tội phạm và nhiều khi là nguồn chứng cứ duy nhất Nội dung yêu cầu giám định trong các vụ án tham nhũng bao gồm nhiều vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau (tài chính, xây dựng, kỹ thuật chuyên ngành…) cần thiết phải có sự điều phối, hợp tác của nhiều ngành khác

Trang 9

2

nhau Tuy nhiên chất lượng kết luận giám định trong một số trường hợp chưa bảo đảm, một số kết luận còn chung chung, mập mờ, không rõ ràng, không trả lời cụ thể câu hỏi của cơ quan trưng cầu đặt ra, mà nêu “chỉ có giá trị tham khảo”, không khẳng định rõ đúng sai và có dấu hiệu né tránh khiến cho các cơ quan tiến hành tố tụng lúng túng, khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án Một số trường hợp, nội dung yêu cầu giám định là nghiệp vụ chuyên môn mới phát sinh, phức tạp, khối

lượng lớn như vụ Nguyễn Anh Tuấn và đồng phạm cố ý làm trái xảy ra tại Sở Quản

lý kinh doanh vốn và ngoại tệ (Ngân hàng NNPTNT) đã kéo dài đến 5 năm do không thực hiện được yêu cầu giám định của Toà án Nhân dân Hà Nội Đáng lo

ngại nhất là có hiện tượng “chạy” giám định tư pháp để thoát tội nên đã xảy ra chuyện một vụ án phải giám định nhiều lần, mỗi lần cho một Kết luận giám định khác nhau, nhận xét chung chung, né tránh, không rõ ràng

Bên cạnh đó là những khó khăn, vướng mắc trong việc đánh giá, sử dụng kết luận giám định Thực tế cho thấy, nhiều cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng còn lúng túng, thiếu quyết đoán trong việc xem xét, đánh giá sử dụng kết luận giám

định trong vụ việc có nhiều bản giám định khác nhau như trong vụ án “Tượng đài

Chiến thắng Điện Biên Phủ”…

Trong quá trình giải quyết án tham nhũng, nhiều vụ án bị ách tắc do nhận thức, quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tố tụng về giải quyết vụ án, về sự cần thiết của việc trưng cầu giám định, có tình trạng “lấy kết quả giám định thay cho kết

luận điều tra, coi kết quả giám định quan trọng hơn kết luận điều tra)…

Đối với các vụ án tham nhũng trong đầu tư xây dựng cơ bản, Viện kiểm sát, Tòa án thường cho rằng, phải có quyết toán công trình thì kết luận giám định mới có giá trị pháp lý, trong khi đó các công trình xây dựng cơ bản trong án tham nhũng thì thường đã và đang thi công trong nhiều năm và không biết khi nào mới quyết toán công trình được, mà thời hạn điều tra thì có hạn Vì thế, mặc

dù nhiều công trình xây dựng đã có dấu hiệu rút ruột công trình, hành vi sai phạm rất rõ ràng như: lập chứng từ giả mạo, tiền đã xuất ra khỏi quỹ, bị chiếm đoạt… nhưng các cơ quan truy tố, xét xử vẫn cho rằng đó là khoản tiền tạm ứng,

Trang 10

3

chưa quyết toán công trình thì chưa cấu thành tội phạm Đây chính là nguyên nhân mà có rất ít các vụ án tham nhũng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản được khởi tố, truy tố, xét xử trong thời gian vừa qua

Những hạn chế, vướng mắc nêu trên cần được khắc phục, nên học viên lựa

chọn đề tài: “Giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng trong quá

trình giải quyết vụ án hình sự” làm luận văn thạc sỹ luật học đáp ứng yêu cầu lý

luận và thực tiễn của giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Ở Việt Nam thời gian qua, vấn đề giám định tư pháp trong quá trình giải quyết các vụ án đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều cơ quan, ban, ngành; Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp”; cũng đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động giám định tư pháp với nhiều công trình như:

- Những vấn đế lý luận và thực tiễn cấp bách của việc đổi mới thủ tục TTHS

đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, tác giả: TS Lê Hữu Thể -TS Đỗ Văn

Đương-ThS Nguyễn Thị Thủy, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013

- Giám định tư pháp trong Tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sỹ, tác

giả Nguyễn Thị Loan, năm 2015

- Hoàn thiện các quy định về giám định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003,

bài viết của tác giả ThS.Đức Hạnh - Giảng viên trường Đại học Kiểm sát Hà Nội…

Ngoài ra, cũng đã có nhiều cuộc họp, hội thảo do Chính phủ, các Bộ, Ban, ngành tổ chức để đánh giá về hiệu quả công tác giám định tư pháp trong những năm qua; trong các cuộc họp, hội thảo đó, các cơ quan có liên quan cũng đã có những báo cáo liên quan đến công tác giám định tư pháp như:

- Tham luận của Ban Nội chính Trung ương tại Hội nghị triển khai thi hành Luật giám định tư pháp, tháng 9-2013

- Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, kết luận tại Hội nghị toàn quốc về công tác PCTN tại Hà Nội, ngày 05-5-2014…

Trang 11

4

Qua nghiên cứu các công trình khoa học, báo cáo tổng kết các cuộc họp, hội thảo… có thể thấy ở mỗi công trình nghiên cứu, các tác giả có những góc độ và cách tiếp cận khác nhau, chỉ ra những khó khăn vướng mắc trong hoạt động giám định tư pháp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung, vụ án về tham nhũng nói riêng; đi sâu phân tích thực trạng, chỉ ra một số nguyên nhân và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp

Tuy nhiên, từ trước đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về lý luận, thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp đối với tội phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tiếp tục hoàn thiện lý luận; đánh giá thực trạng, chỉ rõ những tồn tại, hạn chế, thiếu sót và các nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó để đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp đối với các tội phạm

về tham nhũng trong để giải quyết triệt để vụ án hình sự

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Tiếp tục hoàn thiện lý luận về hoạt động giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, trên cơ sở nghiên cứu các văn bản pháp luật, các tài liệu lý luận và khái quát về thực tiễn hoạt động giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng

- Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng qua đó đánh giá những ưu điểm đạt được; làm rõ những hạn chế, thiếu sót, tìm ra và phân tích các nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót này

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lý luận và thực trạng giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Trang 12

5

4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Luận văn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hoạt động giám định tư pháp trong quá trình giải quyết các vụ án về tham nhũng trên cơ sở khảo sát thực tiễn giải quyết những vụ án tham nhũng lớn từ 2010 đến 2015

Luận văn có tham khảo các báo cáo tổng kết của các Cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án về tham nhũng, báo cáo tổng kết các cuộc họp do Ban nội chính Trung ương, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng chủ trì tổ chức để tổng kết về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Đồng thời dựa trên các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về đấu tranh,

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn;

- Phương pháp đối chiếu, so sánh;

- Phương pháp khảo sát điển hình;

6 Những đóng góp mới của luận văn

6.1 Về lý luận

Đây là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện, có hệ thống và tương đối đầy đủ về hoạt động giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Trang 13

6

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giám định tư pháp đối với các tội phạm

tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Chương 2: Qui định của pháp luật và thực tiễn hoạt động giám định tư pháp

đối với các tội phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt

động giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Trang 14

1.1 Khái quát về giám định tư pháp trong tố tụng hình sự

1.1.1 Khái niệm Giám định tư pháp trong tố tụng hình sự

Thuật ngữ giám định có nguồn gốc chữ La tinh là “Expertis”, có nghĩa là xem xét, tìm hiểu, nghiên cứu, kiểm tra, làm rõ, chứng minh, kết luận Đó là quá trình các chủ thể dùng các kiến thức chuyên môn về các lĩnh vực khoa học kỹ thuật

và những kinh nghiệm thực tiễn để nghiên cứu, xét nghiệm, so sánh và kết luận về một người, vật thể, sự việc, hiện tượng giúp cho cơ quan, cá nhân trưng cầu, yêu cầu giám định có nhận thức khách quan để giải quyết vấn đề đặt ra trên cơ sở khoa học Giám định có nhiều lĩnh vực như: giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, giám định kỹ thuật hình sự, giám định văn hóa, giám định tài chính- kế toán, giám định xây dựng Trong mỗi lĩnh vực giám định lại được chia ra thành nhiều các chuyên ngành giám định cụ thể

Theo từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “giám định” là “việc xem xét và kết luận về một

sự vật, hiện tượng mà cơ quan nhà nước cần tìm hiểu và xác định” [34, tr.389, 1071]

Từ điển Bách Khoa Việt Nam cũng có cách định nghĩa tương tự về nghĩa của từ

giám định trong ngành luật là “kiểm tra và kết luận về một hiện tượng hoặc một vấn

đề mà cơ quan nhà nước cần tìm hiểu và xác định” [36, tr.1211]

Theo quy định của pháp luật, GĐTP là hoạt động bổ trợ tư pháp phục vụ điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự, giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính Trong lĩnh vực tư pháp, khái niệm giám định tư pháp lần đầu tiên được

đề cập trong Nghị định số 117/HĐBT ngày 21/7/1988 của Hội đồng bộ trưởng (nay

là Chính phủ), theo đó nêu:

Giám định tư pháp là sử dụng kiến thức, phương pháp khoa học

kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn để kết luận về vấn đề có liên quan đến

Trang 15

8

các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, các tranh chấp lao động theo quyết định trưng cầu giám định của cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân (trong văn bản này gọi chung là cơ quan tiến hành tố tụng) nhằm phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử

Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 tiếp tục xác định và làm rõ hơn về khái niệm này Tại Điều 1 quy định:

Giám định tư pháp là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ án) do người giám định tư pháp thực hiện theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nhằm phục vụ cho việc giải quyết các vụ án [32, Điều 1]

Để cụ thể hóa một trong các vấn đề của quá trình cải cách tư pháp ở nước ta, Luật giám định tư pháp được Quốc hội thông qua vào ngày 20/6/2012 và có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2013 tiếp tục quy định hoàn chỉnh hơn về giám định tư pháp Luật Giám định tư pháp quy định:

Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy

tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật này [21, Điều 2]

Như vậy, cho đến nay mới chỉ có khái niệm về GĐ chứ chưa có khái niệm về giám định tư pháp trong tố tụng hình sự trong luật thực định Tuy nhiên, khoa học pháp lý đã có một số quan điểm về GĐTP trong tố tụng hình sự được phát biểu thành các định nghĩa khoa học có thể kể đến như:

Quan điểm thứ nhất: giám định tư pháp trong tố tụng hình sự là việc

nghiên cứu các vật chứng, chứng từ, tử thi, tình trạng sức khỏe và đặc điểm thể chất

Trang 16

9

của người sống có ý nghĩa đối với vụ án, do người có hiểu biết chuyên môn tiến hành theo yêu cầu của cơ quan điều tra bằng quyết định trưng cầu giám định Khái

niệm này đã cụ thể hóa các hoạt động giám định trong tố tụng hình sự nhưng phạm

vi chủ thể của khái niệm này quá hẹp vì giám định tư pháp trong tố tụng hình sự không chỉ được tiến hành theo yêu cầu của cơ quan điều tra mà còn theo yêu cầu của những Cơ quan tiến hành tố tụng khác (Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển…)

Quan điểm thứ hai cho rằng: trong tố tụng hình sự giám định là việc

nghiên cứu, phân tích, xét nghiệm do các nhà khoa học, kĩ thuật và chuyên môn khác tiến hành theo yêu cầu của cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc tòa án về những vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự (Nguyễn Mạnh Hùng, Thuật ngữ pháp

lý 2011) So với quan điểm thứ nhất, quan điểm này phù hợp hơn với các quy định của BLTTHS năm 2003 xét về mặt chủ thể có thẩm quyền trưng cầu giám định Tuy nhiên khái niệm này cũng chưa bao quát hết nội hàm các quy định của pháp luật tố tụng về chủ thể có thẩm quyền trưng cầu giám định cũng như những nội dung khác liên quan đến Giám định tư pháp trong tố tụng hình sự

Có thể nhận thấy, GĐTP trong tố tụng hình sự là hoạt động xuất hiện trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự GĐTP chỉ được tiến hành trong những trường hợp và theo trình tự do BLTTHS quy định Nói cách khác, hoạt động giám định tư pháp nhằm phục vụ cho việc giải quyết vụ án hình sự theo trình tự do BLTTHS quy định thì mới là GĐTP trong tố tụng hình sự

Bộ luật tố tụng hình sự quy định GĐTP là một biện pháp điều tra, thu thập chứng cứ với những quy định rất rõ ràng, chi tiết; đồng thời cũng xác định rõ ý nghĩa của kết luận giám định đối với việc chứng minh tội phạm và người phạm tội;

cụ thể như sau:

- Điều 60 quy định về người giám định, trong đó xác định rõ người giám

định là người có kiến thức cần thiết về lĩnh vực cần giám định được cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu theo quy định của pháp luật; đồng thời quy định rõ quyền

và nghĩa vụ của họ trong quá trình tố tụng hình sự

Trang 17

- Điều 64 quy định về Chứng cứ, tại khoản 2 xác định Kết luận giám định là một trong các nguồn chứng cứ pháp lý phục vụ điều tra, truy tố, xét xử

- Điều 65 quy định về thu thập chứng cứ trong đó xác định rõ để thu thập chứng cứ, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có quyền tiến hành một trong các biện pháp là Trưng cầu Giám định

- Điều 73 quy định về Kết luận giám định, trong đó xác định rõ quyền của người giám định được đưa ra kết luận về vấn đề được giám định, trách nhiệm, thủ tục khi đưa ra kết luận về vấn đề được giám định; trách nhiệm, thủ tục đối với Cơ quan tiến hành tố tụng trong trương hợp không đồng ý với kết luận giám định

- Tại Điều 155 quy định về Trưng cầu giám định trong đó xác định rõ chủ

thể có quyền ra quyết định trưng cầu giám định là Cơ quan tiến hành tố tụng, quy định về các nội dung trong Quyết định trưng cầu giám định và các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định

- Điều 156 quy định về việc tiến hành giám định, trong đó có các quy định về địa điểm tiến hành giám định, các chủ thể khác có thể tham dự việc giám định bên cạnh giám định viên và thu tục trong trường hợp giám định không thể tiến hành đúng thời hạn mà cơ quan trưng cầu giám định yêu cầu

- Điều 157 quy định về các vấn đề có liên quan đến nội dung kết luận giám định

Từ những phân tích trên, có thể khái quát “Giám định tư pháp trong tố tụng

hình sự là việc người có kiến thức chuyên môn trong những lĩnh vực khác nhau, sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật nghiệp vụ để kết luận,

Trang 18

11

làm sáng tỏ những vấn đề theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng nhằm phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự

1.1.2 Phân loại Giám định tư pháp trong Tố tụng hình sự

1.1.2.1 Căn cứ vào quy định của pháp luật về sự cần thiết phải xác định các

sự kiện trong vụ án: Giám định bắt buộc và giám định khi xét thấy cần thiết

Giám định bắt buộc: được quy định tại khoản 3 điều 155 BLTTHS 2003, là

trường hợp khi xuất hiện một hoặc một số tình tiết liên quan đến vụ án mà luật TTHS đã quy định thì CQTHTT bắt buộc phải TCGĐ, nếu không trưng cầu là vi phạm thủ tục tố tụng hình sự

Giám định khi xét thấy cần thiết: là trường hợp khi xuất hiện những tính

tiết nhất định trong vụ án, tuy luật không quy định bắt buộc phải giám định nhưng CQTHTT nhận thấy việc giám định là rất cần thiết để giải quyết vụ án một cách chính xác và TCGĐ thì giám định viên sẽ tiến hành việc giám định Đó

là các trường hợp:

+ Cần có KLGĐ làm căn cứ để quyết định tiến hành một hoặc một số hoạt động tố tụng hình sự

+ Cần có KLGĐ để có chứng cứ nhằm củng cố, hỗ trợ cho các chứng cứ khác phục vụ cho việc giải quyết xử lý vụ án

1.1.2.2 Căn cứ vào tình huống và kết quả giám định: giám định lần đầu, giám định bổ sung, giám định lại

Giám định lần đầu là việc tiến hành giám định lần đầu tiên đối với một vấn

đề nào đó của vụ án cần được làm rõ theo quyết định TCGĐ của CQTHTT

Giám định bổ sung là giám định tiếp theo lần giám định trước nhằm bổ sung,

làm rõ thêm KLGĐ trước đó hoặc khi phát sinh những vấn đề mới liên quan đến các tình tiết đã được kết luận trước đó Ngoài ra, giám định bổ sung còn được trưng cầu trong trường hợp khi ra quyết định TCGĐ lần trước đó, CQTHTT không đưa ra hết những câu hỏi đối với giám định viên Giám định bổ sung có thể do người tiến hành giám định trước đó tiến hành hoặc do người giám định khác tiến hành

Giám định lại là việc giám định được tiến hành theo yêu cầu của CQTHTT

Trang 19

1.1.2.3 Căn cứ vào số lượng, thành phần người tham gia giám định: giám định cá nhân, giám định tập thể

Giám định cá nhân là việc giám định do một người tiến hành độc lập giải

quyết toàn bộ yêu cầu giám định theo quyết định trưng cầu của CQTHTT

Giám định tập thể là việc nhiều người cùng một lĩnh vực chuyên môn hoặc ở

nhiều lĩnh vực chuyên môn cùng tiến hành giám định một vấn đề nào đó

Giám định tập thể được CQTHTT trưng cầu trong trường hợp sau:

+ Yêu cầu giám định đòi hỏi nhiều người giám định ở các lĩnh vực chuyên môn khác nhau giải quyết

+ Khối lượng tài liệu, vật chứng, mẫu vật lớn cần có kết luận kịp thời cho công tác điều tra vụ án hình sự

+ Vấn đề giám định rất phức tạp, đòi hỏi kết luận giám định của một tập thể người giám định để đảm bảo tính chính xác, tin cậy

+ Cần giám định lại một yêu cầu giám định do một GĐV hoặc một tập thể GĐV đã tiến hành giám định

1.1.2.4 Căn cứ vào vấn đề cần giám định liên quan tới một hoặc nhiều lĩnh vực khoa học:

Giám định chuyên khoa là việc một hoặc nhiều người giám định của một

chuyên khoa đảm nhiệm việc giám định

Giám định tổng hợp là việc nhiều người giám định thuộc nhiều chuyên khoa

đảm nhiệm việc giám định.Việc giám định tổng hợp được tiến hành bằng nhiều phương pháp thuộc các chuyên khoa khác nhau trên cùng một đối tượng giám định hoặc trên nhiều đối tượng giám định có liên quan với nhau để cùng giải quyết một yêu cầu giám định cụ thể

Trang 20

13

1.1.2.5 Căn cứ vào lĩnh vực chuyên môn giám định

Giám định pháp y là việc sử dụng những kiến thức, phương pháp khoa học

kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về phương diện y học những vấn đề có liên quan đến

sự kiện chết người, thương tích theo văn bản trưng cầu của CQTHTT nhằm phục

vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử

Giám định pháp y tâm thần: là một bộ phận của tâm thần học, phát triển cùng

với sự phát triển chung của ngành tâm thần học Giám định pháp y tâm thần là việc

sử dụng kiến thức trong lĩnh vực y học tâm thần để xem xét những vấn đề có liên quan đến cá nhân như vấn đề về sức khỏe tâm thần, xác định chính xác những đối tượng bị nghi rối loạn tâm thần có bị bệnh tâm thần hay không, mức độ nặng nhẹ, từ

đó xác định năng lực trách nhiệm hành vi phạm pháp

Mục đích của giám định pháp y tâm thần nhằm giám định tình trạng sức khỏe- sức khỏe tâm thần của bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng Giám định khả năng chịu trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự dựa trên 2 tiêu chuẩn:

+ Tiêu chuẩn y học: đó là vấn đề chuẩn đoán bệnh (họ bị bệnh gì? mức độ nặng, nhẹ?)

+ Tiêu chuẩn pháp luật: xem xét khả năng nhận thức hành vi (có, hạn chế hay mất khả năng nhận thức), xem xét khả năng kiềm chế hành vi Nên đối tượng của giám định pháp y tâm thần là trạng thái tâm thần và hồ sơ tài liệu của con người

Giám định kỹ thuật hình sự: là việc sử dụng những kiến thức, phương pháp

khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn trong khoa học hình sự để xác định hoặc truy nguyên các hiện tượng vật chất như con người, sự vật, hiện tượng… có liên quan đến vụ án hình sự

Hoạt động giám định trong lĩnh vực này thực hiện các nhiệm vụ truy nguyên nhằm làm sáng tỏ một vụ việc có tính hình sự với mục đích xác định và chứng minh

sự đồng nhất của các hiện tượng vật chất đang có liên quan đến vụ việc với những hình thức vật chất đã được xác định, thu thập trong quá trình điều tra

Giám định xây dựng: là hoạt động của cá nhân, tổ chức có năng lực giám

định sử dụng những kiến thức, phương pháp khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ để kết

Trang 21

14

luận về chuyên môn trong lĩnh vực xây dựng những vấn đề cú liên quan đến vụ án, đặc biệt là những vụ án về xây dựng

Giám định môi trường: đánh giá nguồn tác động và đánh giá mức độ ảnh

hưởng của các hoạt động và các yếu tố đến môi trường

Giám định trong lĩnh vực môi trường: bao gồm các hoạt động lấy mẫu và phân tích môi trường, không khí, nước, đất Hoạt động này đã góp phần trong công tác xác định mức độ vi phạm của các tổ chức, cá nhân trong công tác bảo vệ môi trường, từ đó đưa các biện pháp xử lý hành chính, hình sự nhằm tăng cường hiệu lực pháp luật trong công tác bảo vệ môi trường

Giám định văn hóa: việc sử dụng những kiến thức, phương pháp khoa học kỹ

thuật, nghiệp vụ chuyên ngành để giám định các loại hình tác phẩm văn học- nghệ thuật và văn hóa phẩm, đưa ra kết luận về chuyên ngành văn hóa có liên quan đến

Giám định giao thông công chính: do GĐV có đủ năng lực cũng như điều

kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật tiến hành để kết luận về những vấn đề về chuyên ngành giao thông công chính có liên quan đến vụ án như việc giám định chất lượng công trình cầu đường, giám định tính chất an toàn giao thông, giám định chất lượng phương tiện giao thông, giám định chất lượng cây xanh trồng trên hè phố…

Giám định tài chính: việc người có chuyên môn về tài chính, kế toán sử

dụng những kiến thức, phương pháp khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên ngành và những quy định của pháp luật có liên quan để xem xét, đánh giá các chứng từ, tài liệu liên quan đến hoạt động tài chính, kế toán của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp

Trang 22

15

Giám định tài chính nhằm phục vụ cho việc xem xét, phân tích, đánh giá tính đúng đắn của việc chấp hành pháp luật của Nhà nước về tài chính, kế toán Trong trường hợp không đúng pháp luật của Nhà nước thì có gây ra thiệt hại gì về kinh tế không? Thiệt hại ở mức độ như thế nào? Trên cơ sở đó đưa ra những kết luận về chuyên môn theo yêu cầu của CQTHTT, phục vụ đắc lực cho công tác điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và các tội phạm về chức vụ

Định giá tài sản trong tố tụng hình sự: là việc xác định giá trị tài sản bị xâm

phạm bởi hành vi phạm tội Trong BLHS có rất nhiều tội danh quy định yếu tố giá trị tài sản bị xâm phạm (hư hỏng, hủy hoại, chiếm đoạt, chiếm giữ, sử dụng trái phép, nâng khống giá trị,…) là một trong những dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Vì vậy, việc xác định giá trị tài sản bị xâm phạm có ý nghĩa quan trọng và mang tính chất bắt buộc để xác định hành vi xâm phạm về tài sản có phải là tội phạm hay không? Bên cạnh đó, việc định giá tài sản còn là căn cứ để xác định khung hình phạt, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội khi lượng hình và xác định mức bồi thường cho người bị thiệt hại

Hiện nay, BLTTHS hiện hành chưa có quy định cụ thể về việc định giá tài sản Việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự hiện nay được thực hiện chủ yếu theo quy định tại Nghị định 26/2005/NĐ-CP ngày 02/3/2005 của Chính phủ Nghị định này quy định về việc thành lập, quyền, nghĩa vụ của các thành viên Hội đồng định giá tài sản; nguyên tắc định giá; trình tự, thủ tục yêu cầu và việc định giá tài sản; thời hạn định giá; hồ sơ định giá; chi phí định giá;…; kết luận định giá tài sản; quyền của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác đối với kết luận định giá tài sản

Như vậy tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, những căn cứ phân loại khác nhau mà GĐTP được phân chia thành nhiều loại khác nhau Việc phân loại này có ý nghĩa trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động GĐTP, xác định trách nhiệm của các ngành, các cấp, cơ quan chủ quản Hơn nữa, việc phân loại này cũng giúp CQTHTT lựa chọn cá nhân, cơ quan, tổ chức phù hợp để TCGĐ

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của Giám định tư pháp trong tố tụng hình sự

1.1.3.1 Vai trò của giám định tư pháp

Trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa trên tất cả các lĩnh vực như hiện nay, đời

Trang 23

16

sống của người dân cũng được nâng cao, trình độ dân trí cũng ngày một phát triển Bên cạnh những mặt tích cực của quá trình đó mang lại thì tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội ngày một gia tăng và diễn biến phức tạp hơn trước Để giúp các CQTHTT thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, GĐTP mặc dù là hoạt động

bổ trợ nhưng lại góp phần không nhỏ vào hoạt động TTHS nói chung và quá trình giải quyết vụ án hình sự nói riêng

Những phân tích dưới đây sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vai trò của hoạt động trong tố tụng hình sự

Thứ nhất: Giám định tư pháp góp phần xác định sự thật khách quan của vụ án Góp phần xác định dấu hiệu của tội phạm, giúp các CQTHTT ra các quyết định tố tụng chính xác, khách quan: Dấu hiệu của tội phạm có ý nghĩa quan trọng

trong việc xác định một hành vi xảy ra trên thực tế có phải là tội phạm hay không,

là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự (Điều 63 BLTTHS 2003)

Trong quá trình giải quyết vụ án, khi chưa xác định được dấu hiệu tội phạm thì mọi việc tiến hành các hoạt động điều tra, áp dụng các biện pháp cưỡng chế, ngăn chặn, đối với người bị nghi là thực hiện tội phạm đều có thể dẫn đến oan sai, vi phạm quyền dân chủ của công dân, làm giảm lòng tin của nhân dân vào pháp luật Vì vậy việc xác định dấu hiệu tội phạm là một nhiệm vụ quan trọng của CQTHTT, đó là cơ sở

để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định trong quá trình THTT Theo điều 100

BLTTHS 2003 “chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm”

Như vậy, dấu hiệu tội phạm chính là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự

Trong nhiều trường hợp việc xác định dấu hiệu tội phạm đòi hỏi phải có sự đánh giá khách quan, khoa học từ những nhà chuyên môn có kiến thức nghiệp vụ và kinh nghiệm GĐTP là một trong những công cụ hữu hiệu được CQTHTT sử dụng

để hỗ trợ xác định có hay không có tội phạm

KLGĐ sẽ chỉ ra nguyên nhân, nguồn gốc của sự việc, giải thích những hiện tượng đã xảy trong thực tế như: KLGĐ về nguyên nhân chết người, nguyên nhân cháy, thiệt hại tài sản của Nhà nước, tổ chức, cá nhân… Đây là cơ sở để CQTHTT

Trang 24

17

xác định vụ việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm hay không, từ đó đưa ra những quyết định tố tụng chính xác, khách quan nhằm bảo đảm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

Góp phần xác định người phạm tội: Trong hoạt động tố tụng hình sự, mục

đích cuối cùng là xác định có hay không có tội phạm và người phạm tội Tuy nhiên việc chứng minh tội phạm và xác định người phạm tội là một quá trình hết sức khó khăn, đòi hỏi phải áp dụng nhiều biện pháp trong đó có Trưng cầu giám định Thông qua việc giám định giúp các CQTHTT phát hiện dấu vết của tội phạm, hậu quả, thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra… từ đó có căn cứ khách quan để xác định chính xác người phạm tội

Cũng không ít trường hợp, KLGĐ với sự chính xác và khách quan của nó đã chứng minh một người không phải là thủ phạm của vụ án đó nên GĐTP còn giúp minh oan cho người vô tội

Thứ hai: Hỗ trợ các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án

* Góp phần xác định năng lực chịu trách nhiệm hình sự của người thực hiện tội phạm, năng lực nhận thức và khả năng khai báo đúng đắn của người bị hại, người làm chứng: việc xác định độ tuổi và NLTNHS là điều kiện hết

sức quan trọng để xác định một người đó có lỗi hay không khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Nếu một người không đủ một trong hai điều kiện trên thì không phải chịu TNHH đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS mà mình đã gây ra

Bên cạnh đó độ tuổi và NLTNHS của những người tham gia tố tụng khác cũng

có ý nghĩa hết sức quan trọng để các CQTHTT xác định tư cách tham gia tố tụng của

họ và đánh giá tính xác thực của những thông tin, tài liệu do họ cung cấp bởi lẽ lời khai của họ là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng để xác định sự thật vụ án

Cụ thể: tại Điểm b, khoản 2 điều 55 BLTTHS “người do có nhược điểm về

tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết của

vụ án hoặc không có khả năng khai báo” thì không được làm chứng Nếu là người

bị hại thì cần phải có đại diện hợp pháp tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho họ

Trang 25

18

* Góp phần xác định công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn phạm tội:

Công cụ, phương tiện, thủ đoạn phạm tội luôn phản ánh mức độ, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội Tội phạm mà chúng thực hiện càng nghiêm trọng, nguy hiểm bao nhiêu thì công cụ, phương tiện phạm tội càng được chuẩn bị kỹ lưỡng và

thủ đoạn phạm tội càng tinh vi xảo quyệt bấy nhiêu Phương tiện phạm tội là những

đối tượng được chủ thể của tội phạm sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội của

mình Công cụ phạm tội là dạng cụ thể của phương tiện phạm tội ví dụ như dao để

đâm, kéo để cắt, súng, cuốc, chúng có thể là bất cứ vật gì, có khi được chuẩn bị trước mà cũng có khi chúng được tận dụng tại hiện trường

GĐTP là công cụ sắc bén giúp CQĐT xác định công cụ phạm tội là vật gì Đặc điểm, hình dáng, kích thước, chức năng, vật tìm được tại hiện trường có phải là công cụ gây án hay không Bởi mỗi loại công cụ, phương tiện phạm tội khác nhau đều để lại dấu vết khác nhau trên vật tác động hoặc tại hiện trường

Xác định công cụ, phương tiện phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội, định khung hình phạt bởi một số tội phạm phương tiện phạm tội bắt buộc phải được thực hiện bằng phương tiện nhất định như điều 289 BLHS quy định phương tiện phạm tội là những giá trị vật chất Tính chất của phương tiện phạm tội trong một số trường hợp có thể làm thay đổi một cách đáng kể mức độ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội ví dụ như hành vi cướp tài sản bằng cách dùng vũ khí để đe dọa người bị tấn công, hoặc dùng chất cháy,chất nổ để hủy hoại tài sản của người khác Đây là những phương tiện mang tính hủy hoại hàng loạt, nhanh chóng gây hậu quả nguy hại cho đối tượng bị tác động

Phương pháp, thủ đoạn phạm tội là cách thức thực hiện hành vi phạm tội,

trong đó có cách thức sử dụng phương tiện Tính chất của thủ đoạn phạm tội luôn là yếu tố ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội vì vậy nó được coi là tình tiết cần được xem xét khi định tội danh, định khung hình phạt, xác định tình tiết tăng nặng giảm nhẹ TNHS

Tóm lại, công cụ, phương tiện và phương thức, thủ đoạn phạm tội phản ánh tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội Do đó, công việc tìm ra chúng có ý nghĩa rất lớn, giúp cơ quan bảo vệ pháp luật giải quyết vụ án một cách thấu tình đạt lý nhất

Trang 26

GĐTP dựa vào dấu vết tội phạm để lại giúp CQTHTT tái hiện lại diễn biến hành vi phạm tội, cách thức hung thủ gây án Qua đó giúp cho việc giải quyết vụ án được đúng hướng, nhanh chóng xác định và chứng minh được thủ phạm

* Góp phần xác định mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra: bất cứ tội

phạm nào cũng có thể gây ra thiệt hại cho quan hệ xã hội: độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm, quyền sở hữu tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ

Thiệt hại do tội phạm gây ra có thể là thiệt hại về thể chất bao gồm thiệt hại

về tính mạng trong nhóm tội giết người, thiệt hại về sức khỏe như tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.Thiệt hại về tinh thần

đó là thiệt hại gây ra cho danh dự, nhân phẩm, tự do của con người như tội làm nhục người khác Thiệt hại về vật chất như tài sản bị phá hủy (Điều 231), tài sản

bị chiếm đoạt (từ Điều 133 đến Điều 140; Điều 278, Điều 280,), tài sản bị thiệt hại (Điều 281, Điều 285 )

GĐTP nhằm xác định thiệt hại về vật chất, về thể chất do hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra, là căn cứ để CQTHTT ra quyết định tố tụng như tạm giữ, tạm giam, định tội, lượng hình phạt hoặc quyết định mức bồi thường thiệt hại Trong những vụ án mà có nhiều người cùng gây ra thiệt hại thì GĐTP còn có thể xác định

Trang 27

20

chính xác mức độ gây thiệt hại do hành vi phạm tội của từng người gây nên Những kết quả này có ý nghĩa rất lớn góp phần vào việc xác định vị trí, vai trò của những người đồng phạm trong vụ án và có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt sau này

Thiệt hại do tội phạm gây ra phản ánh được phần nào tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, mức độ thiệt hại thường tỷ lệ thuận với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội Do đó xác định thiệt hại là một trong những cơ sở để CQĐT định tội, định khung hình phạt

* Góp phần xác định nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm

GĐTP còn đóng góp vai trò của mình đối với hoạt động TTHS trong việc xác định nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm Việc xác định nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội là cơ sở để CQĐT định hướng và đề ra chiến thuật điều tra phù hợp, nhanh chóng tìm ra thủ phạm

Thông thường mỗi vụ việc phạm tội xảy ra đều xuất phát từ những nguyên nhân nhất định như ghen ghét, mâu thuẫn, tư lợi cá nhân, … Từ những kết quả giám định, CQĐT có thể nắm bắt được nguyên nhân và điều kiện phạm tội, từ đó đề ra biện pháp phòng chống tội phạm

Trên đây là những đánh giá, phân tích về vai trò của công tác GĐTP đối với các vụ án hình sự Qua đó có thể thấy được phần nào tầm quan trọng không thể thiếu của GĐTP đối với hoạt động TTHS nói chung Những điều này đã thực sự khẳng định GĐTP là công cụ hữu hiệu giúp cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, chính xác, khách quan, góp phần không nhỏ vào công tác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm

1.1.3.2 Ý nghĩa của Giám định tư pháp trong tố tụng hình sự

* Ý nghĩa của giám định tư pháp trong việc bảo vệ pháp chế XHCN

GĐTP là một hoạt động không thể thiếu trong bất cứ một nền tư pháp nào Công tác này đã phục vụ đắc lực cho hoạt động tố tụng hình sự, giúp các CQTHTT giải quyết các vụ án chính xác, khách quan và tuân thủ pháp luật, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân Qua đó bảo đảm

Trang 28

21

được nền pháp chế xã hội chủ nghĩa của Việt Nam Như đã phân tích ở phần vai trò của GĐTP bên trên, để giải quyết được một vụ án hình sự cần trải qua rất nhiều hoạt động khác nhau của quá trình điều tra, truy tố, xét xử GĐTP thông qua bản KLGĐ được thực hiện bởi các GĐV có chuyên môn, nghiệp vụ là một nguồn chứng cứ quý báu để xác định tội phạm, người phạm tội, công cụ phương tiện gây án, khả năng nhận thức hành vi phạm tội thậm chí cả hoàn cảnh, điều kiện dẫn đến việc phạm tội

đó Những kết luận này là cơ sở để CQTHTT giải quyết vụ án chính xác, khách quan trên cơ sở của khoa học và pháp luật, giúp cho công lý được thực thi, công bằng cho người bị hại, pháp luật được đảm bảo tính răn đe, tính nghiêm minh và

nền pháp chế XHCN được giữ vững

Nếu như lời khai của người phạm tội, người bị hại, người làm chứng là những phản ánh tinh thần phụ thuộc vào ý thức chủ quan của mỗi người, do đó mà lời khai chưa được kiểm tra, đối chiếu với những tình tiết sự kiện chứng cứ khác thì không thể khẳng định đó là chứng cứ Còn KLGĐ nếu được thực hiện trên nguyên

tắc “tuân thủ pháp luật, tuân theo quy chuẩn chuyên môn, trung thực, chính xác,

khách quan” thì luôn có giá trị chứng minh đúng đắn, mang tính khách quan và

khoa học, bổ sung cho việc thu thập các chứng cứ khác liên quan đến vụ án

Giám định tư pháp còn mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc, hướng hoạt động

tố tụng theo cơ chế minh bạch, đúng người đúng tội, thượng tôn pháp luật Giám định tư pháp là một kênh quan trọng đánh giá trình độ phát triển pháp luật và mức

độ dân chủ của một quốc gia [1]

* Ý nghĩa của giám định tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người

Hoạt động GĐTP giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo- nhóm đối tượng chịu sự tác động tiêu cực của các quy phạm pháp luật hình sự Bảo vệ quyền của nhóm đối tượng này cũng là đồng thời GĐTP bảo vệ quyền con người nói chung

Theo BLTTHS 2003 đã nêu rõ: “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án

kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [20, Điều 9] Chính vì thế nên đối

tượng dù đang bị tình nghi, bị tạm giữ, tạm giam nhưng cơ quan có thẩm quyền

Trang 29

22

chưa chứng minh được hành vi phạm tội cũng như chưa đưa ra xét xử công khai, minh bạch thì chưa thể coi là tội phạm Và dù trong hoàn cảnh nào, họ vẫn được đảm bảo những quyền của bị can, bị cáo nhất định Các KLGĐ là một nguồn chứng

cứ khách quan trong vụ án hình sự Những chứng cứ này có thể không chỉ xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội mà còn là bằng chứng gỡ tội của những người vô tội Cho nên ngoài nhiệm vụ chứng minh tội phạm, GĐTP còn là công cụ

để minh oan cho người vô tội

* Ý nghĩa của giám định tư pháp trong việc trong việc phòng ngừa tội phạm

Thông qua quá trình giám định, người giám định có thể phát hiện những nguyên nhân, điều kiện thực hiện tội phạm, những sơ hở, thiếu sót của cơ quan, tổ chức, cá nhân và thủ đoạn hoạt động của kẻ phạm tội Qua công tác giám định có thể thấy cơ chế phát sinh, diễn biến của tội phạm; là nguồn thông tin quan trọng để phục vụ cho công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm của các cơ quan bảo

vệ pháp luật

* Ý nghĩa của giám định tư pháp đối với những người THTT

GĐTP còn có ý nghĩa trong việc đảm bảo được sự công khai, minh bạch khi giải quyết vụ án của những người tham gia tố tụng, ngăn chặn sự tác động của ý thức chủ quan vào quá trình giải quyết vụ án

Đặc tính quan trọng nhất của các KLGĐ là việc một nhóm chủ thể khác thực hiện mà không phải người trong các cơ quan THTT đó là các GĐV tư pháp Hơn nữa, việc giám định này dựa trên cơ sở của máy móc kĩ thuật, của các thành tựu nghiên cứu trên các lĩnh vực chuyên môn như khoa học kĩ thuật hình sự, khoa học pháp y hay dựa trên chính kinh nghiệm nghề nghiệp chuyên môn của các GĐV Đội ngũ này làm việc độc lập với nhóm những người tham gia tố tụng, chỉ dựa trên mẫu vật thu thập được hoặc trên các quyết định trưng cầu giám định của các cơ quan THTT Điều này cho thấy các KLGĐ luôn có tính chính xác, tính khách quan và tính khoa học

Pháp luật cũng quy định các KLGĐ là một trong bốn nguồn chứng cứ quan trọng phục vụ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự (Điều 64 BLTTHS 2003)

Trang 30

23

Chính vì thế nên những người THTT sẽ phải sử dụng triệt để những nguồn chứng

cứ này trong quá trình giải quyết vụ án mà lại không tác động dù là tiêu cực hay tích cực đến vụ án Quá trình này vừa ngăn chặn sự ảnh hưởng của ý thức chủ quan lên các giai đoạn của việc giải quyết vụ án vừa đảm bảo an toàn cho những người THTT trong việc tránh những nhận định, đánh giá sai lầm, cảm tính dẫn đến oan sai, bỏ lọt tội phạm

1.1.4 Đối tượng, nội dung và thủ tục giám định tư pháp trong tố tụng hình sự

1.1.4.1 Đối tượng

Đối tượng của GĐTP trong TTHS là những vấn đề liên quan trong giải quyết

vụ án hình sự đươ ̣c giám đi ̣nh nhằm làm rõ sự thâ ̣t , giúp các cơ quan tố tụng giải quyết vụ án triệt để, chính xác, khách quan án

Về phương diện thực tiễn, có thể nói đối tượng giám định trong TTHS rất phong phú, đa dạng và không thể liệt kê đầy đủ được vì mỗi vụ án, mỗi loại tội phạm sẽ có những vấn đề cần giám định khác nhau; hoặc cùng là một loại tội , nhưng không phải các đối tượng giám định trong loại tội đó đều giống nhau Bên cạnh đó, đối tươ ̣ng giám đi ̣nh cũng có thể là đồ vâ ̣t , tài liệu, nhưng cũng có thể là con người; có thể là hữu hình nhưng cũng có thể là vô hình (giám định tâm thần, giám định âm thanh) Do vậy, khi nghiên cứu đối tượng giám định trong tố tụng hình sự, chúng ta không xác định đối tượng cụ thể của hoạt động giám định, mà chúng ta chia thành các nhóm đối tượng giám định để phân biệt Có thể chia các nhóm đối tượng giám định trong tố tụng hình sự như sau:

- Nhóm giám định pháp y như: đối tượng giám định là mẫu vật có nguồn gốc

từ cơ thể người như: tử thi, máu, dấu vân tay, tóc,da, gàu, các loại lông

- Nhóm giám định pháp y tâm thần: Đối tượng giám định là năng lực trách

nhiệm hình sự, khả năng nhận thức

- Nhóm giám định kỹ thuật hình sự: Đối tượng giám định như: Dấu vết

phương tiện giao thông; giám định cháy, nổ; giám định dấu vết cơ học; giám định dấu vết súng đạn; giám định hoá học pháp lý; giám định dấu vết vân tay, vân chân; giám định tài liệu (chữ kí, chữ viết, hình dấu, in ấn phẩm); giám định âm thanh…

Trang 31

24

- Nhóm giám định các chuyên ngành khác, như: tài chính, ngân hàng, xây

dựng, cổ vật, di vật, bản quyền tác giả… thì đối tượng là chứng từ, sổ sách kế toán,

hồ sơ xây dựng, công trình xây dựng,

Giám định pháp y: Nội dung của giám định pháp y gồm: giám định và

giám định lại tổn hại sức khỏe; giám định tình trạng sức khỏe; giám định sự xâm phạm thân thể; giám định và giám định lại tử thi, giám định hài cốt và giám định hung khí; giám định và giám định lại trên hồ sơ do cơ quan tố tụng trưng cầu và các tổ chức, cá nhân yêu cầu; giám định hóa pháp gồm: độc chất, ma túy, nồng

độ rượu, tân dược và các loại thực phẩm nghi ngờ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của con người

Giám định pháp y tâm thần: Giám định pháp y tâm thần gắn liền với việc

xác định trách nhiệm hình sự của một người Nội dung của giám định Pháp y tâm thần là kết luận xác định rõ đối tượng có rối loạn tâm thần không, các rối loạn đó

có tác động đến hành vi của họ không, tác động trong thời điểm nào, ở mức độ nào để giúp các cơ quan tố tụng giải quyết vụ án được chính xác, công bằng, đúng pháp luật

Giám định kỹ thuật hình sự: Giám định kỹ thuật hình sự do giám định viên tư

pháp về Kỹ thuật hình sự thực hiện tại Cơ quan giám định kỹ thuật hình sự, hoặc tại nơi tiến hành điều tra vụ án Theo Điều 3, Thông tư số 33/2014/TT-BCA ngày

5/8/2014 của Bộ trưởng Bộ Công an“Quy định về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục bổ

nhiệm, miễn nhiệm giám định viên kỹ thuật hình sự” quy định về giám định viên kỹ

thuật hình sự thì có 10 lĩnh vực giám định kỹ thuật hình sự được triển khai, gồm

Trang 32

25

Giám định dấu vết đường vân; Giám định tài liệu; Giám định dấu vết cơ học; Giám định súng, đạn; Giám định hóa học; Giám định sinh học; Giám định cháy, nổ; Giám định kỹ thuật; Giám định âm thanh; Giám định kỹ thuật số và điện tử

Giám định tài chính: là một lĩnh vực áp dụng những kiến thức về tài chính,

kế toán để nghiên cứu, bổ trợ cho hoạt động tư pháp Tại Điều 3- Thông tư số 138/2013/TT-BTC ngày 09/10/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung của Luật giám định tư pháp và Nghị định số 85/2013 ngày 29/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật giám định tư pháp đã quy định

“Giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính bao gồm: Giám định tư pháp về kế

toán, kiểm toán; Giám định tư pháp về giá; Giám định tư pháp về chứng khoán; Giám định tư pháp về thuế; Giám định tư pháp về hải quan và các lĩnh vực tài chính khác theo quy định của pháp luật” [5]

Ngoài ra đối với các lĩnh vực giám định chuyên ngành khác, các Cơ quan chủ quản đều có những văn bản hướng dẫn cụ thể việc giám định tư pháp trong lĩnh vực của mình Ví dụ: thông tư số 44/2014/TT-NHNN ngày 29/12/2014 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn một số nội dung về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền

tệ và ngân hàng, thông tư số 35/2009/TT-BXD ngày 05/10/2009 của Bộ Xây dựng hướng dẫn giám định tư pháp xây dựng; thông tư số 44/2014/TT-BTNMT ngày 01/8/2014 của Bộ Tài nguyên và môi trường quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường; thông tư số 33/2014/TT-BGTVT ngày 08/8/2014 của Bộ giao thông vận tải quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực giao thông vận tải;

Trang 33

26

giám định theo quy định của pháp luật Sau khi nhận được quyết định trưng cầu giám định thì tổ chức giám định, người giám định có trách nhiệm tiếp nhận và thực hiện giám định Sau một khoảng thời hạn nhất định, người làm công tác giám định phải có kết quả giám định được thể hiện bằng bản kết luận giám định Đây là một nguồn chứng cứ quan trọng đối với những người tham gia tố tụng trong việc giải quyết vụ án hình sự Để làm sáng tỏ hoặc bổ sung nội dung kết luận giám định, Cơ quan điều tra có thể hỏi thêm người giám định về những tình tiết cần thiết và có thể quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại Trong trường hợp cần giám định

bổ sung hoặc giám định lại thì phải do giám định viên khác tiến hành và theo thủ tục chung [16] Sau khi tiến hành giám định, nếu bị can yêu cầu thì được thông báo

về nội dung kết luận Bị can được trình bày những ý kiến của mình về kết luận giám định, yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại Những điều này được ghi vào biên bản Trong trường hợp Cơ quan điều tra không chấp nhận yêu cầu của bị can thì phải nêu rõ lý do và báo cho bị can biết Kết luận giám định sẽ được đưa vào hồ

sơ vụ án hình sự và được sử dụng tại phiên tòa xét xử vụ án

1.2 Khái niệm, đặc điểm giám định tư pháp đối với các tội phạm tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

độ khác nhau tùy theo từng lĩnh vực: chính trị - pháp lý - kinh tế -xã hội… nhưng nhìn chung đều chỉ ra bản chất của tham nhũng là tập hợp những hành vi tiêu cực

do người có chức vụ quyền hạn thực hiện bằng cách sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình để vụ lợi cho cá nhân hoặc cho người khác dưới bất kỳ hình thức nào, gây thiệt hại tài sản của nhà nước, của tập thể, của công dân hoặc xâm phạm hoạt động

đúng đắn của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội

Trang 34

27

Dưới góc độ pháp luật hình sự thì tham nhũng là hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm Các hành vi này do chủ thể đặc biệt (người có chức vụ, quyền hạn) thực hiện với lỗi cố ý, động cơ và mục đích phạm tội là vì vụ lợi cá nhân, có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến lợi ích vật chất xâm phạm vào các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ

Với cách tiếp cận như trên có thể hiểu tội phạm về tham nhũng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ quyền hạn của mình thực hiện trong khi thi hành công vụ một cách cố ý trực tiếp xâm phạm vào hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nhằm trục lợi cá nhân hoặc cho người khác dưới bất kỳ hình thức nào, gây thiệt hại tài sản của nhà nước, của tập thể, của công dân

Từ khái niệm trên có thể rút ra những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm tham nhũng như sau:

Khách thể của tội phạm về tham nhũng: khách thể của tội phạm tham nhũng

là những hoạt động đúng đắn của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và uy tín của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội

Mặt khách quan của tội phạm về tham nhũng: hành vi tham nhũng là một

dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Hành vi ở đây có thể là hành động hoặc không hành động, do người có chức vụ quyền hạn thực hiện trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước giao cho

Hành vi phạm tội qua hành động là sự tác động trái pháp luật, gây thiệt hại đáng kể cho hoạt động đúng đắn của các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được Luật Hình sự bảo vệ

Hành vi phạm tội không qua hành động là cách xử sự tiêu cực của người có chức vụ quyền hạn Họ không thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao hoặc có thực hiện nhưng không đầy đủ nên đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho lợi ích Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Hậu quả của hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn của những người có chức

vụ quyền hạn để phạm tội là dấu hiệu bắt buộc; có thể chia thành hai trường hợp:

Trang 35

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội của người có chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ và hậu quả do tội phạm đó gây ra là dấu hiệu bắt buộc, hành vi phạm tội phải là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh hậu quả, người phạm tội chỉ chịu trách nhiệm về hành vi của mình khi xác định hậu quả xảy ra là hậu quả tất yếu phát sinh từ hành vi đó

Chủ thể của tội phạm về tham nhũng: là những người có chức vụ, quyền hạn

Điều 277 - BLHS 1999 quy định: "Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu

cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ"

Có thể thấy người có chức vụ quyền hạn có một số đặc điểm như sau:

+ Là người được giữ chức vụ thường xuyên hoặc tạm thời trong cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội Chức vụ này có thể do bổ nhiệm hoặc do bầu cử, hợp đồng hay hình thức khác (uỷ quyền, đại diện), có hưởng lương hoặc không hưởng lương của Nhà nước

+ Là người thực hiện một trong các chức năng: đại diện quyền lực Nhà nước,

tổ chức điều hành quản lý hành chính; hoặc chức năng tổ chức sản xuất kinh doanh theo công vụ đã được giao cho họ

+ Là những người thực hiện trách nhiệm nhất định theo thẩm quyền chuyên môn mà họ đảm nhận

Mặt chủ quan của tội phạm tham nhũng: người có chức vụ quyền hạn nhận

thức được tính chất nguy hiểm cho Nhà nước, cho xã hội, cho công dân của hành vi trái luật do mình gây ra và thấy trước được hậu quả xảy ra nhưng vì lợi ích của riêng mình chứ không hoạt động vì lợi ích chung mà thực hiện hành vi phạm tội

Trang 36

29

Như vậy, đương nhiên tội phạm tham nhũng luôn được thực hiện dưới hình thức lỗi

cố ý trực tiếp, nhằm động cơ vụ lợi cá nhân

1.2.1.2 Khái niệm Giám định tư pháp đối với các tội phạm tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Quá trình giải quyết các vụ án tham nhũng gồm nhiều giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; trong quá trình giải quyết vụ án, các CQTHTT căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để thu thập và củng cố, đánh giá, kiểm tra các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án, chứng minh việc thực hiện tội phạm và người phạm tội nhằm giải quyết triệt để vụ án tham nhũng Trong số các biện pháp mà các CQTHTT áp dụng có Giám định tư pháp

Căn cứ vào Khái niệm Giám định tư pháp trong tố tụng hình sự, kết hợp với việc nghiên cứu các giai đoạn trong quá trình giải quyết vụ án tham nhũng, có thể khái quát khái niệm giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng trong

quá trình giải quyết vụ án hình sự như sau: “Giám định tư pháp đối với các tội

phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự là việc người có kiến thức chuyên môn trong những lĩnh vực nhất định sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật nghiệp vụ để kết luận, làm sáng tỏ những vấn đề theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng nhằm phục vụ hoạt động điều tra, truy

tố, xét xử các vụ án tham nhũng và thi hành án hình sự”

1.2.2 Đặc điểm

Tội phạm về tham nhũng có những đặc điểm khác biệt so với các loại tội phạm, có thể chỉ ra một số đặc điểm khác biệt của tội phạm tham nhũng như sau:

- Thứ nhất, chủ thể của tham nhũng phải là những người có chức vụ quyền

hạn làm việc trong bộ máy nhà nước ở các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp từ trung ương đến địa phương, cán bộ trong Đảng và các đoàn thể, cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công

vụ đó (khoản 3, Điều 1, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005)

Nhìn chung, nhóm đối tượng này có đặc điểm đặc thù so với các nhóm đối tượng khác như: họ thường là những người có quá trình công tác và cống hiến nên

Trang 37

30

có nhiều kinh nghiệm; được đào tạo có hệ thống, là những chuyên gia trên nhiều lĩnh vực khác nhau; là những người có quan hệ rộng và có uy tín xã hội nhất định và thậm chí có thế mạnh về kinh tế

- Thứ hai, người có chức vụ, quyền hạn đã thực hiện hành vi lợi dụng chức

vụ quyền hạn, lợi dụng địa vị công tác được giao để không làm hoặc làm trái với công vụ mà mình phải thực hiện và thực hiện đúng qui định của pháp luật, gây thiệt hại chung cho lợi ích của nhà nước, xã hội và công dân Đây là yếu tố cơ bản để xác định hành vi tham nhũng Một người có chức vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thì không thể có hành vi tham nhũng

- Thứ ba, người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi với động cơ vụ lợi

cho bản thân mình, cho người khác hoặc một nhóm người mà mình quan tâm Hành

vi tham nhũng là hành vi cố ý Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi Nếu chủ thể thực hiện hành vi không cố ý thì hành vi đó không là hành vi tham nhũng Vụ lợi ở đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đã đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng

Các tội phạm về tham nhũng có thể xẩy ra ở hầu hết các lĩnh vực trong đời sống xã hội với mục đích vụ lợi Vụ lợi ở đây có thể là lợi ích về vật chất và lợi ích

về tinh thần; trong đó vụ lợi về vật chất dễ thấy và phổ biến hơn cả Các đối tượng phạm tội thường lợi dụng các sơ hở về quản lý trong lĩnh vực mình được giao phụ trách để chiếm đoạt tiền, tài sản của nhà nước, tổ chức, công dân

Xuất phát từ đặc điểm và các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm về tham nhũng nên đối với hầu hết các vụ án tham nhũng, trong quá trình giải quyết vụ

án, các CQTHTT đều phải trưng cầu giám định nhằm xác định việc chấp hành pháp luật của Nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn có đúng hay không? Hậu quả thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật gây ra cho tài sản của Nhà nước, xã hội và công dân như thế nào?

Căn cứ vào các đặc điểm của tội phạm tham nhũng và đặc điểm của giám định tư pháp trong tố tụng hình sự, ta có thể thấy giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự ngoài những đặc điểm

Trang 38

Không phải ai cũng có thể tiến hành hoạt động GĐTP, họ phải là những người có kiến thức chuyên môn cần thiết về vấn đề cần giám định, được trưng cầu theo quy định của pháp luật, đồng thời họ phải đáp ứng đủ các tiêu chí theo quy định của pháp luật Luật giám định tư pháp quy định: giám định viên tư pháp là người đủ tiêu chuẩn về quốc tịch, sức khỏe, phẩm chất đạo đức, trình độ và thực tế công tác, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm để thực hiện giám định

tư pháp; người giám định tư pháp theo vụ việc là người chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm là giám định viên tư pháp nhưng là người đủ tiêu chuẩn về quốc tịch, sức khỏe, phẩm chất đạo đức, trình độ và thực tế hoạt động chuyên môn, kinh nghiệm, được lựa chọn làm người giám định tư pháp theo vụ việc, việc bổ nhiệm người giám định tư pháp theo vụ việc do Cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm theo quy định

Thứ hai: đây là hoạt động được thực hiện theo một quy trình được quy định tại BLTTHS do chủ thể tiến hành tố tụng hoặc người có yêu cầu giám định theo quy định của pháp luật

Hoạt động giám định phải được thực hiện theo một quy trình do pháp luật tố tụng hình sự quy định hết sức chặt chẽ về thủ tục, thời hạn, hình thức, chủ thể trưng cầu giám định, người có quyền yêu cầu giám định, trường hợp giám định Các thủ tục này được quy định trong BLTTHS và trong Luật Giám định tư pháp [1]

Thứ ba: đây là hoạt động không mang tính hành chính, mệnh lệnh – phục tùng mà mang tính khoa học, chất lượng, giá trị của kết luận giám định không phụ thuộc vào cấp hành chính mà phụ thuộc vào trình độ, năng lực và uy tín của tổ chức, người giám định

GĐTP là hoạt động mang tính khoa học, chuyên môn cao Tính chuyên môn

Trang 39

32

khoa học trong quá trình thực hiện giám định thể hiện ở việc người thực hiện giám định hoàn toàn độc lập và chủ động lựa chọn phương pháp giám định phù hợp và tự chịu trách nhiệm về KLGĐ mà không bị ràng buộc, áp đặt bởi các cơ quan chủ quản Kết quả giám định và giá trị sử dụng của chúng cũng không phụ thuộc vào cấp hành chính hay lần giám định mà phụ thuộc vào năng lực chuyên môn của tổ chức giám định, người giám định và phương pháp khoa học được áp dụng [1]

Thứ tư: các kết quả giám định đưa ra phải dựa trên các căn cứ khoa học, có

độ tin cậy cao nhưng vẫn có thể bị thay thế bằng các kết quả giám định khác

Hoạt động GĐTP trong TTHS được thực hiện trên cơ sở các phương pháp khoa học, trình tự thủ tục tiến hành giám định cũng trên cơ sở khoa học nên kết quả giám định được đưa ra cũng phải dựa trên các căn cứ khoa học đã được thừa nhận Tuy nhiên không phải tất cả các kết luận giám định đều là bất di bất dịch mà kết luận giám định vẫn được bổ sung hoặc thay thế bởi các kết quả giám định khác BLTTHS quy định trong trường hợp CQTHTT không đồng ý với kết luận giám định thì phải nêu rõ lý do, nếu kết luận giám định chưa rõ hoặc chưa đầy đủ thì phải giám định bổ sung hoặc giám định lại theo thủ tục đã quy định [1]

Thứ năm: mục đích của GĐTP trong TTHS là để phục vụ quá trình giải quyết vụ án hình sự

GĐTP nhằm làm sáng rõ các vấn đề còn vướng mắc trong quá trình chứng minh sự thật của vụ án, kết quả giám định là chứng cứ quan trọng, trong một số trường hợp còn có thể là chứng cứ duy nhất để chứng minh tội phạm Nguồn chứng

cứ này đảm bảo tính khách quan và hợp pháp trong chứng minh tội phạm và người phạm tội Đây là cơ sở, căn cứ để các CQTHTT định tội danh và áp dụng khung hình phạt chính xác đối với người phạm tội [1]

Trang 40

33

phạm vi giám định thường rộng, có thể trong một vụ án phải tiến hành giám định nhiều lĩnh vực; nội dung giám định nhiều do hành vi phạm tội diễn ra trong một thời gian dài với nhiều hành vi; hành vi được hợp thức, che đậy bằng nhiều tài liệu, chứng từ nên cần phải giám định nhiều nội dung mới thấy hết được phương thức, thủ đoạn phạm tội và hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra

Thứ hai: các nội dung cần giám định trong các vụ án tham nhũng phức tạp, liên quan đến nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước

Tội phạm tham nhũng là loại tội phạm hết sức phức tạp, các đối tượng phạm tội rất am hiểu pháp luật và đã tìm mọi kẽ hở để “lách luật”, do vậy việc giám định trong quá trình giải quyết các vụ án tham nhũng là không hề đơn giản, đòi hỏi giám định viên, người tiến hành giám định phải nghiên cứu sâu sắc, toàn diện nhiều quy phạm pháp luật để chỉ ra được bản chất, phương thức, thủ đoạn phạm tội

Thứ ba: thời gian giám định kéo dài, nhiều trường hợp phải giám định lại nhiều lần

Do tính chất phức tạp của tội phạm tham nhũng nên Giám định viên, người tiến hành giám định cần phải mất nhiều thời gian để giám định Trong một số trường hợp do có sự chưa thống nhất trong nhận thức, trong vận dụng pháp luật giữa các CQTHTT và giám định viên, cũng như giữa các giám định viên ở các cơ quan giám định khác nhau nên nhiều trường hợp cùng một vấn đề nhưng phải giám định lại nhiều lần

Thứ tư: mục đích của GĐTP trong quá trình giải quyết vụ án tham nhũng là chỉ ra sai phạm, thiệt hại do hành vi sai phạm gây ra

Sai phạm pháp luật và thiệt hại do hành vi sai phạm gây ra là những yếu tố buộc phải có ở những tội phạm tham nhũng, do vậy mục đích quan trọng nhất của GĐTP trong quá trình giải quyết các vụ án tham nhũng là chỉ ra sai phạm, thiệt hại

do hành vi sai phạm gây ra

Ngày đăng: 31/10/2017, 15:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w