1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong luật tố tụng hình sự việt nam

89 233 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, Viện kiểm sát, bị cáo, những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích pháp lý liên quan đến vụ án và những người khác theo quy định củ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

DƯƠNG MAI ANH

KH¸NG C¸O, KH¸NG NGHÞ PHóC THÈM TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

DƯƠNG MAI ANH

KH¸NG C¸O, KH¸NG NGHÞ PHóC THÈM TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC CHÍ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Dương Mai Anh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM 6

1.1 Khái niệm và ý nghĩa của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm 6

1.1.1 Khái niệm kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm 7

1.1.2 Ý nghĩa của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm 14

1.2 Đối tượng, nội dung, thủ tục của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm 15

1.2.1 Đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm 16

1.2.2 Nội dung của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm 18

1.2.3 Thủ tục của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm 19

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21

Chương 2: KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 22

2.1 Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm từ năm 1945 đến nay 22

2.2 Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong pháp luật hiện hành (BLTTHS 2003) 26

2.2.1 Kháng cáo phúc thẩm 26

2.2.2 Kháng nghị phúc thẩm 32

2.2.3 Bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị và hệ quả của việc kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm hình sự 47

Trang 5

Chương 3: THỰC TIỄN THI HÀNH VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN,

THỰC THI PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ KHÁNG

CÁO, KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM 51

3.1 Thực tiễn thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm 51

3.1.1 Thực tiễn thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về kháng cáo phúc thẩm 51

3.1.2 Thực tiễn thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về kháng nghị phúc thẩm 54

3.2 Giải pháp hoàn thiện, thực thi pháp luật về tố tụng hình sự về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm thông qua việc so sánh những điểm mới của BLTTHS 2015 so với BLTTHS 2003 60

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật 60

3.2.2 Một số giải pháp bảo đảm thực thi qui định về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự 69

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 73

KẾT LUẬN 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

PHỤ LỤC 79

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kháng cáo, kháng nghị là một chế định quan trọng trong luật tố tụng hình sự Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, Viện kiểm sát, bị cáo, những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích pháp lý liên quan đến

vụ án và những người khác theo quy định của pháp luật có quyền kháng cáo, kháng nghị những bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Đây là cơ sở pháp lý cho Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại

vụ án, qua đó kịp thời phát hiện và khắc phục những sai lầm, thiếu sót của Tòa án cấp dưới cả về nội dung cũng như hình thức tố tụng, đảm bảo sự công bằng của pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Đặc trưng của xét xử hình sự là có thể đưa đến hậu quả bất lợi cho bị cáo, buộc bị cáo phải chịu hậu quả và các biện pháp tư pháp khác Vì vậy, Bản án hay quyết định của Tòa án khi xét xử phải đảm bảo chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp ngay từ đầu phán quyết của Tòa án đã đảm bảo được yêu cầu này Do đó, pháp luật quy định việc xét xử phải được thực hiện ở các cấp khác nhau nhằm đảm bảo giải quyết đúng đắn vụ án hình sự

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 ra đời đã khắc phục được một số vướng mắc, thiếu sót của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 Tuy nhiên, vẫn còn những điểm chưa đầy đủ, hoàn thiện trong quy định của pháp luật về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm cùng với việc hướng dẫn, giải thích của các

cơ quan có thẩm quyền chưa rõ ràng, đầy đủ dẫn đến trong thực tiễn xét xử của Tòa án các cấp còn nhiều sai phạm Nhiều trường hợp các sai phạm của Tòa án cấp dưới không được khắc phục kịp thời, không bảo vệ được quyền và

Trang 7

lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, làm giảm uy tín của Tòa án và làm cho mục đích của xét xử phúc thẩm không đạt được

Trong giai đoạn hiện nay, khi Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, một nhà nước được xây dựng trên nền tảng các tư tưởng pháp lý tiến bộ của nhân loại như: công bằng, nhân đạo, dân chủ và pháp chế nhằm đảm bảo thực sự những giá trị xã hội được thừa nhận chung của nền văn minh thế giới – sự tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do của con người, sự ngự trị của pháp luật trong các lĩnh vực sinh hoạt của đời sống xã hội, tính tối cao của luật trong các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, sự phân công quyền lực (lập pháp, hành pháp và tư pháp) và chủ quyền của nhân dân [2, tr.31] Đồng thời chúng ta đang đẩy nhanh tiến trình cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ chính trị nhằm xây dựng nền tư pháp vững mạnh, dân chủ, công bằng

và nghiêm minh theo hướng ngày càng chú trọng hơn đến lợi ích của cá nhân

và chống làm oan người vô tội thì việc nghiên cứu các chế định về kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có ý nghĩa rất quan trọng

Từ những ý nghĩa cấp thiết nêu trên, cùng với mong muốn nghiên cứu

của bản thân nên em đã chọn đề tài: “Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết về những vấn đề liên quan đến kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong quá trình giải quyết

vụ án hình sự Cụ thể có thể kể đến các công trình như: “Thủ tục xét xử các vụ

án hình sự: xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm” của tác giả Đinh Văn Quế; “Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự” của tác giả Đào Trí Úc; “Kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Tú;

Trang 8

“Hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong Tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Mai Thanh Hiếu,… Một số giáo trình giảng dạy

ở các trường Đại học chuyên ngành ( Đại học Luật, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện An ninh,…) cũng đề cập đến vấn đề này

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu, bài viết cũng như tư liệu giảng dạy chưa đi sâu nghiên cứu về lý luận cũng như thực tiễn công tác kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam Mặt khác, như

đã trình bày ở trên, pháp luật điều chỉnh hoạt động kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm còn nhiều điểm chưa đáp ứng được với thực tiễn áp dụng, cần đi sâu và làm rõ hơn Vì vậy nên việc nghiên cứu, tìm hiểu về chế định này là cần thiết và hữu ích

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn phải giải quyết những nhiệm

Trang 9

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề chung về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm Quy định của pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam và luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm Thực tiễn thi hành quyền kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong những năm gần đây

Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là một chế định rộng và phức tạp liên quan đến nhiều chế định khác trong pháp luật tố tụng hình sự Bởi vậy, trong phạm vi nghiên cứu của một luận văn thạc sĩ, không thể xem xét và giải quyết mọi vấn đề một cách toàn diện và sâu sắc Do đó, em chỉ tập trung trình bày những nội dung cơ bản của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm như: đối tượng, nội dung, thủ tục, vấn đề thay đổi bổ sung kháng cáo, kháng nghị… đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩm trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003

5 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài này được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền, cải cách và hoàn thiện hệ thống pháp luật Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp lý luận kết hợp thực tiễn, phương pháp lịch sử

6 Điểm mới của đề tài

Kết quả của đề tài không phải là tài liệu có tính chất hàn lâm hoặc chuyên khảo mà chủ yếu là nghiên cứu, phân tích chế định kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm một cách có hệ thống trên cơ sở lý luận

và thực tiễn, nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm hình sự, đồng thời hoàn thiện hệ thống pháp luật tố

Trang 10

7 Cơ cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có 3 chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm Chương 2: Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong luật tố tụng hình sự

Việt Nam

Chương 3: Thực tiễn thi hành và giải pháp hoàn thiện, thực thi pháp

luật tố tụng hình sự về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÁNG CÁO,

KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM

1.1 Khái niệm và ý nghĩa của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

Trong khoa học luật Tố tụng hình sự Việt Nam, thuật ngữ “kháng cáo” được phân biệt với thuật ngữ “kháng nghị” kể từ sau khi ban hành Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1960 Trước đó, thuật ngữ “chống án” hoặc “kháng cáo” được sử dụng chung đối với cả đương sự, biện lí và chưởng lí Sự phân biệt đó thể hiện địa vị pháp lý khác nhau giữa chủ thể của quyền kháng cáo và chủ thể của quyền kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam (một bên là bị cáo và các đương sự - người tham gia tố tụng hình sự và một bên là Viện kiểm sát – cơ quan tiến hành tố tụng hình sự) [8, tr.28] Trong khi đó, luật Tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới chỉ sử dụng một thuật ngữ,

ví dụ “appel” trong tiếng Pháp hay “appreal” trong tiếng Anh [51, tr.614], thể hiện địa vị pháp lý bình đẳng của các bên trước Tòa cấp phúc thẩm Tuy nhiên, sự phân biệt “kháng cáo” và “kháng nghị” là hợp lý, vì hai hành vi này

có ý nghĩa khác nhau, tuy đưa đến kết quả giống nhau là vụ án được đưa lên cấp trên xét xử lại [37, tr.31]

Kháng cáo, kháng nghị là sự kiện pháp lý, nghĩa là “sự kiện thực tế

mà sự xuất hiện hay mất đi của chúng được pháp luật gắn với việc phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật” [40, tr.160] Trong phân loại sự kiện pháp lý theo tiêu chuẩn ý chí, kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là hành vi pháp lý, tức là sự kiện xảy ra theo ý chí của chủ thể kháng cáo, kháng nghị dưới dạng hành động Dưới đây, xem xét kháng cáo, kháng nghị theo tiêu chí này:

Trang 12

1.1.1 Khái niệm kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

1.1.1.1 Khái niệm kháng cáo

Theo Từ điển Tiếng Việt, “kháng cáo là chống án lên Tòa án cấp trên yêu cầu xét xử lại” [49, tr.492] Khái niệm trên chỉ nêu một cách chung chung, cho ta một khái niệm khái quát và mang tính hình thức mà chưa đề cập đến những vấn đề cơ bản của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm như: chủ thể, đối tượng… Theo cách định nghĩa này thì khái niệm “kháng cáo” đồng nghĩa với “chống án” mà trước đây một số người thường dùng Pháp luật Tố tụng hình sự nước ta hiện nay không dùng thuật ngữ này mà thống nhất dùng thuật ngữ “kháng cáo”

Sự hình thành và phát triển của quyền kháng cáo trong tố tụng hình sự gắn liền với sự hình thành và phát triển các tư tưởng, các nguyên tắc dân chủ

và tiến bộ của tố tụng hình sự như công bằng; nhân đạo; suy đoán vụ tội; bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, xét xử công khai, trực tiếp và bằng lời nói v.v Quyền kháng cáo hiểu theo đúng nghĩa của nó không tồn tại trong tố tụng hình sự của những chế độ xã hội không có nền dân chủ, không tôn trọng quyền con người [28] Bởi vậy, trong chế độ xã hội chiếm hữu nô lệ và chế độ

xã hội phong kiến, bị cáo cũng như người bị hại không có quyền phản đối phán quyết của Toà án Bản chất dân chủ và tiến bộ là một trong những thuộc tính quan trọng của hệ thống tư pháp hình sự hiện đại

Sự ra đời của quyền kháng cáo trong tố tụng hình sự là nhu cầu tất yếu khách quan xuất phát từ bản chất của tố tụng hình sự là bảo vệ ngày càng có hiệu quả hơn quyền con người trong lĩnh vực hoạt động đặc thù - tố tụng hình

sự Quyền kháng cáo là biểu hiện của dân chủ và tiến bộ, bảo đảm pháp lý cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong tố tụng hình sự Công bằng là một trong những nguyên tắc rường cột của lĩnh vực áp dụng pháp luật hình sự Công bằng chỉ có khi hình phạt được quyết định đối với

Trang 13

người phạm tội tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện, với các đặc điểm của nhân thân người phạm tội, với các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ, với dư luận xã hội, với ý thức pháp luật Đồng thời chỉ có công bằng khi trong những điều kiện và hoàn cảnh phạm tội giống nhau thì người phạm tội phải bị kết án và xử phạt như nhau Thế nhưng, những đòi hỏi đó của công bằng trong xét xử không phải lúc nào cũng đạt được do nhiều nguyên nhân như không có sự thống nhất giữa các thành viên trong Hội đồng xét xử, giữa các Toà án trong việc nhận thức và áp dụng pháp luật, đặc biệt là, khi cần áp dụng các quy định mang tính chất đánh giá hoặc mang tính chất tuỳ nghi Việc quy định và tiến hành thủ tục phúc thẩm, xét đến cùng là đảm bảo công lý, công bằng xã hội, nhân đạo, quyền con nguời trong tố tụng hình sự

Sự ra đời của quyền kháng cáo còn xuất phát từ quan niệm đúng đắn của các nhà lập pháp cho rằng, nhờ xét xử phúc thẩm các vụ án khi kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm Toà án cấp trên trực tiếp sẽ hạn chế được những sai sót

về xét xử của các Thẩm phán Tòa sơ thẩm cấp dưới trực tiếp Toà án cấp trên trực tiếp làm được điều đó bởi Toà án có những Thẩm phán giỏi hơn, có kinh nghiệm xét xử đúng và công bằng hơn Đồng thời, do Toà án cấp trên ở xa các đương sự nên không chịu sự ảnh hưởng từ phía địa phương

Như vậy, sự ra đời của quyền kháng cáo là một nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội loài người phát triển đến một trình độ nhất định, gắn liền với

sự hình thành và phát triển của các tư tưởng về nguyên tắc dân chủ và tiến bộ của tố tụng hình sự [28]

Kháng cáo phúc thẩm hình sự là một quyền năng tố tụng cơ bản được pháp luật tố tụng hình sự quy định cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, khái niệm này được nhiều nhà lý luận và thực tiễn quan tâm, đồng thời đưa ra những quan niệm khác nhau

Trang 14

Trong cuốn “Từ điển giải thích luật học” của Trường Đại học Luật Hà Nội có đưa ra khái niệm kháng cáo “Người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích trong vụ án yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại bản án hoặc quyết định sơ thẩm” [39, tr.182] Khái niệm trên đã nêu được đối tượng, chủ thể, mục đích của kháng cáo nhưng chưa chỉ rõ được đối tượng là bản án có hiệu lực hay chưa có hiệu lực pháp luật nên định nghĩa này cũng chưa đầy đủ

Tác giả Đinh Văn Quế trong cuốn “Thủ tục phúc thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” đã đưa ra khái niệm “Kháng cáo là biểu thị sự bất đồng của mình đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử lại” [20, tr.8] Đây là một khái niệm khá đầy đủ đã nêu được chủ thể, đối tượng và Tòa án, nhưng chưa chính xác ở điểm “tòa án cấp trên” Theo Điều 230 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì chỉ có “Tòa án cấp trên trực tiếp” mới có quyền xét xử lại bản án, quyết định theo thủ tục phúc thẩm khi có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Mặt khác, định nghĩa trên đã nêu được đối tượng của kháng cáo nhưng chưa chỉ rõ đối tượng của kháng cáo phúc thẩm

Nhìn chung, các khái niệm nêu trên đều chưa đưa ra được một khái niệm chính xác về kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm Theo em, để có được khái niệm đầy đủ và hoàn chỉnh về kháng cáo, chúng ta cần làm rõ những vấn đề sau:

Thứ nhất, đối tượng của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là các bản

án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Trong thời hạn luật định (hoặc ngoài thời hạn luật định nhưng có lý do chính đáng), nếu bản án hoặc quyết định bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì Tòa án cấp trên của Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải xét xử lại bản án theo thủ tục phúc thẩm

Thứ hai, chủ thể có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là những

Trang 15

người tham gia tố tụng, nhưng không phải tất cả người tham gia tố tụng đều

có quyền kháng cáo mà chỉ những người được pháp luật quy định cụ thể mới

có quyền kháng cáo Chủ thể của quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm có thể là những người có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án, bản án và quyết định của Tòa án đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ Chủ thể của quyền kháng cáo còn có thể là những người không có quyền và lợi ích pháp lý liên quan đến vụ án nhưng họ tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho những người khác Đó là người mà họ đại diện hợp pháp hoặc là người họ nhận bào chữa, bảo vệ quyền lợi trong trường hợp những người này chưa thành niên hoặc có nhược điểm về thể chất, tâm thần Do bản án, quyết định của Tòa án có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ hoặc của người mà họ đại diện, bảo vệ nên pháp luật quy định cho họ quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm, để họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Thứ ba, mục đích của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là nhằm bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng Khi xét xử Tòa án phải tuân theo pháp luật từ việc đánh giá chứng cứ đến việc đưa ra bản án, quyết định Nhưng vì nhiều lý do khác nhau mà bản án có thể không đúng pháp luật, không đảm bảo sự chính xác Pháp luật quy định quyền kháng cáo phúc thẩm để Tòa án cấp trên trực tiếp phải xem xét lại bản án, quyết định

sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật có sai sót, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, tạo cho công dân niềm tin vào sự công minh của pháp luật Trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị và trong thời gian xét xử phúc thẩm, bản án sơ thẩm chưa được đưa ra thi hành Cho nên, khi xét xử phúc thẩm bản án hoặc quyết định đó còn có thể được sửa theo hướng

có lợi cho người tham gia tố tụng Mặt khác, nếu họ bị xử oan sai ở giai

Trang 16

đoạn sơ thẩm thì sẽ được sửa sai, minh oan và trả tự do ngay sau khi Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên án Hay nếu bị cáo bị xử quá nhẹ so với hành

vi phạm tội của mình thì sẽ phải chịu hình phạt thích đáng và tương ứng với thiệt hại mà mình gây ra

Tóm lại, có thể khái quát khái niệm kháng cáo như sau:

Kháng cáo phúc thẩm hình sự là phương thức thực hiện quyền của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật được tiến hành trong thời hạn và theo thủ tục luật định, yêu cầu tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đó chưa

có hiệu lực pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của họ hoặc của người khác [8, tr.29]

1.1.1.2 Khái niệm kháng nghị phúc thẩm

Từ điển Luật học nêu định nghĩa về kháng nghị nói chung trong đó có kháng nghị phúc thẩm như sau: kháng nghị là việc người có thẩm quyền bằng văn bản của mình gửi đến Tòa án có thẩm quyền làm ngưng hiệu lực phán quyết của Tòa án trong bản án, quyết định để xét xử theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm nhằm làm cho vụ án được chính xác, khách quan và đúng pháp luật [4, tr.249] Cách định nghĩa này rất khái quát, đã nêu được chủ thể, đối tượng, thủ tục nhưng còn thiếu sót Ví dụ như trong thời gian kháng nghị phúc thẩm, bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Vì vậy, kháng nghị không thể làm “ngưng” hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm (Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003) Ngoài ra, khái niệm chưa nêu được chủ thể của quyền kháng nghị là Viện kiểm sát

Theo “Từ điển giải thích Luật học” của Trường đại học Luật Hà Nội thì kháng nghị là việc “người có thẩm quyền yêu cầu Tòa án xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩm” [39, tr.183]

Trang 17

Khái niệm trên đã nêu được đối tượng, chủ thể nhưng chưa nêu rõ chủ thể nào có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, chủ thể nào có quyền xét kháng nghị

Theo tác giả Đinh Văn Quế thì “kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là mét văn bản do Viện kiểm sát ban hành yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm cùng cấp hoặc cấp dưới trực tiếp đã xét xử nhưng xét thấy không đúng pháp luật” [20, tr.40] Định nghĩa đã nêu được hình thức, thẩm quyền, chủ thể của kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Nhưng tác giả chỉ mới đi sâu vào hình thức, mà chưa nêu được bản chất của kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là nhằm sửa chữa những sai lầm của Tòa

án cấp sơ thẩm sao cho đúng Mặt khác, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm cả trong trường hợp bản án hoặc quyết định của Tòa

án cấp sơ thẩm thiếu căn cứ, không phản ánh đúng sự thật khách quan chứ không chỉ có quyền kháng nghị duy nhất đối với bản án, quyết định “không đúng pháp luật”

Phân tích những khái niệm nêu trên, em thấy rằng khái niệm kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm phải nêu được một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, về chủ thể của kháng nghị là Viện kiểm sát nhân dân, ở đây

là Viện kiểm sát cùng cấp và Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm Chủ thể của quyền kháng nghị phúc thẩm khác với quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị phúc thẩm Còn kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm chỉ dành cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp (từ cấp tỉnh trở lên) và một số chủ thể khác

Thứ hai, đối tượng kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm còn là bản án

quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Bản án, quyết định khi đã có

Trang 18

hiệu lực pháp luật thì không phải là đối tượng kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm mà là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

Thứ ba, pháp luật quy định cho Viện kiểm sát quyền đồng thời là

nhiệm vô kháng nghị phúc thẩm nhằm mục đích để Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc xét xử và thực hành quyền công tố, đảm bảo vụ án được giải quyết đúng đắn, khách quan và công bằng Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật đảm bảo cho hoạt động tố tụng hợp pháp, khách quan, đầy

đủ, tương hỗ cho chức năng thực hành quyền công tố làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Quy định quyền kháng cáo, kháng nghị theo phúc thẩm còn nhằm mục đích sửa chữa và khắc phục những sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm Đây là điều mà những người thực hiện quyền kháng cáo, Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị

và chính Tòa án các cấp hướng tới

Thứ tư, thời hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm được quy định khác

nhau cho hai chủ thể có quyền kháng nghị Điều này khác với kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm, thời hạn được quy định giống nhau cho tất cả các chủ thể thực hiện quyền kháng nghị Thời hạn kháng nghị cũng được quy định khác với thời hạn kháng cáo, thời hạn kháng cáo được quy định chung cho tất cả các chủ thể có quyền kháng cáo

Thứ năm, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm phải được thể hiện theo

hình thức luật định, Viện kiểm sát khi ban hành kháng nghị phải thể hiện dưới dạng văn bản Điều này khác với kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm, người có quyền kháng cáo có thể kháng cáo thông qua văn bản (đơn kháng cáo) hoặc trình bày trực tiếp bằng miệng

Từ đó có thể định nghĩa như sau:

Kháng nghị phúc thẩm hình sự là phương thức thực hiện quyền và nghĩa vụ của Viện kiểm sát nhân dân thể hiện bằng văn

Trang 19

bản pháp lý được tiến hành trong thời hạn và theo thủ tục luật định, yêu cầu tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật đó không đảm bảo tính có căn cứ và tính hợp pháp nhằm bảo vệ quyền

và lợi ích của Nhà nước, tổ chức và cá nhân [8, tr.29]

1.1.2 Ý nghĩa của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

Ngày nay, dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội đang trở thành xu hướng tất yếu của các quốc gia, vì vậy, quyền được kháng cáo, kháng nghị trong tố tụng hình sự ngày càng đuợc hoàn thiện và trở thành một trong những hình thức, phương tiện bảo đảm và bảo vệ có hiệu quả quyền con người trong tố tụng hình sự Tựu trung lại, quyền kháng cáo, kháng nghị có ý nghĩa vô cùng quan trọng thể hiện ở những điểm sau đây:

Thứ nhất, xét xử là hoạt động trung tâm của quá trình giải quyết vụ án

hình sự, thể hiện bản chất của nền tư pháp quốc gia nên việc bảo vệ quyền con người được thể hiện tập trung nhất trong hoạt động xét xử của tòa án [3, tr.76] Trong đó quyền kháng cáo là một trong những phương tiện hữu hiệu để bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là của bị cáo trong tố tụng hình sự Thông qua việc xét xử các vụ án do công dân thực hiện quyền kháng cáo, Tòa án cấp phúc thẩm góp phần đảm bảo nhận thức và áp dụng thống nhất pháp luật, nâng cao chất lượng xét xử, tăng cường hiệu quả giáo dục pháp luật và củng cố niềm tin vào công lý, công bằng xã hội cho nhân dân, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Thực hiện một xã hội công bằng, dân chủ văn minh; đảm bảo được các quyền cơ bản của công dân, không để xảy ra các trường hợp oan sai hay bỏ lọt tội phạm

Hai là, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm có ý nghĩa quan trọng cả

về mặt pháp lý, chính trị và xã hội Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là một trong những quyền năng pháp lý quan trọng, thông qua đó Viện kiểm

Trang 20

sát đồng thời thực hiện hai chức năng là quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp

Ba là, quyền kháng cáo, kháng nghị tạo ra một trong những điều kiện

làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án cấp trên trực tiếp đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án dưới trực tiếp Thông qua việc xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp trên trực tiếp không chỉ kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật mà còn phát hiện, khắc phục kịp thời các thiếu sót, sai lầm về xét xử của Tòa án cấp dưới

Bốn là, việc quy định kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm hình sự trong

tố tụng hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Nhằm góp phần quan trọng vào thực thi pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tính thống nhất của pháp luật, tính pháp chế Xã hội chủ nghĩa, không ngừng đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Năm là, kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm hình sự còn có một ý nghĩa

pháp lý quan trọng khác là cơ sở để ghi nhận cũng như đảm bảo thực hiện một

số nguyên tắc cơ bản của luật Tố tụng hình sự, nó là cơ sở để hình thành nguyên tắc “Thực hiện chế độ hai cấp xét xử” Để vụ án hình sự có thể được xét xử lại một lần nữa ở cấp phúc thẩm; nhằm giải quyết đúng đắn, kịp thời

vụ án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan,

tổ chức và công dân

1.2 Đối tượng, nội dung, thủ tục của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

Bản án và quyết định sơ thẩm có thể được xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm trên cơ sở nguyên tắc hai cấp xét xử mà luật quốc tế về nhân quyền và luật các quốc gia quy định Tuy nhiên, không phải bất kỳ bản án, quyết định

sơ thẩm nào cũng được xét xử phúc thẩm mà chỉ khi bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị Nói cách khác thủ tục phúc thẩm chỉ được

Trang 21

tiến hành khi có cơ sở là kháng cáo, kháng nghị, và cũng chỉ xem xét trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị chứ không phải giải quyết tất cả các nội dung của bản án, quyết định sơ thẩm

Nghiên cứu luật Tố tụng hình sự cho thấy những vấn đề cần đề cập sau đây:

1.2.1 Đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

Về nguyên tắc có thể kháng cáo, kháng nghị tất cả các nội dung của bản

án và quyết định sơ thẩm Ngoài bản án, là kết quả của hoạt động tố tụng của tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng khác, thì các quyết định khác của tòa án như: quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo… cũng được quyền kháng cáo kháng nghị

Đối tượng kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là bản án của Tòa án cấp

sơ thẩm được luật Tố tụng hình sự các quốc gia quy định tương đối rõ ràng

Về cơ bản bản án hình sự sơ thẩm là văn bản tố tụng đánh dấu sự kết thúc của quá trình điều tra, truy tố và xét xử, khẳng định bị cáo có phạm tội hay không phạm tội và nếu phạm tội thì phạm tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của Bộ luật hình sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và Hội đồng xét xử về giải quyết vụ án Nếu bị cáo không phạm tội thì bản án phải chỉ rõ những căn cứ xác định bị cáo không phạm tội, đồng thời quyết định việc khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo

Tuy nhiên, đối với việc xác định quyết định nào của Tòa sơ thẩm là đối tượng để kháng cáo, kháng nghị thì còn khá nhiều ý kiến Không phải mọi quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đều là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị

Về hình thức, quyết định là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm phải là quyết định sơ thẩm, nghĩa là có khả năng được xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm Về nội dung, quyết định là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm phải là những quyết định giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm

Trang 22

Những quyết định hành chính tư pháp nhằm đảm bảo hoạt động đúng đắn của trình tự phúc thẩm, không “định đoạt việc giải quyết vụ án” [17, tr.27] thì không phải là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

Quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị là “quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và quy ết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ luật này” Trong giai đoạn sơ thẩm, Tòa án có quyền ra nhiều loại quyết định như: quyết định xử lý vật chứng; quyết định khởi tố vụ án hình sự; quyết định chuyển vụ án; quyết định trả hồ

sơ điều tra bổ sung; quyết định thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn,… Trong số các quyết định của Tòa án sơ thẩm luôn tồn tại một số quyết định

mà vì tính chất đặc thù nên việc thi hành là không thể trì hoãn, kể cả trong trường hợp bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

Đồng thời những bản án, quyết định sơ thẩm là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm khi chưa có hiệu lực pháp luật, có nghĩa đây là những bản án, quyết định chưa phát sinh hiệu lực thi hành, thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định đó vẫn còn Như vậy, cũng có nghĩa là bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật không còn là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, trừ trường hợp có lí

do chính đáng, chúng chỉ có thể là đối tượng của kháng nghị theo thủ tục đặc biệt như tái thẩm, giám đốc thẩm

Luật tố tụng hình sự các nước có quy định cụ thể về thời hạn cần để thực hiện quyền kháng cáo, kháng nghị Thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là khoảng thời gian cần thiết quy định của pháp luật để chủ thể của quyền kháng cáo, kháng nghị thực hiện việc kháng cáo kháng nghi Thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm tính từ thời điểm bắt đầu đến thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Trang 23

Sự kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị có hậu quả tước bỏ quyền kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể, làm cho bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, pháp luật Tố tụng hình sự một số nước có quy định về kháng cáo quá hạn Vì vậy, kháng cáo, kháng nghị quá hạn là kháng cáo, kháng nghị vô hiệu, trừ trường hợp có lí do chính đáng và được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận

Một số quyết đinh sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn thuộc đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm chẳng hạn như ở Việt Nam trong trường hợp quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 2003:

Trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, tuyên bị cáo không có tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là hình phạt tự hoặc phạt tự nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tự bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam thì bản án hoặc quyết định của Tòa án được thi hành ngay, mặc dù vẫn có thể bị kháng cáo, kháng nghị [24, Điều 255, Khoản 2]

1.2.2 Nội dung của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

1.2.2.1 Nội dung của kháng cáo

Các chủ thể kháng cáo phúc thẩm chỉ được kháng cáo trong phạm vi liên quan đến quyền lợi, trách nhiệm của mình hoặc quyền lợi, trách nhiệm của chủ thể mà mình đại diện hay bảo vệ

Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo toàn

bộ hoặc một phần bản án của tòa án cấp sơ thẩm có liên quan đến mình nếu thấy bản án đó chưa hợp lý Ngoài ra bị cáo cũng có quyền kháng cáo đối với quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án của tòa án Trường hợp bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất, tâm thần thì người bào chữa, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm để bảo vệ lợi ích cho họ

Trang 24

Người bị hại và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án, quyết định của tòa án về phần hình phạt cũng như phần bồi thường Nếu người bị hại là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất, tâm thần thì người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm để bảo vệ lợi ích cho họ

Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người đại diện hợp pháp của họ hoặc người bảo vệ quyền lợi của họ được ủy quyền có quyền kháng cáo phần bản án liên quan tới việc bồi thường thiệt hại

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tới vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của họ được ủy quyền có quyền kháng cáo phần bản án liên quan tới quyền và nghĩa vụ của họ

1.2.2.2 Nội dung của kháng nghị

Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm khi phát hiện ra những sai lầm, thiếu sót của bản án Quyền kháng nghị của Viện kiểm sát xuất phát từ chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự

và chức năng giữ quyền công tố tại phiên tòa Viện kiểm sát có thể kháng nghị toàn bộ hoặc một phần bản án hoặc quyết định đối với tất cả bị cáo và những người tham gia tố tụng khác hay với chỉ một số người theo hướng tăng nặng hoặc giảm nhẹ hình phạt, tặng nặng hoặc giảm nhẹ mức bồi thường

1.2.3 Thủ tục của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

Người kháng cáo có thể gửi đơn kháng cáo đến tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc tòa án cấp phúc thẩm, trong đơn nói rõ lý do và yêu cầu kháng cáo Trong trường hợp bị cáo bị tạm giam, ban giám thị trại tạm giam phải tiếp nhận và gửi ngay đơn kháng cáo của bị cáo đến tòa án đã xét xử sơ thẩm Nếu kháng cáo bằng miệng, tòa án đã xét xử sơ thẩm phải lập biên bản về việc kháng cáo đó

Trang 25

Viện kiểm sát kháng nghị bằng văn bản và phải nêu rõ lý do kháng nghị Kháng nghị phải được gửi đến tòa án đã xét xử sơ thẩm

Để khắc phục những trường hợp bất khả kháng làm cho người có quyền kháng cáo không thực hiện được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định thì luật tố tụng hình sự một số nước có quy định về việc kháng cáo quá hạn nếu

có lý do chính đáng có thể được tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận

Trong luật tố tụng hình sự của một số nước có quy định về việc bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa phúc thẩm nhằm bảo vệ quyền lợi của người tham gia tố tụng

Những phần của bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành; bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị toàn bộ thì toàn bộ bản án hoặc quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật và không được đưa ra thi hành Đối với phạm vi xét xử phúc thẩm thì về nguyên tắc, Tòa phúc thẩm chỉ xem xét phần nội dung của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị Nếu bản án bị kháng cáo, kháng nghị toàn bộ thì Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ vụ án; nếu bản án bị kháng cáo, kháng nghị một phần thì Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần bị kháng cáo, kháng nghị đó Đối với các phần không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa cấp phúc thẩm chỉ xem xét khi thấy cần giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt cho bị cáo

Trang 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Để đảm bảo việc xét xử đúng đắn, kịp thời nhằm bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, một vụ án có thể được xét xử ở hai cấp là cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm Đây là một nguyên tắc được áp dụng phổ biến ở các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Không chỉ trong pháp luật Tố tụng hình sự quốc gia, mà ngay cả trong các Công ước quốc tế, các văn bản pháp lý khác cũng ghi nhận chế độ hai cấp xét xử này

Tuy nhiên, không phải vụ án nào cũng được xét xử ở hai cấp sơ thẩm

và phúc thẩm, mà chỉ những vụ án có kháng cáo của đương sự hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát mới được đưa ra xét xử ở cấp phúc thẩm Thông qua việc kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án nhằm sửa chữa những sai lầm, khắc phục những thiếu sót trong việc áp dụng pháp luật, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho các Thẩm phán Tòa án cấp sơ thẩm, góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật

Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm không phải quy định mới trong Bộ luật tố tụng hình sự Bộ luật tố tụng hình sự 1988 đã có những quy định khá

cụ thể về vấn đề này Tuy nhiên, quá trình áp dụng trong thực tế vẫn có một

số vướng mắc, vì vậy Bộ luật tố tụng hình sự 2003 đã ra đời, quy định một Chương XXIII riêng về Xét xử phúc thẩm, trong đó có đề cập đến quyền kháng cáo, kháng nghị Mặc dù đã có những sửa đổi, bổ sung kịp thời, quá trình áp dụng vẫn nảy sinh những vấn đề mới trong thực tiễn áp dụng cũng như lý luận

Trên cơ sở những nghiên cứu lý luận ở Chương 1, tác giả tiếp tục đi sâu nghiên cứu những quy định của pháp luật thực định về kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm ở Chương 2

Trang 27

Chương 2 KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM TRONG LUẬT TỐ

TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

2.1 Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm từ năm 1945 đến nay

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, ngày 13/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời ra Sắc lệnh số 33C thành lập các Tòa án quân sự Đây cũng là dấu hiệu phá bỏ hoàn toàn bộ máy tư pháp của chế độ thực dân, phong kiến Về mặt lập pháp, do những ngày đầu chính quyền dân chủ nhân dân chưa kịp ban hành nhiều văn bản pháp luật, trong đó có pháp luật về tố tụng, ngày 10/10/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra Sắc lệnh số 47 về tạm thời giữ nguyên các luật lệ hiện hành của chế độ cũ nếu không trái với chính thể mới và không phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, trong đó Chương IV và chương V Sắc lệnh có các quy định liên quan đến pháp luật hình sự và tố tụng hình sự ít lâu sau, Sắc lệnh số 13 ngày 21/4/1946 về tổ chức Tòa án và các ngạch Thẩm phán được ban hành Đây là văn bản pháp lý hoàn chỉnh nhất trong thời kỳ đầu của chính quyền dân chủ nhân dân về tổ chức và hoạt động của Tòa án Hệ thống Tòa án lúc này gồm

có Toà thượng thẩm, Toà đệ nhị cấp và Toà sơ cấp Toà thượng thẩm đặt tại 3

kỳ (Hà Nội, Huế, Sài Gòn) và làm nhiệm vụ xét xử phúc thẩm hình sự

Hiến pháp năm 1946 quy định cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà gồm: Tòa án tối cao, các Tòa án phúc thẩm, các Tòa án đệ nhị cấp vả sơ cấp Ngoài Tòa án phúc thẩm, các Tòa án đệ nhị cấp cũng có quyền xét xử phúc thẩm đối với quyết định bản án của Tòa án sơ cấp Năm 1950, cuộc cải cách tư pháp lần thứ nhất diễn ra theo Sắc lệnh số 85-SL của Chủ tịch nước Tòa án sơ cấp đổi thành Tòa án nhân dân huyện Tòa án đệ nhị cấp đổi thành Tòa án nhân dân tỉnh Hội đồng phúc án đổi thành Toà phúc thẩm

Trang 28

Như vậy, mặc dù chưa được pháp luật quy định trực tiếp như hiện nay nhưng qua cách thức quy định tổ chức và hoạt động của Tòa án các cấp có thể thấy nội dung của nguyên tắc hai cấp xét xử và thủ tục xét xử phúc thẩm hình

sự đã được ghi nhận trong thể chế tư pháp của Nhà nước dân chủ nhân dân từ những ngày đầu tiên khi Việt Nam độc lập

Theo Hiến pháp năm 1959 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm

1960, hệ thống Tòa án ở Việt Nam bao gồm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện, các Tòa án quân sự Ngoài ra còn có Tòa án của 2 khu tự trị Việt Bắc và Tây Bắc, và khi cần có thể lập Tòa án đặc biệt Nguyên tắc hai cấp xét xử được ghi nhận chính thức và trực tiếp trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 (nguyên tắc này cũng được ghi nhận trong Sắc luật số 01/SL/76 năm 1976 về hệ thống Tòa án của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam) Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất về mặt nhà nước và pháp luật, Hiến pháp năm 1980 được ban hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 không quy định nguyên tắc hai cấp xét xử của Tòa án nhân dân Tiếp đó, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992 cũng không quy định nguyên tắc này Năm 1988, Bộ luật Tố tụng hình sự đầu tiên được ban hành, sau đó được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1990, 1992 và 2000, tuy không ghi nhận nguyên tắc hai cấp xét xử nhưng đã quy định tương đối toàn diện các quy định về thủ tục phúc thẩm hình sự, từ định nghĩa khái niệm đến kháng cáo, kháng nghị, từ thẩm quyền xét xử đến các quy định cụ thể tại phiên toà cũng như nhiều vấn đề khác có liên quan Việc không quy định trực tiếp nguyên tắc hai cấp xét xử đã gây ra những tranh luận không cần thiết trong một khoảng thời gian dài trong giới nghiên cứu cũng như trong thực tiễn, và chỉ được giải quyết dứt điểm khi có Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 Tuy nhiên, trên thực tế căn cứ vào các quy định của pháp luật

Trang 29

về tố tụng hình sự và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, có thể thấy rằng tuy pháp luật không quy định trực tiếp, nhưng tinh thần và nội dung của nguyên tắc hai cấp xét xử và thủ tục xét xử phúc thẩm vẫn được thể hiện qua các quy định pháp lý về tổ chức và hoạt động của Tòa án

Thực tiễn thực hiện thủ tục phúc thẩm hình sự theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 cho thấy đã có nhiều vướng mắc và bất hợp lý cần khắc phục như thời hạn xét xử bị chậm, xác định sai chủ thể có quyền kháng cáo hoặc xác định sai nội dung kháng cáo, kháng nghị; thực hiện không đúng phạm vi xét xử phúc thẩm; thực hiện không đúng và không đầy đủ các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên toà; vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã có một số sửa đổi quan trọng trong thủ tục xét xử phúc thẩm, đã khắc phục được nhiều vướng mắc trong nhận thức

và trong thực tiễn khi áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm

1988 về thủ tục xét xử phúc thẩm Có thể điểm qua một số vấn đề sau:

- Về tính chất xét xử phúc thẩm: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định rõ và chính xác tính chất của xét xử phúc thẩm (Điều 230), đó là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm

mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, tức là có sự thay đổi căn bản về đối tượng của xét xử phúc thẩm so với Bộ luật Tố tụng hình sự 1988 (từ xét lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm sang xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm) Sự thay đổi này đã phân biệt thủ tục xét xử phúc thẩm với tính chất là cấp xét xử thứ hai với thủ tục đặc biệt là giám đốc thẩm và tái thẩm mà trước đây có nhiều ý kiến cho rằng đó là một cấp xét xử

- Chủ thể có quyền kháng cáo: Do tính chất và đối tượng của xét xử phúc thẩm nên chủ thể có quyền kháng cáo rất đa dạng Đó là những người tham gia tố tụng như bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ;

Trang 30

người bào chữa của những người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm

về thể chất hoặc tâm thần; nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án Ngoài ra, người được Tòa án tuyên là không có tội có quyền kháng cáo phần

lý do bản án sơ thẩm đã tuyên là họ không có tội

Phạm vi kháng cáo của những người này tuỳ thuộc vào vai trò, địa vị pháp lý, tư cách trong tố tụng và sự liên quan của bản án, quyết định sơ thẩm đối với quyền và lợi ích của họ

Chủ thể có quyền kháng nghị bao gồm Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa

án đã xét xử sơ thẩm và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, khi các cơ quan này thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Việc quy định cả Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền hạn này nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót của Tòa án cấp sơ thẩm

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày, thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày tuyên án Tuy nhiên, việc kháng cáo quá hạn có thể được chấp nhận nếu

có lý do chính đáng (ví dụ: những trường hợp bất khả kháng) và Tòa án xét

xử phúc thẩm sẽ xét đơn kháng cáo quá hạn với Hội đồng gồm 3 Thẩm phán

mà không phải mở phiên toà

Trang 31

2.2 Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong pháp luật hiện hành (BLTTHS 2003)

2.2.1 Kháng cáo phúc thẩm

2.2.1.1 Chủ thể và phạm vi kháng cáo phúc thẩm

Điều 231 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về quyền kháng cáo, kháng nghị của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong trường hợp họ không đồng ý với phán quyết của tòa án cấp sơ thẩm Chủ thế

có quyền kháng cáo phúc thẩm bao gồm:

Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo: có quyền kháng cáo đối

với bản án, quyết định sơ thẩm, họ có quyền kháng cáo tất cả bản án và các quyết định sơ thẩm theo quy định của pháp luật “Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử” ( khoản 1 điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự) và là đối tượng của hoạt động buộc tội trong Tố tụng hình sự, họ có thể phải chịu hình phạt và phải bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của mình đã gây ra bằng một bản án hoặc quyết định của tòa án cấp sơ thẩm hoặc họ cũng có thể được tuyên vụ tội Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà họ có quyền kháng cáo, quyền này được pháp luật Tố tụng hình sự quy định cho chính bản thân bị cáo Tuy nhiên, trong trường hợp bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì họ vẫn có quyền kháng cáo thông qua người đại diện hợp pháp của họ Người đại diện hợp pháp và người bào chữa của họ có quyền kháng cáo trong các trường hợp này để bảo

vệ quyền lợi cho bị cáo mà không cần có sự đồng ý hay yêu cầu của bị cáo, đây là quyền kháng cáo độc lập, không phụ thuộc vào yêu cầu của bị cáo Luật tố tụng hiện hành không hạn chế hướng kháng cáo của bị cáo Trong luật của một số nước lại quy định về việc kháng cáo thay cho bị cáo như quy định tại Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

“Nếu bị cáo đồng ý, người bào chữa hoặc nhân thân của bị cáo có thể kháng

Trang 32

cáo lên Tòa án cấp trên” [14, tr.49] Hay luật Tố tụng hình sự Nhật Bản cho

phép bị cáo ủy quyền cho người khác kháng cáo thay mình [41, tr.62]

Người bị hại và người đại diện hợp pháp của họ: Người bị hại và người

đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo một phần hoặc toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm về hành vi của bị cáo liên quan đến quyền lợi của mình, yêu cầu tòa án tăng hoặc giảm bồi thường, tăng hoặc giảm hình phạt đối với bị cáo Nếu người bị hại là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì người đại diện hợp pháp của họ cũng có quyền kháng cáo, người đại diện hợp pháp trong những trường hợp này cũng phải là người đại diện theo pháp luật Trong trường hợp người bị hại chết thì người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo để bảo vệ quyền

và lợi ích cho người bị hại đã chết, phạm vi quyền kháng cáo của những người này cũng như quyền của người bị hại, trong trường hợp này quyền kháng cáo của người đại diện hợp pháp là độc lập không phụ thuộc vào ý chí của người bị hại

Người bào chữa: Theo điều 231 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

“Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất” Quy định này nhằm đảm bảo việc bảo vệ quyền lợi cho bị cáo bị hạn chế về năng lực hành

vi tố tụng Đây là quyền kháng cáo độc lập của người bào chữa, không phụ thuộc vào việc bị cáo có đồng ý hay không đồng ý Trong trường hợp người bào chữa kháng cáo, bị cáo vẫn có quyền kháng cáo

Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ:

Xuất phát từ thực tế là nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự tham gia vụ án hình

sự là để giải quyết vấn đề dân sự phát sinh trong vụ án hình sự mà chủ yếu chỉ liên quan đến việc bồi thường thiệt hại, mà pháp luật Tố tụng hình sự quy định cho họ có quyền kháng cáo Quyền kháng cáo của họ chỉ hạn chế trong

Trang 33

phạm vi những phần bản án, quyết định có liên quan tới việc bồi thường thiệt hại Trong đó nguyên đơn dân sự là người có quyền yêu cầu tòa án giải quyết quyền lợi của họ về mặt dân sự bị thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây

ra Ngược lại, bị đơn dân sự có nghĩa vụ phải bồi thường những thiệt hại về vật chất do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra đối với nguyên đơn dân sự

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của họ: Đây là những người bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các quyết

định của cơ quan tiến hành tố tụng Từ đó mà pháp luật quy định quyền kháng cáo cho họ, tuy nhiên họ chỉ được thực hiện quyền kháng cáo của mình đối với phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm liên quan đến quyền lợi

và nghĩa vụ của mình

Người bảo vệ quyền lợi cho người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất: Xuất phát từ mục đích bảo vệ các

quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người có nhược điểm

về tâm thần hoặc thể chất Tuy nhiên, họ chỉ được thực hiện quyền kháng cáo của mình đối với phần bản án, quyết định sơ thẩm của tòa án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ mà mình bảo vệ

Theo quy định tại Điều 233 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định:

“Người kháng cáo phải gửi đơn đến tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc tòa án cấp phúc thẩm Người kháng cáo cũng có thể trình bày trực tiếp tới tòa án đã xét

Trang 34

xử sơ thẩm về việc kháng cáo” Như vậy, người kháng cáo có thể thực hiện việc kháng cáo của mình dưới hai hình thức: bằng văn bản (đơn kháng cáo) hoặc trực tiếp trình bày với Tòa án đã xét xử sơ thẩm Quy định như vậy nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng Bởi trên thực tế, do trình độ dân trí của nước ta còn thấp nên vẫn còn một bộ phận người dân chưa biết chữ, họ không thể tự mình viết đơn kháng cáo Vì vậy, nếu chỉ quy định hình thức kháng cáo bằng văn bản thì sẽ hạn chế quyền kháng cáo của những người này

Nếu lựa chọn hình thức kháng cáo bằng văn bản thì người kháng cáo có thể gửi đơn đến Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm Tuy nhiên, việc nhận và xử lý đơn kháng cáo chưa được quy định thành một điều luật cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 Hiện nay, theo hướng dẫn tại Mục I.3 Nghị quyết 05/2005/NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân tối cao ngày 08/12/2005 thì: Nếu đơn gửi tới Tòa án cấp sơ thẩm thì sau khi nhận đơn kháng cáo, Tòa

án cấp sơ thẩm vào sổ nhận đơn và kiểm tra tính hợp pháp về chủ thể, nội dung, thời hạn kháng cáo có đúng quy định pháp luật hay không Nếu đơn kháng cáo hợp lệ thì tiến hành thông báo theo quy định tại Điều 236 Bộ luật

Tố tụng hình sự 2003 và hoàn tất hồ sơ vụ án để chuyển lên Tòa án cấp phúc thẩm cùng với đơn kháng cáo Nếu đơn kháng cáo, tài liệu,chứng cứ được gửi lên Tòa án cấp phúc thẩm thì sau khi nhận đơn, Tòa án cấp phúc thẩm chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiến hành các công việc nêu trên Quy định như vậy là đúng đắn và hợp lý, bởi Tòa án cấp sơ thẩm trên cơ sở đã xét xử sơ thẩm trước đó, nắm bắt được nội dung vụ án, chủ thể, thời hạn kháng cáo Trên cơ sở kiểm tra các yếu tố đó, nếu thấy nội dung đơn kháng cáo chưa đầy

đủ thì Tòa án cấp sơ thẩm sẽ thông báo ngay cho người kháng cáo để họ bổ sung kịp thời, đảm bảo quyền kháng cáo của họ [32]

Đơn kháng cáo là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc giải quyết quyền,

Trang 35

lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng nhưng trong Bộ luật tố tụng hình

sự 2003 chưa có quy định cụ thể về nội dung chính của đơn Vì vậy, luật cần quy định rõ hơn trong đơn kháng cáo phải ghi rõ các nội dung như: ngày làm đơn kháng cáo, họ tên và tư cách tham gia tố tụng trong vụ án của người kháng cáo, kháng cáo về vấn đề gì trong bản án, quyết định sơ thẩm, lý do kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo, chữ ký, điểm chỉ của người kháng cáo để người kháng cáo có thể hiểu rõ và làm đúng quy định tránh gây sai sót, mất nhiều thời gian

Người kháng cáo cũng có thể không viết đơn kháng cáo mà trình bày trực tiếp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm về việc kháng cáo Trong trường hợp này, Tòa án phải lập biên bản về việc kháng cáo, ghi rõ ngày kháng cáo, họ tên và tư cách tố tụng trong vụ án của người kháng cáo, nội dung kháng cáo

Ngoài ra cần quy định thêm về việc người kháng cáo khi nộp đơn kháng cáo hoặc cùng với việc trình bày trực tiếp cần kèm theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung (nếu có) để chứng minh tính có căn cứ của kháng cáo

Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam thì đơn kháng cáo được gửi qua Ban giám thị trại giam Ban giám thị trại giam phải có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo Ban giám thị trại giam phải tiếp nhận đơn kháng cáo, xác nhận ngày, tháng, năm nhận đơn, ký

và đóng dấu vào đơn rồi gửi ngay cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án

2.2.1.3 Thời hạn kháng cáo phúc thẩm hình sự

Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm hình sự Điều 234 Bộ luật

tố tụng hình sự năm 2003 quy định: Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết Thời điểm đầu tiên bắt đầu tính thời hạn kháng cáo là ngày tiếp theo của ngày xác định

Thời hạn kháng cáo đối với quyết định hình sự sơ thẩm Theo quy định

Trang 36

tại khoản 2 điều 239 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án của tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định

Kháng cáo phúc thẩm hình sự chỉ được chấp nhận khi được thực hiện trong thời hạn luật định Tuy nhiên, để khắc phục những trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác mà người kháng cáo không thể thực hiện được việc kháng cáo của mình theo thời hạn luật định thì Điều 235 Bộ luật tố tụng Hình sự 2003 có quy định về việc kháng cáo quá hạn nếu có lý

do chính đáng có thể được tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận, đó là trường hợp bất khả kháng hoặc: do thiên tai, lụt lội, đau ốm,… Khi kháng cáo quá hạn người kháng cáo phải nêu rõ lý do và ngay sau khi hết cản trở phải làm đơn kháng cáo ngay

Trong trường hợp kháng cáo quá hạn, tòa án cấp phúc thẩm phải thành lập hội đồng xét xử gồm 3 thẩm phán để xét lý do kháng cáo quá hạn, phiên họp bắt buộc phải có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp, Hội đồng xét xử có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn Thẩm phán cấp phúc thẩm đã tham gia hội đồng xét xử xét lý do kháng cáo quá hạn vẫn có thể tham gia hội đồng xét xử vụ án theo thủ tục chung

2.2.1.4 Thông báo kháng cáo

Kháng cáo hợp pháp là cơ sở làm phát sinh thủ tục phúc thẩm Do đó bị cáo và những người liên quan đến nội dung kháng cáo cũng như các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền giải quyết vụ án phải được thông báo về kháng cáo và có quyền gửi ý kiến của mình cho tòa án cấp phúc thẩm

Theo quy định tại Điều 236 Bộ luật tố tụng hình sự thì Việc kháng cáo phải được Tòa án cấp sơ thẩm thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người liên quan đến kháng cáo trong thời hạn 07 ngày kể

từ ngày hết thời hạn kháng cáo

Trang 37

Giao cho toà án cấp sơ thẩm thông báo kháng cáo là hợp lý vì toà án cấp sơ thẩm là toà án phải làm thủ tục thông báo và chuyển hồ sơ vụ án bị kháng cáo lên toà án cấp phúc thẩm, đồng thời thông báo đến Viện kiểm sát cùng cấp và những người liên quan vì ngoài toà án cấp sơ thẩm ra, không ai nắm chắc những người tham gia tố tụng hơn họ cả

Việc thông báo kháng cáo, kháng nghị có ý nghĩa tương đối quan trọng đối với những chủ thể liên quan Đối với những người tham gia tố tụng, việc thông báo nhằm giúp họ có thời gian chuẩn bị tham gia phiên tòa phúc thẩm

để bảo vệ quyền lợi của mình trước tòa án, đặc biệt đối với bị cáo việc thông báo này có ý nghĩa đảm bảo cho họ thực hiện tốt quyền bào chữa tại phiên tòa phúc thẩm Đồng thời việc thông báo kháng cáo, kháng nghị tạo điều kiện cho viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng khác có thể gửi ý kiến cho tòa cấp phúc thẩm về việc kháng cáo, kháng nghị từ đó họ có thể cung cấp thêm những chứng cứ, thông tin hoặc tài liệu liên quan đến vụ án Quan trọng hơn, việc thông báo này sẽ giúp tòa án xác định chính xác việc triệu tập những người cần thiết phải tham gia phiên tòa phúc thẩm cũng như chuẩn bị hồ sơ, lên phương án xét xử

2.2.2 Kháng nghị phúc thẩm

2.2.2.1 Chủ thể kháng nghị phúc thẩm

Chỉ có viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp với toà án đã ra bản án sơ thẩm mới có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Đây cũng là đặc điểm để phân biệt với kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị tất cả các bản án đã có hiệu lực pháp luật của toà án các cấp mà không bị giới hạn bởi cấp trên trực tiếp và viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp thì không được kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm bản án hoặc

Trang 38

Hiện nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có ba Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm đặt tại ba miền (Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh) Ba Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm này tương ứng với ba Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, nhưng không phải là Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp của Viện kiểm sát cấp tỉnh Vì vậy, việc kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm chỉ có giá trị pháp lý khi được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao uỷ quyền

Việc pháp luật tố tụng hình sự quy định cùng một lúc Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm là xuất phát từ nguyên tắc tập trung thống nhất trong tổ chức và hoạt động của ngành kiểm sát Chỉ khi có một trong hai Viện kiểm sát nêu trên có kháng nghị thì tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung kháng nghị đó, nếu cả hai Viện kiểm sát đều có kháng nghị có nội dung giống nhau thì tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung cả hai kháng nghị, còn nếu hai kháng nghị của hai Viện kiểm sát có nội dung trái ngược nhau thì tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp bởi kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có giá trị pháp lý như một văn bản phủ định văn bản kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới [11, tr.438]

Trường hợp cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm hoặc người phạm tội nhưng

Trang 39

không thuộc phạm vi kháng nghị phúc thẩm, vì tội phạm hoặc người phạm tội chưa bị khởi tố, truy tố Những gì mà bản án sơ thẩm chưa đề cập, chưa quyết định thì không thuộc đối tượng kháng nghị phúc thẩm; tòa án cấp phúc thẩm cũng không thể căn cứ vào việc bỏ lọt tội phạm do chưa khởi tố, điều tra, truy

tố để hủy bản án sơ thẩm điều tra lại hay xét xử lại được

Trường hợp Viện kiểm sát chỉ truy tố một tội, tòa án cũng xử như cáo trạng nhưng sau khi xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp cho rằng

bị cáo phạm hai tội chứ không phải một tội thì cũng không thuộc phạm vi kháng nghị theo trình tự phúc thẩm để tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để giao cho cấp sơ thẩm điều tra, xét xử lại Ví dụ: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố A về tội “Cố ý gây thương tích” Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm phạt A 24 tháng tự Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng, cấp sơ thẩm đã bỏ lọt tội “Cố

ý làm hư hỏng tài sản” nên kháng nghị bản án sơ thẩm và đề nghị tòa án nhân dân tối cao xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm, theo hướng hủy bản án sơ thẩm nêu trên, để giao cho cấp sơ thẩm điều tra, xét xử lại theo thủ tục chung Việc kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao rõ ràng là không đúng, vì đối với tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” chưa được khởi tố, truy tố và cũng chưa được tòa án cấp sơ thẩm kết án nên không thuộc phạm vi kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát

Trường hợp cấp sơ thẩm khởi tố, truy tố và xét xử về tội phạm nhẹ nhưng Viện kiểm sát cho rằng lẽ ra phải xét xử bị cáo về tội phạm năng hơn nên đã kháng nghị phúc thẩm đề nghị tòa án cấp phúc thẩm sửa hoặc hủy bản

án sơ thẩm Ví dụ: tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự 1999, nhưng sau khi xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát cho rằng bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự nên đã kháng nghị phúc thẩm

đề nghị tòa án cấp phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự Việc

Trang 40

kháng nghị trong trường hợp này có thể xảy ra hai trường hợp: nếu bị cáo đã

bị truy tố theo khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự, nhưng tòa án cấp sơ thẩm lại

áp dụng khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự thì việc kháng nghị của Viện kiểm sát là đúng thẩm quyền; nếu cấp sơ thẩm chỉ khởi tố, truy tố và xét xử bị cáo theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự thì Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị phúc thẩm, vì khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự có mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt là tử hình, nên cấp phúc thẩm không có thẩm quyền xem xét, mặt khác còn liên quan đến vấn đề bắt buộc phải có luật sư cho bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử

2.2.2.3 Căn cứ kháng nghị phúc thẩm

Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là một văn bản do Viện kiểm sát ban hành yêu cầu toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà toà án cấp sơ thẩm cùng cấp hoặc cấp dưới trực tiếp đã xét xử, nhưng xét thấy không đúng pháp luật Quyết định kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là một căn cứ làm phát sinh một trình tự xét xử - trình tự xét xử phúc thẩm hay còn gọi là thủ tục phúc thẩm Đây là một trong những căn cứ làm phát sinh trình tự phúc thẩm bên cạnh kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng

Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm được phân biệt với kháng nghị để xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Nếu kháng nghị là căn cứ để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm gọi là kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, nếu là căn cứ để xét xử tái thẩm gọi là kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Bên cạnh đó, không phải các sai lầm nghiêm trọng nào của toà án cấp

sơ thẩm cũng là đối tượng kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm mà chỉ những sai lầm thuộc thẩm quyền quyết định của toà án cấp phúc thẩm thì mới kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Nếu toà án cấp phúc thẩm không có thẩm quyền quyết định thì dù bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng cũng không phải là căn cứ kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm mà chỉ có thể kháng nghị theo thủ

Ngày đăng: 31/10/2017, 15:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w