1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tri thức dân gian trong khai thác và bảo vệ rừng của người hà nhì đen ở huyện bát xát, tỉnh lào cai (tóm tắt)

27 173 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 389,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu - Đưa ra cơ sở lý luận nghiên cứu về tri thức dân gian và vai trò tri thức dân gian với khai thác, bảo vệ rừng gắn với phát triển bền vững môi trường sinh thái.. - T

Trang 1

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Dương Tuấn Nghĩa

TRI THỨC DÂN GIAN TRONG KHAI THÁC

VÀ BẢO VỆ RỪNG CỦA NGƯỜI HÀ NHÌ ĐEN

Ở HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI

Chuyên ngành: Văn hóa dân gian

Mã số: 62 22 01 30

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS Nguyễn Thị Hiền

Người hướng dẫn khoa học 2: TS Phạm Thị Thu Hương

Phản biện 1: PGS.TS Lê Ngọc Thắng

Trường Cán bộ quản lý Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Duy Thiệu

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà

Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện họp tại:

Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam

Số 32 Hào Nam, Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội Vào lúc giờ ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam;

- Thư viện Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh môi trường sinh thái đang biến đổi nhanh chóng, rừng bị tàn phá, đất đai bị bào mòn, nguồn nước cạn kiệt đã làm cho quá trình biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng ác liệt Sự biến mất của các khu rừng nguyên sinh, rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ do nạn chặt phá rừng lấy gỗ bừa bãi, sự xuất hiện của các dự án phát triển kinh tế đang làm cho diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, tài nguyên cạn kiệt Hệ sinh thái rừng bị ảnh hưởng làm cho thiên tai liên tục xảy ra với cường độ ngày càng lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến con người và tài sản của nhân dân các khu vực vùng núi cao của tỉnh Lào Cai

Trong gần 10 năm qua, thiên tai liên tiếp xảy ra, cướp đi nhiều sinh mạng và của cải vật chất của người dân Qua số liệu thống kê về bão lũ và sạt lở đất của huyện Bát Xát từ năm 2008 đến năm 2017, thiên tai làm chết và bị thương gần 60 người, hàng trăm hecta đất ở và đất canh tác bị vùi lấp, nhiều thôn bản của người Dao, Hmông, Giáy bị tàn phá Tuy nhiên, có một tộc người cùng cư trú trên dải đất ấy lại hầu như chưa bao giờ phải gánh chịu những thiệt hại do thiên tai gây ra, đó là cộng đồng người Hà Nhì Đen cư trú ở các xã Y Tý, Nậm Pung, A Lù, Trịnh Tường,

A Mú Sung của huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

Tại sao lại có hiện tượng như vậy? Khu vực cư trú của họ có gì đặc biệt? Các thôn bản của họ có khác gì so với các thôn bản của các dân tộc anh em khác? Tri thức dân gian trong bảo vệ và khai thác rừng

có vai trò như thế nào trong hiện tượng ấy? Và trong phát triển bền vững môi trường sinh thái rừng? Câu hỏi đặt ra là “Nếu tri thức dân gian được sử dụng một cách hiệu quả có thể giảm thiểu được những

tai họa của thiên tai gây ra” NCS chọn đề tài “Tri thức dân gian

trong khai thác và bảo vệ rừng của người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai” để làm đề tài cho luận án Tiến sĩ Đề tài sẽ từng

bước nghiên cứu, phân tích tri thức dân gian của người Hà Nhì Đen

Trang 4

trong việc bảo vệ môi trường sinh thái nói chung, trong khai thác và bảo vệ rừng theo hướng bền vững

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

- Đưa ra cơ sở lý luận nghiên cứu về tri thức dân gian và vai trò tri thức dân gian với khai thác, bảo vệ rừng gắn với phát triển bền vững môi trường sinh thái

- Trên cơ sở vận dụng một số lý thuyết trong văn hóa dân gian và sinh thái văn hóa, luận án tập trung nghiên cứu và phân tích tri thức dân gian trong khai thác và bảo vệ rừng của người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

- Nghiên cứu, phân tích vai trò tri thức dân gian của cộng đồng trong các dự án phát triển, góp phần làm tăng tính thực tiễn và hiệu quả của các dự án

- Từ nghiên cứu tri thức dân gian trong khai thác và bảo vệ rừng, luận án bàn luận về các vấn đề bảo vệ và phát huy tri thức dân gian về bảo vệ rừng với vấn đề phát triển bền vững

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu, phân tích tri thức dân gian trong khai thác và bảo

vệ tài nguyên rừng của người Hà Nhì Đen Nghiên cứu, phân tích về

cơ chế thiêng hóa rừng; luật tục bảo vệ rừng; xây dựng lực lượng thực thi các quy định của luật tục và thực hiện cơ chế giám sát toàn dân

- Đánh giá vai trò của tri thức dân gian trong bảo vệ môi trường sinh thái và khai thác rừng bền vững thông qua tri thức dân gian và sự tham gia của cộng đồng địa phương trong các dự án phát triển rừng

- Nghiên cứu, phân tích sự biến đổi của tri thức dân gian nhằm nâng cao nhận thức, trao truyền và phát huy tri thức dân gian trong khai thác, bảo vệ rừng hiện nay hướng tới phát triển bền vững

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 5

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tri thức dân gian trong khai thác và bảo vệ rừng của người Hà Nhì Đen ở hai xã Y Tý và Nậm Pung của huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian nghiên cứu: Luận án lựa chọn 2 địa điểm tiến

hành khảo sát, nghiên cứu là 2 xã Y Tý và Nậm Pung Đây là hai địa bàn có tới 3.112 người trên tổng số 4.347 người Hà Nhì Đen trong toàn huyện Bát Xát (chiếm 71,58%) Đây là vùng đất có lịch sử hình thành từ lâu đời và cũng là nơi có diện tích rừng nguyên sinh lớn chiếm 16,62% diện tích rừng tự nhiên của toàn huyện

Về thời gian nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu, phân

tích tri thức dân gian của người Hà Nhì Đen trong khai thác và bảo vệ rừng truyền thống và từ sau thời kỳ đổi mới (1986) đến nay Đó cũng

là thời điểm có nhiều chính sách về bảo vệ rừng, phát triển rừng trong công cuộc đổi mới của Chính phủ được ban hành và thực hiện

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Rừng có vai trò như thế nào trong đời sống của người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai?

- Tri thức dân gian được người Hà Nhì Đen vận dụng như thế nào trong khai thác và bảo vệ rừng bền vững?

- Làm thế nào để duy trì và phát huy tốt các giá trị của tri thức dân gian trong khai thác, bảo vệ rừng trong phát triển bền hiện nay?

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu định tính: Để thu thập được các dữ

liệu đang được người dân bảo lưu bằng trí nhớ, bằng truyền khẩu và thực hành xã hội, NCS đi điền dã và thực hiện các thao tác sau:

+ Quan sát tham dự: Từ năm 2011 đến tháng 9/2017, NCS đã thực

hiện hơn 20 chuyến nghiên cứu điền dã (đủ cho 12 tháng trong năm) tại các thôn của xã Nậm Pung và xã Y Tý

+ Phỏng vấn sâu, phỏng vấn hồi cố: Phỏng vấn những nghệ

nhân, già làng, trưởng bản, thầy cúng và những người có uy tín khác

Trang 6

đã được lựa chọn và theo phương pháp “bông tuyết lăn”, từ người này giới thiệu người khác theo nội dung cần tìm hiểu

+ Thảo luận nhóm: Tổ chức các cuộc thảo luận nhóm để tìm

được sự đánh giá thống nhất chung của cộng đồng, nhất là vấn đề đánh giá về các dự án, vai trò của các khu rừng thiêng, về quy ước xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư

- Sử dụng phương pháp thống kê, thăm dò, thống kê nguyện

vọng (trong phạm vi nhỏ) đối với các dòng họ, đội ngũ các đoàn thể của xã Y Tý và xã Nậm Pung

- Phương pháp nghiên cứu so sánh: Nghiên cứu, phân tích và

so sánh sự biến đổi của tri thức dân gian trong khai thác, bảo vệ rừng

từ trước và sau thời kỳ đổi mới đến nay

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Vận dụng phương pháp

nghiên cứu liên ngành của nhân học văn hóa, khoa học phát triển, xã hội học, văn hóa dân gian trong quá trình nghiên cứu về văn hóa truyền thống, mối quan hệ giữa tri thức dân gian với phát triển bền vững, giữa văn hóa dân gian người Hà Nhì Đen với môi trường sinh thái

- Phương pháp sưu tầm, phân tích tư liệu thứ cấp: Sưu tầm và

chọn lọc các tài liệu bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Trung Quốc liên quan đến người Hà Nhì Đen, tri thức dân gian về phát triển bền vững rừng Các báo cáo về văn hóa, xã hội, kinh tế của xã Y Tý, Nậm Pung; sổ theo dõi hộ gia đình, báo cáo tình hìn dân số và các Dự án được lưu trữ tại huyện Bát Xát

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa khoa học

Luận án nghiên cứu, phân tích tri thức dân gian trong khai thác và bảo vệ rừng trong mối quan hệ với phát triển bền vững là một hướng nghiên cứu cập nhật của ngành văn hóa dân gian đương đại trên thế giới

Từ góc độ văn hóa dân gian và liên ngành, luận án sẽ từng bước phân tích các khía cạnh tri thức dân gian với việc bảo vệ và khai thác rừng của người Hà Nhì Đen, qua đó đóng góp một phần nghiên cứu về mối quan hệ văn hóa tộc người với môi trường tự nhiên

Trang 7

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận án là công trình nghiên cứu có những đóng góp trong thực tiễn nghiên cứu, đào tạo Kết quả của luận án như là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu về tri thức dân gian, môi trường sinh thái

và việc sử dụng tri thức dân gian trong khai thác và bảo vệ rừng theo hướng bền vững Dựa trên khung nhận thức luận về văn hóa dân gian và phát triển bền vững, luận án đề cao vai trò của tri thức người Hà Nhì Đen trong khai thác và bảo vệ rừng là một trường hợp nghiên cứu cụ thể, từ đó nhằm đưa ra những quan điểm mang tính khái quát hơn trong các chiến lược, quyết sách và dự án phát triển bền vững

1.1.1 Những công trình nghiên cứu trong nước

1.1.1.1 Những công trình nghiên cứu về tri thức dân gian, tri thức bản địa, tri thức địa phương

Đây là vấn đề đang được rất nhiều các học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, phân tích nhằm thấy được vai trò của tri thức dân gian trong bảo vệ và khai thác tài nguyên thiên nhiên Các công trình đều tập trung nhấn mạnh rằng, mặc dù khoa học kỹ thuật đã phát triển đến một tầm cao mới, song tri thức dân gian vẫn có vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày, trong phát triển bền vững ở mỗi địa phương, mỗi dân tộc Có thể nhắc

Trang 8

tới một số công trình tiêu biêu sau: Tri thức dân gian của dân tộc Dao trong

sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của tác giả Nguyễn Ngọc

Thanh (2016); “Thế giới quan bản địa” của Ngô Đức Thịnh (2004); Sinh thái

nhân văn và phát triển bền vững của Lê Trọng Cúc (2014)

1.1.1.2 Những công trình nghiên cứu về người Hà Nhì

Dân tộc Hà Nhì ở Việt Nam có dân số tương đối ít so với nhiều dân tộc khác, cư trú chủ yếu ở các tỉnh Lào Cai, Lai Châu và Điện Biên Tri thức dân gian của họ về ruộng bậc thang, về khai thác và bảo vệ rừng được một số tác giả quan tâm nghiên cứu về một số lĩnh vực như lịch sử

di cư, tộc danh, môi trường sinh sống, sinh kế, phong tục tập quán, văn

học dân gian Một số công trình tiêu biểu như: Văn hóa dân gian người

Hà Nhì của Chu Thùy Liên (2009); Trần Hữu Sơn với Tri thức bản địa của người Hà Nhì ở Việt Nam với vấn đề bảo vệ rừng (2008); Tập quán quản lý và khai thác rừng, đất rừng, nguồn nước của dân tộc Hà Nhì ở Mường Tè – Lai Châu của Bùi Quốc Khánh, Lò Ngọc Biên (2008)… 1.1.1.3 Vấn đề nghiên cứu về tri thức dân gian, tri thức địa phương với phát triển bền vững

Tri thức dân gian với phát triển bền vững về sinh thái đang là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm Do đó, trong những năm qua đã có nhiều công trình nhiên cứu về mối quan hệ giữa tri thức dân gian của cộng đồng các dân tộc với quá trình ứng xử với môi trường tự nhiên, bảo

vệ môi trường tự nhiên bền vững tiêu biểu là những công trình: Sinh thái

nhân văn với phát triển bền vững của Lê Trọng Cúc (2016); Hướng tới phát triển bền vững ở Tây Nguyên của Lê Văn Khoa, Phạm Quang Tú

(2014); Tri thức địa phương và vấn đề phát triển bền vững miền núi Việt

Nam của Hoàng Hữu Bình (1998)

1.1.2 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Trung Quốc được coi là “mẫu quốc” của dân tộc Hà Nhì, có dân số đông nhất trên thế giới Do đó trong mấy thập niên qua, các học giả Trung Quốc đã không ngừng nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực như: tín ngưỡng, văn hóa, lịch sử, canh tác nông nghiệp, sinh thái tự nhiên Một số học giả đã sang Việt Nam khảo sát, nghiên cứu và có những công trình nghiên cứu đã

Trang 9

xác định nguồn gốc của người Hà Nhì ở Việt Nam là từ Trung Quốc di cư

sang Tiêu biểu là các công trình: Nghiên cứu văn hóa sinh thái truyền

thống dân tộc Hà Nhì ở Vân Nam của Hoàng Thiệu Văn và nhóm tác giả

(2012); Nghiên cứu tập quán pháp Hà Nhì/A Khà quốc tế của Long của

Khánh Hoa (2013)

- Những công trình về tri thức dân gian

Tri thức dân gian, tri thức bản địa, tri thức địa phương của các dân tộc thiểu số đang là chủ đề quan tâm, nghiên cứu của rất nhiều nhà nghiên cứu ở hầu hết các nước trên thế giới Bằng các nghiên cứu thực chứng, các tác giả đã chỉ ra được phần nào sự cần thiết của tri thức dân gian trong quá trình ứng xử với môi trường tự nhiên và xã

hội Một số công trình tiêu biểu như: Tri thức bản địa về môi trường

và những biến đổi – Các quan điểm nhân học phê phán do Roy Ellen

và cộng sự (2010); Kinh nghiệm nghiên cứu phát triển miền núi: Một

số nét khái quát từ Châu Á của Jonh Amble (1996); “Nhân học sinh

thái mới” của Conrad P Kottak (1999)…

- Các công trình ở nước ngoài về tri thức dân gian và phát triển bền vững

Mối quan hệ giữa tri thức dân gian với phát triển bền vững là mối quan hệ qua lại, phụ thuộc lẫn nhau Điều này đã được các tác giả miêu tả

và phân tích khá rõ trong các công trình nghiên cứu về việc người dân luôn

ý thức được việc khai thác với bảo tồn cho các thế hệ mai sau, bảo vệ cho môi trường sống của họ

Đối với những thách thức của vấn đề phát triển bền vững trong thời

kỳ toàn cầu hóa, hiện đại hóa, các tác giả cũng đưa ra các đối sách trên 3 mặt phương diện là: Diệt trừ nghèo đói, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái, bảo vệ và phát triển văn hóa dân tộc Một số công trình tiêu biểu

như: Đúc kết về tri thức truyền thống để nhận diện và mô tả về hệ sinh

thái liên quan đến cây cối sử dụng với nhiều mục đích ở các khu rừng Bắc Amazon của Cummings và Read (2016); Sinh thái văn hóa với phát triển bền vững của Quách Gia Kí (2004); Tri thức bản địa như là thìa

khóa cho phát triển bền vững của Senanayake, S.G.J.N (2006)…

Trang 10

1.1.3 Một số nhận xét về tình hình nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu về người Hà Nhì, về tri thức dân gian trong ứng xử với môi trường tự nhiên và vai trò của tri thức dân gian với phát triển bền vững đã xuất hiện nhiều, từng bước làm rõ hơn giá trị của tri thức dân gian của cộng đồng các dân tộc Tuy nhiên, với cộng đồng người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai cho đến nay có ít công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về tri thức dân gian của họ, nhất là tri thức về tự nhiên, về khai thác và bảo vệ rừng

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Một số khái niệm

Trong luận án này, NCS sử dụng các khái niệm: Tri thức dân

gian là toàn bộ hệ thống tri thức của một tộc người được hình thành

trong quá trình lâu dài (là những kinh nghiệm tích lũy trong quá trình ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội) Tri thức dân gian được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác bằng trí nhớ, thực hành và sự trải nghiệm xã hội

Ngoài ra, luận án còn đưa ra một số khái niệm khác có liên quan

đến nội dung nghiên cứu của luận án, như khái niệm về tri thức, tri

thức bản địa, tri thức địa phương, tri thức truyền thống, về rừng, về bảo vệ và khai thác rừng, về phát triển bền vững

1.2.2 Một số quan điểm lý luận

1.2.2.1 Quan điểm chỉnh thể luận

Quan điểm chỉnh thể luận cũng có thể hiểu một cách rộng hơn là mối liên hệ giữa tri thức dân gian với một mô hình nhận thức luận kinh

tế - xã hội và môi tường sinh thái rộng lớn hơn (SEEM) Luận án này sử dụng các quan điểm chỉnh thể luận kết hợp với mối tương quan với mô hình SEEM, giữa các quan điểm của tri thức dân gian và các quan điểm của hệ sinh thái trong việc tiến hành việc phân tích, đánh giá về bảo vệ

và khai thác rừng của người Hà Nhì ở Lào Cai

- Quan điểm về chủ thể (emic)

Ngoài ra, luận án sử dụng quan điểm của người trong cuộc, của chính những người cung cấp thông tin (hay còn gọi là quan điểm

Trang 11

emic), ngược lại với quan điểm của người ngoài, của dân tộc học

truyền thống (quan điểm etic) Việc dựa vào quan điểm của chủ thể

hay còn gọi là người trong cuộc trong nghiên cứu nhằm lựa chọn các thành viên của cộng đồng có hiểu biết, nắm được tri thức dân gian và

để họ nói lên tiếng nói của họ, quan điểm của họ, nhất là tiếng nói của cộng đồng trong các dự án phát triển liên quan trực tiếp đến cuộc sống của họ

1.2.2.2 Quan điểm lý luận sinh thái văn hóa: Nhằm nghiên cứu

mối quan hệ qua lại giữa văn hóa với môi trường sinh thái, môi trường sinh thái tự nhiên đã góp phần tạo nên sự đặc sắc của văn hóa truyền thống người Hà Nhì Đen Cùng với đó, luận án cũng làm rõ hơn về tầm quan trọng của tri thức dân gian với phát triển bền vững sinh thái tự nhiên của người Hà Nhì Đen

1.2.2.3 Quan điểm về sự tham gia của cộng đồng trong phát triển bền vững

Mục đích nhằm nghiên cứu, phân tích về vấn đề phát triển bền vững tại những khu vực cư trú của người Hà Nhì Đen, qua đó cho thấy mặc dù tri thức khoa học đã phát triển tới các tầm cao mới, có mặt ở hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống, cho đến các bản làng xa xôi Nhưng với cộng đồng người Hà Nhì Đen, dù khoa học có phát triển cao thì họ vẫn duy trì những kinh nghiệm, những hiểu đúc kết được từ trong thực tiễn cuộc sống, trong quá trình ứng xử với môi trường tự nhiên, để từ đó mang lại cho môi trường sống của mỗi thôn bản luôn yên bình, đảm bảo cho môi trường tự nhiên xung quanh luôn phát triển bền vững

1.2.2.4 Tri thức dân gian với phát triển bền vững

Cho đến nay tri thức dân gian vẫn được coi là nguồn tri thức phong phú của cộng đồng các dân tộc, sự am hiểu sâu sắc về tự nhiên

và xã hội, những kinh nghiệm đúc rút ra từ trong các hoạt động cụ thể, trong mối quan hệ với môi trường sinh thái có nhiều yếu tố tương đồng với quan điểm phát triển bền vững, nên tri thức dân gian đã trở thành

Trang 12

một trong những điểm tựa, lựa chọn cốt lõi cho mục tiêu phát triển bền vững về môi trường từ cơ sở, trong các dự án phát triển

Tiểu kết

Với những nghiên cứu về lý luận, những khái niệm và tổng quan tư liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận án, NCS cơ bản đã nắm bắt được các vấn đề cốt lõi của tri thức dân gian trong quá trình ứng xử với môi trường tự nhiên, trong khai thác và bảo vệ rừng của người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai và các quan điểm của người trong cuộc (emic) để triển khai nghiên cứu, phân tích trong nội dung của các chương sau của luận án

Với lý thuyết sinh thái văn hóa và lý luận về phát triển bền vững tạo nên một khung nhận thức luận, cho phép nhận diện tri thức dân gian trong quá trình khai thác, bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên, đa dạng sinh học Đây chính là cơ sở của sự tham gia từ dưới của cộng

đồng bản địa vào quá trình phát triển bền vững

Chương 2 ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, NGƯỜI HÀ NHÌ ĐEN VÀ

TRI THỨC DÂN GIAN TRONG KHAI THÁC RỪNG

2.1 Địa bàn nghiên cứu và tài nguyên rừng nơi người Hà Nhì Đen cư trú

2.1.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

Nằm trong địa bàn huyện Bát Xát, hai xã Y Tý và Nậm Pung được coi là hai xã vùng cao, điều kiện khó khăn, nhưng đấy lại là hai địa bàn có người Hà Nhì Đen cư trú tập trung đông nhất toàn huyện Tổng số người Hà Nhì Đen ở hai xã chiếm 66,36% tổng số người Hà Nhì Đen toàn huyện Diện tích rừng tự nhiên rộng lớn, chiếm 16,62% diện tích rừng tự nhiên của toàn huyện Bát Xát, là nơi bảo tồn nhiều loài đặc hữu, loài gen quý hiếm

2.1.2 Nguồn tài nguyên rừng nơi người Hà Nhì Đen cư trú

Người Hà Nhì Đen cư trú trong một vùng rừng núi rộng lớn, nguồn tài nguyên phong phú đã mang lại cho họ cuộc sống ổn định

Trang 13

hơn về kinh tế, nhưng cũng kèm theo những thách thức từ tự nhiên

Do đó, trong suốt quá trình tồn tại của mình, người Hà Nhì Đen đã có những cách thức ứng xử một cách hài hòa với môi trường tự nhiên, coi

tự nhiên là người bạn lớn để cùng tồn tại

2.2 Khái quát về người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát, Lào Cai

NCS vừa căn cứ vào các kết quả nghiên cứu của các học giả trước, vừa tiến hành sưu tầm danh sách các đời của các dòng họ để xác định lịch sử cư trú của họ ở huyện Bát Xát Bước đầu có thể xác định lịch sử của người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát khoảng 300 năm

2.3 Rừng với đời sống của người Hà Nhì Đen

2.3.1 Thế giới quan của người Hà Nhì Đen

Với quan niệm “vạn vật hữu linh”, người Hà Nhì Đen cho rằng mọi

đồ vật tồn tại xung quanh ta đều có linh hồn “sê do guy so” Trong không

gian tự nhiên, mọi loại hồn cây, hồn thú rừng đều chịu sự chi phối, quản

lý của thần rừng “mù giê”, khi con người chặt cây, săn thú chỉ là lấy đi phần xác, còn phần linh hồn của nó phải trả lại cho thần rừng, nếu không thần rừng sẽ trách phạt, hồn cây, hồn thú sẽ theo về làm hại

2.3.2 Không gian sống của người Hà Nhì Đen và mối quan hệ

ba chiều: Thôn bản – Rừng – Ruộng nương

Không gian sống của người Hà Nhì Đen được phân chia thành 3

không gian (khu vực) khác nhau là: khu vực Thôn bản – không gian

cư trú của con người; Rừng – không gian của thần linh bảo vệ cộng

đồng và một thế giới mang dạng người khác (trong đó gồm có cây

rừng, muông thú); Ruộng nương (nương rẫy, ruộng bậc thang) là

không gian sản xuất

2.3.3 Mối quan hệ giữa rừng với nương rẫy, ruộng bậc thang

Người Hà Nhì Đen có truyền thống canh tác nương rẫy và ruộng bậc thang, do đó trong quá trình nghiên cứu, phân tích về mối quan hệ giữa rừng với nương rẫy, ruộng bậc thang cho thấy rừng giống như hồn cốt của đất nông nghiệp Bởi với nương rẫy, rừng luôn đảm bảo cho lớp mùn của đất được phong phú; với ruộng bậc thang, rừng luôn giữ vai trò

Ngày đăng: 31/10/2017, 14:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w