SKKN Giúp học sinh lớp 4 giải Toán có lời vănSKKN Giúp học sinh lớp 4 giải Toán có lời vănSKKN Giúp học sinh lớp 4 giải Toán có lời vănSKKN Giúp học sinh lớp 4 giải Toán có lời vănSKKN Giúp học sinh lớp 4 giải Toán có lời vănSKKN Giúp học sinh lớp 4 giải Toán có lời vănSKKN Giúp học sinh lớp 4 giải Toán có lời vănSKKN Giúp học sinh lớp 4 giải Toán có lời vănSKKN Giúp học sinh lớp 4 giải Toán có lời vănSKKN Giúp học sinh lớp 4 giải Toán có lời vănSKKN Giúp học sinh lớp 4 giải Toán có lời vănSKKN Giúp học sinh lớp 4 giải Toán có lời vănSKKN Giúp học sinh lớp 4 giải Toán có lời vănSKKN Giúp học sinh lớp 4 giải Toán có lời vănSKKN Giúp học sinh lớp 4 giải Toán có lời vănSKKN Giúp học sinh lớp 4 giải Toán có lời vănSKKN Giúp học sinh lớp 4 giải Toán có lời vănSKKN Giúp học sinh lớp 4 giải Toán có lời vănSKKN Giúp học sinh lớp 4 giải Toán có lời vănSKKN Giúp học sinh lớp 4 giải Toán có lời vănSKKN Giúp học sinh lớp 4 giải Toán có lời văn
Trang 1I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lí do chọn sáng kiến kinh nghiệm
Căn cứ vào mục tiêu môn học và tình hình thực tế trong nhiều năm giảng dạy tại trường
Đặc biệt là những năm gần đây Tôi đã trực tiếp giảng dạy lớp 4, tôi thấy học sinh trường tôi hầu như là các em có bố mẹ làm nghề nông nghiệp Trong đó có một số em có hoàn cảnh khó khăn, sự quan tâm của cha mẹ chưa đầy đủ thời gian học ở nhà còn hạn chế, vốn ngôn ngữ nghèo nàn, khả năng giao tiếp còn hạn chế dẫn đến việc hình thành kỹ năng giải toán có lời văn còn yếu Các em chỉ biết ghi phép tính, còn lời giải thì lúng túng, chưa biết tóm tắt bài toán trước khi giải
Môn giải toán có lời văn ở Tiểu học có một vị trí rất quan trọng chiếm phần lớn thời gian học toán của học sinh dành cho việc học giải các bài toán ấy Kết quả học toán của học sinh cũng được đánh giá trước hết qua khả năng giải toán, cả kết quả kiểm tra giữa và cuối các học kì Biết giải thành thạo các bài toán là tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá trình độ giải toán của học sinh
Sở dĩ việc giải toán có vị trí quan trọng như tôi vừa nêu là vì nó có những tác dụng to lớn
và toàn diện như:
Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận dụng và hiểu sâu sắc thêm tất cả các kiến thức về Số học, về Đo lường, về các yếu tố Đại số, các yếu tố Hình học đã được học trong môn toán ở Tiểu học Hơn thế nữa phần lớn các biểu tượng, các khái niệm, quy tắc, tính chất toán học ở Tiểu học đều được học sinh tiếp thu qua con đường giải toán, chứ không phải qua lí luận
Thông qua nội dung thực tế nhiều hình nhiều vẻ của các đề toán, học sinh sẽ tiếp nhận được những kiến thức phong phú về cuộc sống và có điều kiện để rèn luyện khả năng
áp dụng các kiến thức toán học vào cuộc sống, làm tốt điều Bác Hồ căn dặn là “ Học đi đôi với hành”
Việc giải toán đòi hỏi học sinh phải tự tìm cách giải quyết vấn đề, tự mình thực hiện các phép tính, tự kiểm tra kết quả,…Do đó giải toán là một cách rất tốt để rèn luyện đức tính kiện trì, tự học, vượt khó, cẩn thận chu đáo, yêu thích sự chặt chẽ, chính xác…
Với mong muốn đưa ra những giải pháp giúp cho học sinh có khả năng
giải tốt các bài toán của chương trình lớp 4, giúp các em có thể làm được tất cả các bài tập
và nhận dạng được các dạng của các bài toán có lời văn để giải bài toán được nhanh và
chính xác nên tôi đã mạnh dạn đặt vấn đề và thực hiện sáng kiến: “Giúp học sinh lớp 4 giải toán có lời văn”.
2 Nhiệm vụ của sáng kiến
Nhằm rèn luyện kĩ năng thực hành giải các bài toán có lời văn phù hợp với chương trình học tập môn Toán ở lớp 4 hiện nay
Mục đích của sáng kiến là nghiên cứu thực trạng vấn đề và đưa ra các giải pháp giúp cho học sinh có khả năng nhận dạng tốt các bài toán có lời văn
Trang 2Đưa ra phương pháp và giúp học sinh hiểu rõ các bước giải và trình bày giải các dạng bài thường thấy ở sách giáo khoa lớp 4
Cần hướng học sinh vào những từ quan trọng của đề toán và phải tìm hiểu ý nghĩa của nó để học sinh tập tung suy nghĩ vào đề toán
Cần giúp học sinh phân biệt rõ những gì thuộc về bản chất của đề toán, những gì không thuộc về bản chất của đề toán để hướng sự chú ý của học sinh vào đề toán
Cần giúp học sinh phân tích bài toán để tìm cách giải phù hợp và đúng các bước và trình bày bài giải một cách khoa học
Giúp giáo viên trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, bồi dưỡng năng lực sư phạm cho bản thân để tiếp tục giảng dạy phần kiến thức này được tốt hơn
3 Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu tài liệu, giáo trình liên quan đến
giải toán có lời văn ở Tiểu học và đặc biệt là lớp 4
Phương pháp điều tra: Cùng các đồng nghiệp trao đổi về những khó khăn sai sót
khi dạy giải toán
Phương pháp thực nghiêm sư phạm: Xây dựng tiết học thử nghiệm và đối chứng
để rút ra bài học về phương pháp
Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm: Tìm hiểu kết quả các lớp học sinh trước,
phát hiện những mặt mạnh, mặt yếu để đưa ra giải pháp khắc phục
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
* Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 4D
Dạy - học nội dung thực hiện trong giảng dạy phân môn toán về giải toán có lời
văn ở tất cả các dạng bài toán có lời văn trong các tiết học
* Phạm vi nghiên cứu: Các dạng toán có lời văn của học sinh lớp 4 từ đầu năm học
2015-2016 đến hết năm học 2015-2016
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Cơ sở lí luận:
Lớp 4 là lớp đầu tiên của giai đoạn quan trọng hoàn thành chương trình phổ cập tiểu học cho trẻ em, tạo cơ sở cho các em tiếp tục học lên trung học vừa chuẩn bị kiến thức
kĩ năng cần thiết để các em có thể bước vào cuộc sống lao động
Ở lớp 4, dạng toán có lời văn được dạy với các dạng bài khác nhau
Mỗi đề toán đều là bức tranh nhỏ của cuộc sống Khi giải mỗi bài toán, Học sinh phải biết rút ra bức tranh ấy cái bản chất toán học của nó, phải biết lựa chọn những phép tính thích hợp, biết là đúng các phép tính đó, biết đặt lời giải chính xác…Vì thế quá trình
Trang 3giải toán sẽ giúp học sinh rèn luyện khả năng quan sát và giải quyết các biện pháp của toán học
Việc giải toán sẽ giúp phát triển trí thông minh, óc sáng tạo và thói quen làm việc một cách khoa học cho học sinh Vì khi giải toán học sinh phải biết tập trung chú ý vào cái bản chất của đề toán, biết gạt bỏ cái đã cho và cái phải tìm, phải biết phân tích để tìm ra mối liên hệ giữa các số liệu…Nhờ đó mà đầu óc các em sẽ sáng suốt hơn, tinh tế hơn Tư duy của các em sẽ linh hoạt, chính xác hơn, cách suy nghĩ và làm việc của các em sẽ khoa học hơn…
Tôi tin rằng đề tài này nếu được áp dụng và vận dụng hợp lý sẽ đem lại hiệu quả cao cho dạng toán có lời văn, góp phần nâng cao chất lượng môn Toán lớp 4
2 Cơ sở thực tiễn
Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy học sinh thường mắc phải một số khó khăn sau:
Sai khi hiểu lầm, hiểu sai các khái niệm toán học
Có những học sinh biết cách giải và trình bày bài giải song khi đến kết quả và đáp
số thì lại sai
Có lức thì các em chưa biết viết câu lời giải ngắn gọn và đúng theo yêu cầu của bài
Có những học sinh đọc bài toán nhưng chưa biết phân tích bài toán để đưa ra cách giải phù hợp
Rồi thỉnh thoảng có những em quên dấu ngoặc ở phần danh số
Có những em giải bài toán 2 bước tính thì lại giải gộp
Việc vận dụng phương pháp cải tiến, việc hướng dẫn giải toán có lời văn là nhiệm
vụ của người giáo viên trong nhà trường Tiểu học Nhưng không phải giáo viên nào cũng thực hiện thành công Muốn thành công mỗi giáo viên Tiểu học phải tinh thông về chuyên môn, có kiến thức vững vàng để vận dụng đa dạng hóa phương pháp, phải biết sáng tạo, đổi mới cách dạy, cách rèn cho học sinh đạt được chất lượng cao nhất
*Tóm lại: Tất cả những yếu tố, những cơ sở trên đều tham gia tích cực vào quá
trình giảng dạy và mang lại hiệu quả tốt cho việc giải toán có lời văn lớp 4
3 Đánh giá thực trạng
3.1 Thực trạng của học sinh
Năm học 2014-2015 tôi được phân công phụ trách lớp 4D với 22 học sinh Hầu hết 22 học sinh của lớp 4D tôi chủ nhiệm còn rất hạn chế khi làm Toán có lời văn Sau khi nghiên cứu sách giáo khoa Toán 3, tôi nhận thấy học sinh lớp 3 đã được học những bài Toán được giải bằng 2 bước tính nhưng hầu hết khi gặp Toán dạng này các em đều lúng túng Rất ít em là giải được, số học sinh giải được chiếm 23,7% số học sinh của lớp Còn lại là các em vẫn lơ mơ không nắm dõ các bước giải hay các dạng Toán để có những bước giải đúng
3.2 Hạn chế của học sinh
Có lúc học sinh viết câu lời giải dài dòng, có lúc lại thiếu
Có khi các bước giải thì đúng nhưng đến kết quả và đáp số thì lại sai
Trang 4Thỉnh thoảng có học sinh quên dấu ngoặc ở phần danh số.
Học sinh thấy lúng túng khi tóm tắt không biết tóm tắt theo sơ đồ hay tóm tắt bằng lời
Bài giải làm theo 2 bước đôi khi học sinh còn làm gộp một bước tính
Có những học sinh đọc song bài toán không biết bài toán thuộc dạng toán đã học nào để giải cho đúng các bước
Có những học sinh không biết phân tích bài toán
3.3 Nguyên nhân của thực trạng
Đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng chất lượng giải toán có lời văn của học sinh không đạt yêu cầu? Qua quá trình giảng dạy lớp 4, tôi nhận thấy học sinh học yếu giải toán có lời văn là do nhiều nguyên nhân:
Theo tôi có các nguyên nhân như sau:
Các em chưa xác định rõ yêu cầu của đề bài
Các em chưa biết phân tích đề bài
Khả năng giao tiếp còn hạn chế dẫn đến việc hình thành kỹ năng giải toán có lời văn còn yếu
Kĩ năng đọc hiểu của các em còn hạn chế dẫn đến việc đọc và hiểu nội dung bài toán còn gặp nhiều khó khăn
Các em chưa nắm dõ được các dạng toán để có các bước giải đúng
Có những em đọc đánh vần nên khả năng phân tích nội dung bài toán còn khó khăn
Các em chưa hiểu kĩ về yêu cầu của bài toán nên các em không hiểu những lô gic của bài toán
Tất cả những nguyên nhân trên đều do trách nhiệm của người giáo viên chưa phát huy được tính tích cực, tự học của học sinh và chưa sát sao với học sinh
Chính vì những khó khăn này nên tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp giúp học sinh lớp 4 cách để giải bài toán có lời văn được tốt hơn
4 Biện pháp tiến hành
Xuất phát từ thực trạng và nguyên nhân trên, đồng thời thấy rõ vai trò, nhiệm vụ của một giáo viên đang đứng trên bục giảng, tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp sau đây,
hy vọng sẽ nâng cao được chất lượng của các dạng toán có lời văn ở lớp 4
Giáo viên phải nắm vững nội dung, chương trình và phương pháp dạy.
Dạy như thế nào để học sinh học tốt toán có lời văn Điều cơ bản là người dạy phải nắm vững nội dung chương trình, đồng thời biết chọn và vận dụng phương pháp phù hợp để truyền thụ kiến thức cho học sinh Biết được học sinh cần gì, chưa biết những gì để xác định đúng mục tiêu bài dạy, xác lập được mối quan hệ giữa kiến thức bài dạy với kiến thức cũ và kiến thức sẽ cung cấp tiếp theo
Trang 5Nội dung chương trình: Những bài toán có lời văn được xuyên suốt ở tât cả các bài học trong từng tiết học của môn học trong năm học với các dạng bài sau:
a Dạng bài tìm số trung bình cộng :
* Ở dạng bài này tôi thấy học sinh thường mắc phải các lỗi sau:
Các em còn lúng túng khi tóm tắt bằng sơ đồ
Các em còn chưa nắm được cách giải toán lúc thì chia cho 2, lúc thì chia cho 3… Vài học sinh thì dựa vào từ trung bình để nhận dạng bài toán
Tại sao trong câu hỏi không phải là tìm số trung bình cộng mà vẫn thuộc dạng trung bình cộng
* Từ những thắc mắc trên nên tôi đưa ra giải pháp để giúp các em nắm được các cách
giải bài toán thuộc dạng này như sau:
Giáo viên hướng dẫn học sinh biết cách tính số trung bình cộng của nhiều số Tính bằng cách : ta tính tổng của các số đó rồi chia các tổng đó cho số các số hạng
a 1 Cách giải của bài toán cơ bản ” Tìm trung bình cộng”.
Bước 1 Liệt kê các số hạng đã cho, nêu ra số số hạng
Bước 2 Tìm tổng của các số hạng: Số hạng 1 + số hạng 2 + số hạng 3…
Bước 3: Tìm số trung bình cộng Lấy tổng chia cho số hạng
Ví dụ: bài 2 – SGK (trang 27)
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài
Hướng dẫn học sinh phân tích đề toán để các em biết được số cân nặng của 4 bạn : Mai , Hoa , Hưng , Thịnh lần lượt là : 36kg , 38kg , 40kg , 34kg ,và tính được cân nặng của mỗi bạn
Bước 1: Liệt kê các số hạng đã cho, nêu ra số số hạng
36kg 38kg 40kg 34kg
? kg ? kg ? kg ? kg
Bước 2: Cả bốn bạn cân nặng là:
36 + 38 + 40 + 34 = 148(kg)
Bước 3: Trung bình mỗi bạn cân nặng là:
148 : 4 = 37 (kg)
Đáp số: 37 kg
a.2 Cách giải bài toán dạng” tìm 1 số hạng khi đã biết số TBC và một số
hạng”
Bước 1.: Xác định số số hạng; xác định số TBC đã biết
Bước 2 Tính tổng của các số hạng bằng cách lấy số TBC nhân với số số hạng Bước 3: Dựa vào các điều kiện đã cho để xác định số hạng còn lại theo yêu cầu đề bài
Trang 6Ví dụ: Tuổi TB của cô giáo chủ nhiệm và 33 học sinh trong lớp 4A là 12 Nếu
không kể cô giáo chủ nhiệm thì tuổi TB của 33 học sinh trong lớp 4A là 11 tuổi Tính tuổi
cô giáo?
Bài giải
Bước 1: Vì lớp có 33 học sinh; nếu tính cả cô giá thì có số người là:
33 + 1 = 34( người)
Bước 2: Tổng số tuổi của 34 người trong lớp là:
12 x 34 = 408 (tuổi)
Bước 3: Nếu không tính tuổi cô giáo thì tổng số tuổi của 33 học sinh trong lớp là:
11 x 33 = 363(tuổi)
Tuổi của cô giáo là:
408 – 363 = 45( tuổi)
Đáp số: 45( tuổi)
a.3 Cách giải bài toán dạng: “ Tìm số TBC và tính một số hạng ; biết một số số hạng và mối quan hệ giữa số hạng cần tìm với số TBC”.
Bước 1 Xác định các số hạng đã cho(a1, a2, a3…)
Bước 2 Tính số TBC bằng cách:
Tính tổng các số hạng đã biết: số hạng 1 + số hạng 2 + số hạng 3…
Thêm (hoặc bớt) a đơn vị vào tổng tìm được
Chia tổng đó cho số số hạng đã biết
Bước 3 Tìm số hạng còn lại bằng cách: Lấy số TBC rồi cộng (hoặc trừ) với a
Chẳng hạn:
Ví dụ: Có 3 tổ trồng cây, tổ 1 trồng được 6 cây, tổ 2 trồng được ít hơn tổ 1 là 2 cây
Tổ 3 trồng được nhiều hơn số TBC của cả 3 tổ là 4 cây Hỏi trung bình mỗi tổ đã trồng được bao nhiêu cây và số cây tổ 3 đã trồng được?
Bài giải
Bước 1: Tổ 2 trồng được số cây là:
6 – 2 = 4 ( cây)
Bước 2: Vì tổ 3 trồng nhiề hơn số TBC của cả ba tổ là 4 cây suy ra tổ 3 đã bù 4
cây cho 2 tổ còn lại thì các tổ mới đạt số cây trung bình
Sối cây trung bình mỗi tổ trồng được là:
( 6 + 4 + 4) : 2 = 7( cây)
Bước 3: Vậy số cây mà tổ 3 đã trồng được là:
7 + 4 = 11( cây)
Đáp số: 7 cây
11 cây
b Dạng toán tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó:
* Dạng này học sinh thường hay mắc các lỗi sau:
Có những học sinh vẫn cứng nhắc về cách giải
Có những em không nắm được cách vẽ sơ đồ
Có những em không nhận dạng được dạng toán
Trang 7* Tôi đưa ra một số giải pháp để giải quyết thắc mắc trên như sau:
Hướng dẫn học sinh đọc kĩ bài toán và phân tích bài toán để tìm ra xem bài toán thuộc dạng gì
Hướng dẫn học sinh cách vẽ sơ đồ bằng cách phân tích đề bài
Giúp học sinh giải theo cách nào cũng được tuy nhiên phải theo đề bài đã cho
Ví dụ : bài 2 – SGK ( trang 48)
Học sinh đọc đề toán
Hướng dẫn học sinh phân tích đề toán bằng hệ thống câu hỏi
Bài toán thuộc dạng toán gì? ( Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó)
Bài toán cho biết gì ? ( biết tuổi của chị và tuổi của em là 36, em kém chị 8 tuổi) Bài toán hỏi gì ? ( Hỏi chị bao nhiêu tuổi , em bao nhiêu tuổi)
Tóm tắt bài toán:
? tuổi
Tuổi chị:
8 tuổi 36 tuổi
Tuổi em:
? tuổi
- Giải bài toán
Bài giải
Hai lần tuổi chị là:
36 + 8 = 44 (tuổi)
Tuổi chị là:
44 : 2 = 22 ( tuổi)
Tuổi em là:
36 – 22 = 14 (tuổi)
Đáp số : chị: 22 tuổi
em: 14 tuổi
c Dạng toán: Tìm phân số của một số :
* Học sinh gặp những khó khăn sau:
Sai khi các em thực hiện phép tính, các em còn nhầm lẫn
* Giải pháp
Giúp các em đọc kĩ bài toán và phân tích bài toán để nắm được xem cần thực hiện phép tính như thế nào
Ví dụ: bài 2 – SGK (trang 135)
Học sinh đọc bài toán
Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán để các em biết được lớp học có 35 học sinh , trong đó số học sinh xếp loại khá là 3
5để từ đó các em biết cách tính và tính được số học sinh xếp loại khá
Bài giải
Số học sinh xếp loại khá của lớp đó là:
Trang 85
x ( học sinh )
Đáp số : 21 học sinh
d Dạng toán tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó :
* Học sinh thường mắc các lỗi sau:
Còn lúng túng khi vẽ sơ đồ
Có dạng gấp đôi thì các em sẽ không nghĩ đấy là bài toán dạng này
Học sinh còn lúng túng khi nhận dạng bài toán
* Giải pháp
Giáo viên hướng dẫn HS biết cách xác định được khi tóm tắt bài toán cần biết được đâu là hiệu , đâu là tỉ số
Phương pháp cho dạng toán này : coi số bé là một phần , xem số lớn mấy phần rồi tính hiệu các phần đó
Lấy hiệu đã cho chia cho hiệu số phần để tính giá trị của một phần
Tìm số bé, số lớn
Ví dụ : Bài 2 – SGK – trang 151
Mẹ hơn con 25 tuổi Tuổi con bằng 2
7 tuổi mẹ Tính tuổi của mỗi người ?
Ở bài toán này ta phải dùng vốn thực tế để suy luận:
Số tuổi mẹ ứng với số lớn
Số tuổi con ứng với số bé
Mẹ hơn con 25 tuổi, suy ra hiệu giữa tuổi mẹ và tuổi con là 25
Tuổi con bằng 2
7 tuổi mẹ , suy ra tỉ số của tuổi con và tuổi mẹ là 2
7
Từ đó nhìn thấy dạng bài toán cơ bản
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài
Hướng dẫn phân tích : Theo đầu bài , ta biết hiệu số tuổi của hai mẹ con là 25
tuổi.Tuổi con bằng 2
7 tuổi mẹ, có nghĩa là tuổi con được chia làm hai phần bằng nhau thì tuổi mẹ được chia làm 7 phần bằng nhau
Hướng dẫn tóm tắt bài toán
Ta có sơ đồ sau :
? tuổi
Tuổi con : 25 tuổi
Tuổi mẹ :
? tuổi
Hướng dẫn giải bài toán :
Trang 9Theo sơ đồ , hiệu số phần bằng nhau là :
7 – 5 = 2 ( phần )
Tuổi của con là :
25 : 5 x 2 = 10 ( tuổi )
Tuổi của mẹ là :
10 + 25 = 35 ( tuổi )
Đáp số : Con : 10 tuổi
Mẹ : 35 tuổi
e Dạng toán : Tính chu vi , diện tích một số hình đã học :
* Khó khăn của học sinh khi gặp dạng toán này :
- Học sinh còn chưa nhớ được công thức tính của các hình
- Phần danh số còn viết sai
- Không biết vẽ hình cho cân đối
* Giải pháp :
Dạng toán này giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt bằng ký hiệu toán học : cách tóm tắt này thường ngắn gọn, xúc tích, được áp dụng với các bài toán có liên quan đến các công thức cơ bản mà học sinh phải nhớ được các ký hiệu của từng đại lượng Song ở môn toán lớp 4 thường là các ký hiệu đối với bài toán về hình học
S : diện tích
P : chu vi
h : chiều cao
a : độ dài đáy
Ví dụ: Một mảnh đất trồng hoa hình bình hành có độ dài đáy 40 dm, chiều cao 25
dm Tính diện tích mảnh vườn đó
Đối với bài toán trên học sinh có thể tóm tắt như sau :
Hình bình hành có : a : 40 dm
h : 25 dm
S : … dm2 ?
Sau khi tóm tắt được bài toán nêu trên , học sinh sẽ tính được diện tích của hình bình hành theo công thức :
S = a x h
Giáo viên phải rèn cho học sinh kỹ năng phân tích, suy luận trên sự tóm tắt bài toán để xác lập các phép tính sao cho phù hợp, cụ thể người giáo viên phải nêu ra hệ thống câu hỏi như: tìm số đó bằng cách nào ? làm phép tính gì ? làm thế nào để tìm được ?
Lời giải trước mỗi phép tính thường là những câu ngắn gọn , sát với nội dung phép tính sắp trình bày
Ví dụ : Bài 2 – SGK – trang 85
Bài giải
Đổi 1 giờ 12 phút = 72 phút
Trung bình mỗi phút máy bơm đó bơm được số lít nước là:
Trang 1097200 : 72 = 1350(l)
Đáp số: 1350 l
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh tự kiểm tra lại kết quả của bài toán bằng cách hướng dẫn các em nhìn vào yêu cầu của bài toán và sự liên quan giữa các đại lượng, yếu
tố, kết quả đã phù hợp với các điều kiện mà bài toán đưa ra chưa ? các phép tính trong bài
đã chính xác chưa ?
5 Kết quả đạt được:
Sau một thời gian áp dụng , nhờ sự kiên trì phấn đấu không ngừng của các em học sinh cùng với sự quan tâm chỉ đạo của giáo viên, các em đã nhận dạng và giải được các dạng toán trên một cách tích cực, thành thạo và đã thu được kết quả như sau :
Tổng số
* Để đạt được kết quả trên, đòi hỏi giáo viên phải :
Sử dụng tình huống linh hoạt, sử dụng nhiều phương pháp để gây hứng thú học tập cho học sinh, rèn luyện nhiều cách giải toấn dạng toán có lời văn điển hình
Khi hướng dẫn học sinh giải bài toán phải sử dụng câu hỏi phù hợp , đúng trọng tâm, ngắn gọn, dễ hiểu
III KẾT LUẬN CHUNG VÀ ĐỀ XUẤT
* Kiến nghị
Dựa vào cơ sở lý luận, thực tiễn và thực trạng, kết quả của lớp 4D tôi vận dung sáng kiến vào quá trình giảng dạy ở trường Tiểu học Langx Sơn Tôi đã rút ra được bài học kinh nghiệm quý báu của bản thân tôi và tôi cũng mạnh dạn đưa ra để các bạn đồng nghiệp cùng tham khảo và vận dụng Đặc biệt là trường Tiểu học Lãng Sơn
Một số bài học cần chú trọng :
Giáo viên phải nắm vững mục tiêu của kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh Việc áp dụng vào thực tế cũng gây nhiều khó khăn khác nhau Vì vậy, phải có lòng kiên trì, yêu nghề, thực sự thương yêu học sinh để các em vượt qua khó khăn về giải toán
có lời văn Tôi mạnh dạn trao đổi với đồng nghiệp, lãnh đạo nhà trường tạo mọi điều kiện
có ở địa phương, nhà trường để tực hiện đạt kết quả cao nhất
Kết hợp với phụ huynh để cùng có trách nhiệm tạo điều kiện cho việc học tập của học sinh
Đặc biệt, thực hiện đúng quy chế, đúng chương trình quy định
Để đạt được yêu cầu đó giáo viên phải tiếp tục học tập, tìm tòi, sáng tạo, trau dồi vốn sống
kinh nghiệm để giảng dạy tốt hơn
Luôn luôn thực hiện đổi mới các phương pháp dạy học để phù hợp với thực tiễn và đối
tượng học sinh