NCS đã vận dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành của nhân học văn hóa, khoa học phát triển, xã hội học, văn hóa dân gian trong quá trình nghiên cứu về văn hóa truyền thống, mối quan hệ
Trang 1VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Dương Tuấn Nghĩa
TRI THỨC DÂN GIAN TRONG KHAI THÁC
VÀ BẢO VỆ RỪNG CỦA NGƯỜI HÀ NHÌ ĐEN
Ở HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Dương Tuấn Nghĩa
TRI THỨC DÂN GIAN TRONG KHAI THÁC
VÀ BẢO VỆ RỪNG CỦA NGƯỜI HÀ NHÌ ĐEN
Ở HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI
Chuyên ngành: Văn hóa dân gian
Mã số: 62 22 01 30
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS.TS Nguyễn Thị Hiền
2 TS Phạm Thị Thu Hương
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu, kết quả và trích dẫn trong luận án đều được ghi nguồn chính xác, đầy đủ Các kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Tác giả
Dương Tuấn Nghia
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ 4
MỞ ĐẦU 5
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN 12
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 12
1.2 Cơ sở lý luận 25
Tiểu kết 39
Chương 2 ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, NGƯỜI HÀ NHÌ ĐEN VÀ TRI THỨC DÂN GIAN TRONG KHAI THÁC RỪNG 40
2.1 Địa bàn nghiên cứu và tài nguyên rừng nơi người Hà Nhì Đen cư trú 40
2.2 Khái quát về người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai 43
2.3 Rừng với đời sống của người Hà Nhì Đen 48
2.4 Rừng với tri thức dân gian trong khai thác tài nguyên rừng 54
Tiểu kết 77
Chương 3 TRI THỨC DÂN GIAN TRONG BẢO VỆ RỪNG 79
3.1 Quan niệm về rừng thiêng với vấn đề bảo vệ rừng 79
3.2 Nghi lễ thiêng với vấn đề bảo vệ rừng 91
3.3 Luật tục trong bảo vệ rừng 97
3.4 Dư luận thôn bản với vấn đề bảo vệ rừng 110
3.5 So sánh quan điểm về rừng của người Hmông, người Dao 112
Tiểu kết 116
Chương 4 TRI THỨC DÂN GIAN VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 119
4.1 Sự biến đổi và những vấn đề đặt ra của tri thức dân gian 119
4.2 Tri thức dân gian với các dự án phát triển kinh tế rừng 126
4.3 Tri thức dân gian trong phát triển môi trường sinh thái bền vững 130
4.4 Bảo vệ và phát huy tri thức dân gian trong phát triển bền vững 133
4.5 Định hướng xây dựng Quy ước mới và dư luận xã hội 141
Tiểu kết 142
KẾT LUẬN 144
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 149
TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
PHỤ LỤC 168
Trang 6DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng Tổng hợp diện tích rừng cấm, rừng tự nhiên do các thôn quản lý 115
Sơ đồ 4 Mối quan hệ giữa 3 cơ chế trong quản lý rừng 79
Trang 7Hệ sinh thái rừng bị ảnh hưởng là một trong những nguyên nhân khiến cho thiên tai liên tục xảy ra với sức công phá ngày càng lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến con người và tài sản của nhân dân các khu vực vùng núi cao của tỉnh Lào Cai
Trong gần 10 năm qua, thiên tai cướp đi nhiều sinh mạng và của cải vật chất của người dân Nhiều thôn bản của người Dao, người Giáy, người Hmông bị lũ quét, sạt lở đất, vùi lấp ruộng nương, hoa màu, thậm chí một số thôn bị xóa sổ hoàn toàn như thôn Sủng Hoảng (xã Phìn Ngan), thôn Tùng Chỉn I (xã Trịnh Tường) Qua số liệu thống kê về bão lũ và sạt lở đất của huyện Bát Xát từ năm 2008 đến năm 2017, lũ ống, lũ quét và sạt lở đất làm chết và bị thương gần 60 người, hàng trăm hecta đất ở
và đất canh tác bị vùi lấp Trong đó, điển hình là trận lũ lịch sử xảy ra vào tháng 8/2008 tại thôn Tùng Chỉnh I, xã Trịnh Tường làm hơn 20 người chết và mất tích, bị thương 9 người chủ yếu là người Dao Vào tháng 8/2010, một trận lũ quét lịch sử xảy
ra tại thôn Cửa Cải, xã Mường Vi, mặc dù chỉ có 1 người bị chết, 4 người bị thương, nhưng lũ quét đã tàn phá các thôn bản của người Giáy, vùi lấp hơn 40 ha đất trồng lúa, nhiều nhà bị cuốn trôi, đường giao thông bị phá hủy Trận mưa lũ tháng 8/2016
đã quét qua xã Cốc San, Tòng Sành, Quang Kim, Phìn Ngan của huyện Bát Xát làm
13 người chết và mất tích, 5 người bị thương, 794 ngôi nhà bị hư hỏng, hơn 400 ha hoa màu, lúa bị vùi lấp, nhiều thôn bản của người Dao, Hmông, Giáy bị tàn phá Gần đây nhất là trận mưa bão số 6 vào tháng 8/2017 làm 1 người chết, 1 người mất tích, nước lũ tàn phá nhiều nhà cửa, đất canh tác, đường giao thông của các xã Trịnh Tường, Nậm Chạc, A Mú Sung, Bản Qua làm thiệt hại nhiều tỷ đồng Có thể nói, cứ sau mỗi cơn mưa bão đều xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở đất ở các mức độ khác nhau, gây thiệt hại về người và tài sản của hầu hết đồng bào các dân tộc Tuy nhiên, có một
Trang 8tộc người cùng cư trú trên dải đất ấy lại hầu như chưa bao giờ phải gánh chịu những thiệt hai do thiên tai gây ra, đó là cộng đồng người Hà Nhì Đen cư trú ở các xã Y Tý, Nậm Pung, A Lù, Trịnh Tường, A Mú Sung của huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
Tại sao lại có hiện tượng như vậy? Khu vực cư trú của người Hà Nhì Đen có gì đặc biệt? Các thôn bản của họ có khác gì so với các thôn bản của các dân tộc anh em khác? Tri thức dân gian trong bảo vệ và khai thác rừng có vai trò như thế nào trong hiện tượng ấy?
Và trong phát triển bền vững môi trường sinh thái rừng? Câu hỏi đặt ra là “Nếu tri thức dân gian được sử dụng một cách hiệu quả có thể giảm thiểu được những tai họa của thiên tai gây ra” ?
Nhận thấy đây là một vấn đề quan trọng, NCS chọn đề tài Tri thức dân gian
trong khai thác và bảo vệ rừng của người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai để làm đề tài cho luận án Tiến sĩ Đề tài sẽ từng bước nghiên cứu, phân tích tri
thức dân gian của người Hà Nhì Đen trong việc bảo vệ môi trường sinh thái nói chung, trong khai thác và bảo vệ rừng theo hướng bền vững
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, phân tích vai trò tri thức dân gian của cộng đồng trong các dự án phát triển, góp phần làm tăng tính thực tiễn và hiệu quả của các dự án
- Từ nghiên cứu tri thức dân gian trong khai thác và bảo vệ rừng, luận án bàn luận về các vấn đề bảo vệ và phát huy tri thức dân gian về bảo vệ rừng với vấn đề phát triển bền vững
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, phân tích tri thức dân gian trong khai thác tài nguyên rừng của người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
Trang 9- Nghiên cứu, phân tích tri thức dân gian trong bảo vệ rừng của người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Đặc biệt đi sâu nghiên cứu, phân tích về cơ chế thiêng hóa rừng; luật tục thực hiện hóa tri thức dân gian; xây dựng lực lượng thực thi các quy định của luật tục và thực hiện cơ chế giám sát toàn dân
- Đánh giá vai trò của tri thức dân gian trong bảo vệ môi trường sinh thái và khai thác rừng bền vững bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng của tri thức dân gian
và sự tham gia của cộng đồng địa phương trong các dự án phát triển rừng
- Nghiên cứu, phân tích sự biến đổi của tri thức dân gian nhằm nâng cao nhận thức, trao truyền và phát huy tri thức dân gian trong khai thác, bảo vệ rừng hiện nay hướng tới phát triển bền vững
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tri thức dân gian trong khai thác và bảo vệ rừng của người Hà Nhì Đen ở hai xã Y Tý và Nậm Pung của huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung nghiên cứu Luận án tập trung nghiên cứu, phân tích về tri thức dân
gian trong khai thác, bảo vệ rừng của người Hà Nhì Đen và các vấn đề liên quan
Về không gian nghiên cứu: Luận án lựa chọn 2 địa điểm tiến hành khảo sát,
nghiên cứu là 2 xã Y Tý và Nậm Pung của huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Đây là hai địa bàn có tổng diện tích rừng lớn (chiếm 16,62% diện tích rừng tự nhiên của toàn huyện Bát Xát), là hai xã có số người tập trung đông với 3.112 người/4.347 người
Hà Nhì Đen trong toàn huyện Bát Xát (chiếm 71,58%) Đây là vùng đất có lịch sử hình thành từ lâu đời và cũng là nơi có diện tích rừng nguyên sinh lớn nhất huyện
Về thời gian nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu, phân tích tri thức
dân gian của người Hà Nhì Đen trong khai thác và bảo vệ rừng truyền thống và từ sau thời kỳ đổi mới (1986) đến nay Đó cũng là thời điểm có nhiều chính sách về bảo vệ rừng, phát triển rừng trong công cuộc đổi mới của Chính phủ được ban hành
và thực hiện
4 Câu hỏi nghiên cứu
- Rừng có vai trò như thế nào trong đời sống của người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai?
Trang 10- Tri thức dân gian được người Hà Nhì Đen vận dụng như thế nào trong khai thác và bảo vệ rừng bền vững?
- Làm thế nào để duy trì và phát huy tốt các giá trị của tri thức dân gian trong khai thác, bảo vệ rừng trong phát triển bền vững hiện nay?
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu định tính: Để thu thập các thông tin, dữ liệu, tài
liệu sơ cấp được người dân bảo lưu bằng trí nhớ, bằng truyền khẩu và thực hành xã hội, NCS đã tiến hành điền dã và thực hiện các thao tác sau:
+ Quan sát tham dự: Từ năm 2011 đến tháng 9/2017, NCS đã thực hiện hơn 20
chuyến nghiên cứu điền dã tại các địa bàn tập trung đông người Hà Nhì Đen, nơi có diện tích rừng tự nhiên lớn của huyện Bát Xát là các thôn của xã Nậm Pung, xã Y Tý Trong đó, NCS lựa chọn tập trung nghiên cứu ở các thôn Lao Chải 1,2,3, thôn Choản Thèn, Mò Phú Chải, Ngải Chồ, Sim San và Sín Chải 1 của xã Y Tý; thôn Kin Chu Phìn 1,2 của xã Nậm Pung Qua các chuyến điền dã, NCS quan sát, tìm hiểu mọi hoạt động kinh tế, văn hóa, các mối quan hệ ứng xử của người Hà Nhì Đen với rừng NCS thực hiện việc điền dã đủ chu kỳ 12 tháng nhằm tập trung quan sát tham dự, sưu tầm, ghi chép tư liệu liên quan đến khai thác và bảo vệ rừng
+ Phỏng vấn sâu, phỏng vấn hồi cố: Để khai thác thông tin từ các cá nhân,
nhóm người khác nhau, NCS tiến hành phỏng vấn những nghệ nhân, già làng, trưởng bản, thầy cúng và những người có uy tín khác đã được lựa chọn và theo phương pháp “bông tuyết lăn”, từ người này giới thiệu người khác theo nội dung cần tìm hiểu Thời gian thực hiện điền dã, phỏng vấn thường được thực hiện vào các vào khoảng thời gian từ cuối tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau Đây là thời gian nhàn rỗi nhất của người Hà Nhì Đen, vì mùa thu hoạch lúa nương, lúa trên ruộng bậc thang và hoa màu đã xong Để thực hiện phương pháp này, NCS thực hiện “ba cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc) với người dân NCS dành nhiều thời gian nói chuyện với những người am hiểu về phong tục tập quán, tri thức dân gian về khai thác và bảo vệ rừng, về lịch sử dòng tộc, về các nghi lễ truyền thống
+ Thảo luận nhóm: Đối với một số vấn đề quan trọng hoặc vấn đề người
dân chưa thống nhất, NCS tiến hành một số cuộc thảo luận nhóm để tìm được sự
Trang 11đánh giá thống nhất chung của cộng đồng, nhất là vấn đề đánh giá về các dự án, vai trò của các khu rừng thiêng, về quy ước xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư
- Phương pháp nghiên cứu so sánh: Nghiên cứu, phân tích và so sánh sự
biến đổi của tri thức dân gian trong khai thác và bảo vệ rừng từ trước và sau thời kỳ đổi mới đến nay Luận án cũng so sánh những nhận thức và hành vi ứng xử của người Hà Nhì Đen với môi trường sinh thái trong mối quan hệ với các cộng đồng người Dao, Hmông trong địa bàn nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Khi phân tích, đánh giá sự biến đổi
của tri thức dân gian trong khai thác và bảo vệ rừng của người Hà Nhì Đen NCS đã vận dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành của nhân học văn hóa, khoa học phát triển, xã hội học, văn hóa dân gian trong quá trình nghiên cứu về văn hóa truyền thống, mối quan hệ giữa tri thức dân gian với phát triển bền vững, giữa văn hóa dân gian người Hà Nhì Đen với môi trường sinh thái
- Phương pháp sưu tầm, phân tích tư liệu thứ cấp: NCS sưu tầm và chọn
lọc các tài liệu bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Trung Quốc liên quan đến người
Hà Nhì Đen, tri thức dân gian về phát triển bền vững rừng Các báo cáo về văn hóa,
xã hội, kinh tế của xã Y Tý, Nậm Pung, các Dự án được lưu trữ tại huyện Bát Xát
để làm rõ hơn về lịch sử và các vấn đề liên quan đến rừng của người Hà Nhì Đen
- Khung phân tích trong nghiên cứu của luận án (sơ đồ 1):
Khung phân tích của luận án được thực hiện trên cơ sở 4 quan điểm tiếp cận chính là tri thức dân gian, sinh thái văn hóa, Quan điểm chủ thể và chỉnh thể luận phát triển bền vững Từ 4 quan điểm này tiến hành nghiên cứu, phân tích về tri thức dân gian trong khai thác và bảo vệ rừng của người Hà Nhì Đen từ nghiên cứu khái niệm, bản chất của tri thức dân gian; nghiên cứu tri thức dân gian với khai thác rừng
ở một số tộc người láng giềng; nghiên cứu về người Hà Nhì Đen và tri thức dân gian người Hà Nhì trên thế giới và Việt Nam của các tác giả đi trước; nghiên cứu quan hệ của tri thức dân gian với phát triển bền vững rừng Từ các phương án tiếp cận ấy tiến hành nghiên cứu về tri thức dân gian trong khai thác, bảo vệ rừng của người Hà Nhì Đen
Trang 12
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án nghiên cứu, phân tích tri thức dân gian trong khai thác và bảo vệ rừng trong mối quan hệ với phát triển bền vững là một hướng nghiên cứu cập nhật của ngành văn hóa dân gian đương đại trên thế giới Trong đó, thay vì sưu tầm, phân tích các câu chuyện dân gian, truyền thuyết, thần thoại, nghệ thuật dân gian, v.v., luận án đã hướng tới tập trung vào chính con người, cuộc sống của họ, tri thức dân gian của họ trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên
Tri thức dân gian trong khai thác và bảo vệ rừng của người Hà Nhì Đen huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
TTDG trong bảo vệ rừng của người
Trang 13Từ góc độ văn hóa dân gian và liên ngành, luận án sẽ từng bước phân tích các khía cạnh tri thức dân gian với việc bảo vệ và khai thác rừng của người Hà Nhì Đen, qua đó đóng góp một phần nghiên cứu về mối quan hệ văn hóa tộc người với môi trường tự nhiên
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án là một công trình nghiên cứu có những đóng góp trong thực tiễn nghiên cứu, đào tạo Kết quả của luận án như là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu về tri thức dân gian, môi trường sinh thái, và việc sử dụng tri thức dân gian trong khai thác và bảo vệ rừng theo hướng bền vững Đặc biệt trong bối cảnh có nhiều biến động về khí hậu và những tác động tiêu cực do các hoạt động khác thác rừng, những đúc kết của luận án sẽ phần như là một hồi chuông cảnh tỉnh trong việc hủy hoại môi trường sống và những hậu quả tàn khốc của quá trình biến đổi khí hậu Dựa trên khung nhận thức luận về văn hóa dân gian và phát triển bền vững, luận án đề cao vai trò của tri thức người Hà Nhì Đen trong khai thác và bảo vệ rừng là một trường hợp nghiên cứu cụ thể, từ đó nhằm đưa ra những quan điểm mang tính khái quát hơn trong các chiến lược, quyết sách và dự án phát triển bền vững
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu (7 trang), kết luận (5 trang), tài liệu tham khảo (17 trang) và phụ lục (70 trang), nội dung Luận án bao gồm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận (28 trang);
Chương 2 Địa bàn nghiên cứu, người Hà Nhì Đen và tri thức dân gian trong khai thác rừng (39 trang);
Chương 3 Tri thức dân gian trong bảo vệ rừng (40 trang);
Chương 4 Tri thức dân gian với phát triển bền vững (25 trang)
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Những công trình nghiên cứu trong nước
1.1.1.1 Những công trình nghiên cứu về tri thức dân gian, tri thức bản địa, tri thức địa phương
Tri thức dân gian được các nhà khoa học Việt Nam quan tâm, nghiên cứu từ những năm 70 của thế kỷ XX Tri thức dân gian trở thành đề mục nghiên cứu của một số công trình chuyên khảo về tộc người Dao của Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến [108], nghiên cứu tộc người Thái của Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng [100] Nhưng từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX tri thức dân gian mới được nghiên cứu một cách có hệ thống cả về lý thuyết và khái niệm Các nhà nhiên cứu như: Ngô Đức Thịnh [93], Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc [114], Vương Xuân Tình [90,91 ], Phạm Quang Hoan [33], Trần Hồng Hạnh [31], Nguyễn Thẩm Thu Hà [28] đã chú trọng nghiên cứu phân tích khái niệm tri thức dân gian, tri thức bản địa, tri thức địa phương Các tác giả cũng đề cập đến các thành tố của tri thức dân gian Dựa vào mối quan hệ giữa con người ứng xử với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội hoặc ứng xử với bản thân, đến các thành tố của tri thức dân gian như: Tri thức dân gian liên quan đến môi trường tự nhiên; tri thức dân gian liên quan đến môi trường xã hội; tri thức dân gian liên quan đến việc ứng
xử với bản thân con người
Một số tác giả, tiêu biểu là Hoàng Xuân Tý [115], Lê Trọng Cúc [17, 18, 19], Nguyễn Ngọc Thanh [81], Ngô Đức Thịnh [93] đã sử dụng đồng nhất khái niệm tri thức dân gian Họ phân tích các đặc điểm của văn hóa dân gian như lưu giữ bằng trí nhớ, thực hành qua kinh nghiệm, trải nghiệm, truyền dạy bằng truyền miệng và thực hành Trong khi đó, tác giả Trần Hồng Hạnh [31] đã tổng hợp các tài liệu ở nước ngoài trình bày các khái niệm về tri thức dân gian, tri thức bản địa, tri thức địa phương, tri thức truyền thống Tác giả cũng đưa ra quan điểm về cộng đồng, bối cảnh văn hóa và cách phân loại của tri thức dân gian, tri thức bản địa
Trang 15Nhiều tác giả đã vận dụng các quan điểm lý luận của ngành văn hóa dân gian, nhân học để phân tích tri thức dân gian đặc trưng của các tộc người Một số tác giả tập trung nghiên cứu tri thức dân gian của người Thái như: Công trình của Ngô Đức Thịnh - Cầm Trọng [100], Đặng Thị Oanh [58], Vũ Trường Giang [27] Một số tác giả tập trung nghiên cứu tri thức dân gian của người Dao, Hmông như nghiên cứu của Trần Hồng Hạnh [30], Nguyễn Trường Giang [23,24], Nguyễn Ngọc Thanh [67] Trong các tộc người, tri thức dân gian của người Mường được nghiên cứu khá hệ thống, trong đó được nhắc đến nhiều là các công trình nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thanh [81], Mai Văn Tùng [112]
Tác giả Ngô Đức Thịnh trong công trình Những giá trị văn hóa truyền thống
Việt Nam [99] nghiên cứu về các giá trị văn hóa trong thích ứng và khai thác tài
nguyên của người Việt ở châu thổ sông Hồng và vùng rừng ngập mặn U Minh Thượng thuộc Tây Nam Bộ Tác giả cho rằng sinh thái tộc người là sự tổng hợp các nhân tố tự nhiên và nhân văn của một tộc người hay nhóm dân tộc, mà giữa chúng
có sự đồng nhất về môi trường sống, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, từ đó hình thành nên hệ thống tri thức bản địa về ứng xử môi trường, tổ chức và ứng xử xã hội
và truyền thống văn hóa Đồng thời cũng đồng nhất khái niệm tri thức bản địa với tri thức dân gian, tri thức địa phương, tri thức truyền thống Chúng đều dùng để phản ánh về những hiểu biết của các tộc người tích lũy được trong quá trình thích ứng môi trường tự nhiên và xã hội Nhận xét này cũng đồng quan điểm với tác giả
Nguyễn Duy Thiệu trong bài viết “Tri thức bản địa nguồn lực quan trọng cho sự
phát triển” [87] Tác giả cho rằng tri thức bản địa là một phức hệ những kinh
nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác, được hình thành trong thế ứng xử giữa hoạt động của con người với môi trường tự nhiên để kiếm sống
Nguyễn Ngọc Thanh trong công trình Tri thức dân gian của dân tộc Dao
trong sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên [82] nghiên cứu về tri thức
dân gian của dân tộc Dao trong sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên Tác giả tổng kết về tri thức dân gian như sau: “Tri thức dân gian là những hiểu biết của cộng đồng về tự nhiên, xã hội và bản thân con người, được tích lũy trong thời gian dài thông qua kinh nghiệm và thực hành xã hội của cộng đồng” Trong phần
Trang 16nghiên cứu về tri thức dân gian trong khai thác và bảo vệ tài nguyên rừng, tác giả đã phân tích tương đối khái quát về những nhận thức về rừng, khai thác các nguồn tài nguyên rừng, về các nghi lễ liên quan đến rừng, các quy ước bảo vệ rừng Ngoài ra, tác giả cũng đưa nêu lên một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy tri thức dân gian của người Dao về bảo vệ và sử dụng tài nguyên thiên nhiên
Nguyễn Diệp Mai trong Tri thức dân gian về ứng xử với môi trường tự nhiên
trong đời sống vật chất người Việt vùng U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang [54] chủ yếu
phân tích những dữ liệu nghiên cứu về tri thức dân gian trong 4 nội dung chính là: Tri thức dân gian trong ăn, mặc, ở và đi lại qua ứng xử với môi trường tự nhiên của người Việt ở vùng U Minh Thượng của tỉnh Kiên Giang Đây là công trình nghiên cứu bài bản và khá đầy đủ về quá trình ứng xử của người Việt ở vùng U Minh Thượng, với cách thức ứng xử hài hòa, thân thiện với môi trường sinh thái Tri thức dân gian giúp cho cuộc sống của họ luôn được đảm bảo từ nguồn lợi khai thác từ tự nhiên
Phạm Quang Hoan trong bài viết “Tri thức địa phương của các dân tộc thiểu
số ở Việt Nam” [33] trình bày chủ yếu các nội dung liên quan đến tầm quan trọng
của tri thức địa phương Nội dung phân tích ngắn gọn, nhưng khá đầy đủ và súc tích, giúp người xem có thể nắm bắt được nội dung của tri thức địa phương trong cuộc sống hàng ngày Còn trong bài viết “Tri thức địa phương về quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc ở các tỉnh miền núi phía Bắc” [34] của Phạm Quang Hoan đưa ra quan niệm về tri thức địa phương, và vai trò của tri thức địa phương về quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc ở các tỉnh miền núi phía Bắc Có thể nói rằng dưới góc nhìn nhân học văn hóa, tác giả trình bày tương đối đầy đủ về khái niệm, nội hàm và các lĩnh vực liên quan của tri thức địa phương, tri thức bản địa nói chung của các tộc người thiểu số ở Việt Nam
1.1.1.2 Vấn đề nghiên cứu về tri thức dân gian, tri thức địa phương với phát triển bền vững
Trong những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu về tri thức của đồng bào ứng dụng trong bảo vệ và khai thác tài nguyên thiên nhiên gắn với phát triển bền vững đã được công bố Trong bài viết “Tri thức địa phương và vấn đề phát triển bền vững miền núi Việt Nam” [10] tác giả Hoàng Hữu Bình bàn đến khái niệm tri thức địa
Trang 17phương trong bảo vệ môi trường và khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên Còn trong
công trình “Xã hội học Việt Nam trước ngưỡng của thế kỷ XXI” [77] của tác giả Bùi
Đình Thanh chỉ ra 7 hệ chỉ báo cơ bản về phát triển bền vững xã hội: Chỉ báo kinh tế;
xã hội; môi trường; chính trị, tinh thần, trí tuệ; văn hoá; vai trò phụ nữ; chỉ báo về các vấn đề quốc tế Trong phần những chỉ báo về môi trường, tác giả đã chỉ ra các vấn đề bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ rừng và trồng rừng, bảo vệ nguồn nước, không khí, chống ô nhiễm môi trường đi đôi với việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên vì lợi ích lâu dài của các thế hệ mai sau Trong bài viết về “Phát triển bền vững - Mấy vấn
đề lý luận và thực tiễn” [185] của Nguyễn Thế Nghĩa bàn đến hai nội dung chính là: Quan niệm phát triển bền vững và các phương diện phát triển bền vững Trong phần các phương diện phát triển bền vững, tác giả đã đề cập đến 5 phương diện chính là:
Phát triển bền vững kinh tế; phát triển bền vững xã hội; phát triển bền vững môi trường; phát triển bền vững văn hoá; phát triển bền vững con người Những vấn đề
đưa ra của tác giả chủ yếu mang tính lý luận, không có các nghiên cứu thực tiễn Tri
thức địa phương của người Mường trong sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên
[82] của hai tác giả Nguyễn Ngọc Thanh – Trần Hồng Thu là một công trình nghiên cứu công phu về tri thức địa phương trong quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên đất, nước và rừng của người Mường theo hướng bền vững Những giá trị của quá trình sử dụng tri thức của đồng bào vào quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên, phương thức
này hoàn toàn phù hợp với định hướng phát triển bền vững ở cơ sở Cuốn sách Hướng
tới phát triển bền vững Tây Nguyên [41] của Lê Văn Khoa – Phạm Quang Tú đã vận
dụng các quan điểm của lý thuyết hiện đại về phát triển bền vững vùng và các công cụ phân tích của một số chuyên ngành liên quan như: kinh tế học, xã hội học, nhân học, sinh thái văn hóa, sinh thái tự nhiên
Nghiên cứu về vai trò và tầm quan trọng của tri thức dân gian trong quá trình phát triển, quá trình thích ứng với môi trường tự nhiên đã được các tác giả Hoàng Xuân
Tý – Lê Trọng Cúc [114], Vũ Trường Giang [26], Bùi Quang Thắng [84], Nguyễn Trường Giang [24] đề cập đến Họ đều cho rằng tri thức dân gian là những kinh nghiệm được tích lũy từ thực tiễn trong suốt quá trình thích ứng môi trường tự nhiên, nhưng lại phải phù hợp với văn hóa và cách ứng xử của từng cộng đồng, từng tộc
Trang 18người trong từng điều kiện môi trường sống cụ thể Chúng có vai trò quan trọng đối với quá trình bảo vệ và khai thác tài nguyên môi trường sinh thái một cách bền vững
Cho đến nay, tri thức dân gian của các tộc người được đánh giá là sự kết tinh của những kiến thức đã được họ tích lũy trong suốt bao đời qua, nó có nhiều giá trị đối với quá trình bảo vệ môi trường sinh thái theo hướng bền Nhất là hệ thống các tri thức dân gian trong ứng xử với môi trường rừng của các dân tộc thiểu số, bởi họ đang là chủ nhân của núi rừng, sự tham gia của họ vào quá trình khai thác và bảo vệ rừng có một vai trò hết sức quan trọng nhằm bảo vệ sự đa dạng sinh thái rừng, bảo
vệ sự phát triển bền vững Những quan điểm đúc kết từ những công trình này sẽ được NCS kế thừa và tiếp thu trong những phần viết phân tích về tri thức dân gian
và phát triển bền vững
1.1.1.3 Những công trình nghiên cứu về người Hà Nhì
- Nghiên cứu về văn hóa tộc người
Vấn đền nghiên cứu về người Hà Nhì, văn hóa dân gian người Hà Nhì ở Việt Nam cho đến nay đã có nhiều bước phát triển, nhất là từ những năm cuối thập kỷ 60-70 của thế kỷ XX Những năm 60 của thế kỷ XX, có bài viết “Nghiên cứu về nguồn gốc di cư và đặc điểm văn hóa” của tác giả Lục Bình Thủy [74] được coi là bài viết giới thiệu khái quát về nguồn gốc di cư và đặc điểm văn hóa của người Hà Nhì ở Việt Nam Đến năm 1969, tác giả Nông Trung cũng có bài báo viết về “Nhà cửa, kinh tế, nương rẫy” Bài viết cũng giới thiệu tương đối ngắn gọn về văn hóa vật chất và hoạt động phát triển kinh tế của người Hà Nhì ở Việt Nam [74] Tiếp sau
đó, tác giả Nông Trung còn có hai bài viết “Các dân tộc thuộc ngữ hệ Hán Tạng, nhóm Tạng Miến ở Miền bắc Việt Nam”[107] và năm 1973 với bài viết “Vài nét về sinh hoạt văn hóa và văn hóa vật chất của dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến”[108] Hai ấn phẩm này đã đề cập sơ lược về các yếu tố văn hóa vật chất của dân tộc Hà Nhì
Nguyễn Văn Huy cũng đã cho công bố cuốn sách Nếp sống văn hoá nhóm
ngôn ngữ Hà Nhì - Lô Lô [38] Đây là cuốn sách mang tính tổng hợp về 06 dân tộc
thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng – Miến gồm: Hà Nhì, Phù Lá, Lô Lô, Si La và Cống Cuốn sách chủ yếu đề cập đến nếp sống văn hóa và phong tục, tín ngưỡng, văn nghệ dân gian
Trang 19của họ; Cũng nghiên cứu về người Hà Nhì còn có Mai Thanh Sơn trong bài viết “Nhà cửa của người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát - Lào Cai” [71]; Lý Hành Sơn“Vài nét
về thế giới quan dân gian của người Hà Nhì”, bài viết đã đề cập một cách khái quát
về quan niệm và cách nhìn về thế giới tự nhiên, sự sống và cái chết cũng như các hình thức thờ cúng khác của người Hà Nhì [70] Nghiên cứu về địa bàn cư trú, nguồn gốc và lịch sử, kinh tế truyền thống, đời sống vật chất, dòng họ và gia đình, tín ngưỡng, phong tục và văn học - nghệ thuật dân gian dưới góc độ văn hóa dân
gian được Chu Thùy Liên trình bày trong cuốn sách văn hóa dân gian dân tộc Hà
Nhì [48]; nghiên cứu về nghề thủ công, Trần Bình với bài viết “Một số vấn đề về
thủ công gia đình của người Hà Nhì” [13] đã đề cập chủ yếu đến nghề đan lát và một số nghề phụ khác của người Hà Nhì Một trong số ít công trình nghiên cứu về người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai là công trình nghiên cứu về nghi
lễ cưới của tác giả Nguyễn Thị Lành Đám cưới của người Hà Nhì Đen ở Bát Xát,
tỉnh Lào Cai [44], tác giả đã giới thiệu về nghi lễ cưới của người Hà Nhì Đen; Trịnh
Thị Lan Nghi lễ của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai hiện nay [43], giới
thiệu khái quát về các nghi lễ của người Hà Nhì ở Bát Xát, tỉnh Lào Cai
- Nghiên cứu về tri thức dân gian trong khai thác và bảo vệ rừng
Công trình của hai tác giả Bùi Quốc Khánh và Lò Ngọc Biên về Tập quán
quản lý, khai thác rừng, đất rừng, nguồn nước của dân tộc Hà Nhì ở Mường Tè, tỉnh Lai Châu là công trình khảo cứu tương đối công phu về tập quán quản lý và khai thác
tài nguyên thiên nhiên của người Hà Nhì ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Nội dung chủ yếu đi sâu vào khảo sát, sưu tầm về tín ngưỡng, tập quán quản lý rừng, đất rừng và nguồn nước của nhóm Hà Nhì hoa (Hà Nhì Cồ chồ và Hà Nhì Lạ Mí) ở tỉnh Lai Châu, chưa phân tích được sâu sắc các giá trị của tri thức dân gian trong khai thác
và bảo vệ môi trường sinh thái, nhất là vấn đề khai thác và bảo vệ rừng theo hướng bền vững [39] Trần Hữu Sơn trong bài viết “Tri thức bản địa của người Hà Nhì ở
Việt Nam với vấn đề quản lý rừng” [75] đã giới thiệu khái quát về tri thức bản địa
của toàn bộ dân tộc Hà Nhì ở Việt Nam trong vấn đề quản lý rừng, bảo vệ rừng Bài viết bàn đến tập quán lựa chọn các khu rừng thiêng, rừng đầu nguồn, rừng già của người Hà Nhì, vấn bảo vệ rừng bằng các cơ chế thiêng hóa rừng và bằng luật tục
Trang 20Có thể nói, mặc dù hiện nay đã có một vài công trình nghiên cứu về tập quán khai thác rừng, nguồn nước, nhưng các công trình này hầu như chưa phân tích sâu không gian sống và mối quan hệ với rừng, với môi trường sinh thái, nhất là cộng động người Hà Nhì Đen ở Bát Xát, Lào Cai
1.1.2 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài
- Một số công trình nghiên cứu về sinh thái người Hà Nhì ở Trung Quốc
Các tác giả Hoàn Thiệu Văn – Liêu Quốc Cường trong sách Nghiên cứu văn
hóa sinh thái truyền thống dân tộc Hà Nhì ở Vân Nam [176] đã sử dụng lý thuyết về
sinh thái văn hóa để tập trung khảo cứu về các khu vực cư trú, trang phục, canh tác ruộng bậc thang, ẩm thực, vấn đề chọn đất lập bản, tôn giáo tín ngưỡng, sự sùng bái
tự nhiên Tác giả Vương Thanh Hoa trong tác phẩm Văn hóa luận ruộng bậc thang
– sinh thái nông nghiệp của dân tộc Hà Nhì [163], tác giả đã lấy ruộng bậc thang
làm đối tượng nghiên cứu trong mối liên kết với các loại hình văn hóa truyền thống,
quá trình thiên di của dân tộc Hà Nhì; Tác giả Vi Tắc Nghiên cứu tôn giáo sinh thái
dân tộc Hà Nhì [170], Quách Gia Kí Sinh thái văn hóa với phát triển bền vững
[173] đã nghiên cứu sâu rộng hơn về mối quan hệ giữa người Hà Nhì với môi trường sinh thái tự nhiên
- Những công trình về tri thức dân gian của các tác giả nước ngoài
Tri thức dân gian là một chủ đề được quan tâm trong ngành văn hóa dân gian, nhân học và nói chung là đối tượng nghiên cứu liên ngành, và đặc biệt được chú trọng trong nghiên cứu phát triển và phát triển bền vững Ngày nay, tri thức dân gian được coi như là một lĩnh vực chuyên môn, nhấn mạnh vị trí của nó trong các thực hành phát triển [158] Tri thức dân gian càng ngày càng trở nên phổ biến vì các nhà khoa học cho rằng các tộc người bản địa có một thứ “khoa học” dân gian, có ảnh hưởng quan trọng đến môi trường sinh thái và phát triển bền vững [139] Ngày nay, tri thức dân gian được đề cao và thừa nhận, ứng dụng trong quá trình phát triển của các quốc gia [159]
Tri thức dân gian với tư cách là một nguồn lực “khoa học” đặc thù và mang tính chỉnh thể, vì vậy nghiên cứu tri thức về tài nguyên nói chung và khai thác rừng trong những thập kỷ qua là mối quan tâm hàng đầu của văn hóa dân gian, dân tộc
Trang 21học và sinh thái văn hóa [138] Tri thức dân gian còn được các ngành khác khai thác các sản phẩm làm đẹp từ thiên nhiên, các loại thuốc thảo dược chữa các bệnh thế kỷ như HIV [128] Một số quan điểm khác nhấn mạnh rằng tri thức dân gian có thể phục vụ cho mục đích bảo tồn hệ sinh thái, rừng tài nguyên và phát triển bền vững [132] Trong ngành sinh thái văn hóa, mối quan hệ của con người tới môi trường đã được nghiên cứu nhiều nhằm giải thích sự thích ứng của con người trong môi trường sống, khai thác, bảo vệ nguồn tài nguyên rừng với sự hỗ trợ của tri thức khoa học và công nghệ [142] Một số công trình tương đối nổi tiếng phân tích việc sử dụng tri thức dân gian trong nhiều ngành khoa học, như nhân học, sinh thái nhân văn và nghiên cứu môi trường [15] Một số công trình khác chủ yếu là sưu tầm tư liệu, phân tích kế sinh nhai liên quan đến tri thức dân gian tiêu biểu là các công tình của Brosius và cộng sự [126] Những công trình này đề cập đến khoa học nông nghiệp, môi trường, tập trung vào các vấn đề tri thức dân gian gắn với văn hóa xã hội như cách ứng xử trong gia đình, dòng họ, phân bổ đất đai, nguồn lao động, phân phối thực phẩm, biểu tượng văn hóa, tín ngưỡng dân gian, v.v
Một số công trình tiêu biểu như: Tri thức bản địa về môi trường và những
biến đổi – Các quan điểm nhân học phê phán do Roy Ellen và cộng sự [65] đã tổng
hợp các bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá về tri thức bản địa với môi trường ở nhiều nước, nhiều vùng khác nhau thông qua những hoạt động cụ thể của con người nhằm khai thác các tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho đời sống của họ Đồng thời, các tác giả cũng đưa ra những cảnh báo về những cánh rừng của các tộc người đang
có nguy cơ biến mất Còn trong cuốn sách của Jonh Amble với nhan đề Kinh
nghiệm nghiên cứu phát triển miền núi: Một số nét khái quát từ Châu Á [136] cho
rằng tri thức địa phương có thể được phân thành hai loại chính Một loại có thể được gọi là “tri thức kỹ thuật” Một loại khác được gọi với các tên gọi khác như
“luật lệ địa phương”, “phong tục” hay “tục lệ” Thông qua các nghiên cứu ở nhiều vùng châu Á khác nhau, cuốn sách cho thấy những người nông dân, người chăn nuôi gia súc hoặc các nhóm thợ săn ở vùng cao luôn có vốn tri thức kỹ thuật mang tính địa phương, rất cần cho việc xây dựng các chương trình quản lý, phát triển
Trang 22vùng đồi núi Vốn tri thức ấy là sự đúc kết từ quá trình ứng xử hài hoà với môi trường sinh thái mang lại điều kiện sống tốt đẹp cho cộng đồng địa phương
Gần đây, tri thức bản địa về các vùng sinh thái, tài nguyên thiên nhiên, nông nghiệp, ngư nghiệp, rừng được đánh giá và nhìn nhận là có giá trị hơn nhiều so với những gì mà họ đã từng coi thường trước đây [147] Bài học về việc sử dụng tri thức dân gian trong việc phát triển đa dạng sinh học, đa dạng văn hóa, đa dạng cây trồng ở nhiều nước đang phát triển như Srilanca cho thấy rằng trải qua hàng nghìn năm tích lũy kinh nghiệm và tồn tại, cộng đồng địa phương đã tích lũy được một kho tàng tri thức vô giá trong việc duy trì cuộc sống, môi trường sinh thái Do vậy, những nhà làm chính sách cần chú ý tới tri thức dân gian trong phát triển Theo tác giả Senanayake [155], đa số người dân ở Sri Lanka làm nghề nông nhỏ lẻ Họ đại diện cho những nhóm tộc người khác nhau Những người nông dân này làm việc theo những hình thức thiếu tổ chức và tìm kiếm các giải pháp cho các vấn đề “địa phương” thông qua tri thức dân gian Sức mạnh của tri thức dân gian là tính thích ứng với cuộc sống của cộng đồng, với môi trường
Bên cạnh đó, có một số công trình phân tích về việc vận dụng tri thức dân gian trong khai thác và bảo vệ rừng Theo tác giả Abdullalhi, tri thức dân gian được
sử dụng trong quá trình phát triển với những điều kiện cụ thể của con ngươi ở trong một vùng địa lý cụ thể Tác giả xác định tri thức dân gian cần phải được hiểu từ quan điểm của cộng đồng về môi trường sinh thái, ở đó họ sống, khai thác và bảo vệ rừng một cách hiệu quả nhằm đối phó với những thách thức và sự thay đổi của môi trường trong bối cảnh văn hóa, xã hội [122] Các nghiên cứu về xói mòn rừng liên quan đến việc coi thường tri thức dân gian được thể hiện rõ trong hai công trình trên
về cộng đồng Ifugao ở Phi-lip-pin (Philippines) [128] và cộng đồng Dayak Tunjung
ở Đông Borneo [156] Các tác giả nhấn mạnh sự cần thiết về bảo vệ cả tri thức dân gian và sự thích ứng, sự phù hợp của nó với sự thay đổi của cuộc sống và phát triển
- Các công trình ở nước ngoài về tri thức dân gian và phát triển bền vững
Một trong những xu hướng nghiên cứu hiện nay trong liên ngành khoa học
xã hội nhân văn là kết hợp tri thức dân gian liên quan đến vấn đề phát triển bền vững Mối quan tâm học thuật này cũng ngày càng được chú ý, tập trung vào nghiên
Trang 23cứu mối quan hệ tương tác giữa tri thức dân gian với phát triển bền vững, đặc biệt trong trồng trọt liên quan nhiều đến một tập hợp phức hợp về môi trường, kinh tế xã hội, nông học Những vấn đề này có mối quan hệ hữu cơ đến cuộc sống của các hộ gia đình làm nông nghiệp, đến việc sử dụng nguồn tài nguyên, sự biến đổi và phát triển bền [149] Các Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và sự phát triển bền vững đặt ra vấn đề về tri thức dân gian về đất, nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường Những tri thức dân gian được phát triển qua nhiều thế hệ như là kết quả của mối quan hệ tương hỗ giữa trường tự nhiên và văn hóa, xã hội, kinh tế
Trước khi phát triển khoa học rừng hiện đại và quản lý khoa học rừng ở châu
Âu vào đầu thế kỷ XIX, các cộng đồng địa phương trên khắp thế giới đã quản lý rừng
và môi trường sinh thái bằng các cách thức duy trì cuộc sống và văn hóa, không làm hủy hoại đến tiềm năng của hệ sinh thái để cung cấp thực phẩm và các dịch vụ khác cho thế hệ tương lai Các tri thức, sự sáng tạo và thực hành của các cộng đồng được phát triển thông qua những trải nghiệm phong phú được tích lỹ quan hàng thế kỷ dưới
sự thay đổi các điều kiện môi tường, kinh tế, chính trị và xã hội [123]
Thực hành quản lý rừng dựa vào tri thức truyền thống, bao gồm quản lý rừng
tự nhiên, du canh du cư, trồng rừng, tiếp tục cung cấp sản vật rừng cho xã hội mà không làm hủy hoại đến hệ sinh vật đa dạng và rừng và hệ thống sinh thái liên quan [146] Một ví dụ tiêu biểu về nghiên cứu sử dụng tri thức dân gian trong việc lên kế hoạch quản lý rừng được thể hiện trong công trình của tác giả Cummings và Read
với tựa đề Đúc kết về tri thức truyền thống để nhận diện và mô tả về hệ sinh thái
liên quan đến cây cối sử dụng với nhiều mục đích ở các khu rừng Bắc Amazon
[131] Nghiên cứu của họ đã thể hiện tri thức bản địa của các tộc người Makushi và
Wapishiana Amerindians ở Nam Guyana có thể được sử dụng như là một phần của việc kiểm kê rừng nhằm nhận diện và phân loại các loại cây, và về việc tri thức truyền thống đã được sử dụng trong việc cung cấp và hỗ trợ các các hoạt động, dịch
vụ liên quan đến hệ sinh thái và văn hóa
Một số học giả Trung Quốc quan tâm nghiên cứu tri thức bản địa và sự phát
triển bền vững Tác giả Quách Gia Kí trong tác phẩm Sinh thái văn hóa với phát
triển bền vững [173] tiến hành nghiên cứu về vấn đề phát triển bền vững của tỉnh
Trang 24Vân Nam, một tỉnh miền núi, đa dân tộc và có đường biên giới tiếp giáp trực tiếp với tỉnh Lào Cai Tác giả cho rằng vấn đề phát triển bền vững cần chú trọng đến mối quan hệ chặt chẽ giữa 3 yếu tố theo kiểu “Đa nhất thể” Cụ thể, tính đa dạng của môi trường sinh thái, đa dạng sinh vật và đa dạng văn hóa dân tộc Ba yếu tố này luôn đan xen với nhau tạo thành một thể thống nhất
Tác giả cũng cho rằng nếu một ngày sự đa dạng của văn hóa dân tộc mất đi, thì sự đa dạng của môi trường sinh thái, đa dạng sinh vật cũng sẽ mất theo Do đó,
để phát triển bền vững môi trường sinh thái cần chú trọng đến bảo tồn các giá trị của văn hóa dân tộc Đối với những thách thức của vấn đề phát triển bền vững trong thời kỳ toàn cầu hóa, hiện đại hóa, tác giả cũng đưa ra các đối sách trên 3 mặt phương diện là: Diệt trừ nghèo đói, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái, bảo vệ
và phát triển văn hóa dân tộc
Mặc cho có nhiều thách thức đối với các các cá nhân, cộng đồng địa phương, những người sử dụng tri thức truyền thống trên thế giới, các nhà khoa học đã nhận diện rõ hơn và tôn trọng sự đa dạng hệ thống tri thức dân gian Càng ngày, giá trị của các tri thức về hệ sinh thái, về rừng truyền thống càng được nhận thức rõ hơn ở nhiều nước và trong các diễn đàn chính sách quốc tế như Bảo vệ sự đa dạng sinh học (Convention on Biological Diversity), Công ước của Liên hợp quốc đấu tranh với sa mạc hóa (UN Convention to Combat Desertification) Đáng chú ý nhất là các hoạt động của Diễn đàn chính sách - khoa học liên chính phủ về đa dạng sinh học
và hệ sinh thái (Intergovernmental Science-Policy Platform on Biodiversity and
Đa dạng Văn hóa dân tộc
Đa dạng sinh vật
Đa dạng môi trường sinh thái
Sơ đồ 2 Mối quan hệ “Đa nhất thể”
Trang 25Ecosystem Services (IPBES) Ngày nay, các chuyên gia về rừng và những nhà hoạch định chính sách có nhiệm vụ quan trọng trong việc coi trọng tri thức dân gian
và nhấn mạnh bảo vệ đa dạng sinh thái có lợi cho công đồng Điều này đòi hỏi có một sự hiểu biết rộng rãi cũng như sự tôn trọng và hỗ trợ cho các địa phương duy trì
và phát huy giá trị của tri thức dân gian
1.1.3 Một số nhận xét về tình hình nghiên cứu
Từ tổng quan những công trình nghiên cứu ở Việt Nam và nước ngoài về tri thức dân gian, tri thức địa phương với phát triển bền vững, NCS đưa ra một số nhận xét sau:
Những nội dung đã đạt được:
- Các công trình nghiên cứu về dân tộc Hà Nhì nói chung và nhóm Hà Nhì
Đen ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai đã đề cập được đến nguồn gốc lịch sử người Hà Nhì; đặc điểm về địa bàn cư trú, dân số, đặc điểm xã hội, đời sống kinh tế các nghi
lễ liên quan đến chu kỳ vòng đời người; về canh tác nông nghiệp Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu đã quan tâm đến sưu tầm các tư liệu về văn học dân gian (như thơ ca dân gian, truyện kể dân gian, sử thi); tín ngưỡng về sùng bái tự nhiên, thờ cúng tổ tiên cũng được quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu này đã cho chúng ta thấy được bức tranh tương đối tổng quát về người Hà Nhì
- Các công trình nghiên cứu đã bàn khá kỹ về các khái niệm về tri thức dân gian, tri thức bản địa, tri thức địa phương về phát triển bền vững Cùng với đó, mối quan hệ giữa sinh thái văn hóa, phát triển bền vững, vai trò của cộng đồng trong bảo tồn và phát triển sinh thái bền vững đã được các tác giả trình khá sâu sắc
- Các thành tố của tri thức dân gian đã được đề cập và làm rõ ở các công trình nghiên cứu, điều này giúp cho luận án có sự tiếp cận sâu và toàn diện hơn với đối tượng nghiên cứu
- Tri thức dân gian trong bảo vệ và khai thác tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc đã được đề cập ở các góc độ khác nhau, mức độ khác nhau Về cơ bản đã giúp cho người đọc thấy được vai trò và tầm quan trọng của tri thức dân gian trong bảo vệ sự phát triển bền vững của môi trường sinh thái rừng
Những nội dung còn bỏ ngỏ:
- Các công trình ở Việt Nam chưa đề cập trực tiếp đến việc phát huy tri thức
dân gian trong bảo vệ và khai thác rừng trong phát triển bền vững Nhất là các công
Trang 26trình nghiên cứu, phân tích chuyên sâu về tri thức dân gian của người Hà Nhì trong ứng xử với môi trường sinh thái rừng, đặc biệt là người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
- Các công trình nghiên cứu, phân tích về vai trò của cộng đồng các dân tộc trong việc thực hiện các dự án liên quan đến môi trường sinh thái bền vững; Những kiến thức, những kinh nghiệm liên quan đến môi trường sinh thái (bao gồm kiến thức về rừng, về thổ những, về thủy văn…) từ bao đời nay được đồng bào tích lũy lại không thật sự được xem trọng trong các dự án phát triển
Do đó, để phần nào bù đắp vào khoảng trống ấy, luận án sẽ tiếp thu các quan điểm mang tính khái quát hóa về tri thức dân gian trong phát triển bền vững và tiến hành phân tích mối quan hệ giữa tri thức dân gian với với môi trường sinh thái nhân văn của người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Vấn đề nghiên cứu trung tâm của luận án mà chưa công trình nào đề cập tới, đó là nghiên cứu về tri thức dân gian trong quá trình khai thác và bảo vệ rừng của người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát với phát triển bền vững Luận án sẽ phân tích hệ thống các cơ chế quản lý rừng bền vững của người Hà Nhì Đen thông qua các quy định của phong tục và các nghi
lễ dân gian, thế giới quan Nghiên cứu này sẽ chỉ ra rằng bên cạnh việc tiếp tục khai thác nguồn tại nguyên thiên nhiên phục vụ cho chính cuộc sống, văn hóa, xã hội, họ cũng đã sử dụng những kinh nghiệm tích lũy qua hàng trăm năm để phục vụ bảo vệ
hệ sinh thái, môi trường sống xung quanh cộng đồng
Để môi trường sinh thái được phát triển bền vững, rất cần có sự tham gia chủ động, tích cực của cộng đồng người bản địa trong các dự án về phát triển, tiếng nói của cộng đồng cần được lắng nghe và được tôn trọng Tri thức dân gian, những kinh nghiệm của cộng đồng tích lũy được qua thực tiễn cuộc sống cần được tôn trọng, được đối xử một cách bình đẳng với các kiến thức khoa học Bên cạnh đó, tri thức dân gian cũng bị mai một, có những hạn chế bởi sự phát triển, nên cần thay đổi để phù hợp với bối cảnh mới Sự kết hợp hài hòa giữa tri thức dân gian và tri thức khoa học sẽ đem đến những hiệu quả đáng kể trong việc bảo vệ và khai thác rừng bền vững
Trang 271.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Một số khái niệm
- Tri thức
Tri thức là sự hiểu biết về một hay nhiều lĩnh vực trong tự nhiên và xã hội
“Tri thức là kết quả của quá trình nhận thức của con người về đối tượng được nhận thức, làm tái hiện tư tưởng con người, những thuộc tính, những mối quan hệ, những quy luật vận động, phát triển của đối tượng và được diễn đạt bằng ngôn ngữ tự nhiên hay hệ thống ký hiệu khác” [192] Như vậy, tri thức được xem là sự hiểu biết của con người về sự vật hiện tượng của tự nhiên và xã hội, về những thứ đang diễn
ra xung quanh, nhờ có tri thức nên người biết lao động, sáng tạo ra mọi thứ khác hẳn với động vật Mỗi sản phẩm của lao động sản xuất đều là kết quả của tri thức, tri thức phát triển mang lại cho người người cuộc sống tốt đẹp hơn
- Tri thức dân gian
Khái niệm về tri thức dân gian (folk knowledge) có nhiều điểm chung với nội hàm của thuật ngữ tri thức bản địa (indigenous knowledge), tri thức địa phương (local knowledge), tri thức truyền thống (traditional knowledge) [99] Tác giả Nguyễn Ngọc Thanh đã tổng hợp các khái niệm về tri thức và cho rằng “Tri thức dân gian giống như tri thức bản địa, tri thức địa phương, là tri thức được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài qua kinh nghiệm ứng xử của con người với môi trường và xã hội được lưu truyền từ đời này qua đời khác, qua tự nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành xã hội [81]
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, khái niệm tri thức dân gian được sử dụng nhiều trong các công trình nghiên cứu về mối quan hệ và quá trình thích ứng với môi trường tự nhiên, xã hội của cộng đồng các dân tộc, nhất là cộng đồng các dân tộc thiểu số Trong đó, khái niệm về tri thức dân gian đã được các nhà nghiên cứu sử dụng như Ngô Đức Thịnh [99], Nguyễn Duy Thiệu [88], Vi Văn An [1], Nguyễn Ngọc Thanh [81], Phạm Quang Hoan [34], Trần Công Khánh - Trần Văn Ơn [40]
Tác giả Ngô Đức Thịnh cho rằng, tri thức dân gian là một tổng thể hóa các kinh nghiệm, những hiểu biết được loài người tích lũy qua quá trình hoạt động lâu dài nhằm thích nghi và thay đổi cùng với môi trường tự nhiên, xã hội theo cách có
Trang 28thể đem lại cho họ các lợi ích vật chất và tinh thần Tri thức dân gian tồn tại và phát triển thông qua sự trải nghiệm lao động hàng ngày [98] Tác giả đã nhấn mạnh tri thức dân gian là được tích lũy, trải nghiệm trong thực tiễn cuộc sống, được truyền dạy trực tiếp, truyền miệng hoặc thông qua các loại hình truyền tải của văn hóa dân gian Một số tác giả khác như Nguyễn Duy Thiệu [87], Nguyễn Ngọc Thanh [81] cũng đưa ra khái niệm về tri thức dân gian Nguyễn Duy Thiệu cho rằng tri thức dân gian “là một phức hệ những kinh nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác” [87], nhấn mạnh đặc điểm của tri thức dân gian chỉ tồn tại trong từng điều kiện môi trường cụ thể
Từ các khái niệm chung về tri thức dân gian trên, NCS cho rằng tri thức dân gian của người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai là một chỉnh thể thống nhất, là tất cả những kinh nghiệm, sự hiểu biết sâu sắc về tự nhiên và xã hội, được tích lũy lâu dài, được lưu truyền từ đời này sang đời khác bằng trí nhớ, qua truyền miệng và thực hành xã hội Tri thức dân gian của người Hà Nhì Đen là một thành tố của văn hóa dân gian, được phản ánh trong các lễ hội, tín ngưỡng dân gian, phong tục tập quán, nghệ thuật tạo hình, ngôn từ (các lời răn dạy có vần, có lời thề, lời nguyện trong luật tục), nghệ thuật ẩm thực, kỹ xảo nghề thủ công, các hành vi xã hội, hoạt động ứng xử với tự nhiên…
- Tri thức bản địa
Trong ngành văn hóa dân gian, tri thức dân gian có nhiều điểm tương đồng với tri thức bản địa Ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX, thuật ngữ “tri thức bản địa” được các học giả Robert Chambers Brokensha và D.M.Warren sử dụng Đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX, khái niệm tri thức bản địa được sử dụng rộng rãi [114] Khái niệm về tri thức bản địa được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến trong các công trình nhân học, văn hóa học Tác giả Roy Ellen và Holly Harris đưa ra một
số đặc điểm chung của tri thức bản địa bao gồm: Tri thức bản địa mang tính địa phương, bắt nguồn từ những kinh nghiệm của cư dân địa phương để đúc kết, được truyền miệng hoặc được lưu truyền thông qua các hình thức mô phỏng hoặc mô tả Tri thức bản địa là hệ quả gắn kết thực tế trong đời sống hàng ngày và được củng cố
Trang 29bằng các kinh nghiệm Tri thức bản địa có xu hướng là loại kiến thức mang tính thực tiễn – kinh nghiệm nhiều hơn [65]
Ông Frederio Mayor – nguyên tổng giám đốc UNESCO đưa ra khái niệm tổng quát về tri thức bản địa Dựa vào hàng thế kỷ sống gần gũi với thiên nhiên, các dân tộc bản địa trên thế giới sở hữu những kho tàng tri thức khổng lồ về môi trường Sống trong tự nhiên và lớn lên cùng sự giàu có và đa dạng của hệ sinh thái phức tạp, họ hiểu biết về những đặc tính của cây cối và động vật, các chức năng của hệ sinh thái và những kỹ thuật sử dụng và quản lý một cách đặc thù và phù hợp Trong các cộng nông thôn ở các nước đang phát triển, người dân địa phương thường sống dựa vào những sản vật từ sản xuất thức ăn, thuốc chữa bệnh, nhiên liệu, vật liệu xây dựng và các sản phẩm khác Tương thích với điều đó, kiến thức và quan niệm của cộng đồng
về môi trường và mối quan hệ của họ với môi trường trở thành những thành tố quan trọng hình thành nên bản sắc văn hóa [68]
- Tri thức truyền thống
Các nhà nghiên cứu ít sử dụng thuật ngữ tri thức truyền thống Tri thức truyền thống hình thành và phát triển trong một nhóm người, trong một cộng đồng, tộc người vào một thời điểm và trong bối cảnh, môi trường xã hội Tri thức truyền thống được chia sẻ rộng rãi và trao đổi với nhau về các quan điểm cụ thể về con người, nhân sinh quan, mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên
Một báo cáo của UNESCO (2002) về tri thức truyền thống và phát triển bền vững đề cập đến khái niệm này Báo cáo cho rằng tri thức truyền thống là một tập hợp
sự hiểu biết của một tộc người Những thực hành và những biểu đạt được duy trì và phát triển bởi cộng đồng trong lịch sử tương tác với môi trường tự nhiên Những tập hợp tinh túy này về sự hiểu biết, những lý giải và ý nghĩa như là một bộ phận của phức hợp văn hóa bao gồm ngôn ngữ, thể loại và hệ thống phân loại, thực hành sử dụng các nguồn lực, nghi lễ, văn hóa, tâm linh và quan điểm nhân sinh quan
- Tri thức địa phương
Tri thức địa phương là tri thức mà con người trong một cộng đồng cụ thể phát triển quan thời gian và tiếp tục phát triển Tri thức địa phương dựa vào kinh nghiệm, được kiểm chứng qua thời gian sử dụng, thích nghi với văn hóa và môi
Trang 30trường địa phương, thể hiện trong các thực hành, thể chế, mối quan hệ và nghi lễ
- Mối quan hệ giữa tri thức dân gian và tri thức bản địa
Ở Việt Nam, khi bàn về thuật ngữ “tri thức dân gian” trong mối quan hệ với tri thức bản địa, tác giả Ngô Đức Thịnh cho rằng tri thức dân gian cùng nội hàm với tri thức bản địa (sau này tác giả chỉ sử dụng khái niệm tri thức bản địa) [99] Các tác giả khác như Phạm Quang Hoan [35], Nguyễn Duy Thiệu [87], Trần Hồng Hạnh [31], Nguyễn Ngọc Thanh [81] đều chỉ sử dụng thuật ngữ tri thức bản địa, tri thức dân gian Một số nhà nghiên cứu khác đã đồng nhất khái niệm tri thức dân gian với tri thức bản địa Ngô Đức Thịnh đã định nghĩa về tri thức bản địa “tính tri thức dân gian” [97] Lê Trọng Cúc cũng định nghĩa về tri thức bản địa mang “tính sinh thái nhân văn và phát triển bền vững” [19] Như vậy, tuy tên gọi của các tri thức có sự khác nhau, nhưng nội hàm của hai loại tri thức này lại tương đối giống nhau, đều nhằm nhấn mạnh những hiểu biết, những kinh nghiệm của một tộc người hay nhóm tộc người trong quá trình ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội
Vận dụng các quan điểm học thuật trên, NCS sẽ tiến hành nghiên cứu, phân tích các thành tố của tri thức dân gian về bảo vệ, khai thác tài nguyên rừng của người Hà Nhì Đen Từ đây có thể thấy tri thức dân gian trong khai thác và bảo vệ rừng của họ là một hệ thống các kiến thức về phân loại cây rừng, phân loại cây, củ, quả dùng làm lương thực, thực phẩm, cây lấy thuốc; nhận biết về các loài động vật trong rừng, về thời kỳ sinh sản và trưởng thành của chúng Từ hệ thống kiến thức về
sự phân loại này, người Hà Nhì Đen tiến hành khai thác rừng hiệu quả theo mùa vụ, theo thời gian trong ngày, trong tháng theo đặc điểm của cây và nhu cầu sử dụng để góp phần vào quá trình bảo vệ bền vững rừng
Trang 31- Sự kết hợp giữa tri thức dân gian và tri thức khoa học
Trong lịch sử phát triển và quá trình hiện đại hóa, tri thức dân gian có thời kỳ
đã bị sao nhãng Sau chiến tranh thế giới thứ hai, với quan điểm “phát triển” và
“hiện đại hóa”, tri thức dân gian đã không được quan tâm nhiều Vào thập kỷ 60, 70 của thế kỷ XX, nhiều dự án mang tính phát triển với các tri thức khoa học mới và
kỹ thuật hiện đại ở các nước châu Á và châu Phi thất bại Các nhà khoa học và hoạch định chính sách mới nhận ra một số sai lầm, trong đó có việc chạy đua với tiến bộ khoa học, bỏ qua trí thức dân gian Dần dần, tri thức dân gian trở thành một trong những vấn đề phát triển bền vững với các trụ cột về môi trường, kinh tế, văn hóa, xã hội Nhiều tổ chức quốc tế, diễn đàn khoa học của Liên hợp quốc, UNESCO, Ngân hàng thế giới đã quan tâm đến tri thức dân gian của các cộng đồng địa phương và xác định đây là một loại chìa khóa thành công của các dự án phát triển bền vững [29]
Như vậy, cho đến nay các công trình nghiên cứu về tri thức dân gian và phát triển bền vững đã xuất hiện nhiều và đã phần nào làm rõ những vấn đề về mối quan
hệ giữa tri thức bác học, tri thức khoa học và công nghệ với tri thức dân gian Trong quá trình phát triển bền vững của một quốc gia, các nhà khoa học, sinh vật học, quản lý môi trường đã ngày càng nhận thức rõ tầm quan trọng của tri thức dân gian các tộc người trong các dự án phát triển cũng như trong việc duy trì kế sinh nhai, sản xuất thực phẩm và điều tiết môi trường sinh thái Tác giả Bùi Hoài Sơn trong
“Một đôi nét về khái niệm tri thức bản địa” [68] cũng cho rằng tri thức bản địa ngày càng được nhìn nhận đúng vai trò quan trọng và không bị coi là những kiến thức không có cơ sở khoa học Có thể nói, trong những hoàn cảnh xã hội nhất định, môi trường tự nhiên nhất định, tri thức dân gian lại hữu dụng, kết hợp với các kiến thức khoa học, bởi nó phù hợp với thực tiễn của cộng đồng địa phương
Điều này đã phần nào làm rõ hơn những nhận xét từ lâu của chúng ta là đề cao tính hiệu quả của tri thức khoa học khi ứng dụng vào thực tế, nhưng cũng cần quan tâm đến tri thức dân gian Từ lâu chúng ta vẫn cho rằng tri thức khoa học tạo
ra các sản phẩm kỹ thuật, khi áp dụng vào thực tế góp phần làm giảm đi sức lao động mà vẫn thu lại nguồn lợi cao, tạo ra một cuộc sống đầy đủ hơn, hiện đại hơn
Trang 32Trong khi đó, chúng ta từ lâu vẫn luôn xem nhẹ vai trò và giá trị của tri thức dân gian của đồng bào các dân tộc trong quá trình thích ứng với môi trường tự nhiên, nhất là các dân tộc thiểu số sinh sống ở các thôn bản xa xôi, hẻo lánh Vậy nên, để
có thể tồn tại và phát triển được giữa bạt ngàn sông núi ấy qua hàng trăm năm, các
cư dân ấy đã tạo nên cho mình những kiến thức về tự nhiên dựa trên những những kinh nghiệm được đúc kết từ sự hiểu biết sâu sắc về quá trình vận động của tự nhiên
ở từng vùng, từng khu vực để có những cách thức ứng xử phù hợp, mang lại cho họ cuộc sống ấm no và an lành Giờ đây chúng ta gọi những hiểu biết ấy, những cách thức vận dụng sự hiểu biết ấy vào trong các hoạt động hằng ngày của các dân tộc là tri thức bản địa, tri thức dân gian là loại tri thức luôn luôn bổ sung cho kiến thức khoa học, kiến thức hàn lâm như UNESCO đã đưa ra trong báo cáo của Hội nghị về
Khoa học, tri thức truyền thống và phát triển bền vững (Science, Traditional Knowledge and Sustainable Development [157] Hơn nữa, những vấn đề của sự
phát triển bền vững ở cấp độ địa phương vẫn cần phải có sự tương tác giữa khoa học và văn hóa dân gian Sự kết hợp này có có một tầm quan trọng để tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhằm phát triển bền vững Trong đoạn 26 của Tuyên bố này có nêu "Hệ thống tri thức địa phương và dân gian như là những biểu đạt năng động
về nhận thức và hiểu biết thế giới có thể đóng góp và đã đóng góp quan trọng trong lịch sử cho khoa học và công nghệ, và cần thiết phải bảo vệ, bảo tồn,
nghiên cứu và phát huy di sản văn hóa và tri thức thực nghiệm này” [158]
Trang 33- Bảo vệ và khai thác rừng
Bảo vệ rừng là những hoạt động nhằm ngăn chặn các hành vi của con
người có khả năng ảnh hưởng đến quá trình tồn tại của hệ sinh thái rừng, như các hoạt động khai thác gỗ, củi đốt, hái lượm, săn bắt động vật, đốt nương làm rẫy… một cách tự do, thiếu kiểm soát gây ảnh hưởng đến khả năng tồn tại của rừng, đến sự đa dạng sinh thái rừng
Bảo vệ rừng được thực hiện bởi hai loại luật, một là Luật bảo vệ và phát triển rừng do Quốc Hội ban hành; Hai là luật tục (hương ước) của riêng mỗi cộng đồng, mỗi thôn bản tự thống nhất xây dựng lên để mọi người cùng thực hiện và loại luật tục này thường tồn tại bằng trí nhớ và qua các hoạt động xã hội
Khai thác rừng là hoạt động của các tổ chức, cá nhân tác động đến rừng,
chiếm đoạt nguồn tài nguyên rừng để phục vụ cho các nhu cầu khác nhau, như săn bắt, hái lượm, khai thác gỗ, khai thác nguyên liệu đốt, khai thác đất canh tác nương rẫy Khai thác bao gồm hai loại hình là khai thác hợp pháp và khai thác bất hợp pháp
Đối với hoạt động khai thác và bảo vệ rừng của người Hà Nhì Đen được quy định chủ yếu trong luật tục của thôn bản Khai thác rừng của người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát là hoạt động chiếm hữu nguồn tài nguyên rừng để phục vụ cho nhu cầu hằng ngày, như: Săn bắt động vật rừng, hái lượm rau, củ, quả; khai thác gỗ, tre làm nhà ở, khai thác gỗ khô về làm củi đốt, cắt cỏ gianh lợp nhà Các hoạt động khai thác tài nguyên rừng này đều được quy định rõ trong luật tục Họ chỉ được phép khai thác ở những khu rừng chung của cộng đồng, nghiêm cấm các hoạt động khai thác ở các khu rừng thiêng (rừng cúng) của thôn bản Cùng với quy định về khai thác, người Hà Nhì Đen còn quan tâm đến vấn đề bảo vệ rừng và những quy định này đều được quy định trong luật tục thôn Ngoài ra, rừng còn được bảo vệ bằng quá trình thiêng hóa rừng, các nghi lễ dân gian diễn ra tại các khu rừng thiêng của thôn bản
- Phát triển bền vững
Thuật ngữ phát triển bền vững (sustainable development) xuất hiện lần đầu
tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới (công bố bởi Hiệp hội
Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) Đến năm 1987, khái niệm phát triển bền vững đã được phổ biến rộng rãi nhờ bản báo cáo của Thủ
Trang 34tướng Na Uy Gro Harlem Brundtland có tên gọi “Our Common Future” (Tương lai
của các bạn) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay gọi là Ủy
ban Brundtland) Báo cáo này đã đưa ra định nghĩa tương đối đầy đủ về phát triển bền vững như sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” [132] Đến năm 2002, tại Hội nghị Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi), định nghĩa trong báo cáo Brundtland về phát triển bền vững
đã được bổ sung hoàn chỉnh cả về ngữ nghĩa và nội dung: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự
phát triển Đó là: Phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” Ba
yếu tố này trở thành ba trụ cột của sự phát triển bền vững [41] Như vậy, phát triển bền vững dựa vào khung ứng dụng là môi trường bền vững, xã hội bền vững, kinh
tế bền vững, văn hóa bền vững, phát triển bền vững con người và phát triển bền vững về thể chế [83]
1.2.2 Cơ sở lý luận
1.2.2.1 Quan điểm chỉnh thể luận
Để nhận diện mối quan hệ tương tác giữa các hệ thống xã hội và môi trường sinh thái mà luận án này quan tâm, NCS cho rằng cần thiết phải có những quan điểm lý luận về tính chỉnh thể, một trong những quan điểm của văn hóa dân gian đương đại và cũng của ngành nhân học văn hóa Quan điểm này được nhìn nhận một cách toàn diện về tri thức và thực hành truyền thống của tộc người Để đạt được mục đích này, tri thức dân gian cần thiết phải hợp nhất thành những tập hợp như là những quan điểm nhân sinh quan, sự hiểu biết, hay công cụ quản lý, và được nghiên cứu để giải quyết các vấn đề về môi trường sinh thái phục vụ cho phát triển bền vững [121]
Quan điểm chỉnh thể luận không thuần túy là dựa vào môi trường sinh thái,
mà là sự hợp nhất các tri thức dân gian về các lĩnh vực, khía cạnh rộng lớn về con người, văn hóa, xã hội, chính trị và kinh tế [124] Sự hợp nhất và tương tác giữa các tri thức này trong phát triển nhấn mạnh vai trò của cộng đồng địa phương Quan điểm chỉnh thể luận cũng có thể hiểu một cách rộng hơn là mối liên hệ giữa tri thức dân gian với một mô hình nhận thức luận kinh tế - xã hội và môi tường sinh thái rộng
Trang 35lớn hơn (Socio-economic and Ecological Model (SEEM) Trong mô hình SEEM, những tri thức dân gian của cộng đồng về môi trường sinh thái được sử dụng để đối phó với sự thay đổi môi trường Luận án này sử dụng cách quan điểm chỉnh thể luận kết hợp với mối tương quan với mô hình SEEM, giữa các quan điểm của tri thức dân gian và các quan điểm của hệ sinh thái trong việc tiến hành việc phân tích, đánh giá
về bảo vệ và khai thác rừng của người Hà Nhì ở Lào Cai
- Quan điểm chủ thể (emic)
Về bản chất, tri thức dân gian có nguồn gốc từ trong bối cảnh và thực hành của tộc người cụ thể Do vậy, cách tốt nhất là quan điểm của văn hóa dân gian, ảnh hưởng của nhân học nhận thức, tập trung vào mối quan hệ giữa sinhh thái nhân văn và tri thức của tộc người Không giống như quan điểm của dân tộc học truyền thống, các nhà nghiên cứu sử dụng quan điểm của họ để nghiên cứu văn hóa cộng đồng, quan điểm nhận thức luận trong văn hóa dân gian nhấn mạnh cộng đồng địa phương đã xây dựng nên hệ thống tri thức và những hệ thống này có ý nghĩa đối với chính họ Quan điểm nhận thức luận tập trung vào việc hiểu vai trò
và quan điểm của cộng đồng địa phương bằng các cách khác nhau như quan điểm của người trong cuộc, của chính những người cung cấp thông tin (hay còn gọi là
emic), ngược lại với quan điểm của người ngoài, của dân tộc học truyền thống
(quan điểm tiếp cận khách thể etic)
Việc dựa vào quan điểm của chủ thể hay người trong cuộc (emic) trong
nghiên cứu cần phải thận trọng về mặt phương pháp luận, như các tác giả Scoones và Thompson [153] đã chỉ ra trong các công trình của mình Một trong những vấn đề đó
là việc lựa chọn các thành viên của cộng đồng có hiểu biết, nắm được tri thức dân gian Tri thức của họ không đồng nhất phụ thuộc vào tuổi, giới tính, vị trí xã hội và những yếu tố khác trong cộng đồng cụ thể liên quan đếm mối quan hệ về quyền lực [154] Về điều này, NCS có thể khắc phục thông qua sự nắm bắt và hiểu biết về cộng đồng người Hà Nhì Đen mà NCS đã “ăn cùng, ở cùng, làm việc cùng” với họ NCS
cố gắng tìm kiếm những thông tín viên là những người hiểu biết trong cộng đồng, có
uy tín và được cộng đồng tín nhiệm để khai thác thông tin về tri thức dân gian trong khai thác và bảo vệ rừng
Trang 36Với kinh nghiệm và kiến thức tích lũy qua truyền đạt lại từ nhiều thế hệ, những người hiểu biết trong cộng đồng đã cung cấp cho NCS những thông tin khá
tỉ mỉ về rừng, về sự thay đổi của hệ sinh thái, về sự xói mòn đất rừng, về sự biến mất của một số loài động vật, thực vật Tri thức của những người hiểu biết trong cộng đồng dần dần được tích lũy qua kinh nghiệm khai thác và sử dụng rừng và được NCS phỏng vấn qua nhiều đợt khảo sát thực địa như đã nêu trong phần phương pháp nghiên cứu ở chương Mở đầu
1.2.2.2 Sinh thái văn hóa
Lý thuyết về sinh thái văn hóa (cultural ecology) được xuất hiện vào những năm 50 và phát triển mạnh mẽ vào những năm 60 của thế kỷ XX ở Mỹ Lý thuyết
về sinh thái văn hóa gắn liền với tên tuổi của hai tác giả nổi tiếng là Julian Steward
(1920 –1972) và Leslie White (1900-1975) [62] Hai ông đều cho rằng, văn hóa là sản phẩm của sự thích nghi của con người với các môi trường tự nhiên cụ thể Trong khuynh hướng này, khái niệm trung tâm của nó chính là sự thích ứng
(adaptation)
Theo tác giả Julian Steward, sinh thái học văn hóa làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường từ quan điểm con người là thể tồn tại thích nghi với môi trường thông qua văn hóa, còn văn hóa thì chịu ảnh hưởng của các loại tài nguyên môi trường mà con người sử dụng Cũng như các nhà nghiên cứu sinh thái văn hóa khác, Steward nhấn mạnh đến mối quan hệ gắn bó, qua lại giữa văn hóa và môi trường tự nhiên, trong đó môi trường tự nhiên đặc thù là cơ sở cho việc hình thành các mô hình văn hóa khác nhau Theo lý thuyết này, biến đổi văn hóa không phải là sản phẩm của “tình cờ lịch sử” hay sản phẩm của sự tiếp xúc và vay mượn giữa các nền văn hóa như trường phái khuếch tán văn hóa chủ trường, mà là kết quả của quá trình thích ứng của các nền văn hóa với môi trường sinh thái địa phương Từ đấy, chúng ta có thể dự đoán được xu hướng biến đổi của một nền văn hóa, đặc biệt là các thực hành văn hóa của các xã hội nặng về tự cấp tự túc, có sự gắn kết chặt chẽ
với các điều hiện môi trường tự nhiên cụ thể Cách tiếp cận của ông luôn nhấn mạnh
đến mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên, kỹ thuật, lao động, kinh tế với tổ chức
Trang 37xã hội Mối quan hệ qua lại giữa văn hóa với môi trường sinh thái, coi môi trường
sinh thái như là cơ sở quan trọng để có hiểu biết đầy đủ về văn hóa [62]
Khi sử dụng lý thuyết sinh thái văn hóa, hàng loạt các nghiên cứu của tác giả như Rappaport [148], Hoàng Cầm [62] đều phát hiện ra rằng các tri thức và thực hành văn hóa, sinh thái của các cộng đồng người địa phương luôn đóng một vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên, đa dạng sinh học và là
cơ sở của sự phát triển bền vững cả về kinh tế lẫn văn hóa tộc người
1.2.2.3 Quan điểm về sự tham gia của cộng đồng trong phát triển bền vững
Trong phát triển bền vững những thập niên qua có một sự thay đổi từ việc nhấn mạnh các quan điểm từ trên xuống đến quan điểm tham gia của cộng đồng ở cấp cơ sở Trong bối cảnh toàn cầu với nhiều chương trình, dự án phát triển triển khai tại các cộng đồng đia phương, quan điểm về sự tham gia (participatory) của cộng đồng từ dưới lên có mối liên quan chặt chẽ tới tri thức dân gian được ứng dụng rộng rãi [135] Ngày nay, nhân học văn hóa đã chỉ ra rằng những dân tộc bản địa có
“khoa học” của họ và thực hành tri thức dân gian của họ [139] Các chính phủ, các nhà phát triển, các tổ chức phi chính phủ đang nỗ lực hỗ trợ cộng đồng địa hương vận dụng và kết hợp các tri thức dân gian của cộng đồng trong quá trình nghiên cứu, lên kế hoạch, triển khai Những người ủng hộ cho quan điểm phát huy vai trò của tri thức dân gian trong phát triển tranh luận rằng chúng ta cần tập trung hướng tới những cách tiếp cận đa chiều, tận dụng những điểm mạnh, phù hợp của tri thức dân gian, và tránh những vấn đề không phù hợp, yếu thế của nó trong phát triển Dù trong bối cảnh nào, thì sự tham gia của cộng đồng địa phương với sự hiểu biết và tri thức của họ đều được cân nhắc và tôn trọng
Quan điểm lý luận này cho phép người dân được tham gia rộng rãi từ tư vấn đến hợp tác nghiên cứu, cho đến các quyết định, quyết sách [137] Những người bản địa đã sử dụng tri thức và kỹ năng của mình để giải quyết vấn đề, với sự hỗ trợ của các chuyên gia Dần dần, quan điểm lý luận này càng trở nên phổ biến và được sử dụng rộng rãi trong các hoạt động của các tổ chức phi chính phủ Và càng ngày càng
có quan điểm trong phát triển là “nguyên tắc dân gian” Có nghĩa là người dân địa phương được coi là những nhà tư vấn, người tham gia và tiếng nói của họ được tôn
Trang 38trọng Các dự án phát triển nếu bỏ qua những yếu tố truyền thống, địa phương, có thể dẫn tới những sai sót không đáng có [151] Một trong những nguyên chính của
sự bất cập này là sự khác biệt trong khoa học tự nhiên với khoa xã hội mềm chính là
ở trong sự hiểu biết và cách lý giải văn hóa của các cộng đồng khác biệt
Theo tác giả Sillitoe [154] trong phát triển bền vững, tri thức dân gian có thể đóng góp vào việc làm giàu có thêm sự hiểu biết về cơ hội phát triển trong bối cảnh văn hóa, sự can thiệp phù hợp đến nhu cầu cần thiết của người dân địa phương [154] Các dự án, nếu hiểu được và đánh giá đúng các giá trị của tri thức dân gian, có thể đạt được nhiều thành công hơn Hơn nữa, đánh giá những ý tưởng và thực hành địa phương sẽ khuyến khích sự tham gia tích cực, chủ động của cộng đồng và cùng đồng hành với các nhà khoa học, các nhà quản lý trong xây dựng và phát triển Tri thức dân gian giúp cho việc tránh khỏi những sai lầm đáng tiếc có thể xảy ra khi lên kế hoạch, thực hiện, triển khai và trong các chiến lược, quyết sách Cuối cùng, khoa học hiện đại luôn luôn và có thể bổ sung cho các tri thức dân gian, và thay thế những chỗ không phù hợp với điều kiện mới của môi trường, biến đổi khí hậu Một mặt, tri thức dân gian phần nào trao quyền cho những người ngoài lề, những người nghèo và tôn trọng họ Mặt khác, tri thức dân gian giúp cho các nhà phát triển hiểu rõ hơn vấn đề của địa phương, và giải quyết các vấn đề từ quan điểm của chủ thể văn hóa
1.2.2.4 Tri thức dân gian với phát triển bền vững
Khi bàn về tri thức dân gian với phát triển bền vững, Nakashima, D., Prott,
L và Bridgewater cho rằng kho tàng kiến thức phong phú về thế giới tự nhiên không chỉ giới hạn trong hệ thống kiến thức khoa học Những cộng đồng dân cư trên khắp thế giới đã xây dựng và đúc kết được những cách lí giải và những kinh nghiệm phong phú liên quan đến môi trường sống của họ Những hệ thống tri thức khác này ngày nay thường được gọi là những kiến thức truyền thống về môi trường sống, những tri thức bản địa, tri thức dân gian hoặc tri thức địa phương Chúng chính là những kho tàng thông tin, sự hiểu biết và các cách diễn giải phong phú về môi trường tự nhiên Chính những kiến thức này đã dẫn dắt cho xã hội loài người trên khắp trái đất trong vô số những tương tác với môi trường tự nhiên, như: trong trồng trọt và chăn nuôi, trong săn bắt, đánh cá và hái lượm, trong những nỗ lực của
Trang 39chúng ta chống lại bệnh tật và những thương tích, trong việc đặt tên và đưa ra những lí giải cho các hiện tượng tự nhiên, cũng như việc đưa ra những chiến lược
để đối phó với những thay đổi bất thường của môi trường tự nhiên, giúp cho môi
trường tự nhiên phát triển bền vững [142] Những cư dân bản địa với nguồn tri thức
dân gian phong phú về tự nhiên, về cách sống bền vững Tuy nhiên, vốn tri thức này chưa thật sự được coi trọng, mà thay vào đấy là các kiến thức mang tính lý thuyết, khoa học hiện đại đôi khi không phù hợp với vấn đề phát triển bền vững ở cộng đồng các dân tộc Do đó, việc tôn trọng và phát huy tri thức dân gian trong phát triển bền vững về sinh thái vẫn được coi là quan trọng, nhất là vấn đề phát triển bền vững ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Trong Hội nghị thượng đỉnh về sự phát triển bền vững năm 2002 (còn gọi
là Hội nghị Rio +10) được tổ chức tại Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi), các chính phủ và các bên tham gia nhấn mạnh sự cần thiết để sử dụng rộng rãi hơn một mặt là tri thức khoa học và kỹ thuật, mặt khác là tri thức dân gian Nhiều vấn đề liên quan đến quản lý nguồn tài nguyên bền vững, yêu cầu có một sự kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức khoa học và tri thức dân gian Do vậy, để tiến tới phát triển bền vững trong nhiều lĩnh vực cần có mối hợp tác chặt chẽ giữa các nhà khoa học và những người dân bản địa, cộng đồng bản địa với sự hiểu biết tri thức văn hóa truyền thống, về các vấn đề môi trường sinh thái nơi họ sinh sống qua mấy trăm năm để giải quyết các vấn đề về phát triển bền vững một cách cụ thể Theo Tổ chức ngân hàng phát triển châu Á (ADB): “Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của thế hệ trong tương lai” Hơn nữa, việc nghiên cứu các biểu đạt, các thể loại của văn hóa dân gian, trong đó có các di sản văn hóa phi vật thể cũng là một hướng đi mới của ngành khoa học xã hội và nhân văn
Trong Dự thảo Hướng dẫn Hoạt động về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể và phát
triển bền vững cấp quốc gia, tại chương VI “Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể và
phát triển bền vững ở cấp quốc gia”, Bản dự thảo cũng nêu rõ trong Mục 172 rằng:
Trang 40“Các Quốc gia Thành viên phải nỗ lực để ghi nhận, tăng cường và thúc đẩy đóng góp của di sản văn hóa phi vật thể trong việc tạo thu nhập và sinh kế bền vững cho cộng đồng, nhóm người và cá nhân Để đạt được mục tiêu này, các Quốc gia Thành viên được khuyến khích: đảm bảo rằng các cộng đồng, nhóm người và cá nhân có liên quan là những người được hưởng lợi chính từ thu nhập tạo ra nhờ di sản văn hóa phi vật thể của họ”
Ở Việt Nam, khái niệm và mục tiêu phát triển bền vững về môi trường cũng hết sức được quan tâm và được xây dựng thành các quy định trong Luật, các Chính sách từ Trung ương đến địa phương Tại khoảng 4 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường
số 55/2014/QH13 năm 2014 đã đưa ra quan điểm “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng
kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”
Năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 13/4/2012 về việc Phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn
2011 – 2020 Trong đó nêu rõ rằng “Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là loại tài nguyên không thể tái tạo, gìn giữ và cải thiện môi trường sống; xây dựng lối sống thân thiện môi trường, sản xuất và tiêu dùng bền vững”
Có thể nói, trong những thập niên qua, phát triển bền vững không chỉ là khái niệm, mà đã trở thành một yêu cầu, một nhiệm vụ đã được hầu hết các nước trên thế giới quan tâm và thực hiện Trong đó, yêu cầu của phát triển bền vững đặt ra những đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, xã hội với bảo vệ môi trường, đảm bảo kết hợp chặt chẽ giữa khai thác với bảo tồn, gìn giữ cho thế hệ mai sau nguồn tài nguyên thiên nhiên, không gian sống trong lành, không gây ra những thảm họa để các thế hệ sau phải gánh chịu Tuy nhiên, để làm sao vừa kết hợp giữa khai thác với bảo tồn một cách hài hòa, chúng ta cần có sự kết hợp chặt chẽ các kiến thức khoa học với tri thức dân gian