Họ vẫn luôn ý thức tìm tòi, đổi mới trong phương pháp sáng tạo, trong tư duy thể loại để thai nghén và cho ra đời những tác phẩm tương xứng với tầm vóc của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN -
TRẦN THỊ HOA
CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG TRUYỆN NGẮN BẢO NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THỊ TUYẾT MINH
HÀ NỘI- 2016
Trang 2Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Tác giả khóa luận
Trần Thị Hoa
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của cô
giáo – TS Nguyễn Thị Tuyết Minh Tôi xin cam đoan:
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
Đề tài không trùng với kết quả có sẵn của bất cứ tác giả nào khác
Hà Nội, tháng5 năm 2016
Tác giả khóa luận
Trần Thị Hoa
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của khóa luận 5
7 Cấu trúc của khóa luận 5
NỘI DUNG 6
Chương 1 GIỚI THUYẾT CHUNG 6
1.1 Chủ đề con người cô đơn trong văn học 6
1.1.1 Chủ đề con người cô đơn trong văn học thế giới 6
1.1.2 Chủ đề con người cô đơn trong văn học Việt Nam 8
1.2 Truyện ngắn Bảo Ninh trong bối cảnh truyện ngắn Việt Nam đương đại 12
1.2.1 Khái niệm truyện ngắn 12
1.2.2.Diện mạo truyện ngắn Việt Nam đương đại 14
1.2.3 Truyện ngắn Bảo Ninh và chủ đề con người cô đơn 17
Chương 2 NHẬN DIỆN CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG TRUYỆN NGẮN BẢO NINH 20
2.1 Người lính 20
2.1.1 Người lính từ cái nhìn lịch sử 21
2.1.2 Người lính từ cái nhìn cá nhân 23
2.2 Người phụ nữ 27
2.2.1 Người phụ nữ từ cái nhìn lịch sử 27
Trang 52.2.2 Người phụ nữ từ cái nhìn cá nhân 30
Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG TRUYỆN NGẮN BẢO NINH 32
3.1 Điểm nhìn trần thuật linh hoạt 32
3.2 Ngôn ngữ độc thoại nội tâm 35
3.3 Giọng điệu xót xa, thương cảm 38
KẾT LUẬN 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6được thể hiện với “những cảm hứng mới, những cách thức tiếp cận mới,
những cách viết mới chứ không phải sự nối dài của quá khứ”(Phong Lê) Văn
học Việt Nam đã có nhiều tác phẩm hay, có giá trị về đề tài này, nhưng những người cầm bút vẫn chưa hài lòng về thành tựu của chính mình Họ vẫn luôn ý thức tìm tòi, đổi mới trong phương pháp sáng tạo, trong tư duy thể loại để thai nghén và cho ra đời những tác phẩm tương xứng với tầm vóc của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc.Trên con đường đó, văn xuôi Việt Nam, đặc biệt truyện ngắn sau 1975 viết về chiến tranh và người lính đã có những bước
chuyển biến mới mẻ và đạt được những thành tựu quan trọng
Năm 1987 truyện ngắn Trại bảy chú lùn của Bảo Ninh chính thức xuất
hiện trên văn đàn Từ đó đến nay, trên hành trình sáng tạo hơn hai thập kỉ,Bảo Ninh đã có những đóng góp to lớn cho nền văn học Việt Nam đương đại, đặc biệt là mảng văn học viết về chiến tranh thời hậu chiến
Có thể nói, bên cạnh tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh(Thân phận của tình yêu) đạt giải nhất Hội Nhà văn năm 1991 đã làm nên tên tuổi Bảo Ninh
trên văn đàn Việt Nam và thế giới, ông còn có những tác phẩm tự sự cỡ nhỏ
“bặt thiệp và tinh tế” Những điều ông viết có thể xem như sự tri ân cho cuộc
sống mà tuổi trẻ của người lính đã dâng hiến cho dân tộc với những trải
nghiệm sâu sắc: “Chiến tranh và đồng đội ấy là tình yêu của chúng tôi, lớp
Trang 7Truyện ngắn Bảo Ninh thu hút sự chú ý của bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình văn học đương đại Phải chăng ngòi bút tài hoa này đã tạo hình nên những thiên truyện để đến thế hệ hôm nay và ngày mai sẽ mãi còn nhớ đến những con người trong thời chiến với những tâm tư sầu kín Đó là lí do
chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Con người cô đơn trong truyện ngắn Bảo Ninh”
2.Lịch sử vấn đề
Truyện ngắn Bảo Ninh nhận được khá nhiều sự quan tâm của giới sáng
tác cũng như phê bình văn học đương đại Trong Văn học Việt Nam thế kỉ
XX,Bùi Việt Thắng khẳng định: Bảo Ninh “là một trong những nhà văn có duyên với truyện ngắn và là cây bút ấn tượng mạnh với người đọc”[2;337]
Bích Thu trong Những thành tựu của truyện ngắn sau năm 1975 cũng xem Bảo Ninh là “một cây bút ấn tượng với người đọc” [17;32] Mai Quốc
Liên khi nhận xét về cuốn sánh Bảo Ninh - Tác phẩm chọn lọc cho rằng:
“Đã lâu lắm, tôi mới đọc được một tập truyện hay như thế Anh tôi, tuy làm
“chính trị” đọc xong cũng thốt lên “hay”…Một nỗi buồn sâu lắng nhưng trong lành, một tình yêu thương đằm thắm, xót xa thấm đượm trong từng trang sách…Và cao hơn, một sự nhận thức đầy đủ, chân thành, lương tâm của một người lính trở về từ chiến trận Một cái nhìn, một cách nhìn và điểm
Trang 83
nhìn đã được lọc qua tháng năm những suy nghĩ trải nghiệm qua máu xương, chiến trận…Số phận của từng người, số phận của tình yêu, cái ngẫu nhiên và cái sống, cái chết đã làm cuộc đời thêm xót xa, cay đắng nhưng càng đáng yêu hơn” [6;42]
Phạm Xuân Thạch cho rằng:Truyện ngắn Bảo Ninh “giống như những
mảnh vỡ của tiểu thuyết hoặc phản chiếu hoặc soi gương thế giới của tiểu thuyết” , “như một sự đào sâu hiện thực của chiến tranh bằng sự trải nghiệm
cá nhân để làm phong phú thêm cái nhìn của cộng đồng về hiện thực lịch sử”[8;251].
Giới thiệu tuyển tập truyện ngắn Lan man trong lúc kẹt xe của Bảo Ninh,
tác giả Nguyễn Chí Hoan đã chú ý đến một số yếu tố nghệ thuật và cho
rằng:“Nó là một suy tư chiêm nghiệm vô tận về thân phận qua cái nhìn hồi cố
Các nhân vật trong truyện kể về các sự kiện và con người như là những ấn tượng mạnh mẽ khác thường mà kí ức còn lưu giữ”.Các mạch truyện “nối với nhau như những đoạn phim tư liệu được một tay đạo diễn dựng lại một cách ngẫu nhiên” Cái nhìn hình tượng ấy cho ta thấy quá khứ được kể là “cao nhất, lớn hơn, hư ảo hơn đồng thời là thực hơn” Đó là “cái nhìn vào ý nghĩa” mà “không phải vào sự kiện, biến cố, con người một cách thông thường”[10;50].
Trong bài viết Bảo Ninh – nhìn từ thân phận truyện ngắn, Đoàn Ánh
Dương nhận xét:Tập truyện ngắn “là một đối ứng với Nỗi buồn chiến tranh,
nhưng trong sự thống nhất gần như trọn vẹn của những vấn đề được đề cập: nỗi buồn hậu phương” Tác giả cũng khẳng định “Với Bảo Ninh, chiến tranh
là một chấn thương” Trở về sau chiến tranh ám ảnh những gì cuộc chiến
mang lại “Bảo Ninh đã viết về nó, nhìn đời qua lăng kính đó, để vượt lên chấn
thương, vượt thoát cái chết mà chấn thương đó quy định” Và “Chủ âm trong sáng tác của Bảo Ninh là hồi tưởng về quá khứ” Do vậy “Kí ức là chất liệu
Trang 94
chủ đạo trong sáng tác của Bảo Ninh, còn Bảo Ninh là kẻ ăn mày kí ức ấy”.Tác giả bài viết còn đưa ra kết luận: “Đã đến lúc phải đọc Bảo Ninh theo một cách khác Văn Bảo Ninh là câu chuyện đời của chính ông Ở đó kí ức cá nhân trở thành chất liệu của hư cấu, còn hư cấu xét đến cùng như một lẽ viết
và vì thế một lẽ sống”[4].
Về tập truyện mới nhất của Bảo Ninh - Chuyện xưa kết đi được chưa,
Nhị Linh trong blog của mìnhcó những nhận xét: “Chưa bao giờ văn học Việt
Nam có một sự kéo dài và nồng độ đậm đặc như thế” “Ám ảnh như một sự quán xuyến cả tập sách Nhưng sự ám ảnh này cũng có một nét đặc biệt, nó không thể hiện trong nỗi nhớ, niềm tiếc nuối, mà lại thể hiện nhiều hơn trong
sự quên Rất nhiều nhân vật trong các truyện không thực sự nhớ mình đã như thế nào, cuộc đời xưa kia của mình ra sao Chỉ thỉnh thoảng mới le lói một chút kí ức, và chỉ cần một hạt bụi nhỏ(nhỏ và tầm thường như một cái
“búng”) cũng đủ khơi dậy day dứt, day dứt trộn lẫn với sự quên, day dứt cũng chính vì đã quên những điều lẽ ra không quên”[5].
Trong luận văn thạc sĩ Chiến tranh chống Mỹ trong truyện ngắn Bảo Ninh
(Đại học Vinh năm 2006), tác giả Lưu Thị Thanh Trà nghiên cứu đề tài chiến
tranh trong truyện ngắn Bảo Ninh qua đối sánh với tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh Tác giả khẳng định: “Bảo Ninh đã đem đến cho người đọc một
hiện thực chiến tranh với nỗi buồn dằng dặc, bàng bạc, đau xót trong các truyện ngắn Nỗi buồn chiến tranh, nỗi buồn hậu chiến đã tác động vào số phận, nhân cách của mỗi người lính”
Tiếp thu từ những gợi ý trên đây của các nhà nghiên cứu, trong khóa luận này,
chúng tôi tập trung tìm hiểu Con người cô đơn trong truyện ngắn Bảo Ninh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cuốnBảo Ninh- những truyện ngắn, NXB Trẻ, 2013
Trang 105
- Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi của một khóa luận tốt nghiệp Đại học và thời gian có hạn, chúng tôi không tìm hiểu mọi phương diện về nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Bảo Ninh nói chung mà chỉ tập trung tìm
hiểu về Con người cô đơn trong truyện ngắn Bảo Ninh
4 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận làm rõ Con người cô đơn trong truyện ngắn Bảo Ninh Từ đó,
khẳng định đóng góp của Bảo Ninh đối với nền văn học đương đại Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận tập trung sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp so sánh- đối chiếu
- Phương pháp phân tích văn học
- Phương pháp khái quát, tổng hợp
6 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận là công trình khoa học tìm hiểu một cách hệ thống về Con người cô đơn trong truyện ngắn Bảo Ninh Từ đó,nhận diện về truyện ngắn
Việt Nam thời kì đổi mới
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của khóa luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: Giới thuyết chung
Chương 2: Nhận diện con người cô đơn trong truyện ngắn Bảo Ninh Chương 3: Nghệ thuật thể hiện con người cô đơn trong truyện ngắn Bảo Ninh
Trang 116
NỘI DUNG Chương 1 GIỚI THUYẾT CHUNG
1.1 Chủ đề con người cô đơn trong văn học
1.1.1 Chủ đề con người cô đơn trong văn học thế giới
“Cái cô đơn” là đề tài có tính chất triết học truyền thống trong văn học phương Tây Có thể thấy đề tài này hiện hình trong nhiều tác phẩm và trong mỗi con người Từ thời Phục Hưng, Đônkihôtê – một chàng dũng sĩ đơn thương độc mã với những chuyến đi mong muốn làm hiệp sĩ giang hồ Anh ta tách mình ra khỏi cộng đồng người, đam mê với những loại truyện và tiểu
thuyết kiếm hiệp Chàng Hămlet (Hamlet) một mình đối diện với cả một đất
nước đầy rẫy sự xấu xa Hămlet nhận ra “đời chỉ là một vườn hoang, mọc lên
từ những hạt giống độc” Chàng nhận thức được sự phức tạp, tráo trở của con
người Hămlet đặt ra hàng trăm câu hỏi “sống hay không sống”, “tồn tại hay
không tồn tại” Anh băn khoăn, hoài nghi cái xã hội mà anh đang sống, bởi lẽ
trong cái vương quốc ấy anh hoàn toàn cô độc, không ai hiểu anh Thậm chí
là Giăng-Van-Giăng(Những người khốn khổ) hay nàng Anna Karenia (Anna
Karenia), dòng họ nhà Buendia (Trăm năm cô đơn),…Chính cô đơn là
nguyên nhân dẫn đến nhiều cái chết trong các tác phẩm Nhà thơ Octavio Paz
từng đoạt giải Nobel văn chương năm 1990 cho rằng: “Cái cô đơn là đặc
trưng cuối cùng của thân phận con người” và nhấn mạnh “con người là sinh vật duy nhất cảm thấy mình cô đơn” Nhà văn G.G.Marquez (giải thưởng
Nobel năm 1982 từ cuốn Trăm năm cô đơn) đã từng thừa nhận: “Trên thực tế
mỗi nhà văn chỉ có một cuốn sách, cuốn sách mà tôi đang viết là cuốn sách nói về cái cô đơn”
Trang 12tự giác tuân theo, chờ đợi cái chết giáng xuống đầu mình Đến đây, thực sự con người đã tới bước đường cùng, hoàn toàn cô đơn, bất lực Con người không làm chủ được mình
Cô đơn được thể hiện là những u buồn, sự xa lánh muốn trốn tránh thực tại và sự cô độc của con người trong xã hội loài người Cũng như các nhà văn phương Tây, các nhà văn phương Đông cũng xây dựng những tác phẩm viết
về nỗi cô đơn Cảm thức cô đơn được phát khởi từ Khuất Nguyên thuở trước, vọng về thẳm sâu trong tâm hồn con người bất đắc chí với cuộc đời Nhà thơ ước muốn xây dựng một nền “mỹ chỉnh” tốt đẹp nhưng lại cô độc bởi mọi người ghen ghét, đố kị Và đến với Đỗ Phủ là nỗi buồn, cô đơn chới với của
cả một gia đình, một thời đại, một dân tộc đang oằn mình trong khoảng tối tăm của trời đất, mang trong mình nhiều bi kịch lịch sử đau thương Nó là những lớp trầm tích văn hóa phương Đông xuôi chảy trong dòng thời gian cổ kim, thức tỉnh được sự đồng vọng, cảm thông của biết bao người đời xưa, đời nay và cả mãi sau Ngoài ra ta có thể kể đến những tác phẩm văn xuôi viết về
cái cô đơn của con người như: Hồng lâu mộng (tiểu thuyết của Tào Tuyết
Cần) Nhân vật cô đơn trước thực tại cuộc sống với chế độ khoa cử, hôn nhân,
gia đình, tình yêu,… Báu vật của đời, Sống đọa thác đày,…(tiểu thuyết của
Trang 131.1.2 Chủ đề con người cô đơn trong văn học Việt Nam
Văn học Việt Nam vươn đến với bạn đọc thế giới không chỉ là sự đa dạng
về thể loại mà còn là sự phong phú về đề tài Con người cô đơn là vấn đề không ít nhà văn, nhà thơ trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã tốn giấy mực bàn luận Có những tác phẩm đề cập đến con người cô đơn một cách trực tiếp, nhưng cũng có những tác phẩm đề cập một cách gián tiếp Ở Việt Nam, con người cô đơn được các nhà thơ, nhà văn trung đại khai thác từ rất lâu Con người cô đơn bởi mâu thuẫn giữa hiện thực cuộc sống và lý tưởng của họ Điều này ta có thể bắt gặp qua trang thơ của các nhà thơ trung đại như Nguyễn Khuyến Ông cô đơn vì giấc mơ trị quốc bình thiên hạ không thực hiện được, đôi tay bất lực đã cáo quan về ở ẩn khi mâu thuẫn giữa hiện thực
và lý tưởng không thể dung hòa Đại thi hào Nguyễn Du từng viết: “Người
buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Trong mỗi trang văn trang thơ của Nguyễn
Du, ta bắt gặp nỗi niềm tâm sự của một con người cô đơn, mệt mỏi u sầu, mất
đi niềm tin vào cuộc sống Sinh ra trong cảnh loạn ly, chứng kiến bao nhiêu bi hoan, tan hợp Nguyễn Du chán ngẩm thế sự, âu lo về con đường tương lai, không biết ngỏ cùng ai những ước nguyện hùng tâm tráng chí, một mình một thếvới bao sự cố thăng trầm, với những năm tháng của tuổi già xế bóng,…Dễ
Trang 149
thấy ở những vần thơ chữ Hán của ông có một con người lặng im, “vô ngôn”,
cô độc tự chôn vùi tâm sự vào lòng mình Hiếm khi Nguyễn Du tâm sự cùng
ai, chỉ thấy một tấc lòng cô đơn không lí giải:
“Ngã hữu thốn tâm vô dư ngữ”
(Ta có một tấc lòng không biết nói cùng ai)
- My trung mạn hứng – Tâm sự của Nguyễn Du không thoát ra ngoài, không gửi được vào thiên nhiên, không hòa điệu được vào gió, trăng, mây, nước, mà cơ hồ đã thấm vào máu thịt con người Thi nhân chỉ còn biết đối diện với bốn mùa:
“Tứ thời yên cảnh độc trầm ngâm”
(Mây khói bốn mùa một mình trầm ngâm)
- Thu dạ 2 – Với bóng đêm:
“Chung dạ bồi hồi tứ chuyển mê”
(Suốt đêm bồi hồi, nghĩ ngợi miên man)
- Ngẫu hứng 2 –
Và đỉnh cao tâm trạng cô đơn của nhà thơ là khi Nguyễn Du đứng trước thành Tín Dương nghe tiếng kèn mùa thu ảo não, u buồn mà cảm xúc dâng trào lai láng Chừng như Nguyễn Du đã đồng vọng với Thôi Hiệu năm xưa khi đứng trước lầu Hoàng Hạc buâng khuâng nhớ về cánh hạc, hoài vọng cái
đã qua, trở về với chính mình, cảm nhận sự cô đơn của gót chân lãng du mà man mác sầu nhớ quê hương:
“Vạn lí hương tâm hồi thư xứ
Bạch Vân nam hạ bất thăng đa”
(Ở nơi muôn dặm nhớ tới quê hương, ngoảnh đầu nhìn lại Chỉ trông thấy mây trắng bay về nam không kể xiết)
- Ngẫu hứng –
Trang 1510
Như vậy, bên dòng trôi phi ngã của văn học trung đại, ta vẫn thấy liên tục
và liền mạch sự thể hiện của cái tôi cá nhân trong hành trình cô đơn, lạc lõng ngay trong thời đại của mình Vậy hình tượng con người cô đơn đã có nguồn gốc biện chứng của nó Dù thể hiện với cách này hay cách khác, ở góc độ này hay góc độ kia thì hình tượng con người cô đơn cũng đã được xác định tồn tại
cụ thể là lôgic trong dòng văn học trung đại Nó phổ quát nhưng sâu, nó không đại trà nhưng tập trung nhiều năng lượng Hầu như tác giả trung đại nào cũng có một góc đối diện với chính mình và nhận ra nỗi cô đơn đích thực đang cự quậy trong sự ổn định của tư tưởng Nho giáo Cô đơn thường đi liền với bất an, bế tắc và tuyệt vọng Mỗi tác giả trên đây đều xây dựng hình tượng con người cô đơn theo cách riêng của mình
Đến văn học hiện đại, các nhà Thơ mới cảm thấy bất mãn với hiện thực cuộc sống nên tìm cách trốn tránh thực tại và quay vềquá khứ Cảm thức về nỗi cô đơn được thể hiện rõ Xuân Diệu tự coi mình là “chàng sầu”, “con nai chiều”, “người kỹ nữ”,… Cùng ngơ ngác trước cuộc đời, nhưng nếu như “con nai vàng” của Lưu Trọng Lư chí ít còn bước đi để lại đằng sau tiếng chân xào xạc thì “con nai chiều” của Xuân Diệu không thể cất chân vì hoàn toàn bị bủa vây “chân vướng rễ cây, lòng vướng muôn dây” giữa chiều rừng tội nghiệp:
“Tôi là con nai bị chiều đánh lưới
Không biết đi đâu, đứng sầu bóng tối"
(Khi chiều giăng lưới - Xuân Diệu) Tột đỉnh của sự cô đơn là lúc nhà thơ thấy mình phải đối diện với chính lòng mình:
"Lòng kỹ nữ cũng sầu như biển lớn
Chớ để riêng em phải gặp lòng em"
(Lời kỹ nữ - Xuân Diệu)
Trang 16(Thơ viết ở biển – Hữu Thỉnh) Không chỉ ở lĩnh vực thơ ca, ở văn xuôi cảm thức về sự cô đơn cũng được thể hiện khá rõ Đặc biệt, sau năm 1975, đất nước hòa bình và đi vào quỹ đạo mới, ý thức cá nhân đã xuất hiện trở lại Văn học được giải phóng khỏi chức năng tuyên truyền, cổ vũ để mở rộng khả năng khám phá cuộc sống Những biến động lớn, cảm quan bất an trước một thời điểm nhiều xáo trộn, rạn vỡ là cơ số cho sự quan tâm đến trạng thái cô đơn và hình tượng con người cô đơn Chứng tỏ văn học đang có sự quan tâm đến con người, đến đời sống tinh thần của con người Chủ đề cô đơn góp phần làm mới diện mạo văn học Người ta cảm nhận rằng quan niệm về con người và văn chương thay đổi nhiều so với văn học ba mươi năm chiến tranh Ý vị cô đơn thấm đượm trong dòng thơ mang cảm hứng thế sự và đời tư, phảng phất trong những bài thơ triết lí về bản thể con người Trong văn xuôi, đề tài chiến tranh, đề tài cải cách ruộng đất, đề tài hôn nhân gia đình,… khi hiện thực được phơi mở cũng là lúc những mặt khuất tối của đời sống hiện lên Bao giờ cũng thấp thoáng hình ảnh con người cô đơn Đó là văn xuôi Nguyễn Khải với kiểu nhân vật "lạc thời"
Tạ Duy Anh có những trang viết về hành trình cô độc của những con người trong cuộc xô dạt dữ dằn của thời cuộc Đó còn là nỗi cô đơn của những con người bất hòa với môi trường sống khi các giá trị truyền thống bị phá sản, khi các mối quan hệ trong xã hội bị rời rạc, lỏng lẻo Những con người kiếm tìm hoặc chạy trốn được thể hiện qua nhiều tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, Ma
Trang 1712
Văn Kháng,… Nguyễn Huy Thiệp trong tác phẩm Tướng về hưuđề cậpđến
con người cô đơn ở một phương diện khác Ông Nguyễn Thuấn, một vị tướng
có uy lực trong quân đội, nay nghỉ hưu trở về với đời thường, chứng kiến bao chuyện đau lòng trong gia đình, họ hàng, làng xóm, ông bất lực Ông cố gắng
để hòa nhập với những con người ấy nhưng sự cố gắng của ông đều trở nên
vô nghĩa vì ông không thể nào hòa nhập nổi Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh nói đến những con người trẻ tuổi luôn ở trạng thái hụt hẫng, chơi vơi, cô đơn vì không điểm tựa tinh thần Họ phải đối diện với cuộc sống lúc nào cũng toát lên mùi vị đơn điệu, buồn chán, nhạt nhẽo,…
Như vậy, cô đơn là chủ đề quen thuộc của văn học Đông Tây kim cổ Văn học đương đại Việt Nam nói chung và truyện ngắn của Bảo Ninh nói riêng cũng tiếp nối quy luật này
1.2 Truyện ngắn Bảo Ninh trong bối cảnh truyện ngắn Việt Nam đương đại
1.2.1 Khái niệm truyện ngắn
Truyện ngắn là một thể loại cơ bản của văn học Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề xuất nhiều định nghĩa khác nhau về truyện ngắn
Giáo trình Lí luận văn học định nghĩa: “Truyện ngắn đích thực xuất hiện
tương đối muộn trong lịch sử văn học Tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ con người hay đời sống tâm hồn con người”[14;397].
Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Khác với tiểu thuyết, truyện ngắn
là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng đến việc khắc họa một hình tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người”[3,
371] Victor Sawdon Pritchett coi truyện ngắn là “một điều gì đó thoáng
trông thấy khi ta đi ngang qua” Còn John Updike thì nói: “Đấy là các tác phẩm dài vài ngàn từ, được viết trên cơ sở kinh nghiệm trực tiếp của tôi hơn
Trang 18Như vậy, truyện ngắn là một thể loại tự sự cỡ nhỏ Nó được ví như một trinh sát viên của thời đại Nó khoan vào một khúc, cưa một lát nhưng nó thật sâu về một ấn tượng nào đó trong cuộc sống Hình hài của truyện ngắn hiện đại như ta thấy hiện nay là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt cuộc sống rất riêng, mang tính chất thể loại
Đến nay, truyện ngắn đã ngày một khẳng định vị trí và ưu thế của mình trong hệ thống loại hình tự sự của văn học thế giới Từ những câu chuyện kể vặt vãnh hàng ngày rất tự nhiên nhưng dưới ngòi bút sáng tạo, gọt rũa ngôn từ của muôn thế hệ nhà văn, truyện ngắn dần dần được hình thành và phát triển,
thành công nở rộ Trên văn đàn Việt Nam, tác phẩm Sống chết mặc bay của
Phạm Duy Tốn được đánh giá là mốc xuất hiện đầu tiên của truyện ngắn Tác phẩm được in trên báo Nam Phong tháng 12 năm 1918 Đây được coi là truyện ngắn đầu tiên theo lối Tây phương của nền văn học Việt Nam hiện đại Tác phẩm được giới thiệu một cách thực ấn tượng: Dưới tiêu đề chữ to MỘT LỐI VĂN MỚI và lời giới thiệu đặc biệt của chủ báo Phạm Quỳnh, câu chuyện trải dài suốt ba cột báo Từ những trải nghiệm thực tế với trận lũ lịch
sử ở Bắc Kì mà Phạm Duy Tốn từng miêu tả trong bài báo nổi tiếng “Hoạn
nạn tương cứu” đã trở thành chất liệu dồi dào để nhà văn viết nên Sống chết mặc bay Truyện phản ánh chân thực thảm cảnh xã hội đương thời Sống chết mặc bay là “khởi nguyên” của thể loại truyện ngắn trên diễn đàn văn xuôi
Trang 1914
Việt Nam, cũng là sự kết thúc hoàn hảo trong sự nghiệp văn học của Phạm Duy Tốn ở mảng truyện ngắn Mặc dù ông không viết truyện ngắn nữa nhưng trên văn đàn Việt Nam đã có sự kế tiếp của nhiều nhà văn tài năng đã đưa truyện ngắn bước thêm một bước tiến mới trên bục đài vinh quang như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao,
Truyện ngắn vốn là thể loại mạnh của văn học Việt Nam hiện đại Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, truyện ngắn gặt hái thành tựu với nhiều cây bút tài năng như Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Ba mươi năm đất nước có chiến tranh, truyện ngắn ghi dấu ấn ở những tên tuổi như Tô Hoài, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Thành Long, Ma Văn Kháng, Thời kì đổi mới, truyện ngắn tiếp tục phát huy được thế mạnh của mình với một đội ngũ người viết đông đảo, trong số đó đặc biệt phải kể đến vai trò của các nhà văn như Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Lê Minh Khuê, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư,… và không thể không nhắc đến Bảo Ninh
Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, văn học cũng cần phải có sự đổi thay
để đáp ứng được nhu cầu của thời đại Theo quy luật ấy, truyện ngắn cũngcó
sự vận động, phát triển riêng qua từng giai đoạn Những đổi mới của truyện ngắn đương đại đã ngày càng thu hút được sự quan tâm của độc giả Đọc một truyện ngắn chỉ mất khoảng mười lăm phút nhưng khả năng thuyết phục của
nó thì rất rõ Có thể đây là điều mà độc giả hiện đang rất kì vọng: Truyện ngắn- một quả bom nghệ thuật với hiệu ứng mạnh mẽ và tức thời
1.2.2.Diện mạo truyện ngắn Việt Nam đương đại
Sau năm 1975, không khí dân chủ được mở rộng và cũng là thời kì giao lưu văn hóa đa chiều Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng đưa đến sự phát triển của văn học nước ta Thông qua giao lưu hội nhập, văn học nước ta có điều kiện để tiếp xúc, lĩnh hội những giá trị đích thực của văn học
Trang 2015
thế giới Các nhà văn cũng có cơ hội để bộc lộ quan điểm và cá tính sáng tạo của mình Bên cạnh những cây bút đã trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến xuất hiện những cây bút mới hăm hở, xông xáo, tài năng và nhiều hoài bão.Quan niệm văn học thời kì này cũng cởi mở hơn, gắn với cá tính sáng tạo của người viết Các nhà văn không thần thánh hóa văn chương, không đặt vào
đó quá nhiều hi vọng cao siêu Văn chương cũng như một hiện tượng của đời
sống “Văn chương sẽ sống cái sức sống của nó Nhưng như tất cả mọi việc
trên đời này, văn chương cũng có giới hạn, có sự sáng lên, sự mất đi, có cái cao cả cũng như cái bình thường” (Lê Minh Khuê) “Với tôi văn chương là một tôn giáo, nó không mang màu sắc chính trị nào cả Nó là nỗi đau, là khát vọng của con người” (Thái Thăng Long) Như vậy, cách nhìn văn học như
một vũ khí tuyên truyền về cơ bản đã được giải tỏa Văn học đã được nhìn nhận trong bảnchất đặc thù của nghệ thuật ngôn từ, xuất phát từ quan niệm của người cầm bút Từ đây nhà văn chủ động và tự do hơn trong sáng tạo của mình Trong mối quan hệ với độc giả, nhà văn đã thiết lập được mối quan hệ bình đẳng thân mật và dành quyền quyết định cuối cùng cho bạn đọc đối với tác
phẩm của mình Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ cho rằng: “Người viết chỉ nên
làm một người bạn tâm tình với người đọc chứ đừng là người dạy người đọc
vì chưa chắc cứ nhà văn giỏi đã có văn hóa” Nhiệm vụ của nhà văn không
phải là nói ra chân lí mà thức tỉnh ý thức, hướng về chân lí hoặc thức tỉnh
lương tri hoặc ý thức con người “Nhà văn giữ vai trò là người đối thoại, đưa
ra những nhận xét, đề nghị với người đọc để cùng suy nghĩ, tìm kiếm, có thể
cả tranh luận” (Lê Minh Khuê) Người đọc ngày nay không còn thụ động,
không tiếp nhận hay đánh giá tác phẩm theo những lối mòn mà có quyền
“đồng sáng tạo” với nhà văn
Có thể thấy, sau 1975 truyện ngắn Việt Nam đã đạt được những thành
tựu đáng kể “Chỉ tính riêng ba cuộc thi truyện ngắn của Báo Văn nghệ, Hội
Trang 2116
Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh và Tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức đã
có gần 7000 truyện ngắn dự thi Nếu tính cả truyện ngắn đăng trên báo tạp chí trong năm, con số lên hàng vạn” Theo nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng
“Cuộc thi truyện ngắn 2001-2002 do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức có
gần 2000 tác phẩm dự thi, bằng số lượng của bốn năm 1978 – 1979, 1983 – 1984” Điều đó cho thấy tiềm lực của thể loại tự sự cỡ nhỏ Có thể nói, chưa
bao giờ truyện ngắn lại phát triển phong phú về số lượng lẫn hiệu quả như thời kì này
Truyện ngắn thời kì đổi mới đi vào mọi vấn đề của cuộc sống thường nhật Đó là nỗi đau của chiến tranh để lại, là sự mất mát của người lính bước
ra khỏi cuộc chiến, là nỗi hận thù của dòng họ, gia tộc, là cái khắc nghiệt của
sự đói khát và cô đơn, Có cả vấn đề của cõi tâm linh và vô thức Có niềm hân hoan hạnh phúc, có nỗi xót xa cay đắng Bao nhiêu phức tạp ồn ào, bao nhiêu dư vị đắng chát của cuộc sống thời đổi mới được truyện ngắn phản ánh
chân thực Truyện ngắn giờ đây không còn là “mũi khoan thăm dò nhỏ và
nhẹ” (Nguyên Ngọc) mà đã mang sức nặng của sự khái quát qua mỗi câu
chuyện có thể thấy cả một cuộc đời, một kiếp người, một vận hội, một thời
đại Có những truyện ngắn còn nặng hơn cả một cuốn tiểu thuyết như Khách
ở quê ra, Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, Bước qua lời nguyền của
Tạ Duy Anh,…
Các nhà văn hôm nay đang nỗ lực không ngừng trên con đường sáng tạo
Họ chấp nhận đương đầu với thử thách khó khăn, vượt lên mọi dư luận khen chê bằng tài năng và bản lĩnh của mình đem đến một lối nghĩ mới, một cách nhìn mới, một phương thức miêu tả mới về hiện thực Văn học giai đoạn này ghi nhận sự hình thành của nhiều phong cách truyện ngắn độc đáo như: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Phan Thị Vàng Anh, Bảo Ninh,…
Trang 2217
1.2.3 Truyện ngắn Bảo Ninh và chủ đề con người cô đơn
Bảo Ninh tên khai sinh là Hoàng Ấu Phương, sinh ngày 18/10/1952 tại Diễn Châu, Nghệ An, quê gốc ở xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh, Quảng Bình Bảo Ninh sống ở Hà Nội từ năm 1954 Ông vào bộ đội năm 1969 Trong chiến tranh chống Mỹ, ông ở mặt trận B3 Tây Nguyên, tiểu đoàn 5, trung đoàn 24, sư đoàn 10 Năm 1975, ông giải ngũ Từ năm 1976 đến năm
1981, ông học Đại học ở Hà Nội, sau đó làm việc ở Viện khoa học Việt Nam Từ năm 1984 đến năm 1986, ông học khóa 2 Trường Viết văn Nguyễn Du Ông làm việc tại báo Văn nghệTrẻ, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1997
Cũng như bao người lính trở về, Bảo Ninh giữ cho riêng mình những kỉ niệm chiến trường gian khổ nhưng oanh liệt Trong hành trang tâm hồn của mình, với ông chiến tranh là nỗi nhớ da diết, là nỗi buồn nguyên khối Nó như miền kí ức không bao giờ phai nhòa trong lòng mỗi con người đã từng vào sinh ra tử Vậy nên, chiến tranh đã đi qua nhưng được viết về nó, với Bảo Ninh như một mối nợ, một niềm hạnh phúc Ông viết bằng tất cả sự say mê, bằng cả tấm lòng của một người lính đã trải nghiệm sâu sắc của cuộc chiến hôm qua
Trong sự nghiệp văn chương của mình, Bảo Ninh sáng tác ở hai thể loại văn xuôi chính là tiểu thuyết và truyện ngắn Về tiểu thuyết, Bảo Ninh sáng
tác đến giờ mới có một cuốn duy nhất Nỗi buồn chiến tranh - Thân phận của tình yêu Cuốn tiểu thuyết được in lần đầu năm 1987 với nhan đề Thân phận của tình yêu, đến năm 1991 được nhận giải nhất của Hội Nhà văn Việt
Nam Cuốn tiểu thuyết được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt Đó là câu chuyện một người lính tên Kiên, đan xen giữa hiện tại hậu chiến với hai luồng hồi ức
về chiến tranh và về mối tình đầu với cô bạn tên Phương Khác với những tác phẩm trước đó mang tính sử thi, miêu tả chiến tranh từ góc độ cộng đồng, hùng tâm tráng chí của người lính chiến đấu vì vận mệnh dân tộc, Bảo Ninh
Trang 2318
đã miêu tả chiến tranh từ một góc độ khác, góc độ cá nhân, thân phận con người đi sâu và nỗi niềm riêng tư Nhà văn Nguyễn Quang Thiều viết trong
Tin tức và Văn học số 28/10/2006: “Nỗi buồn chiến tranh đã chạm vào mẫu
số chung của nhân loạ i- đó là câu chuyện của thân phận, của mất mát, của tình yêu và chiến tranh,… chỉ có những tác phẩm như vậy mới thực sự được đón nhận và sẻ chia”
Bên cạnh đó Bảo Ninh sáng tác chủ yếu là truyện ngắn Bạn đọc biết đến
Bảo Ninh từ tập truyện đầu tay Trại bảy chú lùn xuất bản năm 1987 Năm
2002, nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành cuốn Truyện ngắn Bảo Ninh Năm 2003, nhà xuất bản Văn hóa thông tin xuất bản cuốn Hà Nội lúc không giờ Năm 2005, nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản cuốn Lan man trong lúc kẹt xe Năm 2006, nhà xuất bản Văn học xuất bản cuốn Chuyện xưa kết đi được chưa Năm 2011, Nhà xuất bản Phụ nữ xuất bản cuốn Bảo Ninh- những tác phẩm chọn lọc Năm 2012, trên báo Nghệ thuật mới (số 01) cho in tác phẩm Tòa dinh thự
Như vậy, tập hợp các tập truyện đã xuất bản qua các năm, loại bỏ các truyện trùng nhau ở các tập truyện thì tính đến năm 2012, Bảo Ninh đã sáng tác 41 truyện ngắn với chủ đề phong phú, đa dạng: có truyện về chiến tranh,
có truyện về hậu chiến, có truyện viết về Hà Nội,… Có thể nói, truyện ngắn là
lát cắt của tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh trong sự thống nhất gần như trọn
vẹn của những vấn đề được đề cập như: thân phận con người, sự thua thiệt,
mất mát của con người trong và sau chiến tranh Truyện ngắn Trại bảy chú lùnlà nỗi cô đơn của một người lính suốt 20 năm sống giữa rừng già Gọi con
và Ngàn năm mây trắng là nỗi đau của bà mẹ mất đi người con yêu quý của mình Bí ẩn của làn nước là bi kịch đau xót của một người chồng, người cha
đã không thể cứu được vợ con của mình…
Trang 24là những mất mát, thiệt thòi của biết bao thân phận con người đã từng khoác trên mình bộ quân phục người lính và may mắn sống sót trở về khi hòa bình Nỗi cô đơn ấy còn là tấm lòng trác ẩn, là tình cảm của nhà văn đồng cảm thấu hiểu với đồng đội của mình
Truyện ngắn của Bảo Ninh tuy nhỏ bé hơn so với tiểu thuyết nhưng nó là một phần quan trọng làm nên thân phận nghiệp văn của Bảo Ninh Nó là câu chuyện đời nhưng được triển khai trên một mảnh đất khác nên không hề bị cớm bóng tiểu thuyết Ngược lại, với số lượng nhiều hơn, Bảo Ninh sẽ đem đến nhiều thể nghiệm hơn cho bạn đọc Đó là điều chúng ta ghi nhận và trân trọng những đóng góp của tác giả vào sự phát triển của văn học Việt Nam Cho đến nay nhà văn Bảo Ninh đã nhận được nhiều giải thưởng danh giá cả trong và ngoài nước:
Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam(1991)
Giải thưởng văn học nước ngoài của tờ Independent(Anh quốc) năm
1995
Giải thưởng Văn học Châu Á năm 1991 của Đan Mạch
Giải thưởng sách hay năm 2011 (cho tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh
với 100% số phiếu)
Giải thưởng Châu Á trong lĩnh vực văn hóa của Nhật báo Nikkei(Nikkei Asia Prize), Nhật Bản