1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Diễn ngôn về phụ nữ trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 (Khảo sát qua một số hiện tượng tiêu biểu)

62 335 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 864,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về vấn đề nghiên cứu diễn ngôn ở Việt Nam Từ khi thuật ngữ diễn ngôn được biết đến ở Việt Nam, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về diễn ngôn, trong đó có các sách dịch và giáo trìn

Trang 1

(Khảo sát qua một số hiện tượng tiêu biểu)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Người hướng dẫn khoa học ThS NGUYỄN THỊ VÂN ANH

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Diễn ngôn về phụ nữ trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975, tôi đã nhận được sự hướng

dẫn, giúp đỡ quý báu từ phía nhà trường, các thầy cô, gia đình và bạn bè

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ThS Nguyễn Thị Vân Anh, người đã dành nhiều thời gian và tâm huyết, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện để tôi kịp hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Cuối cùng tôi xin được cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên cạnh, động viên, khuyến khích tôi trong suốt thời gian qua

Hà Nội, tháng năm 2016

Người viết

Nguyễn Ngọc Anh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình của ThS Nguyễn Thị Vân Anh,

sau một thời gian cố gắng, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp: Diễn ngôn

về phụ nữ trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 Tôi xin cam đoan

rằng kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực, không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng tất cả những thông tin trích dẫn trong báo cáo đã được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng năm 2016

Người viết

Nguyễn Ngọc Anh

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Dự kiến đóng góp của khóa luận 6

8 Cấu trúc của khóa luận 6

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ DIỄN NGÔN 7

1.1 Một số hướng tiếp cận diễn ngôn 8

1.1.1 Hướng tiếp cận ngôn ngữ học 8

1.1.2 Hướng tiếp cận phong cách học 9

1.1.3 Hướng tiếp cận xã hội học 11

1.2 Khái niệm diễn ngôn (theo Foucault) 13

1.3 Cấu trúc và sự vận hành của diễn ngôn 15

Chương 2 CƠ CHẾ KIẾN TẠO DIỄN NGÔN VỀ PHỤ NỮ TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 - 1975 19

2.1 Ý nghĩa của việc tiếp cận vấn đề phụ nữ trong thơ nữ Việt Nam từ góc nhìn diễn ngôn 19

2.2 Cơ chế kiến tạo diễn ngôn 28

2.2.1 Cái nhìn xã hội hóa về giới nữ như một nguyên tắc kiến tạo diễn ngôn 28

2.2.2 Phụ nữ Việt Nam “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” 31

2.2.3 Tình yêu lứa đôi hòa quyện trong tình yêu Tổ quốc 44

PHẦN KẾT LUẬN 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thế kỉ XX là thế kỉ của lí luận phê bình văn học Trong bối cảnh nhiều

lí thyết văn học ra đời, mở ra những cách tiếp cận khác nhau đối với văn học như: chủ nghĩa cấu trúc, thi pháp học, văn hóa học… thì sự ra đời của lí thuyết diễn ngôn đã tạo ra một cách tiếp cận mới mẻ nhưng cũng gây nên không ít tranh cãi Cách tiếp cận này không đi sâu tìm hiểu các đặc trưng thẩm mỹ, mà chủ yếu đi vào nghiên cứu tác phẩm ở phương diện tư tưởng, thế giới quan; nghiên cứu cách nhà thơ, nhà văn kiến tạo thế giới và bộc lộ cách cảm, cách nghĩ của họ về một vấn đề nào đó của đời sống trong văn học

Như thế, khi đặt vấn đề nghiên cứu Diễn ngôn về phụ nữ trong thơ nữ

Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 (Khảo sát qua một số hiện tượng tiêu biểu),

tức là ta không chỉ nghiên cứu ngôn từ thẩm mỹ của tác phẩm mà chủ yếu tập trung các quy tắc tư tưởng xã hội đã chi phối cảm xúc và sáng tác của các nhà thơ Trên thực tế sáng tác, việc nhà thơ “nói” gì, nói như thế nào không chỉ phụ thuộc vào ngôn ngữ mà còn phụ thuộc vào hệ thống tri thức của mỗi thời đại và tính quyền lực của tri thức đó Cho nên, văn học trong từng giai đoạn lịch sử chỉ được kiến tạo theo những hệ tri thức nhất định, tạo nên hệ quả là ngôn ngữ được nhà thơ sử dụng trong tác phẩm, không chỉ là công cụ phản ánh, mà còn là nội dung, là sự kiến tạo nội dung

Như thế, cách nghiên cứu từ góc nhìn diễn ngôn mà chúng tôi sử dụng, cho dù không mâu thuẫn hay bác bỏ những cách nghiên cứu trước đây, nhưng

nó lại cho phép xem xét văn học ở những bình diện mới mẻ Đây là kiểu nghiên cứu liên ngành, cho thấy được mối quan hệ khăng khít giữa văn học và

tư tưởng; giữa văn học và văn hóa, giữa tính xã hội và tính thẩm mỹ

Thơ nữ giai đoạn 1954 - 1975, với các sáng tác nổi bật của Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Ý Nhi, Lê Thị Mây, Nguyễn Thị Hồng Ngát mang đến cho chúng ta những cảm nhận sâu sắc về cái tôi cá

Trang 6

nhân độc đáo của người phụ nữ Ta thấy một Xuân Quỳnh mãnh liệt khao khát tình yêu và hạnh phúc, một trái tim dám sống hết mình cho đời và cho thơ; một Phan Thị Thanh Nhàn nhẹ nhàng, e ấp, kín đáo; Lâm Thị Mỹ Dạ hồn nhiên, trầm lắng; Ý Nhi, Lê Thị Mây; Nguyễn Thị Hồng Ngát với những triết

lí, suy tư, chiêm nghiệm Thơ các chị mang những khát vọng âm thầm, mãnh liệt trong tình yêu đất nước cũng như tình yêu riêng tư, khao khát một cuộc sống yên bình Những người phụ nữ tự cảm nhận về cuộc sống, về đất nước

và về tình yêu đầy độc đáo và mang nhiều xúc cảm Đó là những tiếng nói cá nhân không thể trộn lẫn với bất kì ai

Đặc biệt, các nhà thơ Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn là những tác giả tiêu biểu nhất trong số những nhà thơ nữ giai đoạn này Sáng tác của các chị được độc giả yêu thích, không chỉ bởi nội dung phong phú và sâu lắng, mà còn bởi cái ý, cái tình được gửi gắm vào trong thơ đầy xúc động, nữ tính

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: Diễn ngôn về phụ

nữ trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 làm đối tượng nghiên cứu

cho bài khóa luận của mình Qua việc tìm hiểu diễn ngôn về phụ nữ của các nhà thơ nữ, chúng tôi mong muốn góp phần khẳng định những giá trị nổi bật

mà thơ nữ thế hệ chống Mỹ đã đóng góp cho nền văn học hiện đại, đồng thời chỉ ra những ưu điểm, triển vọng của cách tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn diễn ngôn

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Về vấn đề nghiên cứu diễn ngôn ở Việt Nam

Từ khi thuật ngữ diễn ngôn được biết đến ở Việt Nam, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về diễn ngôn, trong đó có các sách dịch và giáo trình

biên soạn như: Đại cương ngôn ngữ học (tập 2) của Đỗ Hữu Châu; Giao tiếp,

diễn ngôn và cấu tạo văn bản của Diệp Quang Ban… Tuy nhiên, những công

trình này đều đặt diễn ngôn trong bối cảnh lý thuyết trước hậu cấu trúc, tiếp

Trang 7

cận diễn ngôn dưới góc độ ngữ dụng học, chú trọng phân tích ngôn ngữ, cắt

nghĩa, lí giải lời nói Một số nghiên cứu cụ thể như: Khía cạnh văn hóa của

ngôn ngữ hay Nghiên cứu diễn ngôn chính trị - xã hội của Nguyễn Hòa, hoặc Tìm hiểu và phân tích diễn ngôn phê bình của Diệp Quang Ban… Những

công trình trên không chỉ giúp làm rõ khái niệm diễn ngôn trong văn học mà còn mở ra các hướng tiếp cận diễn ngôn trong văn học cụ thể như ngôn ngữ học và phong cách học

Thời gian gần đây khái niệm diễn ngôn đã xuất hiện rất nhiều trong các bài nghiên cứu đủ loại, nhiều đến mức không sao có thể định nghĩa thông suốt hết Đã có rất nhiều định nghĩa về diễn ngôn, theo các góc độ khác nhau, ngôn ngữ, văn hóa, song về lí luận văn học thì còn rất ít… Nhiều nhà khoa học xác nhận đó là khái niệm còn bỏ ngỏ, mỗi người nghiên cứu sử dụng theo những cách hiểu khác nhau

Lý thuyết diễn ngôn của Foucault ra đời tạo nên một dấu ấn đặc biệt trong khoa học lí luận, đồng thời thu hút sự chú ý quan tâm lớn của nhiều nhà nghiên cứu trên khắp thế giới Ở Việt Nam, cho đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ nào về quan niệm diễn ngôn của Foucault được xuất bản, song cũng có không ít các công trình nghiên cứu bàn về diễn ngôn có ý

nghĩa quan trọng trong lí luận Đáng chú ý nhất là cuốn Diễn ngôn của Sara

Mills (Trần Văn Toàn, Trần Ngọc Hiếu, Nguyễn Thị Ngọc Minh, Lương Thị Hiền, Đinh Minh Hằng dịch) Cuốn sách đã đưa ra những phân tích cụ thể cho thấy sự phát triển trong quan niệm của Foucault về diễn ngôn, đồng thời chỉ

rõ việc sử dụng ngôn ngữ chính là hình thức mã hóa của tri thức và quyền lực Ngoài ra, không thể không nhắc đến những công trình dịch và nghiên cứu

quan trọng như Văn học như một hình thức diễn ngôn - dịch và giới thiệu

những khái niệm cơ bản và Ba cách tiếp cận diễn ngôn của Nguyễn Thị Ngọc

Minh; Foucault về diễn ngôn và Mô hình phát triển kiến thức theo Michel

Foucault của Cao Việt Dũng…

Trang 8

Tuy chưa có một giáo trình chính thức nào trình bày thống nhất về lý thuyết diễn ngôn (theo Foucault), song những tiền đề trên thực sự là những gợi mở đáng quý, mang tính định hướng sâu sắc trong việc tiếp cận đề tài diễn ngôn của chúng tôi

2.2 Về thơ nữ thế hệ chống Mỹ 1954 - 1975

Mỗi nhà thơ đều có phong cách biểu hiện riêng nhưng xuyên suốt như một sợi chỉ đỏ làm gắn kết giữa ba hồn thơ tiêu biểu ấy là tiếng nói sẻ chia với những con người kháng chiến, là tấm lòng canh cánh của hậu phương hướng

ra mặt trận Bao nhiêu tình yêu, tình đồng đội, người thân, nỗi niềm suy tư, trăn trở về tình yêu, lẽ sống và hạnh phúc riêng tư các chị gửi trọn trong thơ Thông qua những sáng tác của Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ và Phan Thị Thanh Nhàn chúng ta thấy hiện lên chân dung ba nhà thơ nữ giản dị, giàu nữ tính, nhân hậu và thuần khiết, sáng tạo và trẻ trung song lấp lánh tình đời, tình người và lẽ sống Sự trường tồn của những sáng tác thơ của các chị góp phần làm sống lại những năm tháng gian khổ và hào hùng trong kháng chiến chống

Mỹ của quân và dân ta Tình yêu quê hương, đất nước, con người và triết lý nhân sinh được các chị chắt lọc từ cuộc sống dung dị đời thường thành thơ sâu lắng và hấp dẫn người đọc bởi sự tinh tế, giản dị

Thơ nữ chống Mĩ cứu nước đã được nhắc đến trong một số công trình nghiên cứu và được nhấn mạnh ở sắc thái thiên tính nữ, sự mới mẻ, sáng tạo của các nhà thơ nữ GS Hà Minh Đức cũng khẳng định các gương mặt nữ thời chống Mỹ cứu nước đều là những “cây bút trẻ có năng lực” và họ đã “có những đóng góp riêng đáng quý tạo cho nền thơ một sự phát triển cân đối, có tiềm lực, có bộ mặt mới rất tươi trẻ” Mảng thơ tình của các nhà thơ nữ thường được quan tâm nhiều Chúng tôi cho rằng thơ tình Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn có sức hấp dẫn rất lớn, nhưng là các nhà thơ nữ thế hệ chống Mỹ cứu nước, họ còn có những mảng thơ khác cần được khai thác, góp phần làm nên diện mạo một giai đoạn thơ rất đặc biệt trong lịch

Trang 9

sử thơ ca dân tộc Đặc biệt, dưới góc nhìn diễn ngôn, sự soi chiếu về các sáng tác của ba nhà thơ nữ thế hệ chống Mỹ sẽ mang đến những cái nhìn mới mẻ hơn, sâu sắc hơn cho độc giả

Trên cơ sở đó, khóa luận từng bước chỉ ra các yếu tố nằm trong cơ chế kiến tạo loại hình diễn ngôn này

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là Diễn ngôn về phụ nữ trong thơ nữ

Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975(Khảo sát qua một số hiện tượng tiêu biểu)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của khóa luận, chúng tôi tiến hành tập trung khảo sát các tác phẩm của một số nhà thơ nữ tiêu biểu như Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ

Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn Bên cạnh đó, việc tìm hiểu, đưa dẫn chứng về một

số bài thơ của các nhà thơ cùng thời như Tố Hữu, Bằng Việt, Vân Đài, Nguyễn Thị Hồng Ngát được sáng tác ở giai đoạn chống Mỹ này nhằm đối sánh và làm sáng tỏ những biểu hiện đặc thù của diễn ngôn về phụ nữ trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trước hết, người viết tiến hành tìm hiểu các quan niệm về diễn ngôn, trong đó tập trung hơn cả đến quan niệm của Foucault về diễn ngôn Tiếp đó, chúng tôi ứng dụng lí thuyết của Foucault để soi chiếu, khảo sát trên những sáng tác của ba nhà thơ nữ tiêu biểu thế hệ chống Mỹ: Xuân Quỳnh, Lâm Thị

Trang 10

Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn, và chỉ ra những nét nổi bật của diễn ngôn về phụ nữ cũng như diễn ngôn về tình yêu trong sáng tác của các nhà thơ này Từ

đó, khóa luận góp phần khẳng định vai trò và giá trị to lớn của thơ nữ thế hệ chống Mỹ trong tiến trình văn học Việt Nam

6 Phương pháp nghiên cứu

Để tiếp cận đề tài, khóa luận sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:

7 Dự kiến đóng góp của khóa luận

Khóa luận là công trình nghiên cứu mới với nội dung diễn ngôn về phụ

nữ trong thơ nữ thế hệ chống Mỹ (Khảo sát qua một số hiện tượng tiêu biểu là Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn) Khi nghiên cứu về đề tài này, chúng tôi hy vọng rằng đây sẽ là một đóng góp nhỏ vào việc ứng dụng các lí thuyết về diễn ngôn trong việc phân tích và tìm hiểu những tác phẩm cụ thể

8 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tham khảo, Nội dung của bài khóa luận được triển khai theo 2 chương:

Chương 1 Khái quát về diễn ngôn

Chương 2 Cơ chế kiến tạo diễn ngôn về phụ nữ trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ DIỄN NGÔN

Thời gian gần đây, trong nghiên cứu văn học, xã hội học, khái niệm diễn ngôn được sử dụng tương đối nhiều trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn như: triết học, xã hội học, ngôn ngữ học, tâm lí học, nghiên cứu văn học , song việc xác định nội hàm và các nội dung cơ bản của nó dường như vẫn chưa được xác định rõ nét Mỗi nhà nghiên cứu tìm cho mình những quan niệm và dấu hiệu biểu hiện khác nhau về diễn ngôn Chính vì thế, việc xác định nó vẫn như là một câu hỏi còn để ngỏ

Theo nghiên cứu của Manfred Frank, diễn ngôn (discourse) được bắt nguồn từ tiếng Latinh “discourus”, mà từ này có gốc động từ là

“discoursere” có nghĩa là tán chơi, nói huyên thuyên Như vậy, diễn ngôn

là một lối nói, cách nói hoặc một lượt nói có độ dài không xác định, sự triển khai không bị hạn định, bởi chú ý nghiêm ngặt Trong tiếng Pháp, nghĩa của từ diễn ngôn gần với từ tán gẫu, nói chuyện phiếm, kể chuyện,… Theo https://trandinhsu.wordpress.com/2015/01/04/khai-niem-dien-ngon, khái niệm diễn ngôn

được định nghĩa: “Hiểu tổng quát, diễn ngôn là thực tiễn giao tiếp của con người

trong xã hội Nhấn mạnh thực tiễn giao tiếp xã hội để phân biệt với lời nói cá nhân” Còn trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học tập 2, Đỗ Hữu Châu đã trích

dẫn khái niệm diễn ngôn nghiêng về phương diện ngôn ngữ như sau: “Diễn

ngôn là một thuật ngữ chung chỉ cách dùng ngôn ngữ, tức chỉ các sản phẩm ngôn ngữ được tạo ra do một hành động giao tiếp nào đấy” Tác giả cuốn The Routledge dictionary of literature terms lại khẳng định rằng: “Cho đến nửa sau thế kỉ 20, thuật ngữ diễn ngôn vẫn mang ý nghĩa cơ bản là sự trình bày một vấn đề cụ thể bằng cách nói hay viết theo một trật tự trước sau”

Trang 12

Từ những năm sáu mươi của thế kỉ XX, nghiên cứu diễn ngôn (hay còn gọi là phân tích diễn ngôn) trở thành một trào lưu khoa học phát triển rầm rộ

ở châu Âu và diễn ngôn trở thành một khái niệm trung tâm, được lưu hành rộng rãi trong khoa học xã hội và nhân văn Tuy nhiên, ta cũng có thể thấy rõ, khái niệm diễn ngôn được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Các nội dung định nghĩa đó có thể khác xa nhau hay mâu thuẫn với nhau, qua đó càng chứng tỏ tính phức tạp và nội hàm chưa được xác định rõ của thuật ngữ khoa học này

1.1 Một số hướng tiếp cận diễn ngôn

Trong lí luận hiện nay, có ba khuynh hướng nghiên cứu về diễn ngôn Một là ngôn ngữ học do các nhà ngôn ngữ học đề xuất, mà tiêu biểu là F de Sausure Hai là lí luận văn học do M Bakhtin nêu ra và ba là xã hội học, lịch

sử tư tưởng mà tiêu biểu là Foucault Các thuật ngữ như diễn ngôn tính dục, diễn ngôn chính trị, diễn ngôn nữ quyền… đều dùng theo hướng xã hội học, nhìn văn học theo góc độ xã hội học Về các hướng tiếp cận khái niệm diễn

ngôn, công trình nghiên cứu Ba cách tiếp cận khái niệm diễn ngôn của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Minh (2010) đã chỉ ra: “Con đường thông minh nhất khi

tiếp cận thuật ngữ này là đặt nó vào những bối cảnh, nét nghĩa nào được khai triển và sáng tạo thêm” Theo đó, tác giả này đã đưa ra ba hướng tiếp cận khái

niệm diễn ngôn Chúng tôi xin được trích dẫn một cách khái quát như sau:

1.1.1 Hướng tiếp cận ngôn ngữ học

Nền tảng cơ sở của hướng tiếp cận diễn ngôn từ phương diện ngôn ngữ

học là những luận điểm của F.de Sausure trong cuốn Giáo trình ngôn ngữ học

đại cương Trong công trình này, Sausure phân biệt ngôn ngữ với lời nói

Ngôn ngữ là một hệ thống, một kết cấu tinh thần trừu tượng, khái quát trong khi lời nói là sự vận dụng ngôn ngữ trong những hoàn cảnh cụ thể, bởi các cá nhân cụ thể Sausure còn chỉ ra, đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học là

Trang 13

ngôn ngữ, sản phẩm của xã hội kết tinh lại trong trí óc của mỗi người chứ không phải là lời nói

Sự đối lập lời nói/ ngôn ngữ trong quan điểm của Saussure đã làm nền tảng cho sự phân biệt giữa discourse (diễn ngôn) và text (văn bản) Văn bản (text) là cấu trúc ngôn ngữ mang tính chất tĩnh, còn diễn ngôn (discourse) là cấu trúc lời nói mang tính động

Trong giai đoạn này, do chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi ngôn ngữ học Saussure và chủ nghĩa cấu trúc, các nhà nghiên cứu văn học và ngôn ngữ tập trung vào khám phá cấu trúc tĩnh tại, bất biến của các diễn ngôn và văn bản Tư tưởng này đã loại trừ tất cả thuộc tính ngẫu nhiên, cá thể của lời nói, chỉ chú ý đến phương diện ổn định, bất biến của ngôn ngữ như một bản thể xã hội Và đối tượng hướng tới của các nhà nghiên cứu không phải là những văn bản/diễn ngôn cụ thể, mà họ chỉ coi đó là chất liệu, thông qua việc phân tích các văn bản/ diễn ngôn, họ cố gắng chỉ ra những cấu trúc khái quát, những thuộc tính bản chất của văn học nói chung Mỗi nhà nghiên cứu đều cố gắng tìm ra một

mô hình phi thời gian cho các văn bản, theo những cách thức khác nhau

Như vậy là, dưới cái nhìn của các nhà cấu trúc, tất cả các hành động của con người và các cơ cấu tổ chức của xã hội đều liên quan đến ngôn ngữ,

và có thể được tìm hiểu như một hệ thống gồm các yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau Như thế, diễn ngôn cũng là một cấu trúc khép kín, nội tại, được cấu thành từ những yếu tố bất biến là các phạm trù ngữ pháp như thời, thức, thể, giọng, ngôi… Cách tiếp cận này đã khiến cho nhà nghiên cứu, khi phân tích

những mô hình ngôn ngữ mang tính chất tĩnh - cái cơ chế ẩn tàng của tổ chức ngôn từ trong văn bản cũng như diễn ngôn

1.1.2 Hướng tiếp cận phong cách học

Có thể coi M.Bakhtin là người khởi nguồn cho một truyền thống mới trong nghiên cứu diễn ngôn Tư tưởng về diễn ngôn của Bakhtin có vai trò

Trang 14

như một bản lề, hay một cầu nối bắc từ quan niệm về diễn ngôn của ngôn ngữ học cấu trúc sang quan niệm diễn ngôn của các trường phái lí luận hậu hiện đại Trong các trước tác của Bakhtin, ta có thể thấy sự đối thoại và phủ định đối với rất nhiều những quan điểm về ngôn ngữ học được lưu hành phổ biến trong thời đại của ông, đặc biệt là những quan điểm ngôn ngữ được triển khai trên cơ sở tư tưởng của Saussure

Nếu như hướng tiếp cận ngôn ngữ học về diễn ngôn được hình thành trên cơ sở ngôn ngữ học Saussure thì hướng tiếp cận phong cách học về diễn ngôn lại được phát triển dựa trên nền tảng đối lập với những quan điểm của Saussure về ngôn ngữ Bakhtin phê phán ngôn ngữ học hàn lâm chỉ tập trung nghiên cứu phương diện cấu trúc của ngôn ngữ mà không chú ý đến bình diện sinh thành của ngôn ngữ, tức là ngôn ngữ trong đời sống, trong giao tiếp Ông

đề xuất một lĩnh vực nghiên cứu mới mà ông gọi là “siêu ngôn ngữ”, có nghĩa

là ngôn ngữ như một thực thể đa dạng, sống động, mang tính lịch sử chứ không phải là ngôn ngữ như một hệ thống mang tính chất tĩnh, khép kín và trừu tượng

Bởi vậy, diễn ngôn (hay lời nói) (discourse), là khái niệm trung tâm trong quan điểm của Bakhtin về ngôn ngữ Ông cho rằng, diễn ngôn là ngôn ngữ trong chỉnh thể sống động, cụ thể, là ngôn ngữ trong sử dụng, trong bối cảnh xã hội, của những giọng xã hội mâu thuẫn và đa tầng Cũng chính bởi vậy, Bakhtin nhấn mạnh, đối thoại là bản chất của diễn ngôn Mỗi người nói không phải là người nói đầu tiên, mà đều là người trả lời, là người đối thoại với hàng ngàn những người nói trước đó Người nghe cũng sẽ không phải là người lắng nghe một cách thụ động mà là người chủ động hồi đáp Lời nói của chúng ta, vì thế, “được hình thành và phát triển trong sự tác động qua lại, thường xuyên, liên tục với những phát ngôn của các cá nhân khác”

Trong thực tế, các phát ngôn thường liên kết với nhau và được tổ chức trong những hình thức ổn định mà ông gọi là các thể loại lời nói Thể loại lời

Trang 15

nói là những loại hình phát ngôn tương đối bền vững, được sản sinh ra trong một phạm vi sử dụng ngôn ngữ cụ thể, là một chỉnh thể bao gồm ba bình diện: nội dung chủ đề, phong cách và tổ chức kết cấu

Như vậy, với một quan niệm mới về diễn ngôn, Bakhtin đã đưa ngôn ngữ học rẽ sang một bước ngoặt mới: chuyển từ nghiên cứu ngôn ngữ như một thực thể tĩnh tại, khép kín và biệt lập sang nghiên cứu ngôn ngữ trong giao tiếp, trong thực tiễn đời sống đa dạng và sinh động Nếu Saussure nhấn mạnh đến tính cấu trúc của ngôn ngữ thì Bakhtin đặc biệt quan tâm đến tính đối thoại của lời nói Nếu các lý thuyết văn học được triển khai trên nền tảng ngôn ngữ học cấu trúc có xu hướng đồng qui các văn bản/ diễn ngôn vào những mẫu số chung thì lý thuyết văn học của Bakhtin nhằm chỉ ra sự phức tạp, đa diện và biến đổi không ngừng của các văn bản/ diễn ngôn trong lịch

sử Quan niệm về tính lịch sử, tính xã hội này của diễn ngôn sau này sẽ gặp

gỡ, hay cũng có thể nói, sẽ đặt nền tảng cho một sự chuyển hướng cực kì quan trọng trong tư duy lý thuyết thế kỉ XX: trào lưu giải cấu trúc

1.1.3 Hướng tiếp cận xã hội học

Trung tâm điểm của hướng tiếp cận thứ ba này là những quan niệm về diễn ngôn của M.Foucault, người được coi là ông tổ của các lý thuyết hậu hiện đại và có ảnh hưởng lớn nhất đến nghiên cứu diễn ngôn từ sau những năm 1960

Nếu coi quyền lực và tri thức là hai mối quan tâm lớn nhất của Foucault thì diễn ngôn là một mắt xích quan trọng không thể thiếu của hai yếu tố này Foucault chỉ ra mối quan hệ phức tạp giữa diễn ngôn và quyền lực Từ đó, Foucault cho rằng tri thức là sản phẩm được tạo ra bởi các diễn ngôn; bởi đằng sau diễn ngôn là quyền lực, cho nên, tri thức mà chúng ta có là kết quả của các mâu thuẫn về quyền lực

Với lí do tìm hiểu và vận dụng lí thuyết diễn ngôn để giải thích cho những cách nhìn, góc nhìn về phụ nữ trong thơ nữ giai đoạn 1954 - 1975, một

Trang 16

hướng tiếp cận thơ nghiêng về khía cạnh văn hóa - xã hội, bài báo cáo sẽ tập trung đến quan niệm của Foucault về diễn ngôn Đây là quan niệm đang trở thành nền tảng cho rất nhiều các trường phái lý thuyết hiện đại và gợi mở một con đường đầy triển vọng cho các nhà nghiên cứu văn học ở nhiều ngành khác nhau Vì vậy, tiếp cận khái niệm diễn ngôn theo hướng phong cách học,

mà hạt nhân là quan niệm của Foucault, sẽ được trình bày ở phần tiếp theo của bài báo cáo

Về khái quát, có thể đặt quan niệm của Foucault về diễn ngôn trong mối quan hệ so sánh với các quan niệm, hướng nghiên cứu khác Nếu ngôn ngữ học được phát triển trên nền tảng tư tưởng Saussure nhấn mạnh đến tính chất hệ thống, khép kín, tĩnh tại của diễn ngôn thì các nhà tư tưởng như M.Bakhtin, M.Foucault lại khẳng định tính chất sinh thành, đa dạng, năng sản của diễn ngôn Nếu Bakhtin đặc biệt chú ý đến tính liên chủ thể của diễn ngôn thì Foucault đề cập đến tính phi chủ thể của diễn ngôn, sự biến mất của chủ thể người trong mê cung của các diễn ngôn Ba quan điểm tiếp cận này đều có sức lan tỏa và ảnh hưởng rất lớn đến gần như toàn bộ lý thuyết văn học và ngôn ngữ trong thế kỉ XX

Như vậy, ba cách tiếp cận ngôn ngữ học, phong cách học và xã hội học này đã cung cấp ba cách định nghĩa khác nhau về diễn ngôn: diễn ngôn như là cấu trúc của ngôn ngữ/lời nói, diễn ngôn như là lời nói- tư tưởng hệ, và diễn ngôn như là công cụ để kiến tạo tri thức và thực hành quyền lực Ba quan niệm này nảy sinh trên nền tảng những cách cắt nghĩa khác nhau về bản chất, vai trò của ngôn ngữ và đều có sức lan tỏa, ảnh hưởng rất lớn đến gần như toàn bộ lý thuyết văn học và ngôn ngữ trong thế kỉ XX

Trên thực tế, trong quá trình phát triển, các lý thuyết diễn ngôn có xu hướng đan bện vào nhau, tạo nên những vùng giao thoa, những khu vực chung Sự kết hợp này khiến cho con đường đi của khái niệm trở nên phức tạp

và cho thấy nghiên cứu diễn ngôn vẫn đang là một tiến trình vận động, hứa hẹn nhiều những nhánh rẽ bất ngờ

Trang 17

Qua ba cách tiếp cận khái niệm diễn ngôn, chúng ta cũng có thể quan sát thấy ngọn nguồn sự phát triển và phân nhánh phức tạp của thuật ngữ, cũng như sự tương tác, kế thừa, phủ định, sáng tạo giữa các khuynh hướng, và đặc biệt là những bước chuyển trong tư duy lý thuyết của ngành khoa học xã hội

và nhân văn thế kỉ XX

1.2 Khái niệm diễn ngôn (theo Foucault)

Có một thực tế là: dù có công trình nghiên cứu về văn học Pháp đương đại được viết vào những năm 1960 thì Foucault vẫn chưa bao giờ là một nhà nghiên cứu văn học theo nghĩa chặt chẽ của từ này Tuy nhiên, điều này còn thú vị hơn, khi những ảnh hưởng của Foucault đến nghiên cứu văn học là rất sâu đậm: cả trên phương diện những đề tài cụ thể (tính dục, cái tôi, vấn đề nữ quyền ) cũng như trên phương diện lí thuyết (vấn đề lịch sử văn học, vấn đề tác giả, vai trò của phê bình văn học, giới tính trong sáng tác và tiếp nhận văn học, tính văn học (literariness)) Tất cả những ảnh hưởng nhiều mặt, đa dạng này của Foucault với nghiên cứu văn học, về cơ bản, đều có thể được cắt nghĩa từ việc nhìn nhận văn học như một diễn ngôn

Khái niệm diễn ngôn tuy không được giới thuyết một cách hệ thống trong một công trình lý thuyết cụ thể nào của Foucault, song lại là một mắt xích, một chìa khóa quan trọng đến mức nếu không hiểu khái niệm này, thì người đọc khó có thể tiếp cận toàn bộ các trước tác khổng lồ với những tư tưởng khá dị biệt của ông

Foucautl nói: “Thay vì giảm dần các nét nghĩa đã khá mơ hồ của từ diễn ngôn, tôi tin rằng thực tế tôi đã bổ sung thêm ý nghĩa của nó; lúc thì coi

nó như một khu vực chung của tất cả các lời nhận định, lúc thì coi nó như một nhóm các lời nhận định đã được cá thể hóa, và đôi khi lại xem nó như thực tiễn được quy ước tạo nên vô số các nhận định”

Như vậy, theo Foucault, ta có được ba cách định nghĩa khác nhau về

diễn ngôn Thứ nhất, diễn ngôn được coi là tất cả các nhận định nói chung, đó

Trang 18

là tất cả các phát ngôn hoặc văn bản có nghĩa và có một hiệu lực nào đó trong

thế giới thực Thứ hai, diễn ngôn là một nhóm các diễn ngôn cụ thể, được qui

ước theo một cách thức nào đó và có một mạch lạc hoặc một hiệu lực nói chung, “được nhóm lại với nhau bởi một áp lực mang tính thiết chế nào đó, bởi sự tương tự giữa xuất xứ và bối cảnh hay bởi chúng cùng hành động theo một cách gần giống nhau” Ví dụ, diễn ngôn nữ giới là một nhóm các diễn ngôn có chung một hiệu lực là nhằm phản kháng lại diễn ngôn về phụ nữ của đàn ông, diễn ngôn chủ nghĩa đế quốc là nhóm các diễn ngôn có chung một

hiệu lực là áp đặt quyền lực thực dân lên những xứ sở thuộc địa… Thứ ba,

diễn ngôn là một thực tiễn sản sinh ra vô số các nhận định và chi phối việc vận hành của chúng

Quan niệm thứ ba về diễn ngôn là quan niệm có ảnh hưởng lớn nhất đến các nhà nghiên cứu sau này Ở đây, diễn ngôn không chỉ được coi như

“một cái gì tồn tại cố hữu, tự thân và có thể được phân tích một cách cô lập”,

mà là những qui tắc và cấu trúc nhằm tạo ra những phát ngôn và những văn bản cụ thể Cách định nghĩa thứ ba này cho thấy bản chất thuộc về các thiết chế, bản chất bị chi phối bởi luật lệ của diễn ngôn, nó cho thấy các diễn ngôn không được tạo ra từ hư không, mà sinh mệnh của nó chịu sự chi phối mạnh

mẽ của các thiết chế, và đằng sau nó là bàn tay vô hình của quyền lực Lời nói

và suy nghĩ của con người không phải là sự biểu hiện một cách tự do những

tư tưởng cá nhân, mà bị định hình và nhốt chặt vào trong một thứ khung có trước Có thể làm sáng tỏ điều này qua ví dụ sau đây Diễn ngôn về nữ tính (hay nữ quyền) được sản sinh và lưu hành trong thời trung đại Việt Nam là hệ thống tư tưởng, quan niệm, những qui định về hành xử được hình thành trong bối cảnh thiết chế nhà nước phong kiến nam quyền Bối cảnh thiết chế này đã tạo nên một khung diễn ngôn, trong đó qui định những đặc điểm của tính nữ như là khiêm cung, chịu đựng, phụ thuộc, yếu đuối (công dung ngôn hạnh, tam tòng tứ đức) Khung diễn ngôn này lại chi phối cách tư duy và phát ngôn

Trang 19

của con người, khiến cho trong các trước tác thời trung đại, từ văn học, đạo đức, tôn giáo, pháp luật…, trong bất cứ văn bản nào, người ta cũng nhận thấy một công thức miêu tả phụ nữ quen thuộc: ca ngợi những đức tính hi sinh, chịu đựng, phụ thuộc của người phụ nữ (Kiều bán mình chuộc cha được ngợi

ca là hiếu, Huyền Trân công chúa bị gả cho vua Chăm pa được tôn vinh là trung với nước…); miêu tả người phụ nữ như một nạn nhân thụ động và bất

lực của xã hội (trong Chuyện người con gái Nam Xương, người phụ nữ chỉ có

cách tự vẫn để bảo toàn danh tiết; hay trong lịch sử, đầy rẫy những câu chuyện nói rằng khi nhà vua băng hà, các cung nữ đều bị chôn sống theo nhà vua…); miêu tả phụ nữ như một đối tượng tri thức hoàn toàn thụ động, im lặng, hay nói cách khác tiếng nói của họ gần như bị tẩy xóa khỏi toàn bộ nền văn hóa trung đại

Nếu coi quyền lực và tri thức là hai mối quan tâm lớn nhất của Foucault thì diễn ngôn là một mắt xích không thể thiếu để tìm hiểu hai yếu tố này Với Foucault, cả tri thức và quyền lực đều chỉ có thể được tạo ra, được hiện thực hóa, được vận hành và phân phối bởi diễn ngôn

1.3 Cấu trúc và sự vận hành của diễn ngôn

Foucault đã chỉ ra những cấu trúc nội tại và ngoại tại chi phối việc tạo lập, vận hành các diễn ngôn Những cấu trúc nội tại cấu thành nên diễn ngôn gồm có: tri thức hệ, nhận định, diễn ngôn/các diễn ngôn, thư khố

Sara Mills - Trần Văn Toàn, Trần Ngọc Hiếu, Nguyễn Thị Ngọc Minh, Lương Thị Hiền, Đinh Minh Hằng dịch), là “tập hợp các cấu trúc diễn ngôn nói chung mà bên trong tập hợp này, một nền văn hóa xác định nên những ý niệm của nó”, “một nền tảng của những tư tưởng mà trên đó, tại một thời điểm cụ thể, một số nhận định này, mà không phải những nhận định khác được coi là tri thức” Tri thức hệ “bao hàm tổng cộng các cấu trúc diễn ngôn hình thành như là kết quả từ sự tương tác của nhiều loại diễn ngôn đang lưu

Trang 20

hành và được ủy quyền tại một thời điểm xác định”, bao hàm “các phương pháp luận mà một nền văn hóa mặc nhiên dựa vào đó để có thể tư duy về một

Thứ hai là các nhận định Foucault cho rằng nhận định có vai trò là đơn

vị cấu thành nên diễn ngôn Nhận định là những phát ngôn có một hiệu lực thiết chế nào đó, được hiệu lực hoá bằng một hình thức quyền uy nào đó Và hiệu lực thiết chế, quyền uy bên trong, đứng sau nhận định mới chính là cái khiến cho nhận định đó có được chấp nhận hay không

Thứ ba là các diễn ngôn Các diễn ngôn là tập hợp các nhận định được

phê chuẩn, là nhóm các nhận định có một lực giống nhau được nhóm lại với nhau bởi một áp lực định chế nào đó

Thứ tư là thư khố Thư khố là tập hợp các diễn ngôn nhằm giới hạn cái

gì được nói, đáng để biết và nhớ Thư khố là cái kho lưu trữ những từ vựng,

cú pháp, công thức biểu đạt, cái vừa giúp cho chủ thể có thể phát ngôn, vừa giới hạn phát ngôn của chủ thể

Thứ năm là những sự loại trừ bên trong diễn ngôn Đó là các phương thức

loại trừ nhằm giới hạn cái được nói và cái được coi là tri thức Có nhiều phương thức loại trừ Thứ nhất là sự cấm đoán, kiêng kị Thứ hai là vị thế của chủ thể phát ngôn Chỉ lời nói của người bình thường mới được chấp nhận, còn lời nói

Trang 21

của người điên bị gạt ra ngoài lề Thứ ba là ý chí đoạt sự thật, quyết định cái gì được coi là đúng, cái gì bị coi là sai Đó là một ý chí áp đặt lên chủ thể nhận thức, bằng một hình thức cảm quan có trước các kinh nghiệm

Foucault cũng bàn đến các cấu trúc vận hành diễn ngôn, hay nói cách khác, đó là những cơ chế bên ngoài chi phối diễn ngôn Đó là các yếu tố: bình luận, những nghi thức, tác giả Bình luận khiến cho diễn ngôn được vận hành, lưu thông Những diễn ngôn không được bình luận thì sẽ đi vào quên lãng Những nghi thức khống chế số người có thể nói một số kiểu diễn ngôn, ví dụ,

ở nhà trường chỉ có thầy giáo mời có quyền phát ngôn về giáo dục, ở toà án chỉ thẩm phán mới có quyền tuyên án Tác giả không phải là người duyệt nghĩa của văn bản mà là nguyên tắc tổ chức để nhóm các văn bản riêng rẽ vào với nhau

Tất cả những yếu tố trên là những cấu trúc bên trong tạo lập nên diễn ngôn và những cấu trúc bên ngoài cho phép diễn ngôn nào được tồn tại, được lưu hành Ẩn đằng sau những cấu trúc này, là một thứ quyền lực vô hình, năng sản, được tập hợp lại xung quanh các thiết chế, có vai trò giám sát, chọn lựa, tổ chức và phân phối toàn bộ các diễn ngôn được lưu hành trong một thời điểm nhất định

Quan niệm của Foucault về diễn ngôn cho thấy quyền lực của ngôn từ đối với tư duy và giao tiếp của mỗi con người Việc ai nói, nói cái gì và nói như thế nào bị kiểm soát chặt chẽ bởi những quyền lực ngầm, những luật lệ bên trong và bên ngoài diễn ngôn Điều này khiến cho chủ thể phát ngôn không còn là những chủ thể tự do biểu lộ những ý kiến cá nhân, mà bị hạn chế

và trói buộc trong một khung diễn ngôn có trước Các cấu trúc diễn ngôn cho phép người này được nói và buộc người kia phải im tiếng Nó giới hạn tư duy của chủ thể, khiến cho anh ta chỉ có thể nhìn thấy phương diện này chứ không phải là phương diện khác của khách thể Đồng thời, nó còn là một cái kho hữu hạn những hình thức biểu đạt, khiến anh ta chỉ có thể nói bằng cách này mà

Trang 22

không thể nói bằng cách khác, chỉ có thể sử dụng một bộ lễ phục ngôn từ, theo như cách nói của Bakhtin

Có thể nhận thấy, trong các công trình nghiên cứu của mình, Foucault ít quan tâm đến cấu trúc ngôn từ bên trong của các diễn ngôn mà chủ yếu đi sâu tìm hiểu những yếu tố chi phối việc kiến tạo và vận hành các diễn ngôn: tri thức hệ, quyền lực… Văn học không phải là đối tượng nghiên cứu của ông,

mà chỉ là một trong những dữ liệu để qua đó, ông khảo sát sự biến đổi và thay thế lẫn nhau của những tri thức hệ, của các mối quan hệ quyền lực Văn học đồng tồn tại trong một mạng lưới các diễn ngôn nhân chủng học, đạo đức, tôn giáo, triết học… Quan niệm về diễn ngôn của Foucault đã tạo ra một bước ngoặt trong tư duy lý thuyết thế kỉ XX: từ đây, người ta không nghiên cứu văn học như một thực thể biệt lập, mà có xu hướng đặt nó trong mối liên hệ với những loại hình diễn ngôn khác như chính trị, đạo đức, tôn giáo Người ta không nghiên cứu văn bản và những hình thức tổ chức ngôn từ của nó mà cố gắng tìm hiểu những cơ chế tạo lập và chi phối các văn bản ngôn từ- yếu tố nằm ẩn sâu, đằng sau các văn bản Hướng nghiên cứu này thường được gọi là hướng nghiên cứu văn hóa (culture study), một đường hướng nghiên cứu thịnh hành từ sau những năm 1960 trở lại đây trong các trào lưu lý thuyết như chủ nghĩa thực dân - hậu thực dân, lí luận nữ quyền, thuyết Tân duy sử, thuyết Lệch pha

Trang 23

Chương 2

CƠ CHẾ KIẾN TẠO DIỄN NGÔN VỀ PHỤ NỮ TRONG THƠ NỮ

VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 - 1975

2.1 Ý nghĩa của việc tiếp cận vấn đề phụ nữ trong thơ nữ Việt Nam từ góc nhìn diễn ngôn

Vấn đề trung tâm của việc phân tích diễn ngôn và nghiên cứu văn học, theo chúng tôi sẽ là: nếu chấp nhận văn học như một kiểu diễn ngôn thì những

hệ quả của nó là gì?

Những lí thuyết về diễn ngôn của Foucault ra đời trong thời kì hưng thịnh của chủ nghĩa cấu trúc Dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa cấu trúc những vấn đề nội tại của văn bản được đặc biệt quan tâm Ở dạng cực đoan nhất, người ta cho rằng có thể giải quyết những vấn đề của văn học chỉ thuần túy dựa trên những yếu tố nội tại của văn bản mà không cần đến bất kì một sự tham chiếu nào khác từ những nhân tố bên ngoài Người ta cố gắng đi tìm một cái gọi là tính văn học (literariness) từ những thủ pháp chỉ xuất hiện trong các văn bản nghệ thuật Không chỉ là những vấn đề của bối cảnh xã hội mà ngay chính vai trò của tác giả cũng bị nghi ngờ Việc hình dung văn học như một diễn ngôn của Foucault trong bối cảnh đó đã đem đến những đối thoại học thuật thú vị

Ta có thể chỉ ra 3 yếu tố cấu thành nên khái niệm diễn ngôn theo quan điểm của Foucault: ý thức hệ tư tưởng, hệ hình tri thức và cơ chế quyền lực

chính trị Áp dụng vào cụ thể đề tài Diễn ngôn về phụ nữ trong thơ nữ giai đoạn 1954 - 1975, những yếu tố này sẽ mang những nét thống nhất và biến

đổi dựa trên nền tảng mà Foucault đã chỉ ra

Trước tiên, để tìm hiểu về hệ hình tri thức chi phối diễn ngôn về phụ nữ trong thơ ca giai đoạn 1954 - 1975 như thế nào, ta mang vấn đề đối tượng của văn học ra để soi xét Từ Plato, một trong những ám ảnh của triết học phương

Trang 24

Tây là câu hỏi về sự thật (the truth), một sự thật siêu việt lên mọi khác biệt về không gian, thời gian Đấy là một sự thật phổ quát mà lí trí (chứ không phải là các giác quan) của con người có thể nhận biết Từ xuất phát điểm triết học ấy, văn học cũng được hình dung như một quá trình khám phá về sự thật của đời sống Mô phỏng (mimesis) trở thành nguyên lí nền tảng cho lí luận và lịch sử văn học “Văn học nói về cái gì? Kể từ Thi học của Aristote, sự mô phỏng (mimesis) là thuật ngữ phổ biến nhất và quen thuộc nhất, qua đó người ta quan niệm về các mối liên hệ giữa văn chương và thực tại Trong công trình

đồ sộ của Erich Auerbach, Mimesis, sự thể hiện thực tại trong văn học phương Tây (1946), khái niệm này hãy còn là chuyện dĩ nhiên” Từ cách đặt vấn đề này, sự vận động và biến đổi của lịch sử văn học, xét đến cùng là lịch

sử của sự vận động và biến đổi của đối tượng phản ánh, của thực tế đời sống

xã hội, và đặc biệt là của con người (một đối tượng được hình dung như một thực thể tiềm tàng trong đó nhiều chiều kích, nhiều giá trị không thể vắt cạn) Cách đặt vấn đề này tất yếu dẫn đến một nghịch lí: một mặt, văn học được xem như là một phương thức tiếp cận hiện thực đặc thù, có khả năng khám phá về xã hội về con người mà những hình thái ý thức xã hội khác không thể chạm tới Mặt khác, đó là một nhận thức có giới hạn trước một thực tại đa dạng, nhiều ẩn số Khoảng cách giữa văn học và sự thật về đối tượng mà nó phản ánh là một đòi hỏi bắt buộc để giữ cho văn học có được sự phát triển, biến đổi trong lịch sử

Lí thuyết diễn ngôn của Foucault phá bỏ khoảng cách này Cái gọi là sự thật về đời sống hay con người theo Foucault, thực chất, cũng chỉ là sản phẩm của diễn ngôn được hình thành từ những tương quan quyền lực/tri thức của một giai đoạn, một thời kì lịch sử cụ thể Thay cho việc đặt trọng tâm vào việc đặt câu hỏi: văn học đã làm thế nào để thu hẹp khoảng cách giữa nó và thực tế đời sống thì giờ đây, chúng ta phải quan tâm đến câu hỏi: trong những tương quan quyền lực/tri thức nào mà những sự thật nào đó được quyền xuất hiện và miêu

Trang 25

tả trong diễn ngôn văn học Nói cách khác những miêu tả và nghiên cứu văn học sử phải thiết lập được mối quan hệ giữa văn học và khung tri thức (epistem) của một thời đại Chính sự biến đổi của khung tri thức này là nguyên nhân sâu xa cho sự biến đổi (chứ chưa hẳn đã là phát triển?) của văn học

Những miêu tả và nghiên cứu văn học giai đoạn 1954 - 1975 được thiết lập trên mối quan hệ giữa hiện thực và khung tri thức chủ nghĩa anh hùng cách mạng của thời đại Thơ ca Việt Nam giai đoạn chống Mỹ nói chung, và thơ nữ thế hệ chống Mỹ nói riêng, gắn liền với thời kỳ lịch sử chống Mỹ của dân tộc Cũng như cuộc kháng chiến chống Pháp trước đây, kháng chiến chống Mỹ là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện Trong suốt hai mươi năm chống Mỹ, hiện thực cách mạng và đời sống lịch sử của dân tộc là bình diện nổi bật, bao trùm toàn bộ đời sống xã hội, thu hút và chi phối mọi bình diện khác, trong đó có văn học, và đặc biệt là thơ ca Thời kỳ này thơ được coi là một mũi nhọn, có tính xung kích, lên tiếng kịp thời trước mọi biến cố lịch sử Cái hay và đặc sắc ở đây chính là sự thống nhất hòa quyện giữa lý tưởng và hiện thực, lý tưởng cao đẹp của thời đại và hiện thực nóng bỏng của cuộc chiến đấu, giữa trữ tình và anh hùng ca, giữa nội dung và hình thức

Thơ ca thời kỳ này mang đậm khuynh hướng sử thi và Tổ quốc đã trở thành đề tài lớn, bao trùm, xuyên suốt trong thơ Nhưng có lẽ ấn tượng mãnh liệt nhất trong thơ thời kỳ này là sáng tác của thế hệ nhà thơ trưởng thành trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ Đó là

Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Thu Bồn, Phạm Tiến Duật, Phan Thị Thanh Nhàn, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Bằng Việt, Thanh Thảo, Bùi Minh Quốc,… Trong nền thơ Việt Nam thời chống Mỹ, các thế hệ nối tiếp nhau, lớp tre càng xanh, càng chắc mà đợt măng kế tiếp đã náo nức đâm chồi Lớp nhà thơ trẻ đã mang đến sự nở rộ cho cả nền thơ bằng tiếng nói sôi nổi, mới mẻ và duyên dáng của riêng họ - lứa tuổi lớn lên trong chiếc nôi của chủ nghĩa xã hội, tha thiết, tin yêu cách mạng Họ đem đến sự mới mẻ sâu sắc mà phong phú đa dạng trong những sáng tác về Tổ quốc và dân tộc

Trang 26

Ngay khi nhìn nhận văn học như một diễn ngôn, ta sẽ thấy diễn ngôn văn học là không gian giao cắt và tương tác cực kì phức tạp giữa các diễn ngôn của một thời đại cụ thể Lâu nay, chúng ta vẫn cắt nghĩa sự đa nghĩa của tác phẩm văn học chủ yếu từ những phương diện nội tại, từ đặc điểm tổ chức hình tượng của tác phẩm văn học Tuy nhiên, theo chúng tôi, chính sự giao cắt và tương tác của các diễn ngôn (mà đằng sau nó là những tương tác quyền lực/ tri thức) cũng là một nguyên nhân quan trọng đem lại tính đa nghĩa cho tác phẩm

Foucault đã từng thuyết minh một cách trực diện cho cách tiếp cận văn học của mình: “Để biết cái gì là văn học, tôi không muốn nghiên cứu những cấu trúc nội tại của nó Tôi muốn nắm bắt lấy cái khoảnh khắc, cái quy trình ngắn ngủi - nhờ đó mà một diễn ngôn phi văn học, bị thờ ơ, bị bỏ quên khi nó được tạo ra - gia nhập trường văn học Cái gì đã xảy ra? Cái gì đã xui khiến điều đó? Cái diễn ngôn này đã bị biến đổi như thế nào mà khiến nó được xem

là diễn ngôn văn học?” Có thể thấy ở đây một nguyên tắc tiếp cận văn học rất riêng của Foucault: ông không hiểu tính văn học ở những thước đo nội tại Không phủ nhận “những cấu trúc nội tại” trong tác phẩm văn học nhưng Foucault quan tâm chủ yếu đến những nhân tố ngoại tại khiến cho một văn bản, ở một thời điểm nhất định, trở thành văn bản văn học Chính vì thế, tính văn học là một phạm trù động, luôn biến đổi Chính sự biến đổi này mà người

ta thấy sự thường xuyên thay đổi của trường văn học Điều gì đã khiến các tác phẩm trên (trong khi vẫn giữ nguyên những cấu trúc nội tại của mình) lại chuyển dịch từ vị trí ngoại vi vào trung tâm của diễn ngôn văn học? Theo một chiều ngược lại: có những tác phẩm ở thời điểm này được xem là thuộc về hệ thống văn bản văn học nhưng ở một thời điểm khác lại dạt ra ngoại vi, thậm chí ra nhập một hệ thống văn bản khác Đằng sau những biến động này, trên thực chất, là sự biến đổi của những tương quan quyền lực/tri thức (diễn ngôn)

mà chúng tôi đã giới thiệu khái lược ở trên Nói gọn lại: tính văn học, nhìn từ

Trang 27

lí thuyết diễn ngôn của Foucault, không phải là một thuộc tính khách quan Tính văn học cũng là một dạng tri thức đặc biệt và vì thế nó cũng là sản phẩm của tương tác quyền lực/ tri thức (diễn ngôn) Từ góc nhìn của lí thuyết diễn ngôn, khi phân tích về tính văn học trong một văn bản thì điều thiết yếu phải nhận ra đằng sau đó luôn là những tương quan quyền lực/tri thức Một ví dụ: Những ảnh hưởng của những thiết chế văn hoá và giáo dục phương Tây đã làm xuất hiện diễn ngôn tả thực trong văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX như một sự thay thế cho diễn ngôn tải đạo trong văn học trung đại Sự thay thế này xét đến cùng là sự phản ánh tương quan quyền lực/ tri thức của phương Tây với phương Đông, của tinh thần khoa học duy lí, óc phân tích với tư duy tổng hợp của phương Đông

Những thảo luận về quyền lực/tri thức của Foucault lưu ý chúng ta một thực tế: Ở đâu có sự mất bình đẳng về quyền lực, ở đó một sự sản xuất về tri thức Nói cách khác, đối tượng của sự nghiên cứu thường có vị trí thấp hơn về quyền lực Trong lĩnh vực văn học, tương quan quyền lực/tri thức này gợi ý một lĩnh vực nghiên cứu rộng lớn về mối quan hệ quyền lực giữa chủ thể sáng tạo với những đối tượng mà anh ta miêu tả Vì sao, cho đến nay, nhân vật nữ chủ yếu được hiện lên qua ngòi bút miêu tả của các nhà văn nam giới? Điều này khiến nhân vật nữ trong văn học có những đặc điểm gì? Vì sao và trong những tình huống, bối cảnh nào mà các nhà văn nam lại thường ẩn mình, gửi gắm những kí thác của mình qua nhân vật nữ? Những cây bút nữ trong văn học trung đại có đặc điểm gì trong môi trường nam quyền? Sự xuất hiện của những cây bút nữ trong văn học hiện đại và đương đại phản ánh những tương quan quyền lực/ tri thức nào? Những nhân vật nữ giới dưới ngòi bút của chính những người phụ nữ có những đặc điểm gì?

Ta bắt gặp nét dịu dàng đầy mẫn cảm của thiên tính nữ trong các sáng tác của ba nhà thơ nữ: Xuân Xuỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phạn Thị Thanh Nhàn

Thơ của họ đã mang đến sự cảm nhận sâu sắc xúc động về đời sống nhân dân

Trang 28

trong kháng chiến, về hình ảnh quê hương, đất nước, về tình yêu được phản ánh qua cách nhìn của phái nữ Văn học cách mạng là giai đoạn mà tiêu chí

sáng tác và đặc trưng thẩm mĩ tương đối thống nhất Không chỉ vậy, mà những tương quan quyền lực/ tri thức được thể hiện ở văn học giai đoạn này cũng được thể hiện khá hài hòa Bên cạnh phong cách riêng, văn học giai đoạn này ghi dấu ấn của mỗi tác giả còn vừa mang phong cách chung của thời đại với định hướng sáng tác phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến, lại vừa thể hiện được những cái “tôi” cá nhân hòa nhập với cái chung của cộng đồng Không nằm ngoài quỹ đạo đó, giai đoạn này Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn cũng có nhiều sáng tác phản ánh đời sống chiến đấu của nhân dân Với cái nền vững chãi là bản lĩnh sống cùng với tài năng thơ, ý thức trách nhiệm của một người công dân, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn đã trở thành những cây bút có năng lực sáng tạo dồi

dào nhất thời kỳ này Xuân Quỳnh viết Hoa dọc chiến hào, Gió lào cát trắng, Lời ru trên mặt đất, Lâm Thị Mỹ Dạ có Khoảng trời, hố bom, Trái tim nỗi nhớ, Phan Thị Thanh Nhàn có Hương thầm, Chân dung người chiến thắng…

Không xa rời với những vấn đề thời sự của cuộc sống, nhưng ở thời điểm này, các nhà thơ nữ cũng đã bộc lộ được những nét riêng trong sáng tác Thiên tính

nữ của ba nhà thơ được in đậm trên mỗi trang viết, để lại cho bạn đọc nhiều xúc cảm, suy tư

Trong lí luận, phê bình truyền thống: văn học là lĩnh vực của sáng tạo, các nhà văn được hình dung như những người thám hiểm, khai phá, tạo lập nên những giá trị mà trước đó chưa từng được biết đến Sáng tạo là thước

đo cho giá trị của một nhà văn cũng là những dấu mốc để làm nên lịch sử văn học Với Foucault cái được quan tâm không phải là tính sáng tạo mà là những yếu tố được lặp lại, những yếu tố được tạo ra trong mối quan hệ với những văn bản khác, những yếu tố dường như xuất hiện trong rất nhiều những văn bản khác Ông không cho rằng nhà văn không có khả năng để sáng tạo nhưng

Trang 29

ông quan tâm nhiều hơn đến một sự kiện: đúng là người viết (về lí thuyết) có thể viết về bất kì thứ gì mà họ thích - nhưng họ, trong thực tế, có xu hướng nói quá ít, và lời nói của họ luôn nằm trong những giới hạn quy định Một sự phân tích mang màu sắc Foucault sẽ đặc biệt quan tâm đến những đặc điểm cấu trúc của các diễn ngôn văn học cái mà tạo ra những đặc điểm tương tự trong văn bản ở cấp độ giọng điệu, phong cách, thể loại, v v

Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn là ba cây bút nữ xuất hiện trong chiến tranh Họ đã có chung những mạch nguồn cảm xúc về đất nước, con người, quê hương Việt Nam thông qua nghệ thuật đặc sắc trong biểu hiện giọng điệu, phong cách thơ Cuộc sống thời chiến gian khổ, hình ảnh quê hương, đất nước, tình yêu và những nỗi niềm riêng là nguồn cảm hứng sáng tác trong thơ các chị Chiến tranh đã qua đi nhưng dư âm của nó không phải đã tắt, trong cuộc đời mỗi người từng đi qua chiến tranh thì những thử thách khốc liệt của chiến tranh giờ là những kỉ niệm, dấu ấn khó phai Nhân dân cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại Cuộc kháng chiến đã nảy sinh ra vô vàn những tấm gương anh dũng, những

sự tích hào hùng phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam,

có sức cổ vũ khích lệ lòng tự hào và niềm tin vào sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc Thơ Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn là minh chứng tiêu biểu cho hiện thực được nói tới Trong những ngày tháng máu lửa, các chị đã bám sát và phản ánh một cách trung thực, chân thành hiện thực khốc liệt vào trong những trang viết của mình

Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn là những nhà thơ

nữ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, các chị đã đi qua cuộc sống chiến tranh đến cuộc sống hoà bình nên những vần thơ mang đậm dấu ấn của thời đại Thơ các chị là một khúc ca sôi nổi hoà trong bản đồng ca của dân tộc tràn đầy niềm tin, sự say mê lý tưởng cách mạng

Trang 30

Phân tích diễn ngôn không phải là phương pháp áp dụng riêng cho nghiên cứu văn học Phổ áp dụng lí thuyết phân tích diễn ngôn trải rộng trong tất cả các lĩnh vực của khoa học xã hội và nhân văn : xã hội học, tâm lí học,

sử học, tâm lí học, chính trị học… Mặt khác, phân tích diễn ngôn cũng không bao quát hết những vấn đề của nghiên cứu văn học Theo chúng tôi, phân tích diễn ngôn có hữu ích nhất khi nhận diện những nội dung xã hội của văn học trong mối quan hệ với khung tri thức của một thời đại cụ thể Như thế, phân tích diễn ngôn có thể là sự bổ sung cho hướng nghiên cứu xã hội học về văn học vốn đã khá quen thuộc với môi trường học thuật của Việt Nam

Thêm một yếu tố, mà chúng tôi cho là cần thiết, khi nghiên cứu Diễn ngôn về phụ nữ trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975, là thơ ca và

phong cách sáng tác của ba nhà thơ nữ tiêu biểu cho thơ nữ thế hệ chống Mỹ Kết hợp với trường tri thức, ý thức hệ thời đại, phong cách, nét cá tính riêng của mỗi nhà thơ cũng là một nhân tố chi phối cách nhà thơ phát ngôn, và nội dung phát ngôn về hiện thực cuộc sống thời điểm đó

Xuân Quỳnh đến với thơ không sớm và thơ chị dẫu chân thành, tha thiết nhưng cũng không phải ngay từ đầu đã được đánh giá cao Bởi tình yêu

và khát khao được giãi bày, bộc lộ cùng với thời gian chị đã có vị trí xứng

đáng trong lòng độc giả cũng như trong làng thơ Tập thơ Tơ tằm - Chồi biếc

(in chung với Cẩm Lai) như một tấm giấy thông hành để Xuân Quỳnh chững chạc bước vào làng thơ Tập thơ đầu tay này đã được các nhà văn, nhà thơ lớp trước như Vũ Tú Nam, Anh Thơ viết bài động viên, khích lệ khiến Xuân Quỳnh rất vui và tự tin Trong thơ cũng như đời thường Xuân Quỳnh luôn tỏ

ra là một người quyết liệt, yêu ghét đều phải hết lòng Trong tâm hồn nhạy cảm của Xuân Quỳnh không có một thứ tình cảm nào buông trôi nửa vời Bao giờ chị cũng đẩy cảm xúc lên ở mức độ cao nhất Chị luôn thể hiện, luôn nói đến tận cùng những tình cảm của mình Đặc điểm này đem sức nặng đến cho nhiều bài thơ của chị và nó cũng đem đến cho cuộc đời chị nhiều nỗi đắng

Trang 31

cay Xuân Quỳnh đã đem chính cuộc đời mình ra để đổi lấy những câu thơ Với chị, cầm bút như là một cái “nghiệp”, như là số phận, không thể khác

được Ngay từ khi xuất hiện với tập thơ Chồi biếc Xuân Quỳnh đã được chú ý

bởi chất tươi trẻ, hồn nhiên ở chồi thơ, sắc biếc này Con đường chị đã lựa chọn sau bao nhiêu đắn đo, cân nhắc, giờ đây đã tìm được câu trả lời xác thực nhất Chị đã không nhầm lẫn chút nào khi đánh cược cả cuộc đời mình vào những câu thơ Thơ ca đã đem đến cho cuộc sống của Xuân Quỳnh bao ý nghĩa sâu sắc, mới mẻ hơn

Thế giới nội tâm của Xuân Quỳnh được giãi bày cùng thiên nhiên trong mối giao cảm, hòa đồng, tuổi thơ côi cút, buồn tủi, thiếu vắng tình thương của

mẹ lại lần lượt hiện về và tái sinh trên những trang thơ Xuân Quỳnh, một tâm hồn thơ bay bổng, lãng mạn, một trái tim đa cảm, một tình yêu thiết tha cháy bỏng, một tình yêu quê hương tha thiết, đau đáu trong lòng đến quặn đau Tất

cả những điều đó làm nên một phong cách riêng biệt của Xuân Quỳnh, một thế giới tâm hồn thơ Xuân Quỳnh, điều mà dễ mấy ai cùng thời đã có được

Lâm Thị Mỹ Dạ được xếp vào thế hệ những nhà thơ trẻ thời chống Mỹ Chị đã cùng với những nhà thơ nữ như Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn,

Ý Nhi cất lên những tiếng thơ từ hậu phương góp một phần quan trọng tạo nên nền nghệ thuật anh hùng của cả một thời đại anh hùng Từ đó, hướng khát vọng thi ca vào những chân trời mơ mộng Sức hấp dẫn và giá trị của thơ Lâm Thị Mỹ Dạ nằm trong đường biên của cái tôi và cái ta, giấc mơ và hiện thực, giữa những gì đã qua và những gì sẽ đến; bên cạnh cái hư ảo mong manh ta bắt gặp cái biếc xanh, bỡ ngỡ Và vì vậy, đó là tiếng nói của sự va chạm, sinh thành Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ không xa rời thi pháp truyền thống nhưng luôn biết kế thừa và phát huy để làm giàu có phần hiện đại cần thiết của thơ

Khi ba bài thơ Hương thầm, Xóm đê, Bản mới của Phan Thị Thanh Nhàn

được giải Nhì cuộc thi do báo Văn nghệ tổ chức năm 1969 - 1970, thì Văn học Việt Nam chống Mỹ đã chính thức ghi thêm một gương mặt thơ trẻ xuất sắc

Ngày đăng: 31/10/2017, 02:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w