1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích các yếu tố liên quan đến quyết định mua máy đo huyết áp tự động của bệnh nhân tăng huyết áp

74 231 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 2,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi xin cam đoan luận văn “Phân tích các yếu tố liên quan đến quyết định mua máy đo huyết áp tự động của bệnh nhân tăng huyết áp” này là bài nghiên cứu khoa học của tôi và được sự hướng

Trang 1

Phạm Ngọc Lâm

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN QUYẾT ĐỊNH MUA THIẾT BỊ ĐO HUYÉT ÁP T ự ĐỘNG CỦA

BỆNH NHAN TĂNG HUYẾT Ằp

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

M ã số: 60310105

LUẬN VĂN THẠC s ĩ KINH TÉ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

T S N G U Y Ễ N H O À N G BẢ O

Trang 2

Tôi xin cam đoan luận văn “Phân tích các yếu tố liên quan đến quyết định mua máy

đo huyết áp tự động của bệnh nhân tăng huyết áp” này là bài nghiên cứu khoa học của tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Hoàng Bảo - Trưởng khoa Kinh

tế trường Đại học Kinh tế Tp.HCM Các nội dung nghiên cứu, số liệu trong đề tài này

là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng đe bảo vệ một học vị nào Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn được ghi rõ nguồn gốc và được phép công bố Không có bất kỳ bài nghiên cứu, luận văn hay tài liệu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn đúng theo đúng quy định

Phạm Ngọc Lâm

Trang 3

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu 2

1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 2

1.1.1 Mô tả vấn đề cần nghiên cứu 2

1.1.2 Sự cần thiết của đề tà i 6

1.1.3 Đóng góp của nghiên cứ u 6

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 7

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 7

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 7

1.3 Phạm vi nghiên cứu 7

1.4 Cấu trúc đề tà i 7

Chương 2: Cơ sở lý thuyết nghiên cứu 9

2.1 Mô hình lý thuyết 9

2.1.1 Lý thuyết về độ thỏa dụng 9

2.1.2 Lý thuyết hành vi người tiêu dùng 13

2.1.3 Lý thuyết hành vi sự lựa chọn của khách hàng - Mô hình kinh tể lượng 14

Trang 4

2.3.2 Thiết bị đo huyết áp tự động 26

Chương 3: Phương pháp nghiên c ứ u 30

3.1 Phương pháp nghiên cứu - Cỡ m ẫ u 30

3.2 Khung phân tích 30

3.3 Dữ liệu 33

3.3.1 Mô tả biến số 33

3.3.2 Câu hỏi khảo sát 38

3.4 Mô hình kinh tế lượng 39

Chương 4: Kết quả và Bàn luận 41

4.1 Thống kê mô tả 41

4.2 Kết quả hồi quy 48

4.2.1 Tương quan giữa các biến 48

4.2.2 Kiểm định ý nghĩa thống k ê 50

4.2.3 Kết quả mô hình hồi quy logistic 51

Chương 5: Kết luận và Kiến nghị 54 Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 5

Body Mass Index/ Chỉ sô cơ thê

Beep Per Minute/ số nhịp (tim) trong một phút

Clinic-based Blood Pressure/ Huyết áp dựa trên lâm sàng

Huyết áp

Home Blood Pressure Monitoring/ Thiết bị theo dõi huyết áp tại nhà International Society of Hypertension/ Hội Tăng huyết áp quốc tế Statistic Data Anylysis/ Phần mềm thống kê phân tích dữ liệu

Trang 6

Bảng 2.1: Phân loại các giai đoạn bệnh tăng huyết áp

Bảng 2.2: Đánh giá bệnh THA theo mức độ nguy cơ, WHO & 1SH, 2003 Bảng 3.1: Tóm tắt định nghĩa các biến đuợc sử dụng trong mô hình Bảng 4.1: Luợng giá tống quan các biến

Bảng 4.2: Thống kê theo biến Mua máy

Bảng 4.3: Thống kê mua máy đo HA theo Đặc điểm cá nhân

Bảng 4.4: Thống kê mua máy đo HA theo Tình trạng sức khỏe

Bảng 4.5: Thống kê mua máy đo HA theo Kiến thức về THA

Bảng 4.6: Thống kê mua máy đo HA theo loại máy đo HA

Bảng 4.7: Thống kê mức độ quan tâm đến các đặc tính máy

Bảng 4.8: Tương quan giữa các biến

Bảng 4.9: Kiếm định thống kê các biến bằng hồi quy OLS

Bảng 4.10: Ket quả hồi quy logistic

Trang 7

Hình 1.2: Tỉ lệ phần trăm dân số già vào năm 2012 và dự báo năm 2050 Hình 2.1: Đường bàng quan

Hình 2.2: Tháp nhu cầu Mashlow

Hình 2.3: Các biến chứng do Tăng huyết áp gây ra

Hình 2.4: Đo huyết áp thủ công bằng tay

Hình 2.5: Đo huyết áp tự động loại đeo cố tay

Hình 2.6: Đo huyết áp tự động loại đeo bắp tay

Hình 2.7: Đo huyết áp tự động liên tục 24 giờ

Hình 3.1: Khung phân tích

Trang 8

MỞ ĐẦU

Tăng huyết áp là một bệnh mạn tính với số lượng bệnh nhân mắc phải ngày càng tăng trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Việc điều trị tăng huyết áp tốn kém về thời gian và chi phí, tạo ra gánh nặng bệnh tật cho cá nhân và xã hội Tăng huyết áp có thế gây ra nhiều biến chứng nguy hiêm với tỉ lệ tử vong rất cao Điều quan trọng là thông thường bệnh nhân tăng huyết áp chỉ phát hiện bệnh khi có các triệu chứng xảy

ra, lúc đó việc điều trị khá tốn kém và mất thời gian Tăng huyết áp được gọi là “Kẻ giết người thầm lặng” vì hiếm khi có triệu chứng, khiến nhiều người không hề nhận thấy họ đang mắc bệnh Người bệnh chỉ tiến hành đo huyết áp khi khám định kỳ mà không theo dõi huyết áp thường xuyên tại nhà hoặc nơi làm việc Điều này ảnh hưởng đến kết quả điều trị cũng như sức khỏe lâu dài của bệnh nhân Trong khuôn khổ nghiên cứu này sẽ phân tích các yểu tố liên quan đến quyết định mua thiết bị đo huyết áp tự động của bệnh nhân THA, từ đó giúp các nhà sản xuất thiết bị đo huyết áp cải thiện về sản phẩm và kế hoạch kinh doanh, đồng thời cũng giúp đưa ra các biện pháp hỗ trợ từ gia đinh và xã hội

Trang 9

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐÈ TÀI NGHIÊN cứu

1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Mô tả vấn đề cần được nghiên cứu

Bệnh THA là một bệnh phổ biến trên thể giới cũng như ở Việt Nam, là mối

đe dọa rất lớn đối với sức khỏe của con người, là nguyên nhân gây tàn phế và

tử vong hàng đầu Tăng huyết áp đang trở thành một vấn đề cấp bách của xã hội vì sự gia tăng nhanh chóng của căn bệnh này trong cộng đồng Một nghiên cứu năm 2008 tại 8 tỉnh thành ở Việt Nam cho thấy, tỷ lệ người trên

25 tuổi mắc tăng huyết áp là khoảng 25%, nghĩa là cứ bốn người lớn thì có một người bị tăng huyết áp Tuy nhiên, kết quả điều tra năm 2015 cũng tại 8 tỉnh thành trên, tỷ lệ này đã tăng lên hơn 47%, có nghĩa tại thời điểm này cứ hai người trưởng thành có một người bị THA Cũng theo nghiên cứu trên, số người mắc bệnh nhưng chưa phát hiện lên đến 39%, tỷ lệ người được điều trị tăng lên nhưng tỷ lệ điều trị đạt huyết áp mục tiêu (duy trì huyết áp ờ mức dưới 140/90 mmHg) chỉ 31% 82% bệnh nhân chưa được kiểm soát huyết áp đầy đủ (gồm không biết mình có bệnh, biết bệnh nhưng không điều trị, điều trị nhưng huyết áp không kiểm soát được) Chỉ có một số bệnh nhân THA là

có một vài triệu chứng cơ năng gợi ý cho họ đi khám bệnh như đau đầu, chóng mặt, mặt đỏ bừng, ù tai, Nhưng đa số các bệnh nhân THA lại thường không có các dấu hiệu cảnh báo trước Có trường hợp lúc thấy có triệu chứng đau đầu xuất hiện thì tiếp ngay sau đó cũng là kết thúc cuộc đời của họ do đã bị xuất huyết não nặng nề Mức độ nhận thức của mọi người về phòng bệnh, điều trị bệnh THA cũng khác nhau Phần đông số bệnh nhân THA không nhận thức được tình trạng bệnh của họ Mặt khác, đại đa số các bệnh nhân bị THA không rõ nguyên nhân (gọi là THA thứ phát) Chỉ có một

số nhỏ các bệnh nhân bị THA có tìm được nguyên nhân (tức là do hậu quả

Trang 10

của các bệnh lý khác) Do đó, những dấu hiệu thế hiện bệnh THA thường không đặc hiệu và người bệnh thường không thấy có gì khác biệt so với người thường Vì vậy, việc kiếm tra huyết áp thường xuyên, nhất là những người có những yếu tố nguy cơ và có triệu chứng THA, là hết sức cần thiết

và quan trọng Đe thực hiện việc kiếm tra theo dõi huyết áp hàng ngày, người bệnh ngoài việc đến cơ sở y tế còn có thê tự trang bị máy đo huyết áp tự động đế kiếm tra chi số huyết áp cá nhân Việc đo huyết áp nên thực hiện vào thời điểm cố định trong ngày (sau khi thức dậy, sau khi tắm xong, ) để việc

so sánh và theo dõi chỉ số huyết áp được chính xác và đạt được hiệu quả trong điều trị Qua đó ta thấy việc mua máy đo huyết áp tự động của bệnh nhân THA có ảnh hưởng tích cực đến quá trình điều trị cũng như việc theo dõi sức khỏe hàng ngày của bệnh nhân THA

Tại Việt Nam, theo điều tra năm 1982, tỷ lệ THA chung là 1,95% và ở người trên 60 tuổi tỷ lệ THA là 9,2% Theo điều tra của Phạm Gia Khải và cộng sự (1999), tỷ lệ THA là 16,05% Năm 2002, theo điều tra của Viện Tim mạch trung ương, tỷ lệ THA là 23,2% Theo số liệu điều tra y tế quốc gia năm 2001

- 2002 của Việt Nam, tỷ lệ tăng huyết áp ở nam giới từ 16 tuối trở lên là 15,1% và nữ giới là 13,5% Qua đó dễ dàng nhận thấy tỷ lệ THA ngày càng tăng qua các năm và độ tuổi mắc bệnh THA ngày càng trẻ hóa

THA và các yếu tố nguy cơ (lối sống, nhận thức, ) đã trờ thành vấn đề cần giải quyết không những chỉ bằng thuốc điều trị kiểm soát HA, mà cần hàng loạt các biện pháp giáo dục truyền thông sức khoè nhằm vào các yếu tố nguy

cơ đặc biệt là các yếu tố nguy cơ về lối sống có khả năng thay đối theo chiều hướng tích cực có lợi cho bệnh nhân bị THA

Trang 11

Hiện nay, tình trạng quản lý bệnh nhân THA ở Việt Nam chưa có hệ thống quản lý và dự phòng đối với bệnh THA Các hoạt động y tế mới chỉ tập trung vào công tác điều trị bệnh nhân tại các bệnh viện, chưa có mô hình dự phòng, ghi nhận và quản lý bệnh THA và truyền thông giáo dục sức khỏe tại cộng đồng.

Trong một nghiên cứu được thực hiện tại Mỹ, số ca tử vong liên quan đến tăng huyết áp tăng 61,8%, từ 245.220 vào năm 2000 lên đến 396.675 vào năm 2013.

Hình 1.1: s ố ca tử vong liên quan đến tăng huyết áp, Mỹ, 2000-2013

(Nguỏn: CDC/NCHS, National Vital Statistics System, Mortality)

w m Number of ell other cau ses of death combined

H Number of hypertension-related deaths

™ Dealh rates for all other cau ses of dealh combined'

■ ■ Hypertension-related death rates1'

2.500 I

5u>

2,000 ?o

E

■6 c

Ẹ o

Trang 12

đời Ngoài ra, việc nhận thức về bệnh tăng huyết áp ngày càng được nâng cao và nhu cầu sử dụng máy theo dõi huyết áp tại nhà dự kiến sẽ thúc đấy ngành công nghiệp này phát triến mạnh mẽ trong những năm tới Hơn nữa, tiến bộ khoa học công nghệ như hệ thống theo dõi huyết áp tự động kết nối với điện thoại di động dự kiến sẽ đấy nhanh tốc độ tăng trưởng trong lĩnh vực này Theo dự đoán, tỷ lệ dân số trên thế giới có tuổi thọ trên 60 tuối tăng

từ năm 2012 là 11% đến năm 2050 là 22%, do đó nhu cầu về thiết bị đo HA

là rất lớn Theo số liệu thống kê được WHO công bố, THA là nguyên nhân hàng đầu làm 7,5 triệu người chết trong năm 2008 và được dự đoán sẽ là yếu

tố nguy cơ chính gây ra các bệnh tim mạch vành và đột quỵ trong thập kỷ này Tất cả các yếu tố này được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tăng trưởng ngành công nghiệp này trong tương lai gần.

Hình 1.2: Tỉ lệ phần trăm dân số già vào năm 2012 và dự báo năm 2050

(Nguồn: Global Industry Analysts, Inc.)

Aging Population Spurs O pportunities fo r BP M onitoring Devices

Aging Population (60+ Years) as a Percentage of the Total Population (2012 & 2050)

World More L e s s L e a s t W orld More L e s s Le a s t

D eveloped Developed D eveloped D eveloped Developed Developed

Co untries C o untries Co untries C o u n trie s C o untries Co untries

Trang 13

1.1.2 Sự cần thiết của đề tài

Nghiên cứu sẽ phân tích các yếu tố về nguồn lực, tình trạng sức khỏe, kiến thức hiếu biết về bệnh THA liên quan như thế nào đến quyết định mua và sử dụng thiết bị đo huyết áp tự động, bệnh nhân THA quan tam đến các đặc tính nào của máy đo HA tự động, từ đó tìm ra xu hướng chung giúp hiếu rõ hơn

về nhu cầu sử dụng thiết bị đo huyết áp tự động của bệnh nhân THA Từ xu hướng này, xã hội sẽ có các chính sách hỗ trợ phù họp cũng như sự hỗ trợ từ gia đình trong việc thực hiện theo dõi HA đối với bệnh nhân THA Ngoài ra, các hãng sản xuất và công ty cung cấp thiết bị đo huyết áp sẽ có những điều chỉnh và kế hoạch phù họp nhằm tiếp cận được với đối tượng khách hàng tiềm năng, phát triển bền vững và sâu xa hơn là chăm sóc sức khỏe con người và giảm gánh nặng bệnh tật cho xã hội Khi bệnh nhân THA được theo dõi huyết áp liên tục và cung cấp các thông số giá trị cho quá trình điều trị, kết quả điều trị sẽ tiến triển tốt hơn và huyết áp của bệnh nhân sẽ tiến dần về khoảng bình thường, đồng thời sẽ hạn chế gây ra các biến chứng và đem đến cuộc sống vui khỏe hạnh phúc cho bệnh nhân THA

1.1.3 Đóng góp của nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm phân tích tác động của các yếu tố liên quan đến quyết định

sử dụng thiết bị đo huyết áp tự động tại nhà của bệnh nhân THA Qua đó, kết quả sẽ giúp nhà sản xuất, gia đình và xã hội hiểu rõ hơn về nhu cầu sử dụng thiết bị đo HA tự động của người bệnh và có các hồ trợ cần thiết và chiến lược phù hợp Từ đó, người bệnh THA sẽ quản lý và theo dõi tình trạng bệnh tật của mình tốt hơn, giảm các biến chứng gây ra, giảm chi phí điều trị và gánh nặng bệnh tật cho xã hội

Trang 14

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tống quát

Bài nghiên cứu phân tích các yếu tố tác động đến quyết định mua thiết bị đo huyết áp tự động của bệnh nhân THA

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Bài nghiên cứu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu:

- Có mối liên quan giữa tình trạng sức khỏe của bệnh nhân bị tăng huyết áp với quyết định mua sử dụng thiết bị đo huyết áp tự động không?

- Bệnh nhân THA quan tâm đến các đặc tính nào của máy đo HA tự động?

- Nguồn lực kinh tế của bệnh nhân tăng huyết áp có tác động đến quyết định mua thiết bị đo huyết áp tự động không?

- Nhận thức về việc theo dõi và điều trị bệnh THA của bệnh nhân THA có tác động đến quyết định mua thiết bị đo huyết áp tự động không?

Đe tài nghiên cứu gồm 05 chương:

Chương 1: Giới thiệu tổng quát về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Trình bày về bệnh tăng huyết áp, máy đo huyết áp tự động, cơ sở lý thuyết, mô hình kinh tế, các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến nghiên cứu Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu, khung phân tích, cỡ mẫu, phương pháp thu thập và xử lý số liệu

Trang 15

Chương 4: Trình bày thống kê mô tả các biến, kết quả mô hình hồi quy, kiếm định.

Chương 5: Trình bày kết luận, kiến nghị.

Trang 16

CHƯƠNG 2: C ơ SỞ LÝ THUYÉT NGHIÊN cứu

Sự bằng lòng hay thỏa mãn của người tiêu dùng khi tiêu dùng một loại hàng hóa hay dịch vụ thường thay đối mà không cố định, vì vậy độ thỏa dụng cũng

là một đại lượng liên tục thay đổi và có các đặc điểm:

- Độ thỏa dụng phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của người tiêu dùng: với cùng một loại hàng hóa hay dịch vụ, đối với người này có thế có cảm giác hài lòng khi tiêu dùng nó nhiều hơn nhưng đối với người khác, điều này lệ thuộc vào sở thích của người tiêu dùng đối với hàng hóa hay dịch vụ đó

- Độ thỏa dụng phụ thuộc vào số lượng hàng hóa hay dịch vụ được tiêu dùng: khi tiêu dùng nhiều hơn một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó người tiêu dùng luôn cảm thấy hài lòng nhiều hơn, tức là độ thỏa dụng khi tiêu dùng nhiều lớn hơn khi tiêu dùng ít

- Độ thỏa dụng phụ thuộc vào từng điều kiện tiêu dùng cụ thế: trong những hoàn cảnh khác nhau mức độ hài lòng có được khi tiêu dùng cùng một loại hàng hóa cũng khác nhau

Trang 17

Nhu cầu sử dụng máy đo huyết áp tại nhà là một hàm bắt nguồn từ nhu cầu về sức khỏe và mô hình hóa như một quyết định đế tự kiếm tra huyết áp tại nhà

và quyết định nhà cung cấp máy đo huyết áp Lợi ích có được từ sử dụng máy

đo huyết áp tại nhà là sức khỏe tốt nhận được từ hiệu quả điều trị khi kiếm soát được chỉ số huyết áp Lý thuyết giả định rằng các cá nhân có thế xếp hạng ưu tiên và có thê lựa chọn một sự kết họp hàng hóa và dịch vụ đế tối

đa hóa hữu dụng của họ

Tổng độ thỏa dụng (TU)

Tổng độ thỏa dụng là toàn bộ mức độ thỏa mãn hoặc bằng lòng mà một người tiêu dùng có được khi tiêu dùng một số các hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó trong một thời gian cố định

Tổng độ thỏa dụng có thể được biểu diễn dưới dạng một hàm số của một tập họp những hàng hóa, dịch vụ nào đó: TU = f (X, Y, z, .)

Khi tiêu dùng càng nhiều hàng hóa, dịch vụ thì tống độ thỏa dụng mang lại cho người tiêu dùng càng lớn Nhưng ở một mức độ nào đó, tổng độ thỏa dụng sẽ đạt đến mức tối đa cho dù có tiêu dùng nhiều hơn nữa Đó là điểm bão hòa của người tiêu dùng đối với sản phấm đó Tuy nhiên trên thực tế rất hiếm khi người tiêu dùng lại tiêu dùng quá mức một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó, bởi lẽ khi không còn cảm giác hài lòng hay thỏa mãn nữa nghĩa là không còn sở thích đối với hàng hóa hay dịch vụ đó thì người tiêu dùng sẽ không tiếp tục tiêu dùng Do vậy trong nghiên cứu này, chỉ nghiên cứu trong

số lượng hàng hóa còn mang lại cảm giác thích thú cho người tiêu dùng, tức là chỉ xem xét tống độ thỏa dụng luôn tăng khi số lượng hàng hóa được tiêu dùng tăng

Trang 18

Độ thỏa dụng biên (MU)

Độ thỏa dụng biên là mức tăng thêm của tống độ thỏa dụng (TU) khi tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hóa hay dịch vụ nào đó, được tính theo công thức:

- Sở thích của người tiêu dùng có tính chất bắc cầu

Với ba giả định trên, đường bàng quan thể hiện những kết hợp khác nhau trong việc lựa chọn hai hàng hóa và tất cả những kết họp đó đều mang lại tổng

độ thỏa dụng như nhau cho người tiêu dùng

Các đường bàng quan có các đặc điểm:

- Các đường bàng quan dốc xuống và thường lồi về phía gốc tọa độ

- Các đường bàng quan không cắt nhau

- Có vô số đường bàng quan, các đường bàng quan càng xa gốc tọa độ phản ánh độ thỏa dụng càng cao so với các đường bàng quan nằm gần gốc tọa độ

Trang 19

Hình 2.1: Đường being quan

Đường giới hạn ngân sách

Người tiêu dùng lựa chọn tiêu dùng một hàng hóa hay dịch vụ nào đó dựa trên

sở thích về hàng hóa và dịch vụ đó và số tiền mà họ có Đường giới hạn ngân sách minh họa cho số tiền hạn chế mà người tiêu dùng dành để mua hàng hóa

và dịch vụ Đường giới hạn ngân sách dựa trên các giả định:

- Người tiêu dùng chỉ mua hai loại hàng hóa

- Giá cà hàng hóa được cho trước

- Người tiêu dùng sử dụng toàn bộ hay ngân sách của mình

Với ba giả định trên, đường ngân sách cho biết tất cả các kết hợp tối đa của hai loại hàng hóa mà người tiêu dùng có thế mua được với cùng một mức ngân sách

Lựa chọn tối ưu của người tiêu dùng

Mục đích của người tiêu dùng là đạt được sự thỏa mãn tối đa bằng nguồn thu nhập hạn chế của mình và như vậy sự lựa chọn của người tiêu dùng bị ràng

Trang 20

buộc bởi nhân tố chủ quan là sở thích của họ và nhân tố khách quan là sự giới hạn trong ngân sách tiêu dùng Việc chi mua của người tiêu dùng phải chấp nhận một chi phí cơ hội vì việc mua hàng hóa này đồng thời sẽ làm giảm cơ hội mua nhiều hàng hóa khác Người tiêu dùng sẽ tối đa hóa hữu dụng của mình tại điếm mà đường bàng quan và đường ngân sách tiếp xúc nhau.

2.1.2 Lý thuyết hành vi người tiêu dùng

(g ia đình, c á c m ối q u a n hệ, bạn bè)

An toàn (ch ổ ờ a n to à n, đ ư ợ c b ảo v ệ , cô ng vi ệc, s ự ổ n định)

Nhu cầu sinh lỷ (th ử c ã n , không khí, th ư g iã n , nư ở c, ngủ, tìn h dục)

Hình 2.2: Tháp nhu cầu Maslow

Maslow mô hình hóa nhu cầu con người thành hình tháp năm tầng, tầng đáy là các nhu cầu cơ bản, tăng dần cho tới tầng đỉnh là các nhu cầu cao cấp

Trang 21

Tầng 1 (Nhu cầu sinh lý): các nhu cầu vật chất tối thiếu phải có đế con người

có thế tồn tại hàng ngày như thức ăn, không khí, nước, ngủ,

Tầng 2 (Nhu cầu về an toàn): con người cần được cảm thấy an toàn ở nơi sinh sống và làm việc, được đảm bảo an ninh, nơi chăm sóc chữa trị khi bệnh, được pháp luật bảo vệ, tài sản không bị mất mát

Tầng 3 (Yêu mến và phụ thuộc): Nhu cầu được giao lưu bạn bè, đồng nghiệp, các mối quan hệ, tham gia các hoạt động xã hội

Tầng 4 (Nhu cầu được tôn trọng): được mọi người trong gia đình, hàng xóm, bạn bè, đồng nghiệp, xã hội tôn trọng, yêu quý

Tầng 5 (Nhu cầu tự thế hiện): là bậc cao nhất trong tháp nhu cầu của con người, con người muốn tự do sáng tạo, muốn được công nhận và khen thưởng những gì mình đã thực hiện

Các nhu cầu về y tế và chăm sóc sức khỏe thuộc về tầng thứ hai Người bệnh THA cần được quan tâm chăm sóc, điều trị cũng như các chính sách hỗ trợ nhằm ngăn ngừa bệnh tiến triến cũng như đem đến cuộc sống hạnh phúc, vui khỏe cho người bệnh

Các yếu to ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng

Văn hóa: Các yếu tố văn hóa có ảnh hưởng lớn đến hành vi của người tiêu dùng Vai trò của nền văn hóa, nhánh văn hóa và giai tầng xã hội là một bộ phận không thể tách rời của môi trường văn hóa Văn hóa là một nguyên nhân căn bản dẫn đến nhu cầu và hành vi của một người Có bốn loại nhánh văn hóa lớn nhất là: dân tộc, tôn giáo, chủng tộc, các nhóm có xuất xứ từ các vùng địa

lý nhất định Tầng lóp xã hội bao gồm những thành viên có chung những giá trị, mối quan tâm và hành vi

Trang 22

Yeu tố xã hội: Hành vi của người tiêu dùng còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố

xã hội như các nhóm liên quan, gia đình, vai trò và địa vị xã hội Các thành viên trong gia đình người tiêu dùng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi mua sắm của người đó

Yếu tố tâm lý: Sự lựa chọn của người tiêu dùng còn chịu ảnh hưởng của những yếu tố tâm lý

Quyết định của người tiêu dùng còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố đặc điểm

cá nhân bao gồm tuổi tác, giai đoạn của chu trình đời sống, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế, phong cách sống, nhân cách và lẽ sống của con người

2.1.3 Lý thuyết hành vi sự lựa chọn của khách hàng - Mô hình kình tế lượng

Hành vi:

Dưới góc nhìn sinh học, hành vi được xem như là cách sống, hoạt động trong một môi trường nhất định dựa trên sự cần thiết thích nghi tối thiểu của cơ thể với môi trường Dưới góc nhìn tâm lý học, con người là một chủ thể tích cực do

đó hành vi của con người luôn có mục đích, đảm bảo cho con người tồn tại và phát triển

Mô hình kinh tế lượng

Theo Leon Schiffiman và cộng sự (1997), hành vi người tiêu dùng là sự tương tác năng động của các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi và môi trường mà qua sự thay đối đó con người thay đối cuộc sống của họ Theo Peter D.Bennet (1988), hành vi của người tiêu dùng là những hành vi mà người tiêu dùng thế hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phấm và dịch

vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ

Trang 23

Còn theo Charles w Lamb, Joseph F Hair và Carl McDaniel (2000), hành vi của người tiêu dùng là một quá trình mô tả cách thức mà người tiêu dùng ra quyết định lựa chọn và loại bỏ một loại sản phấm hay dịch vụ.

Theo Philip Kotler (2001), người làm kinh doanh nghiên cứu hành vi người tiêu dùng với mục đích nhận biết nhu cầu, sở thích, thói quen của họ Cụ thế là xem người tiêu dùng muốn mua gì, sao họ lại mua sản phấm, dịch vụ đó, tại sao họ mua nhãn hiệu đó, họ mua như thế nào, mua ở đâu, khi nào mua và mức độ mua

ra sao để xây dựng chiến lược marketing thúc đẩy người tiêu dùng lựa chọn sản phấm, dịch vụ của mình

Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng hiện nay còn đi xa hon các khía cạnh nói trên Đó là người tiêu dùng được các nhà kinh doanh tìm hiếu xem họ có nhận thức được các lợi ích của sản phấm, dịch vụ họ đã mua hay không và cảm nhận, đánh giá như thế nào sau khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ Vì điều này sẽ tác động đến những lần mua hàng sau đó của người tiêu dùng và tác động đến việc thông tin về sản phấm của họ đến những người tiêu dùng khác

Mô hình xuất phát từ giả định rằng người ra quyết định thực hiện dựa trên mục tiêu tối đa hóa hữu dụng của họ Với một người ra quyết định lựa chọn một sản phấm khi đứng trước nhiều sản phẩm, người đó sẽ có xu hướng lựa chọn sản phấm dựa trên mức độ hữu dụng của từng sản phấm mang lại

2.2 Lược khảo các nghiên cứu liên quan

Trong một nghiên cứu của Malcolm Aylett và cộng sự (1999) về tác động của việc theo dõi HA tại nhà trong việc quản lý bệnh THA, kết quả cho thấy việc theo dõi HA tại nhà giúp tăng cường chất lượng quản lý bệnh THA Có 20 nghiên cứu nhỏ được thực hiện trong việc theo dõi bệnh nhân THA, đặc biệt là

Trang 24

đối với bệnh nhân bắt đầu dùng thuốc điều trị và các bệnh nhân không được quan tâm đúng mức Ket quả cho thấy, trong 660 bệnh nhân được theo dõi, có

64 (27%) trong 236 bệnh nhân không được điều trị bị mắc WCH, và 60 (94%) trong 64 bệnh nhân này không cần dùng thuốc điều trị Có 45 (17%) trong số

258 bệnh nhân được điều trị kém bị mắc WCH, 34 (76%) trong 45 bệnh nhân này tiếp tục sử dụng thuốc và 11 (24%) bệnh nhân giảm hoặc ngưng hắn việc

sử dụng thuốc Một bảng khảo sát được thực hiện đối với bác sĩ và điều dưỡng, kết quả cho thấy rằng việc theo dõi tại nhà đem đến giá trị thực sự trong việc nâng cao chất lượng quản lý bệnh nhân THA Tính khả thi của việc tầm soát THA bằng việc theo dõi HA tại nhà đã được chứng minh, và nó được khuyến cáo như là phương án tối ưu để theo dõi bệnh nhân THA ngoại viện (Aylett M„ 1999)

Trong một nghiên cứu khác của Y Claire Wang và cộng sự (2013) về chi phí - hiệu quả của mô hình theo dõi thứ cấp bệnh THA, nghiên cứu vấn đề hiệu quả

- chi phí của việc sử dụng thiết bị đo HA tại nhà HBPM và thiết bị đo HA lưu động ABPM trong việc tầm soát HA ở người lớn Có 14 nghiên cứu nhỏ bao gồm hiệu quả chi phí và so sánh hai hay nhiều mô hình Có 6 nghiên cứu cho thấy thiết bị ABPM giúp tiết kiệm chi phí trong việc chấn đoán bệnh, 3 nghiên cứu cho thấy sử dụng thiết bị HBPM cũng đạt chi phí - hiệu quả Từ góc nhìn của trung tâm Dịch vụ y tế quốc gia Anh, nghiên cứu này cho thấy việc sử dụng ABPM giúp tiết kiệm chi phí trong việc giảm các điều trị không cần thiết

và rủi ro mắc phải bệnh mạch vành và đột quỵ trong tương lai đối với nam giới

và nữ giới ở mọi lứa tuổi

Một nghiên cứu của Carma A và cộng sự (2012) thực hiện tại Mỹ nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến về việc sử dụng thường xuyên máy đo huyết áp

Trang 25

tại nhà của bệnh nhân tăng huyết áp trong hai năm 2005 và 2008 Có 3739 bệnh nhân tăng huyết áp trong hai năm khảo sát kết họp Dựa trên các dữ liệu

tự báo cáo, tỷ lệ bệnh nhân tăng huyết áp có sử dụng máy đo huyết áp tại nhà thường xuyên là 43,2% Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logistic với nguồn dữ liệu tự báo cáo từ các cuộc điều tra HealthStyles tại Mỹ năm 2005 và

2008 với kết quả đưa ra được các đánh giá: (1) mối tương quan giữa người lớn

bị tăng huyết áp thường xuyên sử dụng máy đo huyết áp tại nhà và các yếu tố đặc tính lựa chọn độc lập , (2) mối liên quan giữa số lần sử dụng máy đo huyết

áp với việc nhận thức rằng nó giúp kiểm soát huyết áp của họ, (3) sự thay đổi tu'0'ng đối tỷ lệ phần trăm từ năm 2005 đến năm 2008 trong tỷ lệ người lớn bị tăng huyết áp có thường xuyên sử dụng máy đo huyết áp tại nhà

Các đặc tính như giới tính, tuổi, chủng tộc/ tôn giáo, thu nhập hộ gia đình, trình

độ học vấn đều có tác động đến sự khác biệt về tỷ lệ sử dụng thường xuyên máy đo huyết áp tại nhà

Tỷ lệ người lớn tăng huyết áp có sử dụng thường xuyên máy đo huyết áp tại nhà là 43,2% và tỷ lệ này cao hou ở đàn ông so với phụ nữ Tỷ lệ người bị tăng huyết áp trên 45 tuối sử dụng thường xuyên máy đo huyết áp cao hơn so với những người bị tăng huyết áp trong độ tuối từ 18 đến 45 Tỷ lệ sử dụng máy đo huyết áp tại nhà thường là lớn nhất ở hai nhóm thu nhập cao nhất và khác nhau

có ý nghĩa thống kê ở hai nhóm có thu nhập thấp nhất Ngoài ra, tỷ lệ sử dụng máy đo huyết áp tại nhà thường lớn hon ứng với mồi cấp trình độ học vấn cao hon, mặc dù không có ý nghĩa về mặt thống kê Một kết quả có ý nghĩa hon là các bệnh nhân tăng huyết áp thực hiện việc đo huyết áp tại nhà hàng ngày (86,3%) hoặc hàng tuần (82,3%) nhận thức được rằng việc này có thế giúp họ kiểm soát được huyết áp so với bệnh nhân tăng huyết áp chỉ thực hiện đo hàng tháng (69,9%) Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng không có sự khác biệt có ý nghĩa

Trang 26

về mặt thống kê giữa nam và nữ, trình độ học vấn trong việc sử dụng máy đo huyết áp tại nhà Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng ít hơn một nửa số người lớn

bị tăng huyết áp ờ Mỹ trong năm 2005 và năm 2008 có sử dụng máy đo huyết

áp tại nhà thường xuyên, bất kế đặc điếm kinh tế xã hội

Một phân tích tổng hợp khác tiến hành trên 37 mẫu ngẫu nhiên cho kết quả rằng các bệnh nhân tăng huyết áp có sử dụng thường xuyên máy đo huyết áp tại nhà giúp giảm một nửa liều thuốc giảm huyết áp so với các bệnh nhân tăng huyết áp chỉ đo huyết áp tại phòng khám

Việc sử dụng máy đo huyết áp tại nhà đã được chứng minh trong việc kiểm soát bệnh tăng huyết áp, các chuyên gia chăm sóc sức khỏe đang thúc đây việc

sử dụng nó, đặc biệt là đối với ở bệnh nhân tăng huyết áp trẻ tuổi và người có thu nhập trung bình thấp

Qua các nghiên cứu liên quan cho thấy sự cần thiết và hiệu quả tích cực của sử dụng thiết bị đo HA tự động tại nhà trong việc quản lý bệnh THA Nghiên cứu này sẽ tiếp tục phát triến trên cơ sở các kết quả đó nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua thiết bị đo huyết áp tại nhà của bệnh nhân THA

2.3 Tổng quan về Tăng huyết áp và Máy đo huyết áp tự động

2.3.1 Tăng huyết áp

Tăng huyết áp (hay còn gọi là cao huyết áp) là một bệnh mạn tính trong đó áp lực máu đo được ở động mạch tăng cao hơn mức bình thường HA thường được đo bằng hai chỉ số là: huyết áp tâm thu (systolic) đo bằng áp lực máu trong lòng mạch khi tim đập và huyết áp tâm trương (diastolic) đo bằng áp lực máu trong khoảng thời gian giữa hai lần đập của tim Khi huyết áp tâm thu

Trang 27

hay tâm trương cao hơn giá trị bình thường theo tuối thì được phân loại là tiền tăng huyết áp hoặc tăng huyết áp.

Bảng 2.1: Phân loại các giai đoạn bệnh tăng huyết áp

Nguồn: Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (2003)

Còn theo Tổ chức Y tế thế giới WHO (1996), các giai đoạn của THA được phân chia theo ba giai đoạn:

- Giai đoạn 1: THA thật sự nhưng không có tổn thương thực thể các cơ quan

- Giai đoạn 2: Có ít nhất một trong các biến đối: dày thất trái, hẹp lan tỏa hay từng vùng các động mạch võng mạc, ure hoặc creatinine máu tăng nhẹ (1.2-2 mg%), có hình ảnh mảng xơ vữa động mạch trên siêu âm hoặc x-quang

- Giai đoạn 3: có dấu hiệu chức năng và thực thế do tổn thương các cơ quan đích: suy tim, cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, tai miến mạch máu não thoáng qua, xuất huyết não, xuất huyết võng m ạc,

Theo Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ, việc theo dõi HA tại nhà và ghi nhận lại các giá trị đo được giúp cho việc lập kế hoạch điều trị cho bệnh nhân THA đạt hiệu quả Tùy vào tình trạng bệnh THA mà bác sĩ sẽ khuyến cáo bệnh nhân về thời gian giữa hai lần đo, các chỉ số cần ghi nhận cũng như các hành động cần thiết nếu kết quà đo nằm ngoài khoảng HA bình thường

Trang 28

CÓ nhiều quy chuấn khác nhau về khoảng bình thường của HA HA lúc nghỉ thông thường nằm trong khoảng 100-140 mmHg HA tâm thu và 60-90 mmHg đối với HA tâm trương Bệnh nhân bị THA khi đo HA của bệnh nhân thường xuyên thấy cao hcm hoặc bằng 140/90 mmHg Việc đánh giá THA theo mức

độ nguy cơ của Tố chức y tế thế giới và hội THA thế giới (ISH) năm 2003 gồm:

Bảng 2.2: Đánh giá bệnh THA theo mức độ nguy cơ, WHO & ISH, 2003

Yeu tố nguy cơ của

bệnh tim mạch

Mức độ huyết áp tâm thu và tâm trương (độ 1-3)Nam > 55 tuổi

Nữ > 65 tuổiHút thuốc láCholesterol toàn phần >250mg%

Tiểu đườngTiền sử gia đình bị bệnh timYeu tố khác ảnh hưởng

xấu đến tiên lượng

HDL-C giảmLDL-C tăngAlbumine niệu vi thể ở bệnh nhân tiểu đườngRối loạn dung nạp glucose

Béo phìLối sốngFibrinogene máu tăngNhóm kinh tế xã hội nguy cơ caoNhóm dân tộc nguy cơ caoVùng địa lý nguy cơ cao

Trang 29

Tại Việt Nam, trong một nghiên cứu về dịch tễ học bệnh THA kết quả cho thấy: ở nhóm người hút thuốc lá nhiều (trên 8 điếu/ngày) có tỷ lệ THA cao hơn hẳn nhóm không hút thuốc lá, nhưng nếu hút thuốc lá dưới 8 điếu/ngày thì tỷ lệ THA giữa nhóm có hút thuốc lá và nhóm không hút thuốc là không có

sự khác biệt rõ ràng

Đã có một số nghiên cứu được báo cáo về sự liên quan của uống rượu nhiều

và THA, nhưng cơ chế của liên quan này vẫn còn chưa rõ ràng Có những ý

Trang 30

kiến chưa thống nhất nhưng đa số thừa nhận uống nhiều rượu làm THA Một

số nghiên cứu cho thấy THA ở 20-30% số người lạm dụng rượu Hon nữa rượu còn có thế gây rối loạn nhịp tim, rối loạn điều hoà lipoprotein và triglycerid, làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và các bệnh lý về mạch máu.Muối không thể thiếu đối với cơ thể con người, nhưng ăn quá nhiều muối sẽ làm ứ nước trong cơ thê, tăng khối lượng tuần hoàn và HA cũng tăng lên Việt Nam ở vùng nhiệt đới, với trên 3000 kilomet bờ biến, nhân dân ở các vùng ven biến này chủ yếu là lao động thuần tuý nên họ có thói quen ăn mặn Vì vậy, tác động của chế độ ăn gây ra THA ở nước ta có thế là tác nhân có ý nghĩa Một số nghiên cứu điều tra khấu phần ăn từng vùng, các nhà nghiên cứu thấy rằng vùng nào ăn nhiều muối thì có tỷ lệ THA cao hơn Như vậy, lượng muối ăn hàng ngày quá cao là một nguyên nhân gây THA trong các quần thế Một nghiên cứu ở tỉnh Nghệ An là nơi người dân hay ăn mặn, mỗi ngày trung bình ăn 13,9g muối, thì tỷ lệ THA 17,9%, còn người dân ở Hà Nội

ăn nhạt hơn, chỉ có 10,5g muối thì chỉ có 10,6% bị THA Một số nghiên cứu cho thấy: vùng ven biển ăn mặn có tỷ lệ THA cao rõ hơn ở vùng đồng bằng

và miền núi Một điều tra dịch tễ học: so sánh 1128 và 909 cặp đôi giữa nhóm THA và nhóm đối chứng thấy rằng, tỷ lệ số người ăn mặn THA cao hơn rõ rệt

so với nhóm những người bình thường

Tăng huyết áp nếu không điều trị và điều chỉnh lối sống kịp thời sẽ gây ra các biến chứng nguy hiểm như: tim mạch, đột quỵ, thận, mắt và mạch máu:

Tim: Suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và là nguyên

nhân tử vong cao nhất đối với THA: dày thất trái gây suy tim toàn bộ, suy mạch vành gây nhồi máu cơ tim, THA thường xuyên sẽ làm cho thất trái

to ra, về lâu dài, thất trái bị giãn; khi sức co bóp của tim bị giảm nhiều thì

sẽ bị suy tim, lúc đầu suy tim trái rồi suy tim phải và trở thành suy tim toàn

Trang 31

bộ về lâm sàng, lúc đầu người bệnh mệt mỏi, khó thở khi gắng sức, về sau với gắng sức vừa cũng khó thở và đến giai đoạn cuối của bệnh thì khó thở cả khi đi ngủ Ngoài ra người bệnh còn bị da xanh, phù, tím tái

Não: Tai biến mạch máu não thường gặp như: nhũn não, xuất huyết não có

thể tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề Có thể chỉ gặp tai biến mạch máu não thoáng qua với các triệu chứng thần kinh khu trú không quá 24 giờ hoặc bệnh não do THA như lú lẫn, hôn mê kèm co giật, nôn mửa, nhức đầu dữ dội

Thận: Xơ vữa động mạch thận sớm và nhanh.

Xơ thận gây suy thận dần dần

Hoại từ dạng tơ huyết tiếu động mạch thận gây THA ác tính Giai đoạn cuối thiếu máu cục bộ nặng ở thận sẽ dẫn đến nồng độ renin và angiotensin II trong máu tăng gây cường aldosteron thứ phát

Mạch máu: THA là yểu tố gây vữa xơ động mạch, phồng động mạch chủ Mắt: Soi đáy mắt có thế thấy tốn thương đáy mắt Theo Keith-Wagener

Barker(2002) có 4 giai đoạn tốn thương đáy mắt:

Giai đoạn I: Tiểu động mạch cứng và bóng

Giai đoạn II: Tiểu động mạch hẹp có dấu hiệu bắt chéo tĩnh mạch (dấu hiệu Salus Gunn)

Giai đoạn III: Xuất huyết và xuất tiết võng mạc, chưa có phù gai thị Giai đoạn IV: Phù lan toả gai thị

Trang 32

Hình 2.3: Các biến chứng do Tăng huyết áp gây ra

Đột quỵ

Lượng máu cung

cấp cho não giảm

Đau tim

Khiến tim co bóp nhiều hơn binh thường Cơ tim dày lẽn và ngăn cán máu lưu thông, dần đến suy tim

Tổn thương thận

Thành mạch máu thận tồn thương, lọc

- không hiệu quả, làm cho dịch và chất thải tồn dư trong cơ thế Loãng xương - Làm tăng lượng canxi trong nước tiểu gây loăng xương

Mục tiêu của việc điều trị THA nhằm:

- Đưa huyết áp trở về trị số sinh lý ổn định

- Ngăn ngừa các biến chứng

- Cải thiện các biến đổi bất thường ở các động mạch lớn

Đế thực hiện được ba mục tiêu này, phải giải quyết ba vấn đề lớn:

- Điều trị nguyên nhân THA: cắt bỏ thận teo, thông động mạch bị tắc,

- Điều trị triệu chứng THA: bằng phưcmg pháp nội khoa không dùng hoặc dùng thuốc hoặc phẫu thuật

- Điều trị biến chứng của THA

Trang 33

Nguyên tắc chung là cần liên tục, đơn giản, kinh tế và theo dõi giám sát chặt chẽ Và đế đạt được hiệu quả điều trị, vấn đề theo dõi HA liên tục của bệnh nhân THA là hết sức cần thiết và đã được hội tim mạch Hoa Kỳ khuyến cáo.

2.3.2 Thiết bị đo huyết áp tự động

Thiết bị đo huyết áp cơ bản bao gồm một bơm khí, một đồng hồ đo áp lực, một túi hơi Khi đo HA, túi hơi được bao lấy cánh tay và bơm phồng lên đến một áp lực có thê cản trở dòng máu ở động mạch chính (động mạch cánh tay)

đi qua cánh tay Sau đó, áp lực ừong túi hơi được giảm dần, khi áp lực giảm

sẽ tiến hành ghi nhận tiếng mạch lần đầu là HA tâm thu, khi áp lực túi hơi giảm hơn nữa, áp lực tại đó mạch ngưng là HA tâm trương và nguyên lý hoạt động của HA kế là đo gián tiếp dao động của áp lực máu Thiết bị đo HA tự động điện tử dùng mạch cảm ứng điện đế đo dao động huyết áp

Thiết bị đo HA được phân loại như sau:

Loại Thiết bị Cấu tạo Hình ảnh Diễn giải

tế được đào tạo Ket quả đo là

HA tâm trương

không thế hiện BPM

Trang 34

Bộ sạc

Bệnh nhân sau khi được hướng dẫn hoặc đọc hướng dẫn có thể tự đo và ghi nhận lại giá trị

HA tâm trương, tâm thu, BPM

Hình 2.5Thiết bị

Bộ sạc

>sS %

Hình 2.6

1 triệu đến 2 triệu đồng (là loại thông dụng và có số lượng sản phẩm được bán nhiều tại thị trường Việt Nam hiện nay) Đối với thiết bị đo HA tự động, người sử dụng có nhiều lựa chọn tùy theo tính năng của thiết bị và nhu cầu sử

Trang 35

- Hãng sản xuất: hiện nay trên thị trường thiết bị y tế có rất nhiều thiết bị đo huyết áp tự động của nhiều hãng khác nhau như Omron, Microlife, Welch Allyn, Mindray, Beurer, Citizen, Terumo, Tại thị trường Việt Nam, Omron

và Microlife đang chiếm ưu thế hơn với giá trung bình của một thiết bị đo HA tại nhà từ một đến hai triệu đồng

- Công nghệ đo: có nhiều công nghệ đo dùng cho thiết bị đo huyết áp điện tử tự động như: Intelliense, đo dao động Oscillometric, PAD,

- Bộ nhớ: Tùy thiết kế của từng model mà thiết bị đó có thế ghi nhớ từ 5, 10 hay 20 hay nhiều hơn các giá trị đo cùng với thời gian thực hiện đo Qua đó, bệnh nhân có thế theo dõi so sánh chỉ số HA qua các lần đo, lưu trữ đế thông tin đến bác sĩ điều trị

- Độ chính xác: thông thường người mua không chú ý đến vấn đề này lắm, tuy nhiên đế chọn được thiết bị đo HA tốt, người mua cần chú ý đến độ chính xác đưa ra từ hãng sản xuất Thông thường, độ chính xác của chỉ số HA là ± 3mmHg và của BPM là ±5%

- Cảnh báo: một số thiết bị đo HA tự động có khả năng cảnh báo (đèn, âm thanh) khi HA nằm ngoài khoảng bình thường, phát hiện nhịp tim bất thường, báo có cử động trong quá trình đo

- Hiển thị: thiết bị có thế hiện thị thông số của một lần đo, hoặc hai lần đo cuối, hoặc ba lần đo cuối tùy theo thiết kế Tính năng này giúp cho việc so sánh trở nên dễ dàng hơn

Để việc đo HA tại nhà được thực hiện đúng và đưa ra các kết quả đo chính xác, đã có những khuyến cáo trong sử dụng thiết bị đo HA điện tử:

- Tư thế đo và cách quấn bao đo: Trước khi đo cần ngồi ngay ngắn, thoải mái, thở sâu 5-6 lần trước khi đo để HA được ổn định Đặc biệt đối với người lớn tuổi nên đo HA ở cả ba tư thế nằm, ngồi, đứng để phát hiện những thay đổi

Trang 36

của HA Bao đo phải được quấn ít nhất 80% cánh tay người được đo, phải quấn vừa khít với tay và tiếp xúc trực tiếp với da.

- Thời điểm đo HA: Các thời điếm khác nhau trong ngày có thế ảnh hưởng tới kết quả đo HA Nên đo HA vào cùng một thời điếm trong ngày Đê biết hiện tượng THA sớm, nên đo HA trong vòng 1 giờ sau khi thức dậy, sau khi đi vệ sinh, trước khi ăn sáng Nghỉ ngơi ít nhất 20 phút sau khi tập thê dục hoặc tắm

Trang 37

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu

3.1 Phương pháp nghiên cứu - Cỡ mẫu

Bài luận văn thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang trên quy mô nhỏ nhằm tìm hiểu mối liên quan giữa quyết định mua máy đo HA tự động với các yếu tố khác như đặc điểm cá nhân, kiến thức, sức khỏe của bệnh nhân THA

Cơ sở lấy mẫu: Dựa trên tiêu chuẩn 5:1 của Bollen (1998) và Hair & ctg (1998) Đe thỏa mãn yêu cầu về dữ liệu của phân tích định lượng, một biến cần có 5 quan sát tương ứng với 5 đáp viên, nói cách khác là gấp 5 lần số biến của mô hình Do đó chọn cỡ mẫu 200

3.2 Khung phân tích

Đối với bệnh nhân THA, việc theo dõi huyết áp thường xuyên có ảnh hường rất lớn đến quá trình điều trị bệnh Đe thực hiện việc theo dõi này, bệnh nhân cần trang bị máy đo huyết áp tự động Tuy nhiên với thực tế hiện nay, bệnh nhân THA chỉ kiểm tra chỉ số huyết áp khi đi khám định kỳ, một phần là do

họ không có điều kiện đến cơ sở y tế để đo kiểm huyết áp thường xuyên hoặc

do không được khuyến cáo tự kiểm tra huyết áp, hoặc do một số nguyên nhân

mà không thế trang bị thiết bị đê tự đo kiêm tại nhà Ngoài ra, đa phần bệnh nhân THA không hiêu rõ tình trạng bệnh tật của mình cũng như tầm quan trọng của việc theo dõi huyết áp liên tục mà chỉ chú trọng vào các loại thuốc điều trị bệnh Qua đó, nghiên cứu này đưa ra khung phân tích với các yếu tố chủ chốt liên quan đến quyết định mua thiết bị đo huyết áp tự động của bệnhnhân THA:

Ngày đăng: 30/10/2017, 21:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w