1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN dạy học văn bản NHẬT DỤNG ở TRUNG học cơ sở

24 170 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 153,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó có thể là văn bản thuyết minhCầu Long Biên - chứng nhân lịch sử, Ca Huế trên sông Hương, ĐộngPhong Nha,Văn bản biểu cảm Bức thư của thủ lĩnh da đỏ, Mẹ tôi, Cổngtrường mở ra, văn bản n

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO PHÙ CỪ

TRƯỜNG THCS TAM ĐA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

DẠY HỌC VĂN BẢN NHẬT DỤNG Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ

Trang 2

Họ và tên tác giả: Trần Thị Huế

Chức vụ : Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường THCS Tam Đa

Tên đề tài: Dạy học văn bản nhật dụng ở trường THCS

* NỘI DUNG SÁNG KIẾN

A PHẦN MỞ ĐẦU

I/ ĐẶT VẤN ĐỀ.

1.Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:

Đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề đã được đề cập, bàn luận vàthực hiện trong nhiều năm qua Với việc thực hiện giảng dạy theo chươngtrình sách giáo khoa mới thì đổi mới phương pháp dạy học càng đượcthúc đẩy và phát huy một cách có hiệu quả

Phát huy tính tích cực trong học tập được xem như một nguyên tắc dạyhọc đảm bảo chất lượng và hiệu quả, chuyển từ lấy giáo viên làm trungtâm sang dạy lấy học sinh làm trung tâm là một xu hướng tất yếu có tínhlịch sử

Với các môn học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng, đổi mới dạyhọc đã trở thành vấn đề cấp thiết và điểm mấu chốt của ngữ văn tập trungtrong hai chữ “Tích” : tích hợp và tích cực Có tích cực mới phát huy tốttính chất tích hợp, qua tích hợp học sinh càng tích cực hơn Nếu trong giờgiảng văn người thầy chú ý tích hợp thì học sinh sẽ chú ý đến mọi mặt củavấn đề hơn, các em phát huy mạnh mẽ hơn nữa tư duy của mình Khi họcvăn cần phải liên hệ với Tiếng việt, với Tập làm văn, không chỉ có thế cònphải liên hệ chính phần giảng văn trong toàn bộ chương trình đã học vớinhau mà rộng hơn là liên hệ giữa văn với kiến thức của các môn học khácnhư : Sinh, Sử, Địa, GDCD,Ngoại ngữ và tất nhiên là cả những kiến thứccủa cuộc sống Ngoài ra, học sinh cần phải biết thêm những vấn đề bức

Trang 3

thiết, cấp bách có tính thời sự cần giải quyết trong xã hội hiện đại vì vậy

mà văn bản Nhật dụng được đưa vào chương trình giảng dạy

Như ta đã biết, văn bản Nhật dụng chiếm số luợng không nhiều (chỉchiếm 10% trong chương trình SGK THCS), nhưng trước đó lí luận dạyhọc chưa từng đặt vấn đề PPDH văn bản nhật dụng Cho nên giờ giảngdạy và học tập văn bản nhật dụng gặp không ít khó khăn

Đồng thời, hệ thống văn bản nhật dụng trong SGK ngữ văn THCS tồntại dưới nhiều kiểu văn bản khác nhau Đó có thể là văn bản thuyết minh(Cầu Long Biên - chứng nhân lịch sử, Ca Huế trên sông Hương, ĐộngPhong Nha),Văn bản biểu cảm (Bức thư của thủ lĩnh da đỏ, Mẹ tôi, Cổngtrường mở ra), văn bản nghị luận (Đấu tranh cho một thế giới hoà bình;Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻem) Đó có thể là một bài báo thuyết minh khoa học (Thông tin về ngàytrái đất năm 2000; Ôn dịch, thuốc lá), nhưng cũng có thể là một văn bảnvăn học thuộc loại tự sự (Cuộc chia tay của những con búp bê)

+ GV coi các văn bản này là một thể loại cụ thể giống như truyện,

kí nên chỉ chú ý dựa vào các đặc điểm của thể loại như: cốt truyện, nhânvật, tình huống, sự việc ghi chép để phân tích nội dung

+ Giáo viên thuờng chú ý khai thác và bình giá trên nhiều phương diệncủa sáng tạo nghệ thuật như: cốt truyện, nhân vật, cách kể mà chưa chútrọng đến vấn đề xã hội đặt ra trong văn bản gần gũi với học sinh Ví dụtrong văn bản “Thông tin về trái đất năm 2000”, giáo viên chỉ giúp họcsinh nắm được đặc tính không phân huỷ và tác hại của bao bì gây ra màchưa cho học sinh liên hệ với bản thân mình, vấn đề môi trường trong xãhội

+ Quá nhấn mạnh yêu cầu gắn kết tri thức trong văn bản với đời sống

mà giáo viên chú ý nhiều tới liên hệ thực tế, dẫn đến việc khai thác kiếnthức cơ bản chưa đầy đủ

+ Vốn kiến thức của GV còn hạn chế ,thiếu sự mở rộng

Trang 4

+ GV chưa vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học cũng như cácbiện pháp tổ chức dạy học nhằm gây hứng thú cho HS.Trong tiết họcthường khô khan, thiếu sinh động, chưa kích thích hứng thú và sự yêuthích của học sinh khi học văn.

+ Về phương tiện dạy học mới chỉ dừng lại ở việc dùng bảng phụ trongkhi đó có một số văn bản nếu học sinh được xem những tranh ảnh minhhoạ, đoạn băng ghi hình sẽ sinh động hơn rất nhiều Ví dụ như văn bản

“Động Phong Nha”, “ca Huế trên sông Hương” Nhưng hầu hết GVkhông chú ý đến vấn đề này, và nếu có ý sử dụng cũng không thể thựchiện vì không có điện

+ GV còn có tâm lý phân vân không biết có nên sử dụng phương phápgiảng bình khi dạy những văn bản này không và nếu có thì nên sử dụng ởmức độ như thế nào?

+ Giờ dạy tẻ nhạt, không thực sự thu hút sự chú ý của học sinh

+Học sinh chưa biết liên hệ thực tế, chưa biết vận dụng các môn họckhác để giải quyết vấn đề nêu ra trong văn bản nhật dụng

2 Ý nghĩa tác dụng của đề tài

Việc học tập các văn bản nhật dụng là rất cần thiết vì qua đó đãgiúp các em vừa nắm được những vấn đề bức thiết và cấp thiết đòi hỏi cầngiải quyết, từ đó liên hệ vào cuộc sống Có thể nói qua văn bản nhật dụnghọc sinh tiếp cận được rất nhiều điều để sống tốt hơn và biết cùng cộngđồng tạo lập một cuộc sống văn minh, tiến bộ, hoà bình và trong sạch vềmôi trường Do đó việc vận dụng các biện pháp mới vào giảng dạy sẽ gópphần giúp cho giáo viên dạy tốt và học sinh học tốt hơn về văn bản nhậtdụng

Trang 5

-Thời gian tiến hành nghiên cứu: Từ tháng 9/2013 đến tháng 3/2014

II PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH.

Những đổi mới đồng bộ về giáo dục THCS và việc xây dựng chươngtrình biên soạn lại SGK các môn học theo tư tưởng tích cực hoá hoạt độnghọc tập của học sinh đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết về đổi mới phươngpháp dạy học

Đặc biệt trong chương trình Ngữ văn THCS được xây dựng theo tinhthần tích hợp Các văn bản được lựa chọn theo tiêu chí kiểu văn bản vàtương ứng với kiểu văn bản là thể loại tác phẩm chứ không phải là sự lựachọn theo lịch sử văn học về nội dung Ngoài yêu cầu về tính tư tưởng,phù hợp với tâm lý lứa tuổi THCS còn có nội dung là tính cập nhật, gắnkết với đời sống, đưa học sinh trở lại những vấn đề quen thuộc, gần gũihàng ngày, vừa có tính lâu dài mà mọi người đều quân tâm đến

Văn bản Nhật dụng trong chương trình ngữ văn THCS mang nộidung “gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người vàcộng đồng trong xã hội hiện đại”, hướng người học tới những vấn đề thời

sự hằng ngày mà mỗi cá nhân, cộng đồng đều quan tâm như môi trường,

Trang 6

dân số, sức khoẻ cộng đồng quyền trẻ em Do đó những văn bản nàygiúp cho người dạy dễ dàng đạt được mục tiêu: tăng tính thực hành, giảm

lý thuyết, gắn bài học với thực tiễn Xuất phát từ thực tế đó tôi muốn tìmhiểu, nghiên cứu sâu hơn để trang bị cho mình PPDH có hiệu quả nhữngvăn bản nhật dụng

Văn bản nhật dụng là gì? Văn bản Nhật dụng không phải là một khái niệmchỉ thể loại hay kiểu văn bản Nói đến văn bản Nhật dụng trước hết là nóiđến tính chất nội dung của văn bản Đó là những bài viết có nội dung gầngũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng xãhội hiện đại như: thiên nhiên, môi trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ

em, ma tuý Văn bản Nhật dụng có thể dùng tất cả các thể loại cũng nhưcác kiểu văn bản

Mục tiêu của môn Ngữ văn: góp phần hình thành những con người

có trình độ học vấn phổ thông cơ sở, chuẩn bị cho họ ra đời hoặc tiếp tụccho họ học lên bậc cao hơn Đó là những người có ý thức tự tu dưỡng,biết yêu thương, qúy trọng gia đình, bạn bè; có lòng yêu nước, yêu Chủnghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòngnhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu,cái ác Đó là những con người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duysáng tạo, bước đâu có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trongnghệ thuật, có năng lực thực hành và năng lực sử dụng Tiếng Việt nhưmột công cụ để tư duy, giao tiếp Đó cũng là những người có ham muốnđem tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ TổQuốc

Hệ thống văn bản nhật dụng trong SGK ngữ văn THCS tồn tại dướinhiều kiểu văn bản khác nhau Đó có thể là văn bản thuyết minh (CầuLong Biên - chứng nhân lịch sử, Ca Huế trên sông Hương, Động PhongNha),Văn bản biểu cảm (Bức thư của thủ lĩnh da đỏ, Mẹ tôi, Cổng trường

mở ra), văn bản nghị luận (Đấu tranh cho một thế giới hoà bình; Tuyên bố

Trang 7

thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em) Đó

có thể là một bài báo thuyết minh khoa học (Thông tin về ngày trái đấtnăm 2000; Ôn dịch, thuốc lá), nhưng cũng có thể là một văn bản văn họcthuộc loại tự sự (Cuộc chia tay của những con búp bê) Từ các hình thức

đó, những vấn đề thời sự cập nhật của cá nhân và cộng đồng hiện đạiđược khơi dậy, sẽ đánh thức và làm giàu tình cảm và ý thức công dân,cộng đồng trong mỗi người học giúp các em dễ hoà nhập hơn với cuộcsống xã hội mà chúng ta đang sống

Chương trình SGK THCS đưa vào học một số văn bản mới, đó là vănbản Nhật dụng Văn bản này chiếm số luợng không nhiều (chỉ chiếm 10%trong chương trình SGK THCS), nhưng trước đó lí luận dạy học chưatừng đặt vấn đề PPDH văn bản nhật dụng Cho nên giờ giảng dạy và họctập văn bản nhật dụng gặp không ít khó khăn Nhiều ý kiến cho rằng:

“chất văn” trong văn bản nhật dụng không nhiều, nếu không chú ý dễ biếngiờ Ngữ văn thành bài thuyết minh về một vấn đề lịch sử, sinh học haypháp luật, môi trường… dẫn đến hiệu quả các tiết dạy học các loại vănbản này chưa cao

Bản thân tôi đã trực tiếp giảng dạy chương trình Ngữ văn thay sách

6 năm, tôi nhận thấy mình và các đồng nghiệp còn bộc lộ rất nhiều hạn

Trang 8

chế cả về phương pháp và kiến thức, nhất là phương pháp dạy các vănbản Nhật dụng

Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Một số kinh nghiệm trong giảng dạy văn bản Nhật dụng ở trường THCS”

để góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy văn bản Nhật dụng và để họcsinh yêu thích giờ học văn

3 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này tôi đã sử dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp quan sát: Hình thức chủ yếu của phương pháp này là dựgiờ đồng nghiệp từ đó tôi có thể phát hiện ra những ưu nhược điểm trongbài dạy của các đồng nghiệp

- Phương pháp so sánh: với phương pháp này tôi có thể phân loại, đốichiếu kết quả nghiên cứu

- Ngoài ra tôi còn sử dụng những phương pháp hỗ trợ khác như: đọc tàiliệu, thống kê, thăm dò ý kiến của học sinh, trao đổi kinh nghiệm cùngđồng nghiệp

B PHẦN NỘI DUNG

I MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.

- Nhiệm vụ về lý luận: Nghiên cứu tài liệu, chương trình SGK,

nghiên cứu về phương pháp dạy văn bản Nhật dụng

- Nhiệm vụ thực tiễn: Nghiên cứu thực trạng của việc dạy văn bản nhậtdụng trong trường THCS

Đưa ra hướng giải quyết một số khúc mắc về kiến thức và phương phápdạy học, từ đó có thêm kinh nghiệm để dạy tốt phần văn bản Nhật dụng,đáp ứng nhu cầu đổi mới chương trình Ngữ văn THCS hiện nay

II NHỮNG ĐÓNG GÓP VỀ MẶT LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.

Trang 9

- Về lí luận: Sáng kiến kinh nghiệm của tôi góp phần tìm hiểu, nghiêncứu sâu hơn và bổ sung thêm lí luận về phương pháp dạy học văn bảnNhật dụng

-Về thực tiễn: Ngoài ra nó có thể là tài liệu tham khảo cần thiết phục vụcho việc giảng dạy trong trường THCS

III CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI

1/Hệ thống văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn THCS

- Động Phong Nha

- Di tích lịch sử

- Quan hệ giữathiên nhiên và conngười

- Danh lam thắngcảnh

- Bảo vệ hoà bình,chống chiến tranh

- Hội nhập với thếgiới và bảo vệ bản

Trang 10

- Tuyên bố thế gíơi về sựsống còn, quyền được bảo

vệ và phát triển của trẻem

sắc văn hoá dântộc

- Quyền sống củacon người

Bảng thống kê trên cho thấy các văn bản nhật dụng được phân phốidạy học đều khắp ở các khối lớp, bình quân mỗi khối lớp được học đọc –hiểu 3 đến 4 văn bản Ý nghĩa nội dung các văn bản này đều là những vấn

đề gần gũi, quen thuộc, bức thiết đối với con người và cộng đồng xã hộihiện đại Cùng với sự phát triển về tâm lý và nhận thức của học sinh, cácvấn đề đựơc đề cập trong các văn bản Nhật dụng ngày một phức tạp hơn

2/Đặc điểm nội dung và hình thức của văn bản nhật dụng

2.1 Các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn 6

“Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử” là văn bản mở đầu cho cụmbài văn bản Nhật dụng được dạy học ở lớp 6 Đây là bài viết giới thiệucây cầu Long Biên, một di tích lịch sử nổi tiếng và quen thuộc ở thủ đô

Hà Nội với vai trò là nhân chứng đau thương của việc thực dân Pháp xâydựng cây cầu sắt với quy mô lớn, nhằm phục vụ cho cuộc khai thác thuộcđịa lần thứ nhất của chúng, nhất là nhân chứng lịch sử gian lao và hàohùng của dân tộc ta trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống

Mĩ Bằng các sự kiện, các tư liệu chính xác về cây cầu tác giả đã bồi đắpthêm không chỉ tình yêu đối với cầu Long Biên của thủ đô đất nước màcòn khơi dậy ở họ lòng tự hào cùng ý thức giữ gìn và quảng bá đối với các

di tích lịch sử trên đất nước yêu quý của chúng ta

“Bức thư của thủ lĩnh da đỏ” là bức thư của thủ lĩnh Xi–at-tơn trả lờitổng thống thứ 14 của nước Mĩ, đựơc xem là một trong những văn bảnhay nhất về thiên nhiên và môi trường Văn bản đã toát lên một ý nghĩa

Trang 11

sâu sắc: Con người phải sống hoà hợp với thiên nhiên, phải chăm lo bảo

vệ môi trường và thiên nhiên như bảo vệ chính mạng sống của mình

“Động Phong Nha” là bài giới thiệu về “Đệ nhất kì quan” của tỉnhQuảng Bình với bảy cái nhất Qua đó giúp bạn đọc có những hiểu biết tỉ

mỉ về danh thắng Phong Nha mà còn gợi tưởng tượng và ham muốn khámphá một không gian thiên tạo kì thú đang thu hút sự quan tâm của các nhàkhoa học, nhà thám hiểm, khách du lịch trong và ngoài nước

2.2 Các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn 7

“Cổng trường mở ra”là bài văn ghi lại tâm trạng hồi hộp của một người

mẹ trong đêm chuẩn bị cho con khai trường để vào lớp Một Vậy ý nghĩanhật dụng của bài văn là gì? Người mẹ đã hồi hộp trong cái đêm trướcngày con vào lớp Một đâu chỉ vì lo lắng cho con mà còn có niềm vui vềngôi trường thân yêu đã lưu giữ bao kỉ niệm thân thương của đời mẹ,niềm hi vọng vào con, mái trường thân yêu sẽ mở ra ánh sáng và tương laicho mỗi con người Đó là ý nghĩa cập nhật của văn bản nhật dụng này

“Mẹ tôi”được trình bày dưới dạng một bức thư Từ việc phạm lỗi củađứa con đối với mẹ mà người cha bộc lộ cảm xúc và suy tư về tình sâunghĩa nặng của người mẹ Vì thế “ ngày buồn thảm nhất tất sẽ là ngày màcon mất mẹ, và tình cảm thiêng liêng cao quý hơn cả là tình cảm yêuthương kính trọng đối với cha mẹ” Đó cũng là nội dung cập nhật của vănbản này

“Cuộc chia tay của những con búp bê” là truyện ngắn Truyện viết vềnỗi đau tinh thần tuổi thơ sống thiếu tình cảm của cha mẹ Nhưng chính từ

bi kịch ấy, những đứa trẻ vẫn giữ được tâm hồn trong sáng vị tha, tìnhcảm anh em càng thêm gắn bó Đằng sau câu chuyện về tình anh em gắn

bó trong sự tan vỡ của gia đình, truyện “Cuộc chia tay của những con búpbê” toát lên vấn đề quyền sống của trẻ em đang bị đe doạ trong một xã hộihiện đại đang cần đến sự quan tâm của mọi người

Trang 12

“Ca Huế trên sông Hương”là văn bản thuyết minh giới thiệu một nétđẹp trong văn hoá cổ truyền xứ Huế, đó là dân ca Huế Đọc bài văn này,

HS hiểu thêm rằng cố đô Huế không chỉ có các danh lam thắng cảnh và ditích lịch sử nổi tiếng mà còn nổi tiếng bởi các làn điệu dân ca và âm nhạccung đình Ca Huế là một sản phẩm tinh thần đáng trân trọng cần đượcbảo tồn và phát triển Từ đó HS có nhu cầu mở rộng hiểu biết dân ca cácvùng miền đất nước và củng cô thêm tình yêu đối với truyền thống vănhoá dân tộc

2.3 Các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn 8

“Thông tin về ngày trái đất năm 2000” là văn bản thuyết minh trình bày

về tác hại của bao bì ni lông đối với môi trường và sức khoẻ con người

Đã đến lúc chúng ta phải nhìn nhận lại thói quen dùng bao bì ni lông để

có hành động thiết thực bảo vệ môi trường sống của chúng ta bằng cáchhưởng ứng lời kêu gọi: “Một ngày không dùng bao bì ni lông” Thôngđiệp này chính là nội dung nhật dụng của văn bản “Thông tin về NgàyTrái Đất năm 2000”

“Ôn dịch ,thuốc lá” là một bài thuyết minh cung cấp cho bạn đọc nhữngtri thức khách quan về tác hại của thuốc lá đối với sức khoẻ và có thể làmsuy thoái đạo đức con người Ý nghĩa nhật dụng của văn bản này khôngchỉ là cảnh báo cho mỗi người về một nạn dịch có sức tàn phá sức khoẻcộng đồng, gây thành tệ nạn xã hội mà còn góp phần cổ động cho chiếndịch truyền thông chống hút thuốc lá đang diễn ra rộng khắp hiện nay

“Bài toán dân số” từ câu chuyện vui về một bài toán cổ liên hệ sangchuyện không vui về việc gia tăng dân số trên trái đất bằng một tính toán

lô gic Mục đích của sự tính toán này là báo động về nguy cơ bùng nổ vàgia tăng dân số của thế giới Vì thế “Bài toán dân số” được xem là mộtvăn bản nhật dụng phục vụ cho chủ đề “dân số và tương lai của nhânloại” Bài toán này càng có ý nghĩa thời sự đối với các nước chậm pháttriển, trong đó có Việt Nam

Ngày đăng: 30/10/2017, 21:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w