Đề tài Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của dịch tiêu chảy cấp trên lợn (Porcine Epidemic Diarrhoea – PED) tại tỉnh Thanh Hóa và giải pháp phòng trị với mục tiêu chính như: Chẩn đoán xác định virus gây bệnh và xác định một số vi khuẩn kế phát bằng PCR và Hóa mô miễn dịch, xác định rõ các đặc điểm bệnh lý chủ yếu của lợn mắc bệnh, thử nghiệm một số phác đồ và quy trình phòng, trị bệnh.
Trang 11 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Dịch tiêu chảy cấp trên lợn hay còn gọi là PED (Porcine Epidemic Diarrhoea) thuộc nhóm Coronavirus gây ra Hiện đang là một trong những vấn đề
rất được quan tâm do lợn con không có kháng thể với bệnh này Trên đàn lợn condưới một tuần tuổi có những triệu chứng tiêu chảy gây chết nhanh và rất khó hồiphục, thiệt hại có thể đến 100% đàn Bệnh đã gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi
ở nhiều quốc gia trên thế giới
Về lịch sử, bệnh được phát hiện lần đầu ở Anh Năm 1976, một số nướcChâu Âu khác cũng đã ghi nhận những ca bệnh này và đặt tên là “Epidemic viral
diarrhea” (EVD) Năm 1978 đổi tên thành PED (Porcine Epidemic Diarrhoea) và
được chính thức công nhận cho đến nay Bệnh được ghi nhận ở nhiều nước nhưAnh, Bỉ, Nhật, Trung Quốc và nhiều nước Châu Âu Hiện nay bệnh phân bố khắpnơi trên thế giới (Andreas Pospischil, Angela Stuedli, Matti Kiupel)[12]
Trong năm 2008 - 2009, hầu hết các trại chăn nuôi lợn của Việt Nam đã bịthiệt hại nặng nề do dịch tiêu chảy cấp Bệnh xảy ra rất nhanh, trên toàn đàn lợn vàgây chết gần như 100% lợn con theo mẹ Năm 2010 bệnh vẫn tiếp tục xảy ra ở một
số trại, thậm chí tái phát ở những trại đã từng xảy ra dịch trong năm 2009 (NguyễnNgọc Hải, 2011)[4]
Hiện nay, tình hình dịch bệnh ở lợn trở nên phức tạp và nguy hiểm hơn nhiều
so với những năm trước đây Mặc dù các chương trình phòng bệnh và các biện pháp
hỗ trợ, trộn kháng sinh vào thức ăn… được áp dụng hầu hết ở các trại nhưng bệnhvẫn xảy ra liên tục và gây thiệt hại to lớn cho người chăn nuôi lợn Do vậy, việc cầnthiết phải nghiên cứu, ứng dụng các phương pháp điều trị mới có hiệu quả cao hơn
Trước thực trạng đó, nhằm hiểu rõ hơn về một số đặc điểm biến đổi bệnh lýcủa bệnh PED gây ra cho lợn con, đồng thời có thêm cơ sở khoa học cho việc xâydựng các biện pháp xử lý, giảm bớt thiệt hại do dịch bệnh gây ra trên đàn lợn ở ViệtNam nói chung và ở Thanh Hóa nói riêng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của dịch tiêu chảy cấp trên lợn (Porcine Epidemic Diarrhoea – PED) tại tỉnh Thanh Hóa và giải pháp phòng trị”
Trang 21.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Lợn nuôi tại tỉnh Thanh Hoá
Thời gian tiến hành đề tài từ năm 2013 - 2017
Trang 32 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Sinh lý tiêu hoá và hấp thu của lợn
Tiêu hoá và hấp thu là giai đoạn đầu của quá trình trao đỏi chất Nó thực hiệnchức năng phân giải thành phần các chất có trong thức ăn thành những chất đơn giản
mà cơ thể có thể hấp thu lợi dụng được; những chất đó được thu nhận vào máu vàbạch huyết qua màng nhầy ống tiêu hoá Nhờ có quá trình trên mà cơ thể nhận đượctoàn bộ chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình sinh trưởng và các hoạt động kháctrong cơ thể Trong thức ăn của lợn có chứa các chất dinh dưỡng cần thiết như gluxit,protein, lipid, khóng, vitamin,
- Tiêu hoá gluxit
Gluxit chiếm tỷ lệ lớn trong khẩu phần thức ăn của lợn, nó có vai trò cung cấpnăng lượng cho mọi hoạt động sống trong cơ thể và tham gia một phần vào cấu trúchoá học của cơ thể Gluxit trong thức ăn của lợn gồm các dạng: tinh bột, đường, chất
xơ Quá trình tiêu hoá gluxit chủ yếu là nhờ các enzym có trong dịch tiêu hoá vàenzym của VSV
α -amilaza
Tinh bột -> mantoza, mantotrioza, các loại dextrin
(Enzym α -amilaza hoạt động trong môi trường có độ axit biến động rộng từ 3,8-9,4 trong sự có mặt của ion Clo)
Enzym lactaza
Lactoza -> galactoza + glucoza
(Enzym lactaza do tuyến ruột tiết ra phân giải đường lactoza trong sữa Enzymnày có mức hoạt động cao nhất khi lợn ở tuần tuổi thứ 2 và3 Sau đó có hướnggiảm đần)
Trang 4Quá trình phân giải chất xơ xảy ra ở túi mù dạ dày và ruột già (chủ yếu ởmanh tràng) nơi có sự tồn tại của VSV thông qua sự lên men.
- Sự lên men trong đường tiêu hoá của lợn:
Sự lên men trong đường tiêu hóa của lợn có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tiêu hoá gluxit Sự lên men được thực hiện nhờ hệ VSV
Qua quá trình nghiên cứu hệ VSV trong đường tiêu hoá của lợn người ta
thấy rằng ở túi mù dạ dày lợn có chứa lượng lớn các loài VSV Lactobaccilus, Bifidobacterium và một lượng thấp hơn các loài VSV khác.
Trong ruột già thì chứa hỗn hợp các VSV đa dạng hơn Trong điều kiệnbình thường 1g chất chứa ở manh tràng có từ 1-10 tỉ VSV Trong đó có VK (cầukhuẩn háo iod) phân giải xenluloza VSV phân giải tinh bột đường trong ruột già
chu yếu là Clostridium butyrium, trực khuẩn gram (+) háo iod yếm khí Ngoài ra
có VK lactic và Enterococus Ruột già lợn có hệ VSV phong phú là do nhiệt độmôi trường ổn định và thích hợp (38,5-390C), môi trường yếm khí và gần trungtính, pH = 5,8-7,5 Điều này có thể giải thích được vấn đề là lợn có khả năng tiêuhoá thức ăn thô xanh khá tốt Quá trình lên men tiêu hoá chất xơ của VSV trongruột già tạo ra axit béo bay hơi Số năng lượng do axit béo cung cấp khoảng 5-25% nhu cầu năng lượng duy trì theo lượng chất xơ trong khẩu phần
- Tiêu hoá protein
Protein được tiêu hoá là nhờ các enzym trong đường tiêu hoá
Tại dạ dày tiêu hoá protein chủ yếu nhờ có enzym pepsin và một số enzym khácnhư catepsin Pepsin trong dạ dày hoạt động được cần sự có mặt của HCl dạng
tự do Do đó lợn con mới sinh enzym pepsin chưa hoạt động ở dạng pepsinogen.Protein trong dạ dày được phân cắt thành các đoạn peptid Khi xuống ruột nonquá trình phân giải tiếp tục và triệt để tạo ra sản phẩm cuối cùng là các axit amin
Sự phân giải protein ở ruột non được thực hiện nhờ các enzym của tuyến tuỵ,
tuyến ruột như trypsin, kimozin, elastaza, cacboxypeptidaza, dipeptidaza, nucleaza, Chỉ có ít protein được chuyển xuống ruột già phân giải bởi VSV.
- Tiêu hoá Lipid
Chất béo trong thức ăn của lợn thành phần chính là triglyxerit ngoài ra cóphospholipid, sterol, esterol Các thành phần này được tiêu hoá do enzym của
Trang 5dịch tuỵ, dịch ruột tiết ra như Lipaza, phospholipaza, colesterolesteaza Sản
phẩm của quá trình tiêu hoá lipid là glyxerin và axit béo, cholesterol Quá trìnhtiêu hoá lipid được thực hiện nhờ sự tác động của dịch mật
- Sự hấp thu các chất dinh dưỡng
Quá trình hấp thu xảy ra khác nhau ở từng vị trí của đường tiêu hoá
+ Tại xoang miệng hầu như không có sự hấp thu vì thức ăn lưu lại ở đây thờigian ngắn và chưa được phân giải đến dạng dễ hấp thu
+ Tại dạ dày có sự hấp thu nước, glucoza, axit amin, chất khoáng tuy nhiên chỉhấp thu một lượng nhỏ
+ Tại ruột non nơi xảy ra quá trình hấp thu mạnh nhất vì trên niêm cạc ruột non
có các vi nhung mao (200triệu/mm2 bề mặt niêm mạc) vì vậy làm tăng diện tích
bề mặt niêm mạc lên hàng trăm lần Lượng đường và protein đã được tiêu hoáhấp thu tại ruột non tới 85 và 87% tương ứng Ruột non cũng là nơi hấp thu nước(75-85% tổng số) và muối khoáng chủ yếu
+ Tại ruột già quá trình hấp thu tiếp tục nhưng ít
2.2 Đặc điểm sinh lý của lợn con bú sữa
Lợn con từ lúc sơ sinh đến lúc cai sữa (tách mẹ) có nhiều đặc điểm sinh lýđặc trưng và đòi hỏi phải có sự chăm sóc nuôi dưỡng tốt Nếu khi chăn nuôi, ngườichăn nuôi không nắm vững các đặc điểm sinh lý của lợn con sẽ không nuôi dưỡng
và chăm sóc hợp lý chúng, dẫn đến sinh trưởng chậm, lợn không khỏe và chấtlượng con giống kém, bệnh tật dễ dàng xảy ra
2.2.1 Lợn con có tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh
Trong giai đoạn này lợn con sinh trưởng rất nhanh, tầm vóc và thể trọng tăngdần theo tuổi Từ lúc sơ sinh đến lúc cai sữa, trọng lượng của lợn con tăng từ 10 đến
12 lần So với các gia súc khác thì tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng nhanh hơngấp nhiều lần Các cơ quan trong cơ thể lợn con cũng thay đổi và tăng lên nhanhchóng Hàm lượng nước giảm dần theo tuổi, vật chất khô tăng dần, các thành phầnhóa học trong cơ thể của lợn thay đổi nhanh chóng
Hàm hàm lượng sắt trong cơ thể lợn con mới sinh ra là 187 g % nhưng đếnngày thứ 20 giảm xuống còn 40,58 g % sau đó tăng dần lên 60 ngày bằng lúc mới
đẻ ra Một đặc điểm quan trọng nhất của lợn con theo mẹ là: Sản lượng sữa mẹ tăng
Trang 6dần từ khi mới đẻ ra tới ngày thứ 15 Tại thời điểm này sản lượng sữa cao nhất và
ổn định cho tới ngày thứ 20 và sau đó giảm dần cho tới ngày thứ 60 là ở mức thấpnhất Nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng, trong khi đó sữa mẹ sau 3tuần tuổi giảm đi rõ rệt, dẫn tới lợn con thiếu dinh dưỡng nếu như không có thức ăn
hệ thống ngăn ngừa các nhân tố gây bệnh xâm nhập vào đường ruột
2.2.2 Bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện về chức năng
Trong thời gian bú sữa trọng lượng bộ máy tiêu hóa lợn con tăng lên từ 10
5 lần, chiều dài ruột non tăng lên gấp 5 lần, dung tích bộ máy tiêu hóa tăng lên 40
-50 lần, chiều dài ruột già tăng lên 40 - -50 lần Tuyến tụy ở 30 ngày tuổi tăng lên gấp
4 lần, trọng lượng của gan gấp 3 lần so với khi sơ sinh Lúc đầu dạ dày chỉ nặng 6
-8 gam và chứa được 35 - 50 gam sữa, nhưng chỉ sau 3 tuần đã tăng gấp 4 lần và 60ngày tuổi đã nặng 150 gam và chứa được 700 - 1000 gam sữa
Khả năng tiêu hóa của lợn con rất hạn chế Theo A.V Kavasnhixki dịch vịcủa lợn con dưới một tháng tuổi hoàn toàn không có a xít HCl ở dạng tự do, vìlượng a-xít này tiết ra ít và nó nhanh chóng liên kết với các niêm dịch Ngoài sựthiếu HCl tự do còn có sự giảm axít trong dịch vị thức ăn liền với HCl làm cho hàmlượng HCl tự do rất ít hoặc hoàn toàn không có trong dạ dày của lợn con bú sữa Vìthiếu HCl tự do trong dạ dày nên hệ vi sinh vật dễ lên men gây nên hiện tượng ỉachảy ở lợn con
Trong dịch tụy của lợn lớn có tới 15 men để tiêu hóa các chất song ở lợn conchỉ có 2 men là Kimozin và Lipaza và sau một tuần tuổi lợn con có thêm một sốmen như Tripxin và Amilase, hoạt tính của các men cũng tăng dần theo tuổi, từ 1 -
28 ngày men Tripxin tăng gấp 20 lần, Amilasa gấp 30 lần, các men như Protease,
Trang 7Amilase, Elastase, Carbuaxipolypeptidasa, Kimotipxin cũng tăng dần theo tuổi của
lợn con Hàm lượng vật chất khô ở trong dịch tụy cũng tăng dần lên theo tuổi củalợn con Dịch ruột do 2 tuyến Bruner và Liberkun tiết ra chứa đầy đủ các men tiêuhóa nhưng ở lợn con chưa có men Lactose, các men tiêu hóa khác có hàm lượng rấtthấp không đủ khả năng để tiêu hóa các thức ăn nhân tạo Dịch mật của lợn controng các tuần tuổi đầu còn hạn chế, khả năng nhũ tương hóa mỡ của lợn con chưa
có Khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng của lợn con: Lợn con trong 3 tuần tuổiđầu chỉ có khả năng tiêu hóa cazein, các đường, lipid của sữa, còn các chất khác từcác thức ăn nhân tạo thì chưa có
Qua nghiên cứu chúng ta thấy khả năng tiêu hóa của lợn con ngày càng tăng
rõ rệt Khi có khả năng hoạt động của các men trong dịch tụy mà điều quyết định làHCL tự do hoặc hóa men Pepsinogen để tiêu hóa Protít
2.2.3 Khả năng điều hòa thân nhiệt kém
Cơ thể lợn con thường sinh ra nhiệt năng, nhiệt năng có thể thải ra môitrường xung quanh, ngược lại sự thay đổi nhiệt độ môi trường lại ảnh hưởng trựctiếp hoặc gián tiếp tới sự sinh nhiệt và tỏa nhiệt của cơ thể, hiện tượng đó gọi là traođổi nhiệt giữa cơ thể lợn con với môi trường Lợn con lúc mới sinh có khả năngđiều hòa thân nhiệt kém, khi nhiệt độ ngoại cảnh là 55 - 75° F thì thân nhiệt của lợncon có thể bị giảm từ 3-12 0F sau 1 giờ và sau 1 giờ nữa thân nhiệt của chúng mớitrở lại bình thường Nếu nhiệt độ môi trường < 55°F thì sau 2 ngày lợn con mớiđiều hòa thân nhiệt của chúng trở lại bình thường, nếu nhiệt độ môi trường giảmxuống dưới 25°F thì sau 10 ngày thân nhiệt của lợn con mới trở lại bình thường
Qua thí nghiệm của Newland (1969) cho thấy rằng khi nhiệt độ khác nhau thìsinh trưởng của lợn con sẽ khác nhau Khi ông tiến hành nuôi lợn con ở các nhiệt độkhác nhau (11,18 và 28°C), thì ở nhiệt độ 28°C lợn con có khả năng sinh trưởngnhanh nhất và ở nhiệt độ 11°C lợn con có khả năng sinh trưởng chậm nhất Nhiệt độcao hay thấp đều ảnh hưởng tới quá trình điều tiết thân nhiệt của lợn con Nhiệt độbên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tỏa nhiệt và tốc độ sinh trưởng của lợn con.Nhiệt độ được coi như là 1 chỉ tiêu ảnh hưởng lớn đến đặc điểm, chức năng của cơquan điều tiết nhiệt của lợn con Nếu nhiệt độ thấp lợn con mất nhiều nhiệt và cóthể dẫn tới chết Vậy, trong tuần lễ đầu thân nhiệt của lợn con hoàn toàn phụ thuộc
Trang 8vào nhiệt độ của môi trường Ở hai ngày đầu nhiệt độ từ 5 - 6°C lợn con có thể chết
do lạnh và mất nhiệt Sau 3 tuần tuổi, khả năng điều hòa thân nhiệt của lợn con cóthể ổn định để đáp ứng với môi trường bình thường bên ngoài Do lợn con có khảnăng điều hòa thân nhiệt kém nên cơ thể dễ bị lạnh và phát sinh bệnh tật, nhất làbệnh ỉa phân trắng
Thân nhiệt của lợn con sau khi đẻ khoảng 38°C, sau 10 ngay tăng lên 39,5đến 39,7°C va giữ ở mức đó Trong thời gian này thân nhiệt lợn con có thể biếnđộng trên dưới 1°C Độ ẩm cũng là một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năngđiều hòa thân nhiệt của lợn con Nếu độ ẩm cao thì lợn con dễ bị mất nhiệt và có thể
bị cảm lạnh Độ ẩm thích hợp cho lợn con ở nước ta là 65 - 70% (Theo Tomer là69,8%) Các kết quả nghiên cứu trong nước và nước ngoài cho thấy rằng khả năngchịu đựng va sự thích nghi của lợn con đối với môi trường bên
ngoài còn thấp, làm cho khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con bị hạn chế và
có thể dễ nhiễm bệnh dẫn đến tỷ lệ nuôi sống thấp Trong chăn nuôi, chúng tathường sử dụng một số biện pháp kỹ thuật để hạn chế những tác động của các yếu
tố nói trên đối với lợn con, nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi cũng như điều hòanhiệt độ và ẩm độ ở tiểu khí hậu chuồng nuôi sao cho thích hợp với lợn con
2.3 Vài nét về giải phẫu của dạ dày và ruột lợn
2.3.1 Giải phẫu dạ dày lợn
Dạ dày lợn nằm phái bên trái xoang bụng Đường cong lớn tựa lên mõmkiếm xương ức, thượng vị hướng về bên trái vòng cung sườn, hạ vị hướng về bênphải vùng cung sườn
Dạ dày lợn thuộc loại dạ dày đơn hỗn hợp Khu vực không tuyến chỉ baoquanh lỗ thượng vị, ngoài ra có cái manh nang hay còn gọi là túi mù gần thượng vị
dạ dày Niêm mạc vùng có tuyến cũng chia làm 3 vùng: Vùng tuyến thượng vị gồm
có cả túi mù và gần ½ dạ dày là tuyến thượng vị Vùng này niêm mạc mỏng; Vùngtuyến thân vị (tuyến đáy) chiếm đại bộ phận ở đường cong lớn, niêm mạc tương đốidày và có màu hơi đỏ Vùng tuyến hạ vị niêm mạc có màu vàng xám
2.3.2 Giải phẫu ruột lợn
* Ruột non
Trang 9Phần đầu của ruột non gọi là tá tràng, phần ruột này trong xoang bụng ởtrạng thái cố định, vì có những dây chằng giữ chặt nối với gan và dạ dày cũng nhưvới thành sau của xoang cơ thể
Phần còn lại của ruột non chỉ gắn vào thành sau của xoang cơ thể nhờ màngtreo và do đó cơ thể chuyển động rất tự do Thần kinh và mạch máu từ thành cơ thểvào ruột đi theo mảng treo ruột Trong tá tràng có hai chất dịch rất quan trọng đểtiêu hóa thức ăn: mặt từ gan và dịch tụy từ tuyến tụy Ngoài ra trong thành ruột cónhững tuyến ruột rất nhỏ tiết ra dịch tràng chứa nhiều men Ba thứ dịch trên trongruột non hòa lẫn vào nhau và thực hiện quá trình tiêu hóa đã bắt đầu từ trong miệng
và dạ dày
Cấu tạo:
- Niêm mạc ruột non có nhiều nếp gấp, vòng hướng theo nhiều chiều, nhữngnếp gấp này làm diện tích niêm mạc tăng gấp 2-3 lần Niêm mạc còn có những phầnkéo dài lồi lên như những cái lông gọi là lông nhung Biểu mô phủ lên niêm mạc làbiểu mô đơn trụ, có nhiều riềm hút Mỗi tế bào có khoảng 3000 vi nhung để tăngdiện tích hấp thu lên Ở niêm mạc ruột non có lỗ đổ ra của tuyến ruột (thường gọi làtuyến lieberkuhn) Riêng ở tá tràng ngoài tuyến ruột còn có tuyến tá tràng (thườnggọi là tuyến brunner)
- Cơ: Gồm hai lớp cơ trơn, vòng trong và dọc ngoài
- Tương mạc là lớp áo ngoài do lá tạng của phúc mạc phủ lên
* Ruột già
Ruột già hình thành từ đoạn saucuar ống tiêu hóa So với các động vật cóxương sống khác thì ở động vật có vú ruột già phát triển đặc biệt về đường kínhcũng như độ dài
Tiêu hóa ở ruột già chủ yếu là hấp thu nước, phần còn lại thành phân Ngoài
ra ruột già còn lên sinh axits béo thấp và hấp thụ khí CO2, CH4, H2S… ở ruột giàcòn nhiều loại vi khuẩn tổng hợp được vitamin B, K…
Cấu tạo:
So sánh với ruột non thì ruột già có những đặc điểm cấu tạo tổ chức học như sau:
- Tuyến ruột không có tế bào tiết dịch (paneth)
- Lông nhung chỉ có ở thời kỳ phôi thai, còn thời kỳ trưởng thành thì không có
- Có nhiều nang kín lâm ba không tập trung thành mảng paye (Payer)
Trang 10- Áo cơ: hai lớp vòng trong, dọc ngoài nhưng lớp dọc ngoài thì tập trungthành từng băng cơ trơn chạy theo chiều dọc, tương đối dày, còn các chỗ khác thìchỉ còn lại một số ít sợi rải rác Lớp vòng thường thắt lại từng đoạn.
- Các mạch quản và thần kinh thì đơn giản, vì ruột già không có lông nhung,tuyến ruột thẳng
2.4 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy ở gia súc
Hội chứng tiêu chảy rất thường gặp ở gia súc, gây thiệt hại lớn cho ngànhchăn nuôi (80-90%) Về bệnh nguyên của ỉa chảy thì rất phức tạp Trong lịch sửnghiên cứu bệnh tiêu chảy, rất nhiều tác giả đã dày công tìm hiểu nguyên nhân gâybệnh tiêu chảy Tuy nhiên, tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý, có liên quan đến rấtnhiều các yếu tố, có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhânthứ phát Vì vậy, phân biệt thật rạch ròi nguyên nhân gây tiêu chảy không đơn giản.Ngày nay, người ta thống nhất rằng, phân loại chỉ có nghĩa tương đối, chỉ nêu lênyếu tố nào là chính, xuất hiện đầu tiên; yếu tố nào là phụ hoặc xuất hiện sau, từ đóvạch ra phác đồ phòng bệnh hoặc trị bệnh cho có hiệu quả mà thôi Nhìn chung, hộichứng ỉa chảy ở gia súc thường xảy ra do các nguyên nhân chủ yếu sau:
2.4.1 Điều kiện bất lợi của ngoại cảnh
Điều kiện khí hậu thay đổi đột ngột, quá nóng, quá lạnh, mưa gió, ẩm ướt,kết hợp với chuồng trại không hợp vệ sinh, điều kiện nuôi nhốt, vận chuyển gia súcquá chật trộị,… là yếu tố Stress ảnh hưởng trực tiếp tới cơ thể gia Hồ Văn Nam,Nguyễn Thị Đào Nguyên, Phạm Ngọc Thạch (1997)[7] cho biết: Khi gia súc bịnhiễm lạnh, ẩm kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác dụng thực bào,
do đó gia súc dễ bị nhiễm khuẩn gây bệnh
2.4.2 Chế độ nuôi dưỡng không đúng kỹ thuật
Thức ăn kém chất lượng, ôi thiu, khó tiêu,…là nguyên nhân gây ỉa chảy ở giasúc Thức ăn thiếu các chất khoáng, vitamin cần thiết cho cơ thể, đồng thời phươngthức chăn nuôi không phù hợp sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể gia súc và tạo
cơ hội cho các vi khuẩn đường tiêu hóa phát triển và gây bệnh Hồ Văn Nam,Nguyễn Thị Đào Nguyên, Phạm Ngọc Thạch (1997)[7]
2.4.3 Nguyên nhân do ký sinh trùng
Ký sinh trùng đường tiêu hoá là một trong những nguyên nhân gây ỉa chảy ởgia súc Tác hại của chúng không chỉ cướp chất dinh dưỡng của vật chủ mà còn tác
Trang 11động lên vật chủ bằng độc tố, đầu độc vật chủ, làm giảm sức đề kháng, tạo điều kiệncho các bệnh khác phát sinh Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996)[6], chínhphương thức sống ký sinh của giun sán đã làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hoánhờ đó các mầm bệnh dễ xâm nhập gây viêm ruột ỉa chảy.
2.4.4 Nguyên nhân do virus
Ngoài hai vi khuẩn E.coli và Salmonella thường xuyên có trong đường ruột
và được coi là những tác nhân gây bệnh quan trọng trong chứng viêm ruột ỉa chảy,còn có nhiều tư liệu nói về vai trò của virus Sự xuất hiện của virus đã làm tổnthương niêm mạc ruột, làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể và thường gây ỉa chảy
ở dạng cấp tính với tỷ lệ chết cao
Theo Clarence M.Fraser và các cộng sự, 1991, Rotal virus là loại virus chủyếu gây bệnh viêm ruột ỉa chảy ở ngựa con Nó có khả năng lây lan rất nhanh,chúng có thể lây cho cả đàn ngựa con trong 3 - 5 ngày Thường xảy ra với ngựa condưới 2 tháng tuổi và có thể nhiễm với ngựa trưởng thành Hiện tượng ỉa chảy xuấthiện sau 4 - 7 ngày hoặc sau vài tuần Có thể chẩn đoán bằng cách quan sát dướikính hiển vi điện tử hoặc làm phản ứng ELISA (phản ứng ELISA cho kết quả chínhxác và nhanh nhất)
Khoo Teng Huat (1995)[5] đã thống kê được ở lợn có 11 loại virus có tácđộng làm tổn thương đường tiêu hoá và gây viêm ruột ỉa chảy (Adenovirus type IV,
Enterovirus, Coronavirus, virus gây bệnh dịch tả lợn và dịch tả trâu bò, Rotavirus,
…)
Morgan J.(1990) cho rằng: Trên trâu, bò các tác nhân virus gây ra hội chứng
ỉa chảy cũng chiếm tỷ lệ cao và với một tình trạng bệnh lý trầm trọng
2.4.5 Nguyên nhân do vi khuẩn
Ngày càng có nhiều tư liệu chứng tỏ rằng hệ vi khuẩn trong đường ruột, khirối loạn tiêu hoá - môi trường thay đổi, sinh sôi, sản sinh độc tố tác động và niêmmạc ruột làm viêm ruột nặng thêm, bệnh càng trầm trọng
Trước hết là Escherichia coli một vi khuẩn xuất hiện rất sớm ở đường ruột người và động vật sơ sinh khoảng 2 giờ sau khi đẻ E.coli thường ở ruột già, ít khi ở dạ dày và ruột non Trong đường ruột động vật, E.coli chiếm
Trang 12khoảng 80% quần thể các vi khuẩn hiếu khí; đồng thời là một tác nhân gâybệnh không thể phủ nhận.
Trong hệ vi khuẩn hiếu khí của đường ruột, Salmonella chiếm tỷ lệ khá cao vàvai trò của nó đã được nhiều tác giả nói đến
Phan Thị Thanh Phượng (1988)[8], thông báo kết quả đã phân lập là
Salmonella thường xuyên có trong đường ruột lợn và đều cho rằng: trong những
điều kiện chăn nuôi, quản lý làm cho sức để kháng của cơ thể giảm, chính vi khuẩnSalmonella trở thành độc và phát triển mạnh mẽ gây viêm ruột ỉa chảy
Đa số các trường hợp ỉa chảy do kế phát E.coli và Samonella đều dẫn tới
nhiễm trùng huyết
2.4.6 Nguyên nhân do nấm (Candida spp)
Nấm Candida thuộc họ Cryptococcaceae, là nấm men, hình cầu hoặc hình
oval, thỉnh thoảng dạng hình ống, kích thước 3,5-6 x 6-10µm, sinh sản bằng mọc
chồi Candida có khoảng 300 loài, thường hội sinh ở một số cơ quan tiêu hóa, hô
hấp và trên da, một số có thể gặp trong môi trường tự nhiên
Bệnh ở dạ dày - ruột (gastrointestinal candidiasis): có thể có nhiều ổ loét ở
dạ dày, tá tràng, ruột, thủng ruột có thể dẫn tới viêm phúc mạc, có thể lan theođường máu tới gan, các cơ quan khác Sự phát triển và xâm nhập của nấm ở dạ dàyhoặc niêm mạc ruột thường dẫn tới thải rất nhiều nấm ở phân, có thể phát hiện được
ở phân
Viêm đại tràng do nấm: biểu hiện lâm sàng nghèo nàn, có thể thấy mệt mỏi,đau bụng; rối loạn tiêu hóa, đi ngoài lúc lỏng lúc táo kéo dài; đầy bụng, sôi bụng; cóthể có sốt
Viêm phúc mạc (peritonitis): nấm xâm nhập theo catheter dùng trong thẩmphân phúc mạc hoặc thủng dạ dày - ruột do loét, viêm đại tràng, phẫu thuật hoặc utrong ổ bụng
Để chẩn đoán nấm ở hệ thống tiêu hóa, người ta có thể nội soi lấy chất nhày
để nuôi cấy, sinh thiết và làm xét nghiệm mô bệnh học hoặc lấy phân để soi tươi,nuôi cấy, phân lập và định danh các chủng nấm bằng các phương pháp hiện đại
2.4.7 Do nguyên sinh động vật (Cầu trùng- Eimeria spp)
Trang 13Bệnh gây ra bởi loài ký sinh trùng đơn bào (Eimeria) Chúng sống ký sinh
trong tế bào thành ruột Các noãn nang cầu trùng nhỏ chứa ấu trùng được thải theophân ra ngoài Sau 24 tiếng các noãn nang đó nở thành ấu trùng gây bệnh và có thểlan truyền sang con khác qua đường thức ăn, nước uống
Số lượng ấu trùng xâm nhập vào cơ thể sẽ quyết định mức độ của bệnh Nếukèm theo các tác nhân kích thích thì bệnh sẽ nặng hơn Bệnh cũng tạo điều kiệnthuận lợi cho các bệnh khác kế phát như viêm ruột v.v
2.4.8 Các tác nhân vật lý
Cát, đất, cỏ ủ, thức ăn chứa axit lactic
2.4.9 Thiếu dinh dưỡng
Thiếu đồng trong trường hợp thừa Mo, thiếu Vitamin, thiếu sắt
2.4.10 Do ăn uống
Ăn quá nhiều, không tiêu hóa
2.4.11 Các tác nhân hóa học
As, Fe, Cu, NaCl, Hg, Nitrat, thuốc trừ sâu,…
2.5 Các rối loạn bệnh lý của viêm ruột tiêu chảy
Khi tác động vào cơ thể, từng nguyên nhân gây bệnh có quá trình sinh bệnh
và gây ra hậu quả cụ thể Tuy nhiên, khi hiện tượng ỉa chảy xảy ra cơ thể chịu mộtquá trình sinh bệnh và hậu quả có những nét đặc trưng chung, đó là sự mất nước,mất các chất điện giải, rối loạn cân bằng axít - bazơ (Becht J.L, 1986, Lê Minh Chí,
1995, tuỳ theo viêm ruột cấp hay mãn mà hậu quả có khác nhau
Cơ thể mất nước khi ỉa chảy
Nước là thành phần cơ bản của cơ thể Nó cần cho các phản ứng sinh hoá, quá
trình trao đổi chất, hoạt động của các chất điện giải trong cơ thể (Vũ Triệu An,1978)[1]
Nước cung cấp cho cơ thể qua thức ăn, nước uống và được thải ra theo phân,nước tiểu, hơi thở, mồ hôi Quá trình hấp thu và mất nước trong cơ thể khoẻ mạnhthường ổn định (Rose R.J, 1981)
Khi bị viêm ruột, cơ thể không những không hấp thu được nước do thức ănđưa vào, mà còn mất nước do tiết dịch Mặt khác do ruột bị viêm, tính mẫn cảmtăng, nhu động ruột tăng lên nhiều lần Hơn nữa do tổ chức bị tổn thương niêm mạc
Trang 14tăng tiết cùng với dịch dỉ viêm, dịch tiết có thể tăng đến 80 lần so với bình thường.Gia súc ỉa chảy kéo theo lượng nước và chất điện giải bài xuất ra ngoài, cơ thể mấtnước và chất điện giải với hàng loạt các sự biến đổi khác nhau (Vũ Triệu An, 1978)[1] Vì lẽ đó, trong điều trị viêm ruột ỉa chảy, việc xác định mức độ mất nước và các biệnpháp phòng chống mất nước luôn được chú ý hàng đầu.
Tình trạng mất nước và chất điện giải
* Mất nước ưu trương
Nước mất nhiều hơn chất điện giải, ở khu vực ngoại bào thể tích nước bịgiảm, đậm độ muối tăng (tức hằng số điện giải tăng lên) nên áp lực thẩm thấu tăng
Để lập lại cân bằng áp lực thẩm thấu giữa hai khu vực thì nước đi từ nội bào ra khuvực ngoại bào Kết quả là cả hai khu vực nội và ngoại bào đều mất nước, đó là mấtnước toàn bộ Cùng với sự mất nước người ta thấy có sự di chuyển các chất điệngiải như sau:
K+ từ nội bào ra khu vực ngoại bào
Na+ và H+ lại từ khu vực ngoại bào vào trong nội bào
* Mất nước đẳng trương
Nước và chất điện giải mất với một lượng tương đương Trong trường hợpnày, thể tích nước trong khu vực ngoại bào bị giảm nhưng đậm độ điện giải khôngthay đổi nên áp lực thẩm thấu không thay đổi Trong nội bào vẫn giữ được trạngthái thăng bằng điện giải H+ nên không bị ảnh hưởng
* Mất nước nhược trương
Các chất điện giải bị mất nhiều hơn nước Trong trường hợp này thể tích nước
ở khu vực ngoại bào bị giảm, nhưng vì mất nhiều muối nên đậm độ cũng giảm.Nước từ khu vực ngoại bào là nơi có áp lực thẩm thấu thấp đi vào nội bào là nơi có
áp lực thẩm thấu cao
Cả ba loại mất nước đều gây nên những hậu quả bất lợi cho cơ thể như trúngđộc toan, kém đàn tính của da, rối loạn cân bằng các chất điện giải…
Những hội chứng xảy ra khi mất nước và chất điện giải
Như đã nêu trên, ở cơ thể khoẻ mạnh, nước chiếm khoảng 50 - 70% khốilượng cơ thể, được phân bố ở hai khu vực chính là trong tế bào và ngoài tế bào Do
đó, trong điều trị mất nước và chất điện giải do viêm ruột ỉa chảy chúng ta cần phải
Trang 15xác định được sự tăng giảm số lượng chất dịch trong mỗi khu vực đó.
Thực tế, ta thường gặp hai trường hợp của sự mất cân bằng nước và chất điệngiải:
♦ Sự mất nước ngoại bào
Trong quá trình này, nổi bật nhất là mất muối và nước Mất chất điện giảingoại bào gây giảm thể tích khu vực này
- Dấu hiệu lâm sàng:
+ Tình trạng toàn thân sút kém, mệt mỏi
+ Da nhăn, đàn tính của da kém
+ Mạch yếu, hơi nhanh, hạ huyết áp
- Dấu hiệu phi lâm sàng:
+ Giảm thể tích huyết tương là đặc diểm chính của mất nước ngoại bào.+ Hàm lượng Clo và Natri của huyết tương thường giảm
+ Thường có dấu hiệu máu cô đặc, những dấu hiệu này có một giá trị rất lớnkhi chúng biểu hiện: tăng thể tích hồng cầu, tăng hàm lượng Protein huyết tương
♦ Sự mất nước tế bào
Những rối loạn nước và chất điện giải của khu vực tế bào không được biết rõràng bằng rối loạn nội mô Tuy vậy hiện nay người ta thiết lập được một số sự kiệnchính xác
Sự mất nước tế bào đặc tính là giảm số lượng nước khu trú ở một khu vực.Trong trường hợp này mất nước là sự kiện chủ yếu
- Dấu hiệu lâm sàng:
+ Dấu hiệu đầu tiên và quan trọng nhất là khát nước
+ Thể trọng thường giảm nhiều
+ Da không bị nhăn, không có dấu hiệu mất tính đàn hồi của da
+ Mạch và huyết áp không thay đổi
- Dấu hiệu phi lâm sàng:
Hàm lượng của các chất điện giải chính thường tăng Tuy vậy phải nhận thấyrằng hàm lượng Clo huyết thanh có thể giảm thấp, còn hàm lượng Natri tăng cao.Rối loạn cân bằng điện giải
Trong cơ thể, thăng bằng nước và điện giải hằng định một cách lạ lùng, mặc
Trang 16dù có sự thay đổi lớn do nhập vào thải ra nhiều yếu tố khác nhau.
Sự cân bằng điện giải là do các ion Kali, Natri, Clo và axít Carbonic đảmnhiệm chính; trong đó ion Natri và Kali có vai trò quan trọng
Kali và Natri trong thức ăn được hấp thu vào cơ thể chủ yếu ở phần ruột non(80 - 90%), phần còn lại ở dạ dày, ruột già Qua thành ruột, Kali theo dòng máu đếntận các dịch gian bào, sự trao đổi Kali giữa dịch gian bào và nội bào thực hiện quamàng tế bào
Dòng chuyển Kali và Natri là ngược chiều nhau cả về thời gian và số lượngion Kali và Natri được bài tiết ra ngoài theo phân, nước tiểu, mồ hôi
Cân bằng Natri
Natri là ion chủ yếu của khu vực ngoài tế bào và liên quan chặt chẽ với cácion Cl- , HCO3 - trong cân bằng axít - bazơ Nó có vai trò quan trọng trong việc duytrì áp lực thẩm thấu, liên quan đến trao đổi nước trong cơ thể Thận có vai trò lớntrong việc điều tiết Na+ để duy trì dộ dự trữ kiềm trong cơ thể
Các rối loạn lâm sàng
Thiếu hoặc thừa Natri thường xảy ra trong lâm sàng, các rối loạn chuyển hoáNatri và nước Trong thực tế thừa Natri sẽ dẫn đến phù, thiếu Natri kèm theo mấtnước Tình trạng đó thường do ỉa chảy nặng trong các ca viêm ruột, khẩu phần thức
ăn có lượng Natri thấp Natri huyết giảm, dòng dịch thể vận chuyển mạnh đến kẽ tổchức vào trong nội bào, máu cô đặc lại, huyết áp hạ và hậu quả là truỵ tim mạch,suy thận (Vũ Triệu An, 1978)[1]
Cân bằng Kali
Trong cơ thể Kali chiếm khoảng 98%, Kali nằm trong nội bào, ở dạng kết hợpvới Albumin hoặc với các Phospholipit Ở dịch ngoại tế bào Kali, Natri ở dạng ion.Nhờ đó mà có thể thẩm thấu qua lại giữa trong và ngoài tế bào Khi cơ thể mất Kalithì Natri chuyển vào nội bào để thay thế Kali trong đó và ngược lại khi cơ thể mấtNatri thì Kali vận chuyển ra ngoại bào
Mối quan hệ giữa Natri và Kali chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, tình trạngcân bằng kiềm toan Khi cơ thể rơi vào trạng thái toan, Kali trong tế bào chuyển rangoài; và ngược lại khi trúng độc kiềm, Kali từ dịch ngoại bào chuyển vào trong Các phản ứng sinh hoá trong cơ thể đòi hỏi pH của môi trường luôn ổn định,
Trang 17trong khi đó quá trình chuyển hoá luôn luôn sản xuất ra các axít Để duy trì độ pHtrong phạm vi 7,35 - 7,5 đòi hỏi phải có hệ đệm cùng với hoạt động của các cơ quanđiều hoà phản ứng của máu như phổi, thận.
Hệ thống đệm được hình thành ngay trong những tháng đầu sau khi gia súcsinh Nó gồm có những đôi đệm trong huyết tương và trong hồng cầu
Trong thực tế, việc đánh giá các rối loạn kiềm toan dựa vào đánh giá sự thayđổi trong hệ thống Bicarbonat - axít Carbonic là hệ đệm chủ yếu của dịch ngoại bào.Như vậy, trong điều trị viêm ruột ỉa chảy cần điều chỉnh rối loạn thăng băng axít -bazơ đồng thời việc điều chỉnh rối loạn ion Kali, vì hai rối loạn này thường phốihợp với nhau, nhất là trong nhiễm độc toan
2.6 Một số tư liệu về bệnh PED ở lợn
2.6.1 Tình hình bệnh
Bệnh xảy ra trên nhiều lứa tuổi kể cả lợn nái, bùng phát nhanh và lây mạnh.Tuy nhiên nếu xảy ra ở lợn sơ sinh thì bệnh là một trong những nguyên nhân gây thiệthại đáng kể về kinh tế Khi bệnh tấn công vào một đàn lợn chưa có miễn dịch, vào lúcthời gian đẻ, thường mất phần lớn đàn lợn con (có thể tới 100%) Tỷ lệ chết của lợncon theo mẹ tùy thuộc vào độ tuổi nhiễm bệnh Nếu lợn con mắc bệnh ở độ tuổi 0 –
5 ngày tuổi: tỷ lệ chết 100%, nếu lợn con mắc bệnh ở độ tuổi 6 – 7 ngày tuổi tỷ lệchết khoảng 50% còn nếu lợn con mắc bệnh ở độ tuổi lớn hơn 7 ngày tuổi tỷ lệ chếtkhoảng 30% Bệnh có tính chất lây lan cao, lợn ở mọi lứa tuổi đều có thể nhiễmbệnh, song lợn từ 5 tuần tuổi trở lên bị bệnh rất ít chết
Ở Việt Nam PED đã được chẩn đoán ở một số tỉnh phía Nam có số mẫu dươngtính với PED với tỷ lệ cao như ở Bà Rịa – Vũng Tàu có 10/16 mẫu dương tính, ĐồngNai có 21/73 mẫu, TP Hồ Chí Minh là 48/54 và Bình Dương là 21/29 mẫu (Đỗ TiếnDuy và Nguyễn Tất Toàn, 2012)[3]
Người ta coi bệnh tiêu chảy cấp trên lợn là một bệnh nguy hiểm vì:
Tỷ lệ chết ở lợn sơ sinh cao
Không có thuốc điều trị đặc hiệu
Không có biện pháp ngăn chặn virus xâm nhập vào cơ sở chăn nuôi lợn
Hiệu lực hạn chế của các loại vaccin đang được sử dụng
2.6.2 Tác nhân gây bệnh
Trang 18PED do một virus thuộc nhóm Coronavirus họ Coronaviridae gây ra Là
virus có vật chất di truyền là RNA có kích thước lớn nhất, sợi đơn Kích thước từ 27– 30kb Chúng có 7 ORFs mã hóa 4 protein cấu trúc (S, E, M, N) và 03 proteinkhông cấu trúc
Virus được phủ lớp bọc dễ bị phá hủy bởi các chất sát trùng, nhiệt độ cao vàánh sáng mặt trời Virus kháng axit, nên có thể đi qua dạ dày và gây nhiễm vào ruột,sống được lâu dài trong môi trường lạnh và ẩm
Khi virus PED vào trong tế bào, hàng ngàn phần tử virus được giải phóng vànhiễm sang các tế bào khác Sau 4 - 5 chu kỳ nhân lên của virus, hầu hết tế bào ởniêm mạc đường tiêu hóa lợn sơ sinh đều hoại tử
Cơ thể động vật có khả năng đáp ứng miễn dịch đối với virus, miễn dịch cơthể đạt mức tối đa vào khoảng 2 - 3 tuần sau khi sinh nhiễm bệnh Đồng thời cũngtạo ra một đáp ứng miễn dịch cục bộ trong dịch ruột với 2 loại kháng thể có hoạtđộng khác nhau Một loại xuất hiện ngay lúc virus định vị vào tế bào ruột và loạithứ hai xuất hiện chậm hơn ở lợn mắc bệnh
Điều cần lưu ý là có 3 loại Coronavirus gây ra bệnh dạ dày - ruột trên lợn:
- Khi virus này xâm nhập vào cơ thể lợn gây ngưng kết máu và viêm não tủygây ói mữa và gầy còm trên lợn bú mẹ Đây là trạng thái trung gian giữa cảm nhiễm
hệ thống thần kinh ngoại biên và trung ương
- PED Coronavirus gây bệnh tiêu chảy cấp và Coronavirus TGE viêm dạ
dày ruột truyền nhiễm Cả hai đều gây hội chứng tiêu chảy cấp ở mọi lứa tuổi, gây
tiêu chảy mãn tính và còi trên lợn cai sữa Tuy nhiên, TGE Coronavirus là nguyên
nhân chủ yếu gây tiêu chảy cấp trên lợn sơ sinh
2.6.3 Đặc tính sinh học của virus PED
Virus ổn định trong điều kiện nhiệt độ thấp song rất dễ bị phá hủy ở nhiệt độphòng Ở nhiệt độ âm sâu sau một năm hiệu giá virus giảm không đáng kể, nhưng
370C chỉ sau 4 ngày đã mất hoàn toàn khả năng gây nhiễm
Virus rất nhạy cảm với ete, cloroform và desoxycholat Trong 0,5% phenol;0,05% formolandehyt; 0,01% beta propiolactone virus chết trong 30 phút
Virus kháng trypsin, ổn định trong mật lợn và pH, do đặc tính đó nên virussống được trong dạ dày và ruột non (nhất là ở ruột non)