1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN dạy và học NGỮ văn 6 TRUNG học cơ sở CHO các đối TƯỢNG KHÁC NHAU

21 125 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 160,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

-Từ thực trạng trên có thể nói muốn có giờ dạy có chất lượng và học sinh học tập môn văn có hiệu quả thì giáo viên cần phải chia học sinh thành các đối tượng khác nhau và tìm phương pháp

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC HUYỆN PHÙ CỪ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÌNH CAO *********

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Đề tài:

DẠY VÀ HỌC NGỮ VĂN 6 - TRUNG HỌC CƠ SỞ CHO

CÁC ĐỐI TƯỢNG KHÁC NHAU.

Trang 2

là rất chậm

- Đối với môn văn cũng vậy , có học sinh thì có năng lực cảm thụ văn chương rất tốt ,

có học sinh thì cảm thu khá , có học sinh thì bình thường nhưng còn nhiều học sinh còn rất yếu nên các em không say mê học văn , chán học và không tích cực tìm hiểu nghiên cứu bộ môn

- Bên cạnh một số học sinh yêu môn văn , có ý thức khám phá nghệ thuật , muốn tìm hiểu , hiểu biết về xã hội qua văn học thì cũng còn có nhiều học sinh chưa tích cực,chưa thật sự yêu quý môn học này Vì vậy các em chưa có hứng thú cao khi học tập Các em chưa hứng thú , chưa có ý thức học một phần vì các em nhận thức chậm một phần có thể vì sự chưa quan tâm của gia đình , chưa hướng dẫn và quan tâm đến việc học tập của con cái

* Về phía giáo viên :

-Trên thực tế trong các tiết dạy trên lớp giáo viên cũng vẫn biên soạn một giáo án chưa có sự phân hóa Tức là giáo viên vẫn chưa định hình được là từng đối tượng sẽ tiếp thu kiến thức ở mức độ như thế nào

VD: Học sinh trung bình , yếu ,kém thì chỉ cần kiến thức cơ bản

Trang 3

Học sinh khá ,giỏi thì phải được nâng cao mở rộng

- Vì vậy nếu không có sự định hướng cho từng đối tượng thi giáo viên không thể dạy tốt cho từng đối tượng được Dẫn đến tình trạng dạy tốt cho học sinh trung bình , yếu ,kém thì học sinh khá giỏi không được mở rộng, mà chú ý mở rộng được cho học sinh khá giỏi thì học sinh trung bình ,yếu ,kém không hiểu bài

- Trong quá trình giảng dạy giáo viên phân hoá học sinh để việc dạy- học đạt kết quảcao , để giúp các em yếu , trung bình thành trung bình , khá Các em khá ,giỏi thành giỏi,suất sắc cũng gặp khó khăn , cũng bị hạn chế

-Từ thực trạng trên có thể nói muốn có giờ dạy có chất lượng và học sinh học tập môn văn có hiệu quả thì giáo viên cần phải chia học sinh thành các đối tượng khác nhau và tìm phương pháp dạy cho phù hợp

b Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới.

Nếu trong quá trình soạn bài và giảng dạy trên lớp giáo viên luôn có ý thức phân hóa các đối tượng học sinh thì giải pháp trên sẽ có ý nghĩa và tác dụng lớn :

- Đối với học sinh trung bình ,yếu ,kém khi được hỏi những vấn đề đơn giản và các

em trả lời được làm cho các em cũng rất phấn khởi và rất tích cực xây dụng bài,các

em không cảm thấy mình dốt , chậm nữa

- Đối với học sinh khá giỏi thì những vấn đề đơn giản các em hiểu rất nhanh , nếugiáo viên không hỏi thêm những câu nâng cao sẽ không khơi dậy được sự sáng tạo của các em Vì vậy với học sinh khả , giỏi khi giáo viên hỏi những câu hỏi nâng cao tạo điều kiện cho các em phát huy năng lực sáng tạo của mình

c Phạm vi nghiên cứu của đề tài.

Nghiên cứu về việc dạy học môn Ngữ Văn ở lớp 6- bậc Trung học cơ sở cho các đối tượng học sinh khác nhau của giáo viên và học sinh trường THCS Đình Cao

2 Phương pháp tiến hành.

a.Cơ sở lý luận và thực tiễn.

Trang 4

*Cơ sở lý luận

-Dạy học phân hoá là một trong những yêu cầu tất yếu nhằm đáp ứng năng lực

nguyện vọng,điều kiện và cơ hội học tập cho các đối tượng học sinh khác nhau Quanghiên cứu của khoa học tâm lí -giáo dục cho thấy mỗi học sinh có một năng lực trí tuệ khác nhau ( với những chỉ số IQ khác nhau )

-Thêm vào đó do điều kiên sống mỗi gia đình quan hệ xã hội khác nhau nên phẩm chất ,tâm lí , sức khoẻ tinh thần và tình cảm của học sinh rất khác nhau

Tất cả những điều đó ảnh hưởng tới năng lực tiếp nhận , tiếp thu tri thức và kĩ năng của một môn học

* Cơ sở thực tiễn

-Văn học là môn học giáo dục tư tưởng, tình cảm, nhân cách cho học sinh Mỗi học sinh là một thế giới tâm hồn tình cảm rất khác nhau nên việc tiếp nhận tác phẩmvăn học không dễ thống nhât, không thể bằng nhau như một

-Có thể nói , trong một lớp học ,có bao nhiêu học sinh thì sẽ có bấy nhiêu tâm hồn tình cảm Như thế cũng có nghĩa là có rất nhiều đối tượng khác nhau trong cùng một lớp học

-Tuy nhiên cũng không thể vì thế mà chia nhỏ các đối tượng học tập thành quá nhiều các đối tượng khác nhau.Cũng có nghĩa là cần thấy tính chung, tính ổn định, thống nhất trong cùng một đối tượng học sinh ở cùng một lứa tuổi

- Vì có quá nhiều đối tượng học tập khác nhau nên trong quá trình giảng dạy ta nên phân chia học sinh trong lớp thành các đối tượng khác nhau để tiến hành dạy học cho phù hợp với các đối tượng và đạt hiệu quả cao Có thể tạm thời chia các đối tượng học tập thành 3 loại : Khá giỏi, Trung bình và Yếu

b Các biện pháp tiến hành , thời gian tạo ra giải pháp.

- Phương pháp kiểm tra, đánh giá

- Phương pháp đàm thoại

Trang 5

- Phương pháp nghiên cứu tâm lí từng kiểu học sinh.

Với đề tài này khi tiến hành nhằm những mục tiêu sau:

- Tìm hiểu và tạm chia đối tượng học tập thành các đối tượng khác nhau

- Qua đó tìm ra phương pháp dạy học phù hợp với các đối tượng khác nhau

2 Giải pháp của đề tài

2.1 V ài nét về chương trình và sách giáo khoa Ngữ Văn ở bậc Trung học cơ sở.

Chương trình và sách giáo khoa Ngữ Văn mới( Bắt đầu từ lớp 6) đã triển khai đại trà trong toàn quốc từ năm 2002 Trong điều kiện cả nước chung một chương trình , tất cả mọi học sinh dùng chung một bộ sách giáo khoa thống nhất, rất cần xác định được yêu cầu về nội dung và phương pháp cho các đối tượng học sinh khác nhau trong cùng một lớp học để thực hiện có hiệu quả việc dạy học phân hoá

Cùng một bài học , cùng một sách giáo khoa người giáo viên cần thiết kế và tiến hành các hoạt động dạy học như thế nào để tạo điều kiện cho các đối tượng học sinh

có cơ hội thử sức vươn lên

Học sinh yếu kém vươn lên trung bình , học sinh trung bình vươn lên khá giỏi , học sinh khá giỏi vươn lên hơn và có đât dụng võ

Lớp 6 là lớp mở đầu cho cấp Trung học cơ sở vì thế mọi tư tưởng cơ bản mang tính chât chỉ đạo đều được nêu như là những “tuyên ngôn” ở các tài liệu dạy học Khảo sát

Trang 6

trên sách giáo viên và sách học sinh có thể thấy quan niệm của các tác giả về dạy học tích cực , dạy học phân hoá , dạy học tích hợp.

Trong sách giáo khoa ,sách giáo viên việc dạy học phân hoá tuy không đề cập đến nhiều như dạy học tích hợp nhưng cũng đủ tư liệu cho thấy cho thấy chương trình và sách giáo khoa Ngữ Văn mới coi đây là một yêu cầu cần chú ý

Chẳng hạn , trong phần mở đầu Sách giáo viên Ngữ Văn 6 các tác giả cho rằng: “ Hệ thống câu hỏi và bài tập được thiết kế theo tinh thần đề cao hoạt động học tập, đặt ra các tình huống và khuyến khích học sinh giải quyêt tình huống bằng nhiều cách khác nhau Tăng cường hệ thống câu hỏi mở , câu hỏi sáng tạo, hạn chế câu hỏi tái hiện nhằm hình thành tính năng đông và góp phần phân hoá trình độ học sinh” ( Sách giáo viên Ngữ Văn 6 )

Quan niệm trên đây cho thấy những người biên soạn đã chú ý tới đối tượng ,hướng tới đối tượng là người học mà đề ra các hình thức bài tập “ bằng nhiều hình thức khácnhau “ cho phù hợp với trình độ của các đối tượng học sinh

Cụ thể hơn khi trình bày về hệ thống câu hỏi đọc - hiểu văn bản

Trang 7

Qua đó cho thấy , rõ ràng trong quan niệm của các tác giả,dạy học Ngữ Văn mới cầnchú ý phân hoá , chú ý tới các đối tượng học sinh bằng các hình thức câu hỏi khó , bằng việc kiểm tra thi cử.

Việc đề ra các hình thức câu hỏi với các yêu cầu về các mức độ khác nhau cũng cho thấy các soạn giả quan tâm đến sự phân hoá trong hướng dẫn đọc – hiểu và đánh giá năng lực đọc hiểu:

“ Khả năng đọc hiểu ( bao gồm cả cảm thụ ) một tác phẩm văn học lệ thuộc không ít vào việc có trả lời được hay không những câu hỏi đặt ra ở những mức độ khác nhau Mức độ thấp nhất là chỉ cần sử dụng những thông tin đã có ngay trong văn bản.Đó là trường hợp câu hỏi đã có sẵn trong bài Mức cao hơn là buộc phải suy nghĩ và sử dụng những thông tin trong bài Đó là trường hợp phải suy nghĩ ra câu trả lời từ những đầu mối có trong văn bản Cao hơn nữa là yêu cầu khái quát liên hệ giữa những cái mà học sinh đã đọc với thế giớibên ngoài bài học

( Sách giáo viên Ngữ văn 6 )

Có thể nói tư tưởng dạy học phân hoá đã được nêu lên như một phương hướng chỉ đạo trong việc dạy học sách Ngữ Văn mới

Tuy nhiên vấn đề quan trọng là dạy học phân hoá cho các đối tượng khác nhau bằng cách nào , vận dụng cụ thể trong từng bài học ra sao thì hầu như ít được chú ý trong dạy học Ngữ văn hiện nay Có thể thấy qua một số biểu hiện như sau:

Thực tế giáo viên mới chỉ chú ý tới tính phân hoá khi dạy học chủ yếu ở việc ra

hệ thống câu hỏi trong giáo án cũng như khi thực hiện bài dạy trên lớp, và cũng chỉ là

Trang 8

Chưa chú ý tới việc phân hoá bằng nhiều hình thức khác nhau.

2.2.Phương pháp dạy học phân hoá và việc biên soạn một giáo án cụ thể

Để hình dung ra cách dạy một bài học Ngữ Văn theo tinh thần phân hoá , đáp ứng cho các đối tượng học sinh khác nhau trong một lớp học , tôi xin nêu lên phương hướng xác định kiến thức , kĩ năng và gợi ý về phương pháp dạy học phân hoá trong việc biên soạn một giáo án cụ thể

Trước khi tiến hành soạn giáo án cho một bài học , người giáo viên cần xác định được mức độ yêu cầu về kiến thức , kĩ năng và cách thức để truyền tải Các đơn vị kiến thức, kĩ năng ấy đến với các đối tượng học sinh khác nhau Việc xác định mức

độ kiến thức ,kĩ năng tối thiểu và tối đa cho mỗi bài học cần được xem xét , trao đổi, thống nhất trong tổ ,nhóm trên cơ sở nghiên cứu các yêu cầu của Sách giáo khoa và những gợi ý của Sách giáo viên.Tối thiểu ở đây như là mức độ chuẩn kiến thức và kĩ năng cần đạt.Xác định mức tối đa nhằm khống chế xu hướng “ quá tải ” trong dạy học

Sau đây tôi xin đưa ra một vài ví dụ về một bài học cụ thể ở ba phân môn : Văn- Tiếng việt – Tập làm văn ở lớp 6 để minh hoạ cho phương hướng dạy và học phân hoá:

Bài 8 * Phần văn học.

Bài: Cây bút thần.

( Ngữ Văn 6- Tập một )

I.Phần đọc- hiểu văn bản.

1.Yêu cầu về kiến thức và kĩ năng.

Trang 9

- Thấy được vẻ đẹp và tác dụng của một số chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong truyện.

- Kể lại được nội dung câu chuyện bằng ngôn ngữ của mình

b.Mức độ nâng cao:

Ngoài các kiến thức và kĩ năng cơ bản trên ,học sinh còn:

-Hiểu sâu sắc nội dung và ý nghĩa của câu chuyện

- Biết phát hiện và phân tích được những chi tiết nghệ thuật đặc sắc , giàu ý nghĩa của câu chuyện

- Có khả năng kể sáng tạo nội dung truyện ( thêm một số chi tiết hoặc đề xuất một kết thúc khác với kết thúc của tác phẩm )

- Biết cách phân tích một truyện cổ tích ( nhân vật , chi tiết, ý nghĩa )

2 Phương pháp thực hiện.

a Đối với nhóm học sinh yếu

- Hướng dẫn học sinh đọc kĩ tác phẩm và tập tóm tắt , kể lại nội dung tác phẩm.VD:? Em hãy xác định các sự việc chính và tóm tắt nội dung của tác phẩm ?

b Đối với nhóm học sinh trung bình:

- Hướng dẫn học sinh đọc, tóm tắt nội dung câu chuyện , tìm hiểu những khía cạnh nội dung và nghệ thuật của tác phẩm theo những câu hỏi trong sách giáo khoa VD: GV hướng dẫn học sinh đọc :giäng chËm r·i, b×nh tÜnh, ph©n biÖt lêi kÓ vµ méts« nh©n vËt trong truyÖn

Trang 10

GV: hướng dẫn HS túm tắt theo sự việc chớnh- GV: gọi HS túm tắt văn bản

- Cho học sinh kể lại nội dung cõu chuyện

c Đối với nhúm học sinh khỏ , giỏi.

- Yờu cầu học sinh tự đọc tỏc phẩm và tự tỡm hiểu những cõu hỏi khú trong sỏch giỏokhoa

- Giỏo viờn yờu cầu học sinh liờn hệ với những cõu chuyện cổ tớch Việt Nam cựng loại để nhận ra những đặc điểm chung và những nột riờng của truyện Cõy bỳt thần.VD: Cách giới thiệu ML có gì giống và khác cách giói thiệu trong những truyện cổ tích đã học?

HS:- Giống : Cách giới thiệu nhân vật quen thuộc của truyện cổ tích (hoàn cảnh, lailịch) gây cho ngời đọc ấn tợng tốt đẹp về nhân vật

-Khác: yếu tố thần kì cha xuất hiện

- Hướng dẫn học sinh biết rỳt ra cỏch phõn tớch nhõn vật và phõn tớch truyện cổ tớch

Ngoài cỏc kiến thức và kĩ năng cơ bản,học sinh cũn:

- Phõn biệt được hai nhúm danh từ trong loại danh từ chỉ đơn vị, danh từ chỉ đơn vị

tự nhiờn ( loại từ ) và danh từ chỉ đơn vị quy ước ( Trong loại sau cú danh từ chỉ đơn

vị chớnh xỏc và danh từ chỉ đơn vị ước chừng )

Trang 11

- Nhận biết nhanh về những nội dung trong bài học.

- Cú kĩ năng thuần thục và nhuần nhuyễn trong thực hành luyờn tập

2 Phương phỏp thực hiện.

a.Với nhúm học sinh yếu

- Tăng cường cỏc bài tập nhận diện và luyện tập từ đơn giản đến phức tạp , liờn hệ ngay với những danh từ quan sỏt trực tiếp trong lớp hoặc trờn cơ thể học sinh

VD : Tỡm một số danh từ chỉ sự vật mà em biết? Đặt cõu với một trong cỏc danh từ ấy

?

b Đối với nhúm học sinh trung bỡnh:

- Đưa thờm cỏc cõu , đoạn văn để học sinh tỡm cỏc loại danh từ

VD:?Tìm danh từ chung và danh từ riêng trong các câu sau :

“ Ngày xa,ở vùng đất Lạc Việt cứ nh bây giờ là Bắc Bộ nớc ta ,có một vị thần thuộcnòi rồng ,con trai thần Long Nữ ,tên là Lạc Long Quân “

c Với nhúm học sinh khỏ , giỏi.

- Đưa thờm cỏc tỡnh huống cú vấn đề cú vấn đề ( trả lời cỏc cõu hỏi vỡ sao ) để họcsinh luyện tập

- Phõn hoỏ bằng cỏch tớnh tốc độ liệt kờ , phõn hoỏ số lượng danh từ trong một thời gian nhất định theo một đề tài nhất định

VD: ? Vậy theo em, DT giữ chức vụ ngữ pháp gì trong câu?

? Viết đoạn văn ngắn cú sử dụng danh từ chung và danh từ riờng ?

- Hiểu được thế nào là ngụi kể và tỏc dụng của ngụi kể trong văn tự sự

- Nhận ra cỏc ngụi kể trong văn bản tự sự qua cỏc vớ dụ

Trang 12

- Biết kể lại một văn bản tự sự với cỏc ngụi kể khỏc nhau.

b.Mức độ nõng cao:

Ngoài cỏc kiến thức và kĩ năng cơ bản học sinh cũn:

- Thấy được vai trũ và tỏc dụng của việc lựa chọn , chuyển đổi ngụi kể trong văn tự

sự

- Biết kể lại sỏng tạo cỏc tỏc phẩm tự sự với sự thay đổi ngụi kể linh hoạt

2.Phương phỏp thực hiện.

a.Với học sinh yếu

Phõn biệt được cỏc ngụi kể

VD: Thế nào là kể theo ngụi thứ nhất ? Thế nào là kể theo ngụi thứ ba ?

Hướng dẫn học sinh tỡm hiểu và luyện tập theo cỏc cõu hỏi đơn giản trong sỏch giỏokhoa

b.Với học sinh trung bỡnh

Với những cõu hỏi khú cần gợi ý bằng việc nờu lờn những cõu hỏi nhỏ, dẫn dắt học sinh đi từ dễ đến khú, từ đơn giản cụ thể đến phức tạp , trừu tượng

VD : Vai trũ của việc kể theo ngụi thứ nhất và ngụi thứ ba ?

c Với học sinh khỏ , giỏi.

Đưa thờm cỏc cõu hỏi yờu cầu lớ giải tại sao và cỏc bài tập nhằm khuyến khớch học sinh kể sỏng tạo một số cõu chuyện với sự thay đổi ngụi kể

VD: Khi chọn ngôi kể thứ nhất để kể sẽ có mấy trờng hợp xảy ra? đó là những trờng hợp nào?

VD: ? Kể lại truyện Thạch sanh theo ngôi kể thứ nhất Thạch Sanh

Trang 13

Với nhóm học sinh yếu và trung bình : Nhờ việc tăng cường các bài tập nhận diện ,các câu hỏi trong sách giáo khoa, việc luyện tập từ đơn giản đến phức tạp, nêu lên những câu hỏi nhỏ, dẫn dắt học sinh đi từ dễ đến khó… nên các đối tượng này đã hiểubài hơn nhiều, tích cực hơn trong các tiết học

Với nhóm học sinh khá , giỏi: Nhờ việc đưa ra những câu hỏi khó , đưa ra các câu hỏi tình huống có vấn đề , những câu hỏi sáng tạo… nên học sinh đã hiểu bài một cách sâu sắc , cặn kẽ.Vì vậy tư duy văn học của các em đã khá hơn rất nhiều , các em càng say mê tìm hiểu

Qua quá trình giảng dạy với những phương pháp thích hợp đã tạo nên hứng thú và niềm say mê văn học- say mê khám phá nghệ thuật của các em học sinh Đã tạo nên nền tảng, niềm say mê cho các đối tượng học sinh

C Kết luận

Ngày đăng: 30/10/2017, 16:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Bảng số liệu thống kờ trước khi thực hiện đề tài:      Sĩ số, tỉ lệ - SKKN  dạy và học NGỮ văn 6   TRUNG học cơ sở CHO các đối TƯỢNG KHÁC NHAU
Bảng s ố liệu thống kờ trước khi thực hiện đề tài: Sĩ số, tỉ lệ (Trang 13)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w