SKKN Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả việc dạy từ loại trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4SKKN Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả việc dạy từ loại trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4SKKN Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả việc dạy từ loại trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4SKKN Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả việc dạy từ loại trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4SKKN Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả việc dạy từ loại trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4SKKN Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả việc dạy từ loại trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4SKKN Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả việc dạy từ loại trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4SKKN Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả việc dạy từ loại trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4SKKN Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả việc dạy từ loại trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4SKKN Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả việc dạy từ loại trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4SKKN Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả việc dạy từ loại trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4SKKN Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả việc dạy từ loại trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO HUYỆN EAHLEO
TRƯỜNG TIỂU HỌC LÝ TỰ TRỌNG
TÊN ĐỀ TÀI: “KINH NGHIỆM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
VIỆC DẠY TỪ LOẠI TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4”
NGƯỜI THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ MINH
CHỨC VỤ: GIÁO VIÊN
THÁNG 04 /NĂM 2016
Trang 2I PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Bậc tiểu học là bậc học nền tảng, cung cấp rèn luyện, hình thành cho học sinh những kĩnăng cơ bản như: giao tiếp, đọc, viết Vì vậy các em được học nhiều môn nhằm giáo dụctoàn diện cho các em về: đức, trí, thể, mĩ Môn Tiếng Việt có một vị trí đặc biệt quan trọng
vì nó hình thành và phát triển cho học sinh khả năng giao tiếp, là cơ sở để phát triển tư duycho trẻ, giúp trẻ tiếp thu các môn học khác tốt hơn, được bộc lộ mình và phát triển
Muốn đạt được điều đó học sinh phải có vốn kiến thức cơ bản về tiếng Việt, nói và sửdụng thông thạo tiếng Việt Phân môn luyện từ và câu giúp học sinh mở rộng và hệ thốnghóa vốn từ, cung cấp một số hiểu biết đơn giản về từ và câu, rèn luyện kĩ năng dùng từ đặtcâu, bồi dưỡng thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu, có ý thức sử dụng tiếng Việtvăn hóa trong giao tiếp và thích học tiếng Việt
Vì vậy, để giúp học sinh biết sử dụng ngôn ngữ trong nói, viết thì phân môn Luyện từ
và câu lớp 4 là mở đầu quan trọng cho việc dạy học từ ngữ ở tiểu học, đặc biệt dạy học từloại trong chương trình lớp 4 giúp học sinh biết danh từ, động từ, tính từ và sử dụng chúngtrong các môn học khác đúng yêu cầu, mục đích
Để giúp các em có vốn từ, cũng như biết sử dụng từ loại trong tiếng Việt có hiệu quả.Đặc biệt nhằm giúp cho học sinh nhận biết về các từ loại một cách cơ bản nhất cùng với
cách kết hợp đặc trưng nhất giữa chúng vào hoạt động giao tiếp, tôi lựa chọn đề tài: “Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả việc dạy Từ loại trong phân môn luyện từ và câu lớp 4” Với
mong muốn tìm ra các giải pháp giúp học sinh có khả năng xác định tốt từ loại, có vốn từ để
sử dụng trong khi học các môn học khác, sử dụng tiếng Việt để giao tiếp trong cuộc sốnghàng ngày, từ đó giúp các em yêu thích tiếng Việt và yêu thích đến trường
I.2 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:
a) Mục tiêu:
- Nâng cao năng lực giáo viên trong việc dạy Luyện từ và câu ở nội dung Từ loại.
- Giúp giáo viên biết cách tổ chức, hướng dẫn học sinh đi đúng trọng tâm của bài dạy,biết sử dụng từ ngữ phù hợp với chủ đề, chủ điểm nhằm khắc sâu kiến thức cơ bản cho họcsinh để các em tiếp tục học các lớp trên
Trang 3- Bước đầu giúp học sinh hiểu được khái niệm, nhận biết và đặt câu về danh từ, động
từ, tính từ
- Ngoài ra, học tốt từ loại giúp các em xác định được cấu tạo câu, xác định được các
loại câu kể một cách dễ dàng
b) Nhiệm vụ:
- Tìm hiểu về cơ sở lý luận mà đề tài đặt ra
- Phân tích và đánh giá thực trạng của học sinh khối 4 khi học Từ loại
- Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục thực trạng của đề tài
I.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Nghiên cứu về năng lực giảng dạy của giáo viên khối 4
- Nội dung chương trình của phân môn Tiếng việt
- Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở lớp 4
- Điều chỉnh nội dung dạy học các môn học lớp 4 theo công văn số 5842/ BGDĐT-VPngày 01 tháng 9 năm 2011 của bộ Giáo dục và Đào tạo
- Học sinh khối lớp 4 trường Tiểu học Lý Tự Trọng
- Giáo viên khối 4 trường tiểu học Lý Tự Trọng
I.4 GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Nội dung giảng dạy Từ loại trong chương trình luyện từ và câu lớp 4
- Học sinh lớp 4C năm học 2013-2014 Học sinh lớp 4A năm học 2014 -2015 Học sinh
lớp 4A năm học 2015-2016
I.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tìm đọc các tài liệu, tạp chí, giáo trình có nội
dung hiệu quả của dạy luyện từ và câu, đặc biệt là dạy: danh từ, động từ, tính từ trongchương trình lớp 4
2.Phương pháp điều tra: Dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp, học sinh về khó khăn
cũng như những thuận lợi khi thực hiện dạy danh từ, động từ, tính từ ở lớp 4
Trang 43.Phương pháp thực nghiệm: Tổ chức giờ dạy hiệu quả về danh từ, động từ, tính từ
để thực hiện các yêu cầu của giải pháp đề ra, kiểm tra kết quả và tác dụng của giải pháp khitiến hành
4.Phương pháp so sánh, đối chiếu: Tổ chức so sánh, đối chiếu kết quả trước và sau
khi thực hiện giải pháp để thấy được kết quả cũng như những hạn chế nhằm tìm ra hướngđiều chỉnh, khắc phục hợp lý
II PHẦN NỘI DUNG
II.1 Cơ sở lý luận:
Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học là:
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc,viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việcdạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơgiản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài
- Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàuđẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trong môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học, luyện từ và câu là một phân môn mang tính đặctrưng riêng Đặc biệt trong chương trình luyện từ và câu lớp 4, yêu cầu học sinh được trang
bị kiến thức về Từ loại gồm:
+ Danh từ: Danh từ là gì?; danh từ chung và danh từ riêng; Cách viết hoa danh từriêng
+ Động từ: Động từ là gì?; Cách thể hiện thời gian của hoạt động
+ Tính từ: Tính từ là gì?; Cách thể hiện mức độ của đặc điểm, tính chất
- Ngoài ra còn giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chứchoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm ngay trong quá trình và kết thúc mỗi giai đoạn dạyhọc, giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh để động viên, khích lệ
và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của học sinh để hướng dẫn, giúp đỡ; đưa
ra nhận định đúng những ưu điểm nổi bật và những hạn chế của mỗi học sinh để có giải pháp
Trang 5kịp thời nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh; gópphần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học.
Việc giúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy học và học sinh tự tin, biết chia sẻ, biết
sử dụng đúng từ loại, thực hiện được các yêu cầu cụ thể theo chuẩn kiến thức kĩ năng là đãgiúp các em có vốn từ cần thiết để học tốt môn tiếng Việt và các môn học khác
- Đa số con em của cán bộ viên chức nên phụ huynh quan tâm đến việc học của con
em mình Phụ huynh phối hợp tốt với giáo viên, phấn khởi giúp đỡ giáo viên trong công tácgiảng dạy, giáo dục học sinh Vì thế kết quả học tập của học sinh càng ngày càng tiến bộ,năm sau cao hơn năm trước
- Học sinh chăm học, biết phối hợp với thầy cô trong các hoạt động học tập
- Chương trình sách giáo khoa thực hiện tích hợp kiến thức từ lớp 2, 3 nên việc học Từloại tương đối thuận lợi
* Khó khăn:
- Bên cạnh những gia đình cán bộ, viên chức vẫn còn một số em gia đình làm nông,buôn bán,… nên bố mẹ chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con mình, phó thác conmình cho nhà trường, chưa nhắc nhở các em học tập
- Đối với lớp chỉ học chương trình 5 buổi/tuần nên thời gian hạn chế cho việc luyệntập kiến thức về từ loại
b) Thành công – hạn chế:
* Thành công:
- Trường Tiểu học Lý Tự Trọng là đơn vị luôn dẫn đầu trong phong trào thi đua haitốt Nhà trường luôn là lá cờ đầu của ngành giáo dục huyện nhà Trong thi đua luôn đạt danh
Trang 6hiệu đơn vị xuất sắc Giáo viên nhiệt tình trong công tác giảng dạy, có bề dày kinh nghiệm,luôn đoàn kết để xây dựng một tập thể vững mạnh Đội ngũ giáo viên giỏi cấp trường, cấphuyện, cấp tỉnh ngày một tăng.
- Ban giám hiệu nhà trường luôn tạo điều kiện để giáo viên phát huy năng lực của mỗi
cá nhân, thường tổ chức các chuyên đề về chuyên môn nhằm nâng cao trình độ đội ngũ
- Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong nhà trường thường xuyên tổ chức cáccuộc giao lưu Tiếng Việt, các hoạt động ngoại khóa, Trạng nguyên Tiếng Việt trên mạngInternet,… nhằm giúp học sinh có cơ hội trau dồi kiến thức về tiếng Việt
* Hạn chế:
- Một số giáo viên còn chậm trong việc áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy,chưa biết vận dụng những tư liệu cần thiết trên mạng Internet vào việc giảng dạy nên hiệuquả giảng dạy chưa cao
- Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học vẫn còn nặng về hình thức, chưa thật
sự chú ý đến hoạt động học cũng như việc rèn kĩ năng tự học, tự giác chủ động trong tươngtác
c) Mặt mạnh - mặt yếu:
* Mặt mạnh:
- Bản thân là giáo viên được đào tạo trình độ chuẩn, nhiều năm liền là giáo viên dạygiỏi, đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh năm học 2003-2004, đạt danh hiệu chiến sĩ thiđua cấp cơ sở nhiều năm liền
- Luôn yêu nghề, luôn tự học hỏi chuyên môn để nâng cao tay nghề, tìm tòi học hỏinhững phương pháp dạy học phù hợp để giúp học sinh tiến bộ nên trong những năm qua lớptôi giảng dạy số lượng học sinh hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc luôn chiếm tỉ lệ cao Cónăng khiếu dạy Tiếng việt
- Thường xuyên thực hiện biện pháp động viên, khuyến khích học sinh, nhắc nhở các
em luôn yêu thương nhau, biết hợp tác chia sẻ với nhau để cùng tiến bộ
* Mặt yếu:
- Ngoài việc giảng dạy còn thực hiện công tác chủ nhiệm nên thời gian còn hạn chếtrong việc chuẩn bị tư liệu, đồ dùng dạy học cho học sinh
Trang 7- Trình độ học sinh không đồng đều, một số em còn lười học ghi nhớ hoặc khả năngghi nhớ kiến thức đã học chưa tốt nên kiến thức về danh từ, động từ, tính từ giáo viên cònphải nhắc lại khi giảng dạy.
- Học sinh thiếu tự tin, ít chia sẻ với bạn sau khi hoàn thành bài làm
d) Các nguyên nhân, các yếu tố tác động:
- Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều vì: Có những em được gia đình quantâm nhắc nhở, có ý thức tự học, nghiêm túc trong giờ học thì học tốt, còn một số em gia đìnhchưa quan tâm nhắc nhở, ý thức tự học chưa tốt thì việc học chỉ dừng lại ở mức độ hoànthành
- Học sinh thiếu tự tin, ít chia sẻ với bạn bè khi hoàn thành bài học vì: một số em họcchưa tốt, khi phát biểu xây dựng bài sợ trả lời sai bạn cười nên thiếu tự tin trong học tập,hoặc một số em nhút nhát không dám chia sẻ với bạn
- Học sinh thiếu kĩ năng ghi nhớ đặc điểm của mỗi từ loại vì: thời gian học và luyệntập về từ loại ít, nắm chưa chắc chắn kiến thức về từ loại hoặc chưa nắm bắt được khả năngkết hợp của từ loại, …
- Việc đổi mới phương pháp dạy học của GV chưa triệt để vì: một số giáo viên giảngdạy theo hướng truyền thụ kiến thức mà chưa thực sự dạy học theo phân hóa đối tượng, chưahướng dẫn học sinh cách tự chiếm lĩnh kiến thức, hoặc trong quá trình dạy học chưa tổ chứcđược các hình thức dạy học phù hợp, chưa biết cách
giúp học sinh tự tin, chia sẻ trong học tập,
e) Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra:
e1) Trình độ học sinh trong một lớp học không đồng đều:
- Trình độ học sinh không đồng đều, tổng số học sinh trong lớp có 33 em, trong đó:học sinh hoàn thành xuất sắc 15 em, học sinh hoàn thành tốt 10 em, học sinh hoàn thành 6
em và 2 em không hoàn thành Trình độ không đồng đều nên khả năng tự chủ trong tiết họccủa học sinh hạn chế, một số em giỏi “lấn lướt” các học sinh khác
e2) Sự tự tin trong chia sẻ kiến thức cũng như trong nhận xét của học sinh còn hạn chế:
Trang 8Như chúng ta đã biết, hiện nay trong quá trình dạy học vẫn còn nhiều giáo viên dạyhọc theo cách dạy truyền thống Trong giờ học, giáo viên chưa thực hiện tốt việc phân hóađối tượng học sinh, chưa biết gợi mở để giúp học sinh phát triển tư duy, tính tích cực tronghọc tập, chưa biết lồng ghép kĩ năng sống như: kĩ năng hợp tác, kĩ năng xác định giá trị, tưduy sáng tạo, kĩ năng lắng nghe, ghi nhớ,… nhằm khắc sâu kiến thức đã học thông qua hoạtđộng thực tiễn Giáo viên chưa biết đổi mới phương pháp dạy học, dẫn đến các em chưađược trải nghiệm trong những môi trường học tập mới, học sinh chưa được khám phá kiếnthức mới, chưa được thể hiện khả năng của mình và chưa biết cách chia sẻ với bạn về cácnội dung bài học Cụ thể:
- Giáo viên còn tập trung vào một số học sinh nổi bật dẫn đến số học sinh còn lại chủquan chỉ đợi nhắc lại ý kiến của bạn cũng như viết lại những gì bạn thực hiện trên bảng lớn
- Giáo viên sợ mất thời gian nên không quan tâm nhiều đến hoạt động cá nhân, ít tổchức cho các em chia sẻ, hỗ trợ và tương tác với những học sinh khác, nhóm khác…
Từ hai yếu tố trên khiến học sinh trở nên thiếu mạnh dạn, tự tin trong quá trình họctập
e3) Học sinh thiếu kĩ năng ghi nhớ do một số nguyên nhân: Một số học sinh chưa
chăm học bài cũ ở nhà, lười làm bài tập về nhà nên khả năng ghi nhớ kiến thức chưa chắcchắn, hoặc một số em chưa hiểu lắm về khái niệm của từ loại, … nên kết quả học tập chưacao Giáo viên cung cấp về khả năng kết hợp của từ loại chưa nhiều, chưa thường xuyên nêncác em sử dụng tính chất này vào việc xác định danh từ, động từ, tính từ chưa thành thạo,dẫn đến việc xác định từ loại chưa chính xác hoặc học xong bài một thời gian ngắn là quênngay kiến thức đã được học
e4) Thời lượng dạy học về từ loại ở lớp 4 quá ít:
Nội dung dạy Từ loại trong chương trình lớp 4 được phân bổ trong các tuần học 5, 6,
9, 11, 12 Ngoài ra trong các bài tập về từ loại còn xuất hiện trong các bài luyện tập khác.Với thời lượng ít, ứng dụng về Từ loại nhiều, do đó nếu giáo viên chỉ thực hiện theo phânphối chương trình thì học sinh gặp rất nhiều khó khăn trong việc xâu chuỗi kiến thức để vậndụng vào viết văn, xác định Từ loại
* Kết quả khảo nghiệm thực tế vào đầu năm học ở học sinh lớp 4 qua ba năm như sau:
Trang 9Lớp/ năm học Tổng số
học sinh
Khả năng xác địnhtốt DT- ĐT- TT
Khả năng xác địnhchưa tốt DT- ĐT- TT
II.3 NHỮNG GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP:
a) Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
- Giúp giáo viên thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học Từ loại
- Giúp học sinh tự tin trong học tập, biết chia sẻ, hỗ trợ bạn trong giờ học
- Giúp học sinh nắm được đặc điểm của danh từ, động từ, tính từ, đồng thời biết xác
định được danh từ, động từ, tính từ Học sinh biết phân biệt giữa danh từ, động từ, tính từ.Các em nắm vững kiến thức đó để dùng từ, đặt câu đúng, xác định tốt câu kể Ai làm gì? Ai làgì? Ai thế nào?, biết đặt câu kể, viết đoạn văn có câu kể và biết thêm trạng ngữ cho câu,…cóliên quan đến danh từ, động từ, tính từ Đồng thời việc nắm vững kiến thức về từ loại giúpcác em làm văn tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật… tốt hơn Đồng thời có kĩ năng hợp tác, chia
sẻ với bạn
b) Nội dung và cách thực hiện giải pháp, biện pháp:
Từ những thực trạng trên, muốn học sinh học tốt từ loại, xác định được từ loại và biết sửdụng từ loại đúng trong nói và viết, tôi đã thực hiện những giải pháp, biện pháp sau:
* Biện pháp thứ nhất: Tăng cường việc đổi mới phương pháp dạy học, khắc phục thời lượng dạy phân môn Luyện từ và câu phần Từ loại
- Mục tiêu: Giúp giáo viên biết thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, biết kích
thích hứng thú của học sinh trong học tập, biết thực hiện phương pháp dạy học theo mô hình
“Trường học mới”
- Nội dung và cách thực hiện:
+ Thực hiện theo phương châm dạy đâu chắc đó, vận dụng tối đa thời lượng dạy học ởbuổi thứ hai để thực hiện nhằm chấm dứt thực trạng dạy theo phân phối chương trình
Trang 10+ Nội dung dạy buổi thứ hai phải được lựa chọn một cách linh hoạt tùy vào đơn vịkiến thức trong tuần Không nhất thiết phải cứng nhắc theo thời khóa biểu của tiết tăngcường là 3 Tiếng Việt và 2 toán Nếu tuần này cần khắc sâu Tiếng việt GV có thể lựa chọn 4
TV và 1 toán hoặc ngược lại …
+ Thường xuyên tổ chức các hoạt động chuyên đề về dạy học từ loại, phân tích cụ thể
đặc điểm của mỗi từ loại, kế thừa tính tích hợp của chương trình (tích hợp chiều ngang, tíchhợp chiều dọc) để giảng dạy, nhằm giúp giáo viên nắm vững kiến thức cần truyền đạt chohọc sinh Khi thực hiện chuyên đề:
+ Thay đổi cách sinh hoạt chuyên đề theo hình thức phân công 01 giáo viên dạy rồigóp ý giờ dạy Thực hiện 01 chuyên đề cần theo hướng chuyên sâu để tất cả các giáo viêncùng 1 khối tham gia và thể nghiệm trên lớp học của mình theo tinh thần đã được tập huấn
+ Tăng cường dự giờ thăm lớp nhằm thúc đẩy sự đổi mới phương pháp dạy học củagiáo viên, cụ thể sau khi dự giờ thảo luận tìm ra biện pháp nhằm giúp giáo viên về: hoạtđộng học của học sinh, hệ thống câu hỏi của giáo viên chung cả lớp, câu hỏi đối với từngnhóm trong bài dạy, tư vấn hỗ trợ học sinh theo Thông tư 30, tạo điều kiện cho học sinhđược chia sẻ, biết cách chia sẻ như thế nào với bạn, biết hỗ trợ bạn trong giờ học…
* Biện pháp thứ hai: Rèn sự tự tin, chia sẻ của học sinh với bạn nâng cao chất lượng học tập trong lớp.
- Mục tiêu: Giúp học sinh mạnh dạn khi giao tiếp; trình bày rõ ràng, ngắn gọn; nói
đúng nội dung cần trao đổi; ngôn ngữ phù hợp với hoàn cảnh và đối tượng; ứng xử thânthiện, chia sẻ với mọi người; lắng nghe người khác, biết tranh thủ sự đồng thuận;
- Nội dung và cách thực hiện:
+ Sắp xếp chỗ ngồi hợp lí, trong nhóm có tất cả các trình độ học sinh, em tiếp thu bàinhanh ngồi cùng bàn với bạn tiếp thu bài chậm và thụ động trong làm bài
+ Khi giao bài cho học sinh làm việc cá nhân, giáo viên cần phân hóa nhanh đối tượng
để kịp thời hỗ trợ, giúp đỡ học sinh nhằm giữ được “nhịp độ” lớp học
+ Sử dụng cánh tay nối dài của giáo viên để hỗ trợ kịp thời cho các học sinh khác.+ Tạo điều kiện về mặc thời gian cho học sinh chia sẻ cách làm của mình Trước hết làchia sẻ trong nhóm, khi HS có đủ tự tin giáo viên cho HS chia sẻ trước lớp
Trang 11+ Động viên và khen thưởng kịp thời những học sinh có tiến bộ về ngôn ngữ giao tiếp,
tự tin đưa ra ý kiến của mình…
* Biện pháp thứ ba: Giúp học sinh ghi nhớ đặc điểm của từ loại
- Mục tiêu: Giúp học sinh nắm chắc các kiến thức cơ bản về danh từ, động từ, tính từ,
biết sử dụng danh từ, động từ, tính từ trong nói và viết đúng mục đích sử dụng Biết ứngdụng từ loại đã học để học tốt các môn học khác
- Nội dung và cách thực hiện:
1 Cung cấp kiến thức về danh từ, động từ, tính từ cho học sinh:
Ở các lớp 2 và 3 các em mới chỉ học từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, từ chỉ đặc điểm,tính chất của sự vật chưa phân tích rõ danh từ, động từ, tính từ Hơn nữa, những kiến thứcnày được lồng ghép với các bài học khác nên các em chưa nắm được cụ thể như lớp 4 Vì thếtrong các tiết dạy, tôi định hướng giúp các em tìm ra kiến thức như sau:
1.1 Danh từ:
Trong tiết dạy về danh từ ở tuần 5 và 6, ngoài việc giúp học sinh cách thức thực hiện
và chiếm lĩnh kiến thức theo sách giáo khoa, tôi giúp học sinh nắm được kiến thức cần ghinhớ qua những sự vật cụ thể xung quanh các em, gợi mở giúp các em tư duy biết so sánh sựvật này với sự vật kia,… Từ đó giúp các em khắc sâu kiến thức, cụ thể như sau:
Tôi yêu cầu học sinh nêu được ví dụ về danh từ, mở rộng hơn từ ghi nhớ trong sáchgiáo khoa nhằm cung cấp thêm một số ví dụ về danh từ:
Ví dụ:
+ Danh từ chỉ người: học sinh, nông dân, họa sĩ, bạn Hoa, cô giáo Hà….
+ Danh từ chỉ vật: bảng, nhà sàn, bàn ghế, mèo, ổi, mận, sông, biển, núi,…
+ Danh từ chỉ hiện tượng: mưa rào, mưa phùn, bão, nắng, gió,…
+ Danh từ chỉ khái niệm: chủ trương, chính sách, bằng chứng, lí do, mục đích, ảnh hưởng, yêu cầu, khó khăn,…
+ Danh từ chỉ đơn vị: mẩu, miếng, cục, bầy, bọn, bộ, chòm, dúm, xã, phường, đồng, giây, phút, giờ, bó, cơn, con, ,…
Đối với học sinh tiểu học, việc cung cấp khiến thức giáo viên cần giúp các em hiểuđược rõ ràng cụ thể khái niệm, tránh nói chung chung Hai loại danh từ đối với học sinh rất
Trang 12là trừu tượng đó là: danh từ chỉ khái niệm và danh từ chỉ đơn vị Để giúp học sinh hiểu được
hai loại danh từ này, tôi lưu ý học sinh như sau:
- Danh từ chỉ khái niệm biểu thị những cái chỉ có trong nhận thức của con người, không có hình thù, không chạm tay vào ngửi, nếm, nhìn,… được VD: lí thuyết, truyền thống,
…Ngoài ra, những từ chỉ hoạt động, tính chất khi kết hợp được với: nỗi, niềm, sự, cuộc, việc,…sẽ tạo ra một danh từ chỉ khái niệm VD: niềm vui,
nỗi buồn, sự sống, cuộc đấu tranh, việc nhỏ, việc lớn,…
- Danh từ chỉ đơn vị thường đứng trước danh từ chỉ sự vật VD: tấm màn,
bức tranh, con mèo, quyển sách, cây bút,…
Tôi phân thành các danh từ chỉ đơn vị như sau:
+ Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên: chia thành 3 nhóm:
Nhóm chỉ người: vị, đứa, thằng, gã,…
Nhóm chỉ đồ vật: cái, chiếc, tấm, bức, hòn, trang, ngôi, nền,…
Nhóm chỉ động, thực vật: con, cây, trái, quả, tàu,…
+ Danh từ chỉ đơn vị quy ước:
Nhóm chỉ đơn vị đo lường: cân, tạ, yến, lít, mét, sào, mẫu, xu hào, đồng, giây, phút, giờ, ngày, xã, phường, huyện, tỉnh,…
Nhóm danh từ chỉ bộ phận: mẩu, miếng, cục,…
Nhóm danh từ chỉ tập thể: bầy, bọn, bộ, chồng, dúm,…
Nhóm danh từ chỉ hành động: chuyện, trận, phiên, cơn,…
Ngoài ra, tôi sử dụng kĩ năng hợp tác nhóm, cùng nhau tìm ra danh từ chỉ khái niệm,danh từ chỉ đơn vị để tìm ra càng nhiều danh từ giúp các em có vốn từ phong phú hơn Đồngthời từ những ví dụ cụ thể ấy, yêu cầu học sinh khá giỏi đặt câu để khắc sâu hơn kiến thức
về danh từ
Ví dụ:
+ Đặt câu với 1 danh từ chỉ khái niệm: Hòa bình đã về trên đất nước em.
+ Đặt câu với một danh từ chỉ đơn vị: Chiều nay, cơn mưa dông chợt đến
… …
Trang 13Không chỉ giúp học sinh nắm chắc chắn khái niệm về danh từ, mà tôi cho học sinhluyện tập tìm ra danh từ, phân biệt danh từ chung, danh từ riêng, nhằm khắc sâu kiến thức đãhọc, cụ thể là:
Ví dụ: Tôi nêu ra ví dụ như: bàn là tên chung của một loại đồ vật, bàn thì có bàn học
sinh, bàn giáo viên, bàn tròn, bàn chữ U, …nên bàn chính là danh từ chung Tên riêng của
em gọi là: Bùi Dương Thanh Thu thì đó chỉ là tên của riêng mình em, vậy Bùi Dương Thanh Thu là danh từ riêng hoặc tên của xã, huyện, tỉnh, đất nước tên sông, núi,… đều là danh từ
riêng
Từ những ví dụ đó, tôi yêu cầu học sinh hợp tác cùng nhau tìm ra danh từ chung vàdanh từ riêng để mở rộng hơn việc hiểu biết về danh từ
Qua việc giúp học sinh nhận biết danh từ chung, danh từ riêng, cuối tiết học,
tôi tổ chức cho học sinh trò chơi “Ai chiến thắng”, tôi phổ biến trò chơi: Nêu tên các danh
từ chung, danh từ riêng mà em biết Chia lớp thành 6 nhóm, thi trong 10 lượt, gv ghi số từ
đúng mà mỗi nhóm tìm được trong 10 lượt Cuối cùng nhóm nào tìm được nhiều từ nhất lànhóm đó thắng cuộc Như vậy, qua trò chơi, các em biết hỗ trợ lẫn nhau tìm ra danh từchung, danh từ riêng Từ trò chơi ấy, học sinh đã có vốn từ phong phú mà giáo viên khôngtrực tiếp cung cấp nhằm khắc sâu thêm kiến
thức đã học
1.2 Động từ:
Ngoài việc giúp học sinh nắm vững khái niệm về động từ theo sách giáo khoa Tôi chỉ
rõ cho học sinh thấy động từ được chia thành hai loại: động từ chỉ hoạt động và động từ chỉtrạng thái Động từ chỉ hoạt động là động từ do người hay vật thực hiện hướng tới những đối
tượng bên ngoài gây ra hành động, VD: Trồng, vẽ, viết, học, biếu, …Động từ chỉ trạng thái là
động từ biểu thị các ý nghĩa khác nhau của sự vật, ý nghĩa này có thể là trạng thái tồn tại, so
sánh, biến hóa, tiếp thụ, VD: mọc, nẩy, nhú, kém, thua, hóa, thành, sống, chết, có, còn, …
Ngoài ra trong tiết luyện từ và câu tuần 11, học sinh được cung cấp thêm kiến thức về
động từ đó là một số từ bổ sung ý nghĩa thời gian cho động từ (đã, đang, sắp) Từ các từ bổ
sung thời gian cho động từ, tôi giúp các em hiểu rõ hơn việc sử dụng các từ đó:
+ Sắp: nó cho biết sự việc sẽ gần tới lúc diễn ra.
Trang 14+ Đang: nó cho biết sự việc đang diễn ra.
+ Đã: nó cho biết những sự việc được hoàn thành rồi.
Như vậy học sinh hiểu được những từ bổ sung ý nghĩa cho động từ thì các em sẽ biếtcách sử dụng chúng cho phù hợp
Không chỉ cung cấp vốn từ trong tiết luyện từ và câu, mà tôi giúp học sinh củng cốvốn từ qua các tiết học khác hoặc qua sinh hoạt lớp, sinh hoạt 15 phút đầu giờ Trong các tiết
học như tập đọc, kể chuyện, luyện từ và câu, tập làm văn,…tôi yêu cầu học sinh nêu các
động từ liên quan, đề cao tính tích cực giúp học sinh nhớ
và biết dùng động từ phù hợp với đối tượng và ngữ cảnh
Ví dụ:
+ Sau giờ tập đọc, tôi ghi một câu trong bài, yêu cầu học sinh xác định động từ:“ Tối đến, chú đợi bạn học thuộc bài mới mượn vở về học” Học sinh nêu ý kiến của mình và tôi chốt lại: những động từ là: đợi, học, thuộc, mượn, học Thông qua bài học, từ câu các em vừa
xác định tôi cho học sinh thấy tinh thần tự học của trạng nguyên Nguyễn Hiền
+ Tiết kể chuyện “Bàn chân kì diệu”, nêu những động từ chỉ việc học của Kí khi dùngbằng chân: viết, vẽ, lật (vở), kẻ, …
………
Ngoài việc giúp học sinh hiểu rõ hơn về khái niệm động từ, cuối tuần 11, trong tiết
sinh hoạt lớp, tôi tổ chức cho học sinh trò chơi “Thi tìm động từ”, “Đặt câu có động từ”mục đích giúp học sinh khắc sâu hơn về động từ, không những thế qua những hoạt động
này, các em sẽ sôi nổi hơn trong học tập, học sinh giỏi sẽ hỗ trợ học sinh yếu khi bạn trả lờichưa chính xác…
Ví dụ: Tôi yêu cầu học sinh thực hiện theo yêu cầu sau:
+ Trong giờ học, học sinh phải làm những gì, em hãy nêu một số động từ nói về các hoạt động ấy Học sinh sẽ nêu theo suy nghĩ của mình, tôi yêu cầu học sinh khác nhận xét,
hỗ trợ bạn, như: đọc, lắng nghe, phát biểu, thảo luận, suy nghĩ, làm bài, viết bài, theo dõi,
hỗ trợ, tìm tòi, định hướng, hợp tác,…
Trang 15+ Trong khi chăm sóc bồn hoa của lớp, các em đã thực hiện những gì, hãy nêu một số động từ nói về các hoạt động ấy Học sinh nêu: nhổ (cỏ), nhặt (lá), xách (nước), tưới (hoa), xới (đất), bỏ (phân),…
+ Về nhà, ngoài giờ học em thường giúp bố mẹ làm những việc gì, em hãy nêu các động từ chỉ các hoạt động mà em đã làm ở nhà Học sinh nêu: quét (nhà), nấu (cơm), rửa (chén), giặt (quần áo), nhặt (rau), quét (sân), trông (em), lau (bàn ghế),
+ Đặt câu có chứa động từ em vừa tìm được ở trên, nêu rõ em sử dụng động từ nào Học sinh sẽ nối tiếp đặt câu: Bạn Mai đang đọc bài Giờ ra chơi, các bạn tổ em chăm sóc bồn hoa Buổi chiều, em thường quét nhà giúp mẹ …
Như vậy, từ những hoạt động “học mà chơi, chơi mà học” đã phần nào giúp các emnắm rõ hơn về động từ, biết sử dụng động từ để đặt câu,… đã khắc sâu hơn kiến thức đã họcmột cách nhẹ nhàng mà hiệu quả
1.3 Tính từ:
Qua giờ học tính từ ở tuần 11, 12 học sinh nắm được khái niệm về tính từ Từ kiến
thức của sách giáo khoa, tôi nhấn mạnh cho học sinh thấy được tính từ là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất của sự vật, hoạt động, trạng thái,… những từ miêu tả những đặc
điểm gì của sự vật, của hoạt động, của trạng thái nhằm giúp các em nắm chắc khái niệm vềtính từ
Ví dụ:
+ Nắng vàng (nắng là danh từ, vàng là tính từ miêu tả đặc điểm của nắng)
+ Đàn chim bay hối hả (bay là động từ, hối hả là tính từ miêu tả đặc điểm của bay ) + Bạn Lan học tập chăm chỉ (học tập là động từ, chăm chỉ là tính từ miêu tả tính chất
đó yêu cầu HS nêu được các tính từ theo những yếu tố sau: