SKKN Bồi dưỡng chuyên môn giáo viên Ngữ văn thông qua hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài họcSKKN Bồi dưỡng chuyên môn giáo viên Ngữ văn thông qua hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài họcSKKN Bồi dưỡng chuyên môn giáo viên Ngữ văn thông qua hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài họcSKKN Bồi dưỡng chuyên môn giáo viên Ngữ văn thông qua hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài họcSKKN Bồi dưỡng chuyên môn giáo viên Ngữ văn thông qua hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài họcSKKN Bồi dưỡng chuyên môn giáo viên Ngữ văn thông qua hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài họcSKKN Bồi dưỡng chuyên môn giáo viên Ngữ văn thông qua hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài họcSKKN Bồi dưỡng chuyên môn giáo viên Ngữ văn thông qua hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài họcSKKN Bồi dưỡng chuyên môn giáo viên Ngữ văn thông qua hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học
Trang 1Đề tài: BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN GIÁO VIÊN NGỮ VĂN
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG SINH HOẠT CHUYÊN MÔN
THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC
Năm học: 2015 - 2016
Thành quả ấy khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, khả năng quản lýcủa nhà nước… và sự góp phần tích cực của Giáo dục - đào tạo Giáo dục đàotạo có vị trí quan trọng để phát triển nguồn nhân lực, quyết định thành công củacông cuộc xây dựng đất nước Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo,phát triển nguồn nhân lực, đã từng được khẳng định trong các văn kiện Đảngtrước đây, đặc biệt là trong Nghị quyết số 29 của Hội nghị Trung ương 8, khóa
XI, khẳng định đây không chỉ là quốc sách hàng đầu, là “chìa khóa” mở ra conđường đưa đất nước tiến lên phía trước, mà còn là “mệnh lệnh” của cuộc sống Trong Văn kiện đại hội XII, kế thừa quan điểm chỉ đạo của nhiệm kỳtrước, Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo,phát triển nguồn nhân lực, xác định đây là một kế sách, quốc sách hàng đầu,tiêu điểm của sự phát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triểnnguồn nhân lực Việt Nam trong thế kỷ XXI, khẳng định triết lý nhân sinh mớicủa nền giáo dục nước nhà “dạy người, dạy chữ, dạy nghề”
Việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồnnhân lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới đang đặt ra ngày càng cấp thiết Một
giải pháp quan trọng được nêu là: Đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển năng lực và phẩm chất của người học
(theo Tạp chí Cộng sản)
Triển khai thực hiện chương trình hành động của Chính phủ về đổi mớicăn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo, mỗi đơn vị trường học cần căn cứ vàođiều kiện của đơn vị, tình hình thực tiễn của địa phương và định hướng chungcủa ngành để xây dựng cho mình những nội dung, kế hoạch, nhiệm vụ cụ thể
Trang 2thực hiện chương trình về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, tạo
sự chuyển biến tích cực trong ý thức, thái độ đến hành vi của cán bộ giáo viên
và học sinh Một việc làm truyền thống và đồng thời cũng là một biểu hiện cụthể, thiết thực, cần thiết vào bậc nhất của những sự đổi mới là đổi mới sinh hoạt
tổ chuyên môn, nhằm bồi dưỡng chuyên môn giáo viên, gắn kết giáo viên vớigiáo viên, không ngừng đổi mới phương pháp dạy học và tiếp tục nâng cao chấtlượng, bền vững hóa chất lượng hoạt động này trong nhà trường
I.1.2 Lý do chủ quan
Hòa mình vào dòng chảy của sứ mệnh đổi mới phương pháp dạy họctrong thời kỳ mới, đáp ứng tính khoa học, tính thời đại của sự nghiệp trồngngười ở thời điểm mang tính lịch sử của đơn vị: Trường THCS Lê Hồng Phongphấn đấu hoàn thành mục tiêu Trường chuẩn quốc gia trong năm 2016 Mụctiêu này đòi hỏi sự vận động không ngừng nghỉ của từng cá nhân, từng tổ chức,từng bộ phận và của cả tập thể thầy-trò gồm 1000 con người
Trong muôn vàn công việc thì việc tiếp tục đổi mới phương pháp, bềnvững hóa chất lượng dạy học là nhiệm vụ được nhà trường đặc biệt quan tâm vàtrách nhiệm được đặt trên vai người phụ trách chuyên môn của đơn vị Trongthời gian qua, đơn vị đã khéo léo kết hợp vận dụng sáng tạo nhiều phương phápdạy học khác nhau vào sự nghiệp dạy học của mình, là những phương pháp dạyhọc truyền thống từ cổ chí kim đến những phương pháp dạy học mới mẻ, hiệnđại Tuy nhiên, đổi mới đến khi nào là xong và đổi mới như thế nào là đủ? Khi
sự đổi mới này đã đáp ứng được nhu cầu của ngày hôm nay thì đến ngày mai nó
đã lỗi thời hoặc không đủ để áp dụng hiệu quả cho ngày mai
Có lẽ vì thế chăng, mà khép lại mỗi vòng xoay của Trái Đất quanh ôngMặt Trời lại đòi hỏi sinh khí mới cho một vòng xoay mới? Đổi mới không baogiờ là đủ cả Sự đổi mới của ngày hôm nay cũng không phủ nhận cái nền cũ củangày hôm qua Đổi mới phương pháp dạy học cũng vậy, nó phải là quá trìnhvận dụng và kết hợp hài hòa giữa phương pháp dạy học truyền thống vớiphương pháp dạy học hiện đại hoặc ít nhất là kết hợp tính ưu việt của phươngpháp dạy học hiện đại của ngày hôm qua với phương pháp dạy học hiện đại củangày hôm nay
Giữa một loạt các phương pháp, phương pháp luận, biện pháp, thủ thuật,phương tiện dạy học từ thuyết trình, bình giảng, diễn giảng, phân tích, đọc diễncảm, đọc chép, chép bảng đen, học thuộc lòng mang tính cung cấp kiến thức ápđặt thông qua thông cáo của thầy và tái tạo của trò, trò cứ nghe nhìn-ghi chép-ghi nhớ, thu nạp nặng lý thuyết, ít thực hành, kết quả học tập của trò được đánhgiá chỉ bởi kết luận của thầy đến dạy học tích cực, tích cực hóa hoạt động nhậnthức của người học như đặt và giải quyết vấn đề, thuyết trình ngắn, trao đổi,đóng vai, thảo luận nhóm, bài tập thực hành, động não, ứng dụng công nghệthông tin cùng các thiết bị đồ dùng dạy học hiện đại Người học tự học từ học
cá thể - phối hợp học tập hợp tác, kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá củatrò, trò đánh giá lẫn nhau để trò tự biến đổi tri thức của mình từ tác động củabên ngoài
Trang 3Cùng với các video, dụng cụ thí nghiệm, hệ thống bảng biểu – tranh ảnh,bản đồ tư duy, bảng nhóm, phiếu học tập, vật mẫu xuất hiện phục vụ các giờdạy học ngày nay với dạy học giải quyết vấn đề, dạy học thực hành, dạy học kỹnăng sống, dạy học tích hợp kiến thức liên môn, dạy học vận dụng kiến thứcliên môn vào giải quyết các vấn đề của thực tiễn, dạy học theo chủ đề, dạy họctheo đề án, dạy học phân hóa theo năng lực học sinh phát huy được sức mạnhcủa nó thì Bồi dưỡng chuyên môn giáo viên một cách thường xuyên, liên tục lànhiệm vụ số 1 của nhà trường
Thực hiện nhiệm vụ của mình, tôi chọn “Bồi dưỡng chuyên môn giáoviên” làm đề tài nghiên cứu của mình để nghiên cứu kỹ hơn, sâu hơn, nâng caohiệu quả công tác
I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
I.2.1 Mục tiêu
Góp phần đổi mới nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn, từ đó tập hợp vàphát huy sức mạnh trí tuệ tập thể, kinh nghiệm soạn giảng của từng cá nhân vàogiải quyết một bài học Đó là điều kiện tốt, là hoàn cảnh lý tưởng tạo nên nhữngsản phẩm của tập thể trên tinh thần tương tác và hợp tác tự giác tích cực củatừng giáo viên, hướng đến nâng cao chất lượng dạy của người điều khiển-người
tổ chức và nâng cao hiệu quả thi công của người học, góp sức giáo dục toàndiện các thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước
I.2.2 Nhiệm vụ
- Tìm hiểu, nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của đề tài
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động Bồi dưỡng chuyên môn giáo viên ởTrường THCS Lê Hồng Phong, huyện EaH'Leo, tỉnh Đắk Lắk năm học 2015-2016
- Đề xuất một số biện pháp cải tiến hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viêncủa đơn vị
- Rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo bồi dưỡng chuyên môngiáo viên ở đơn vị trong từng thời điểm qua từng năm học, có đánh giá và bổsung, điều chỉnh khi cần
I.3.Đối tượng nghiên cứu
- Hồ sơ Tổ chuyên môn, hoạt động chuyên môn của Tổ chuyên môn Văn-SửTrường THCS Lê Hồng Phong
- Hồ sơ chuyên môn, hoạt động chuyên môn của một số đồng chí giáo viên
THCS Lê Hồng Phong qua kiểm tra hồ sơ sổ sách, giáo án, dự giờ thăm lớp,giám sát việc thực hiện các hoạt động chuyên môn năm học
- Các đồng chí giáo viên Ngữ văn Trường THCS Lê Hồng Phong: Giáo án Ngữvăn, giờ dạy-học Ngữ văn (cả hoạt động học của học sinh), hoạt động dự giờ,rút kinh nghiệm môn Ngữ văn
I.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Người viết chỉ chọn một nội dung cho đề
tài nghiên cứu của mình
Bồi dưỡng chuyên môn giáo viên là hoạt động thường xuyên của mỗiđơn vị trường học với nhiều hình thức đa dạng phong phú khác nhau, diễn rathường xuyên liên tục không giới hạn thời gian Ngoài nhiệm vụ chung là giao
Trang 4nhiệm vụ và giám sát giáo viên thực hiện nhiệm vụ chuyên môn thì có một sốbiện pháp cụ thể trong bồi dưỡng chuyên môn, có thể kể đến một số hoạt độngnhư:
- Phân công chuyên môn hợp lý
- Hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đổi mới kiểm tra đánh giá
- Tập huấn chuyên môn giáo viên cấp tổ, cấp trường và cử giáo viên tham giabồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ chuyên môn của cấp trên tổ chức
- Phân công hỗ trợ, kèm cặp giáo viên
- Tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các loại hình đào tạo, tham gia hoạtđộng cụm tổ chuyên môn
- Dự giờ thăm lớp
- Thanh kiểm tra chuyên môn
- Tổ chức các cuộc thi chuyên môn cấp trường, bồi dưỡng, giúp đỡ giáo viêntham dự các cuộc thi chuyên môn do các cấp tổ chức như thi Giáo viên dạygiỏi, thi Sáng kiến kinh nghiệm, thi đồ dùng dạy học, thi giáo án điện tử, thi vậndụng kiến thức liên môn trong dạy học
Bồi dưỡng chuyên môn giáo viên trong thời gian gần đây được áp dụngmột số nội dung và hình thức mới như: “Dạy học theo dự án”, “Dạy học tíchhợp kiến thức liên môn”, “Dạy học lồng ghép giáo dục kỹ năng sống”, “Dạy
học theo chủ đề”, “Dạy học tự chọn” thì Sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học là hoạt động mới mẻ, nhiều bỡ ngỡ, lắm khó khăn trong
triển khai áp dụng Dù thế, song với ý chí thích khám phá và chinh phục cáimới - cái khó nên tôi đã lựa chọn sự mới mẻ này làm đề tài nghiên cứu của
mình Đề tài mang tên Biện pháp Bồi dưỡng chuyên môn giáo viên Ngữ văn thông qua hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học
ở trường THCS Lê Hồng Phong, huyện EaH'Leo, tỉnh Đắk Lắk, học kỳ I nămhọc 2015-2016 (do nhà trường tổ chức thu và chấm SKKN trong tháng 2 năm
2016 để kịp nộp PGD đối với sản phẩm của số giáo viên dự thi giáo viên dạygiỏi cấp huyện năm 2016 nên người viết chỉ có thể nghiên cứu ở học kỳ I nămhọc 2015-2016)
I.5 Phương pháp nghiên cứu:
I.5.1 Phương pháp đọc, nghiên cứu
- Đọc tài liệu về “Đổi mới sinh hoạt chuyên môn qua nghiên cứu bài học trongtrường THCS vùng khó khăn”
- Đọc, tìm hiểu thông tin trên Internet
- Đọc, nghiên cứu hồ sơ chuyên môn giáo viên, hồ sơ tổ chuyên môn Ngữ văn
I.5.2 Nghiên cứu lí luận
Cụ thể: Tìm hiểu, nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của đề tài
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động Bồi dưỡng chuyên môn giáo viên ở đơn vị
I.5.3 Phương pháp đàm thoại
- Trò chuyện, trao đổi với giáo viên, nắm bắt khó khăn, vướng mắc trong thựchiện
Trang 5- Thảo luận, phân tích cùng giáo viên, giúp giáo viên rút kinh nghiệm sau cáchoạt động.
- Thảo luận với tổ chuyên môn, thống nhất hướng giải quyết và thực hiện cácđiểm mới, điểm khó của biện pháp bồi dưỡng chuyên môn giáo viên này
I.5.4 Phương pháp điều tra sư phạm
- Điều tra trực tiếp bằng kiểm tra giáo án, hồ sơ tổ chuyên môn, dự giờ, phỏngvấn
- Điều tra gián tiếp bằng cách sử dụng phiếu điều tra
I.5.5 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Lấy kết quả nghiên cứu, đàm thoại, điều tra để phân tích và tổng hợp
I.5.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Xâm nhập thực tế và giám sát các hoạt động chuyên môn của giáo viên
- Chỉ đạo thực nghiệm các vấn đề đã được thống nhất chung hoặc rút kinhnghiệm sau các hoạt động chuyên môn, có đánh giá và bổ sung, thay thế nộidung khi cần
II PHẦN NỘI DUNG II.1 Cơ sở lý luận
Khái niệm
*Bồi dưỡng: -Theo Từ điển Tiếng Việt là làm cho tốt hơn, giỏi hơn.
-Theo Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam: làm tăng năng lực phẩmchất
*Bồi dưỡng: có thể hiểu đó là các hoạt động bồi bổ, làm tăng thêm trình độ
hiện có về kiến thức, kỹ năng, thái độ nhằm giúp cho cán bộ, giáo viên thựchiện đúng việc, đạt hiệu quả Đó là quá trình học tập để nâng cao trình độ, nănglực, kỹ năng, phẩm chất, đạo đức của giáo viên, để giáo viên thực hiện côngviệc tốt hơn
“Nghiên cứu bài học” có nghĩa là nghiên cứu và cải tiến bài học cho đếnkhi nó hoàn hảo (theo Catherine Lewis) Thuật ngữ này có nguồn gốc trong lịch
sử giáo dục Nhật Bản, từ thời MeiJi (1868-1912), như một biện pháp để nângcao năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông qua nghiên cứu cải tiến các hoạtđộng dạy học ở từng bài học cụ thể
Sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học là hoạt động màgiáo viên tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học trong một bàihọc như: học sinh học bài này như thế nào? Học sinh đang gặp khó khăn gìtrong học bài này? Nội dung, phương pháp dạy học bài học này có phù hợp, cógây hứng thú cho học sinh không, kết quả học tập của học sinh có được cảithiện không, cần điều chỉnh điều gì và điều chỉnh như thế nào?
Sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học không tập trungvào việc đánh giá giờ học, xếp loại giáo viên mà nhằm khuyến khích giáo viêntìm ra nguyên nhân tại sao học sinh học chưa đạt kết quả như mong muốn và cóbiện pháp nâng cao chất lượng dạy học, tạo cơ hội cho học sinh được tham giavào quá trình học tập; giúp giáo viên có khả năng chủ động điều chỉnh nội
Trang 6dung, phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh của trường, lớpmình.
số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hànhTrung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ; chútrọng phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục về năng lựcchuyên môn, nghiệp vụ; kỹ năng xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục theođịnh hướng phát triển năng lực học sinh, năng lực đổi mới phương pháp dạyhọc, kiểm tra đánh giá ; chú trọng đổi mới sinh hoạt chuyên môn
- Ngành rất chú trọng đến công tác Bồi dưỡng chuyên môn giáo viên,hàng năm đều tổ chức các đợt tập huấn chuyên môn, các cuộc thi về chuyênmôn, chú trọng công tác đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá.Đồng thời cũng cử giáo viên cốt cán của các trường, của ngành tham gia tậphuấn các lớp bồi dưỡng chuyên môn giáo viên theo các kênh khác nhau như
"Đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học", "Vận dụngkiến thức liên môn để giải quyết vấn đề thực tiễn đối với học sinh, dạy học theochủ đề tích hợp đối với giáo viên", "Kiểm tra đánh giá theo hướng phát triểnnăng lực học sinh", thi giáo viên dạy giỏi, thi Đồ dùng dạy học, chỉ đạo hoạtđộng theo Cụm tổ chuyên môn/Cụm chuyên môn Đó là những điều kiệnthuận lợi để giáo viên được cọ sát, được giúp đỡ, được giao lưu học hỏi giữacác đơn vị, được khẳng định bản thân, nâng cao năng lực sư phạm phục vụcông tác
- Trường THCS Lê Hồng Phong là trường học hạng I, gồm 25 lớp với sựhội tụ của 59 cán bộ giáo viên công tác và gần 1000 học sinh học tập Quy môtrường lớp lớn, lượng giáo viên đông, có điều kiện cọ sát, kích thích và giúp đỡlẫn nhau vươn lên trong công tác Nhà trường có 08 giáo viên Ngữ văn, có02/03 cán bộ quản lý của đơn vị có chuyên môn Ngữ văn, đó cũng là điều kiệnthuận lợi thúc đẩy hoạt động Ngữ văn của đơn vị Nhà trường cũng có nhiềuđồng chí là giáo viên cốt cán của Ngành, xứng đáng đứng ở mũi tiên phong đểđồng nghiệp học hỏi Nhà trường luôn quan tâm, tạo điều kiện tối đa để giáoviên được bồi dưỡng chuyên môn phục vụ công tác giáo dục của đơn vị
- 100% giáo viên Ngữ văn của đơn vị có trình độ Đại học, có sức khỏetốt, có đam mê chuyên môn và có nhiệt huyết với nghề, có phân tầng ở các độtuổi khác nhau, có 01 nam, có 07 nữ Ở độ tuổi trung bình là 34, có cuộc sốngtương đối ổn định, có điều kiện đầu tư cho công tác chuyên môn, đáp ứng yêucầu đổi mới trong dạy-học
Khoa học công nghệ thông tin phát triển, nhà trưởng có máy tính, có Wifi
đủ mạnh, đáp ứng nhu cầu giáo viên trao đổi thông tin trên Internet Ở thời
Trang 7điểm này, hầu hết giáo viên đều sử dụng điện thoại thông minh, có thể ghi âm,ghi hình, quay video giờ dạy trên chính điện thoại của mình Đây cũng là thuậnlợi giúp giờ dạy minh họa hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiêncứu bài học thành công.
- Ngữ văn là sự kết tinh của ngôn ngữ với văn học Ngữ văn là tinh hoavăn hóa dân tộc, nó có tác dụng lưu truyền những giá trị tốt đẹp của con ngườiqua các thời đại khác nhau, giúp con người ta cảm nhận được vẻ đẹp muôn màucủa cuộc sống, của nhân loại, bồi dưỡng cho con người ta tâm hồn đẹp, suynghĩ đẹp, hành vi đẹp và lối sống đẹp Cũng bởi vậy, đây là môn học giữ vị tríquan trọng trong nhà trường, được học sinh và phụ huynh xem là môn họcchính
* Khó khăn
- Năm học 2015-2016 là năm học gắn liền với “đổi mới” và “tiếp tục đổimới” từ nội dung đến phương pháp dạy học và sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn.Cũng trong năm học này, ngoài nhiệm vụ dạy học chính khóa, giáo viên phải tổchức cho học sinh nhiều hoạt động ngoại khóa, nhiều hoạt động thi đua và giáoviên sẽ tham gia rất nhiều cuộc thi như “dạy học theo chủ đề”, “vận dụng kiếnthức liên môn vào dạy-học”, thi thiết kế bài giảng E-Learning, thi giáo viên dạygiỏi, thi sáng kiến kinh nghiệm, thi đồ dùng dạy học cùng các Hội Thao, HộiDiễn khiến giáo viên bị chi phối bởi nhiều điều, nhiều nội dung
- Sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học là phương phápmới mẻ, đầy bỡ ngỡ; sự chuẩn bị để áp dụng phương pháp này vào trường họcchưa chu đáo, thế là phải vừa học vừa làm Bản thân người phụ trách chuyênmôn không được tập huấn sâu mà phải tự mày mò, tự học để chỉ đạo và điềuhành, hẳn đó là khó khăn Thêm nữa, để sản phẩm của nghiên cứu bài học đượcchào đời bởi những giờ dạy cụ thể khiến các tổ chuyên môn phải đầu tư rấtnhiều thời gian, tập trung nhiều trí lực Đã thế, cùng môn học nhưng người dạybuổi sáng, người dạy buổi chiều, thời khóa biểu dày đặc, nhiều khi các tổchuyên môn phải họp cả ngoài giờ hành chính để đáp ứng “tính thời sự”
- Giữa nhịp sống hiện đại với sự phát triển thần tốc của khoa học côngnghệ, của công nghiệp hóa hiện đại hóa khiến suy nghĩ và lối sống của conngười ta cũng trở nên thực dụng và thực tế hơn Sự đầu tư của đại bộ phận phụhuynh và học sinh là ưu tiên hàng đầu cho các môn khoa học tự nhiên và Ngoạingữ Say mê học Ngữ văn chỉ là con số khiêm tốn Thêm nữa, Tiếng Việt kháphức tạp còn Văn học thì kén chọn, đòi hỏi người học phải có một tâm hồnrộng mở, biết rung cảm trước nghệ thuật ngôn từ thì mới có thể học tốt môn họcnày Và thế là khoảng cách lại được nới xa khiến thầy giáo Ngữ văn thêm vất
vả để gắn bó học trò với môn học của mình
- Giáo viên Ngữ văn của đơn vị có 50% cư trú trên địa bàn xã EaNam,50% còn lại cư trú rải rác ở Thị trấn EaĐrăng, DliêYang Sự xa xôi, cách trở vềđịa lý cũng gây không ít khó khăn, trở ngại trong quá trình công tác tại đơn vịcủa số giáo viên này Có 02/08 giáo viên Ngữ văn của đơn vị là giáo viên Hợpđồng ngắn hạn, chưa thực sự yên tâm công tác, có 01 giáo viên trẻ mới ratrường, kinh nghiệm công tác còn ít ỏi Thêm nữa, cũng như những người bình
Trang 8thường khác, gánh nặng nhọc nhằn của cuộc sống thường nhật ít nhiều cũng chiphối và làm bào mòn xúc cảm văn chương của thầy cô giáo Ngữ văn.
- Là Trường THCS của một xã vùng II, học sinh của đơn vị là sự góp mặt
từ 20 thôn buôn khác nhau trên địa bàn trải rộng, dân cư rải rác, đường xá đi lạikhó khăn - bụi mù vào mùa khô, lầy lội vào mùa mưa, năng lực nhận thứckhông đồng đều, hoàn cảnh kinh tế không ít gia đình còn nhiều khó khăn, tỷ lệhọc sinh dân tộc cao, sự cách biệt ít nhiều về ngôn ngữ và phong tục tập quán khiến kết quả học tập của một bộ phận học sinh chưa đền đáp như mong muốncông sức của người thầy Thêm nữa, ít nhiều giáo viên còn tâm lý hay “sợ” như
sợ học sinh không quen nếu mình quay phim, ghi hình tiết dạy, sợ học sinhkhông thực hành được đó cũng là rào cản tâm lý cần phá vỡ
- Giờ dạy theo hướng nghiên cứu bài học thường là đơn vị bài học lýtưởng cho hoạt động nhóm của người học Hoạt động nhóm/giờ học sẽ hiệu quảhơn đối với lớp học dưới 35 học sinh để giáo viên quan sát, giám sát và giúp đỡcác nhóm sâu sát hơn, hiệu quả hơn Tuy nhiên, sĩ số bình quân của đơn vị là 38học sinh/lớp, khiến người thầy khó “xoay sở” Nói chung, điều kiện dạy họccủa đơn vị còn hạn chế, không đáp ứng được yêu cầu về các phương tiện, điềukiện dạy học hiện đại phục vụ môn học, càng không có điều kiện tổ chức chogiáo viên và học sinh “trải nghiệm thực tế”, “trải nghiệm hiện thực”… để xâmnhập thực tế cũng như bồi dưỡng tình cảm, tri thức và năng lực chuyên môncho giáo viên, học sinh
II.2.2 Thành công – hạn chế
* Thành công
- Đội ngũ giáo viên của đơn vị có truyền thống tích cực tương trợ lẫnnhau giúp đồng nghiệp hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học Cũng là đội ngũ cótinh thần bồi dưỡng chuyên môn tương đối cao, tích cực cọ sát chuyên môn vànhiều đồng chí được khẳng định qua kỳ thi giáo viên dạy giỏi các cấp Tính đếnnăm học 2015-2016 THCS Lê Hồng Phong có 07 giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh,
17 giáo viên dạy giỏi cấp huyện rải khá đều ở các bộ môn khác nhau Riêngmôn Ngữ văn có 01 CBQL và 01 giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, 03 giáo viên dạygiỏi cấp huyện Đó là lực lượng vừa có năng lực chuyên môn giỏi lại vừa cókinh nghiệm giảng dạy lâu năm, có sự trải dài về trải nghiệm sống Đó là nhữnghạt giống tốt để nhân rộng điển hình
- Phục vụ hoạt động chuyên môn, hàng năm giáo viên của đơn vị nhiệttình tham gia các đợt bồi dưỡng chuyên môn của ngành, của đơn vị Song songvới nhiệm vụ đứng lớp, đội ngũ giáo viên của đơn vị rất tích cực trong thựchiện các nhiệm vụ giáo dục khác như đầu tư nghiên cứu khoa học thông quahoạt động viết sáng kiến kinh nghiệm, làm đồ dùng dạy học, tham gia các cuộcthi, bồi dưỡng-hướng dẫn học sinh hoàn thành sản phẩm dự thi các cấp và đạtđược nhiều thành tích đáng kể trong đó có sức góp của lực lượng giáo viênNgữ văn, cụ thể:
+ Năm học 2014-2015
Về phía giáo viên: có 14 sáng kiến kinh nghiệm dự thi các cấp, trong đó:
02 Sáng kiến kinh nghiệm đạt giải B cấp huyện, 04 Sáng kiến kinh nghiệm đạt
Trang 9giải C cấp huyện, 08 Sáng kiến kinh nghiệm đạt giải B cấp trường Có 41giáoviên dạy giỏi cấp trường, chiếm tỷ lệ 89.13%, tất cả các giờ dạy được dự giờthăm lớp đều được xếp loại từ khá trở lên Hồ sơ Tốt có 40/47 bộ chiếm tỷ lệ85.1%, số còn lại đạt loại khá Có 14 giáo viên được thanh tra toàn diện, kếtquả: Xếp loại Xuất sắc đạt 13 đ/c, chiếm tỷ lệ 92.85%, Xếp loại Khá: 01 đ/c,chiếm tỷ lệ 7.14%) Trong đó 01 CBQL chuyên môn Ngữ văn và 01 giáo viênNgữ văn có SKKN đạt giải B cấp huyện, có 100% giáo viên Ngữ văn đạt giáoviên dạy giỏi cấp trường, 100% giáo viên Ngữ văn đạt Hồ sơ tốt cấp trường vàthực hiện tốt quy chế chuyên môn, là tổ chuyên môn xuất sắc của đơn vị.
Về phía học sinh có 13 học sinh đạt học sinh giỏi khối 9 các môn văn
hóa cấp huyện, có 02 em đạt học sinh giỏi khối 9 các môn văn hóa cấp tỉnh, có
27 em đạt học sinh giỏi thể dục thể thao cấp huyện, có 02 em đạt học sinh giỏiOlympic Tiếng Anh cấp huyện, có 01 em đạt học sinh giỏi Olympic Tiếng Anhcấp tỉnh, có 01 em đạt học sinh giỏi Olympic Toán cấp tỉnh, có 01 em đạt giảinhất cuộc thi “Em yêu Lịch Sử Việt Nam” cấp huyện, có 01 em đạt giải nhìcuộc thi “Vận dụng kiến thức liên môn ” cấp tỉnh Đội tuyển học sinh dự thi
"Tiếng hát tuổi thơ cấp huyện 2015" đạt giải A Đội tuyển học sinh dự thi "Giaiđiệu tuổi hồng cấp huyện 2015" đạt giải A Những thành tích này đều có sựchung tay góp sức của đội ngũ giáo viên Ngữ văn của đơn vị
+ Năm học 2015-2016 nhà trường tổ chức thành công các cuộc thi cấptrường, thành lập đội tuyển và hoàn chỉnh các sản phẩm dự thi cấp huyện, kếtquả:
Về phía giáo viên: Đạt 01 giải khuyến khích cuộc thi Giáo án điện tử cấphuyện Có 03/03 sản phẩm dự thi cấp huyện, kỳ thi “vận dụng kiến thức liênmôn ” cả 03 giáo án đều đạt giải, trong đó có 01 giải nhất, 01 giải nhì, 01 giảikhuyến khích và cả 03 hồ sơ đều được dự thi cấp tỉnh 03 kỳ thủ của đơn vị dựthi giải Cờ tướng CBVC ngành giáo dục 2016, đã vô địch ở cả nội dung tập thể
và cá nhân
Về phía học sinh: đạt 01 giải ba cấp huyện, được dự thi cấp tỉnh kỳ thi
“vận dụng kiến thức liên môn” Dự thi học sinh giỏi Olympic Tiếng Anh đạt 07
em cấp huyện, 01 em cấp tỉnh) Đạt 06 em học sinh giỏi các môn văn hóa cấphuyện (04 em bồi dưỡng thi tỉnh) Tham dự Hội khỏe phù đổng EaH’Leo năm
2016 đạt giải nhất toàn đoàn cấp huyện với 50 huy chương các loại và đạt 7 huychương cấp tỉnh
Riêng đối với hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bàihọc, trong học kỳ II năm học 2014-2015 nhà trường đã triển khai thực hiệnđược 01 bài/nhóm, tổ bộ môn Trong năm học 2015-2016 nhà trường đã triểnkhai thực hiện tương đối đồng bộ, với số lượng 01 bài/giáo viên dạy minh họa ởtừng tổ chuyên môn
*Hạn chế
Đại đa số, giáo viên nói chung, giáo viên Ngữ văn nói riêng vẫn chưaphát huy tối đa mọi nguồn lực một cách thường xuyên liên tục Sự đầu tư hếtmực nhiều khi chỉ được phát huy tối đa ở từng hoàn cảnh, từng điều kiện, nhất
là các cuộc thi, những tiết dạy được dự giờ thăm lớp, những chuyên đề chuyên
Trang 10môn Chắc chắn chất lượng của các tiết dạy thường nhật so với các tiết dạy nàycòn là một khoảng cách xa xôi.
Thường thì hoạt động rút kinh nghiệm giờ dạy cần được thực hiện ngaysau khi giờ dạy kết thúc để đảm bảo tính thời sự và không làm ảnh hưởng đếncác hoạt động tiếp theo Cũng theo đó, chủ yếu hoạt động này được diễn ra kiểutranh thủ như tranh thủ giờ giải lao, tranh thủ đầu buổi, cuối buổi học, buổi họp
“Sự tranh thủ” đầu buổi và giờ giải lao dẫn đến việc vội vàng “Sự tranh thủ”cuổi buổi, cuối ngày làm việc thì “tội nghiệp” vì nhiều khi “cuộc hội ý” sôi nổiđược kết thúc khi đã tối mịt và các thầy cô còn phải vượt đoạn đường trên10km để về nhà Cùng với thói quen sao nhãng trong ghi chép thì đây là những
tác động dẫn đến việc tích lũy thông tin bằng văn bản bị hạn chế Mặc dù thực
tế sinh hoạt rút kinh nghiệm diễn ra rất sôi nổi, rất chất lượng và người dự họp
khi đó đã “rất thấm nhuần”, đã ghi nhớ sâu sắc nội dung thông tin buổi làm việcnhưng thói quen chủ quan trong ghi nhớ bằng não bộ, ít ghi chép hoặc ghi chép
sơ sài khiến thông tin bị mai một theo thời gian, ý nghĩa đúc rút kinh nghiệm bịhạn chế, lưu thông tin vào hồ sơ không đầy đủ, thậm chí là sơ sài
Về phía học sinh: Mặc dù tỷ lệ học sinh khá giỏi của đơn vị tương đốicao, tỷ lệ giao động hàng năm đạt từ 50-60% nhưng số học sinh thực sự yêumến, say mê học môn Ngữ văn rất ít ỏi Đáng chú ý là một số ít em còn lúngtúng khi làm bài tập làm văn, hành văn khó khăn Nhiều em kỹ năng trình bàycòn hạn chế, kỹ năng tự bộc lộ càng hạn chế hơn Hoạt động nhóm tổ thực sựgiúp học sinh khá giỏi phát huy và thể hiện năng lực bản thân Ngược lại, sốhọc sinh yếu kém, học sinh người dân tộc thiểu số còn thụ động, còn ỷ lại, chưahoàn thành trách nhiệm cá nhân Đó cũng là rào cản không nhỏ ảnh hưởng khảnăng hòa nhập, khả năng sẻ chia của các em khi bước chân ra ngoài cuộc sống
và cũng phản ánh chân thực một phần sản phẩm của hoạt động dạy-học mônNgữ văn trong nhà trường
II.2.3 Mặt mạnh – mặt yếu:
* Mặt mạnh
Lực lượng giáo viên Ngữ văn luôn là lực lượng chiếm ưu thế về mặt sốlượng trong nhà trường Đặc biệt, số giáo viên Ngữ văn trong trường học cótrình độ trên chuẩn luôn chiếm tỷ lệ cao, được đào tạo từ nhiều trường sư phạmkhác nhau của đất nước (08 giáo viên Ngữ văn của đơn vị được đào tạo từ 08trường Đại học khác nhau) Đây là điều kiện quan trọng phục vụ việc giáo viêngiao lưu, cọ sát về chuyên môn, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy lẫnnhau trong tổ chuyên môn
Giáo viên Ngữ văn của đơn vị là những người có trách nhiệm cao trongsoạn giảng Họ chăm chỉ trong tìm tòi, khám phá, đầu tư cho tiết dạy Từ việcứng dụng công nghệ hiện đại đến việc sử dụng các trang thiết bị dạy học hoặccác phương pháp dạy học truyền thống đều được giáo viên coi trọng Đồngthời, luôn có thói quen tích cực trong giáo dục đạo đức học sinh, uốn nắn họcsinh, đầu tư cao cho lớp chủ nhiệm, gắn bó với trường lớp, có tinh thần cầu tiến
rõ rệt
Trang 11Giáo viên Ngữ văn thường có nhiều năng khiếu, có “tài lẻ”, có vốn từngữ dồi dào, có khả năng diễn đạt phong phú Do đó, ngoài hoạt động giảngdạy, người giáo viên Ngữ văn có thể phát huy bản thân ở nhiều lĩnh vực khác,cũng có thể tham gia vào nhiều tổ chức chính trị - xã hội, các hoạt động văn họcnghệ thuật… trải nghiệm nhiều, tích lũy được nhiều vốn sống và kinh nghiệm
để vận dụng vào công tác, vào tích hợp giáo dục học sinh trong dạy – học
Những "thế mạnh" ấy khiến người giáo viên Ngữ văn thuận lợi và tự tintrong giao tiếp nói chung, trong giáo dục, cảm hóa học sinh nói riêng, nhất làvới học sinh cá biệt
Riêng với Hoạt động Sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bàihọc, tổ chuyên môn Ngữ văn luôn cán đích trước các tổ chuyên môn khác sovới kế hoạch hoạt động đã đề ra, tạo được không khí thi đua sôi nổi trong nội
bộ tổ chuyên môn
* Mặt yếu
Tổ chức thực hiện chưa thực sự mạnh mẽ Chưa phát huy được tối đa sứcmạnh trí lực tập thể một cách chủ động trên tinh thần tự nguyện tự giác củagiáo viên Nhiều khi nhiệm vụ được thực hiện còn mang tính giao khoán nhưgiao đầu việc, giao nhóm phụ trách, giao dạy minh họa lần lượt
Ngại thay đổi là rào cản không nhỏ, khi giáo viên nghĩ: Cách đã làm làtốt rồi-làm theo cách cũ cho tốt đã chuẩn rồi, bày vẽ làm gì-như cách làm cũhọc trò vẫn giỏi đấy thôi, đứa thành đạt này, đứa nên nghiệp nọ Những ý nghĩ
ấy đã ngăn cản, thậm chí là chặn đứng con đường nghiên cứu cho những sángtạo mới mẻ ra đời
Trong giáo viên còn tồn tại tư tưởng ỉ lại Lẽ ra, khi đã thống nhất lựachọn một đơn vị bài học nào đó để nghiên cứu thì mọi thành viên trong tổ(nhóm) bộ môn phải chủ động tự giác chuẩn bị trước ở nhà phương án tổ chứcthực hiện bài học, chuẩn bị trước ý kiến đóng góp, đề xuất áp dụng đối với từngđối tượng hoặc từng kiểu đối tượng học sinh như cải tiến nội dung gì, sử dụngphương pháp nào, chuẩn bị trang thiết bị đồ dùng dạy học ra sao, người họcđược đáp ứng những gì ở từng nội dung như thế nào… Tuy nhiên, về cơ bản thì
giáo viên còn tư tưởng trông chờ và ỷ lại, với suy nghĩ: chắc là mọi người chuẩn bị rồi- A dạy thì A chuẩn bị kỹ rồi- mình chỉ phụ họa thêm thôi mà…
Cùng với tư tưởng ỷ lại là một chút tự cao Vì sao, vì đó đây trong tâm
tưởng giáo viên của chúng ta còn tồn tại suy nghĩ điều đồng nghiệp nói cũng là điều mình đã biết-cũng thế thôi, chẳng hơn gì cả.
II.2.4 Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
Thực tế cho thấy có nhiều nguyên nhân và nhiều yếu tố tác động, chiphối kết quả hoạt động chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học Tuy nhiên,xem xét tổng quan thì có thể kể đến một số những nguyên nhân và tác động cănbản như sau:
Đối với các cấp quản lý: Thực hiện nhiệm vụ công tác của mỗi năm học,các cấp quản lý phải cùng một lúc đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác nhau, đóngvai nhiều vai trò khác nhau, trong đó có những công việc mang tính cấp bách,trọng tính thời điểm Riêng chuyên môn bậc học THCS cũng phải triển khai áp
Trang 12dụng nhiều nội dung, nhiều mới mẻ, do vậy, mỗi cán bộ quản lý được chi phốibởi nhiều mảng, nhiều việc, không đủ khả năng quán xuyến, giám sát, điềuchỉnh một cách chặt chẽ đến từng ngóc ngách của vấn đề, do đó, chất lượngviệc sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học chủ yếu phụ thuộcvào chất lượng hoạt động của các tổ chuyên môn.
Đối với giáo viên: Vốn dĩ giáo viên đã ngại đổi mới, ngại sáng tạo vì sẽphải đầu tư rất nhiều thời gian, nhiều công sức, lại còn chưa được chuẩn bị kỹlưỡng, chưa được tập huấn căn bản, chủ yếu tự nghiên cứu tài liệu, dưới hìnhthức vừa học vừa làm trước nhiều bỡ ngỡ và bộn bề công việc Số giáo viên trẻthì chưa mạnh dạn trong đề xuất, trao đổi và thảo luận, có 02 giáo viên dạy hợpđồng ngắn hạn, kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều Số giáo viên lớn tuổi vốn
dĩ đã quen với nếp cũ, cách làm cũ đến mức trở thành kỹ năng, kỹ xảo, nên họrất ngại “thay cũ đổi mới”, ngại “thêm thêm thắt thắt” phương pháp này nọ,ngại phải lao tâm khổ tứ “mò mò mẫm mẫm” trên máy vi tính để đáp ứng cáimới Và thực tế là họ vẫn dạy học rất hiệu quả bằng những phương pháp đang
áp dụng
Đối với học sinh: người dân xã EaNam chủ yếu sinh nhai bằng nghề làmrẫy (canh tác cây cà phê) Do đó, song song với việc học, đại đa số học sinh củađơn vị phải phụ giúp gia đình làm nương rẫy Cá biệt, có những học sinh lànhân lực lao động chính của gia đình, các em chưa có điều kiện tốt nhất để đihọc Cá biệt, một số em còn để bản thân bị chi phối bởi những trò tiêu khiển vô
bổ, chưa giành nhiều thời gian cho việc học
Đối với điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng dạy học, tài liệunghiên cứu của nhà trường: còn thiếu thốn, mới chỉ đáp ứng được những nhucầu tối thiểu, chưa đáp ứng cao yêu cầu nhiệm vụ, chưa tạo được điều kiện dạy-học tốt nhất cho giáo viên- học sinh
Mặt trái của cơ chế thị trường, mặt trái của công nghệ thông tin, nhữngphức tạp của xã hội, hoàn cảnh gia đình, điều kiện sống-sinh hoạt của giáo viên,tâm lý lứa tuổi học trò THCS và tình hình học sinh cũng tác động phần nàođến quá trình và kết quả bồi dưỡng chuyên môn giáo viên
II.2.5 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra
Đề tài xin được phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động Bồi dưỡngchuyên môn giáo viên Ngữ văn của đơn vị thông qua hoạt động Sinh hoạtchuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học năm học 2015-2016 như sau:
*Thực trạng
Bắt đầu từ học kỳ II năm học 2014-2015, Trường THCS Lê Hồng Phong
đã áp dụng thực hiện nhiệm vụ đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướngnghiên cứu bài học với số lượng 01 lần/tổ, nhóm bộ môn và tổ chức thực hiệntheo đúng kế hoạch
Trong năm học 2015-2016, Trường THCS Lê Hồng Phong đã áp dụngthực hiện nhiệm vụ đổi đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứubài học với số lượt tổ chức bằng số lượng giáo viên/tổ, đảm bảo 01 giáo viênđược dạy minh họa 01 tiết/học kỳ 01 lần/tổ, nhóm bộ môn Riêng bộ môn Ngữ
Trang 13văn được áp dụng thực hiện 08 lượt/08 giáo viên Ngữ văn/học kỳ, với các đơn
vị bài học như sau:
Stt Tên bài dạy Tiết
19 25.9.2015 9A5 Lục Minh Châu
03 Tình thái từ 27 14.10.2015 8A2 Võ Thị Vân
04 Ngôi kể trong văn tự sự 33 21.10.2015 6A1 Bùi Thị Thúy Hằng
05 Nói giảm, nói tránh 40 04.11.2015 8A4 H Loan Niê Kđăm
06 Chữa lỗi dùng từ 23 07.10.2015 6A5 Hà Thị Luyến Ái
07 Từ trái nghĩa 39 01.11.2015 7A3 Phan Thu Thảo
08 Tổng kết về từ vựng 43 26.10.2015 9A1 Đinh Thị Như
HườngBiểu liệt kê ở trên cho thấy, tại học kỳ I, quý thầy cô giáo tổ Ngữ văn củađơn vị đã chọn mảng kiến thức Tiếng Việt với sự phong phú, từ Từ ngữ, Ngữpháp đến Tập làm văn và phân bố rải rác tương đối đồng đều từ khối lớp 6 đếnkhối lớp 9 Đây cũng là những đơn vị bài học hay, bản thân bài học luôn mangtính thời sự, tính giáo dục ứng dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống và làm văncho các em Trong học kỳ II, quý thầy cô sẽ tiếp tục “sự nghiệp” với chủ yếu làphân môn Văn và Tập làm văn
Đồng thời sự phân bố về mặt thời gian tổ chức thực hiện cũng phản ánhđậm nét tính thời điểm Phân bố mang tính tụ điểm hoặc đều khắp đều có tínhhai mặt Tuy nhiên, đặt trong mối quan hệ hoàn cảnh-sự việc trong sự mới mẻthì tụ điểm thời gian tạo tính hứng thú rõ nét, tạo sự tập trung, tạo không khígắn bó đồng nghiệp với đồng nghiệp một cách mạnh mẽ, đủ để tiếp sức, đủ đểgiúp đỡ lẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ và tạo âm hưởng của một phân kỳ côngtác
Những đơn vị bài học của phân môn Tiếng Việt như kể trên mang dángdấp “khuôn viên mở” để thầy cô và học sinh thỏa sức sáng tạo Sự rập khuônmáy móc bị xếp qua một bên cho phong phú gần gũi các dẫn giải, các ví dụ, cácngữ liệu được trao đổi và trình bày bởi quá trình phản ánh sinh động thực tếcuộc sống, học tập, các mối quan hệ gia đình-trường lớp-bè bạn-xã hội cũngnhư trích dẫn từ các câu văn viết, các trích dẫn từ bài tập làm văn của các em
Có thể nói, những tiết Tiếng Việt đó là hoàn cảnh, là điều kiện thích hợpcho các em thỏa sức hoạt động nhóm Hoạt động tập thể được thực hiện từnhóm đôi, nhóm cặp-các em đối thoại đến nhóm nhỏ, các em phân vai dựnghoạt cảnh đến các nhóm lớn thi đua lẫn nhau, như ngày hội ngôn ngữ, trau dồicho nhau vốn từ, sử dụng hiệu quả từ ngữ đến những cách diễn đạt ý nhị, thểhiện sự tinh tế của người nói, mang tâm trạng thoải mái đến với người tiếp nhậnlời
Trang 14Đặc biệt, trên tinh thần “không né tránh” các tiết dạy của phân môn Tậplàm văn - phân môn được mệnh danh là “khô” “khó” và “khổ” Trong quá trìnhthao giảng, dự giờ thăm lớp của mình, Tổ Ngữ văn của đơn vị luôn giành thờigian cho phân môn này Tiết dạy Tập làm văn luôn hao tốn nhiều công sức củangười dạy Kết quả tiết dạy phụ thuộc rất nhiều vào học trò, mà đặc thù họcsinh vùng II của đơn vị thì đó không phải “đất” để “diễn” Cũng bởi vậy, cáctiết dự giờ Tập làm văn luôn chiếm nhiều thời gian nhất cho tất cả các khâu, từchọn tiết, xây dựng giáo án, rút kinh nghiệm giờ dạy
Bài dạy minh họa được thiết kế một cách linh hoạt, sáng tạo, không rậpkhuôn máy móc theo quy trình tiết dạy, các bước dạy theo sách giáo khoa hoặchướng dẫn trong sách giáo viên Giáo án có thể điều chỉnh một phần mục tiêubài học, thay đổi ngữ liệu dạy học, điều chỉnh một chút thời lượng giờ học(nhưng không quá 50’/tiết) Các hoạt động được thiết kế đều nhằm hướng đếnmục tiêu của bài học Nhóm thiết kế có thể lựa chọn các phương pháp, kỹ thuậtdạy học, đồ dùng dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh, đặc biệt là họcsinh yếu kém, học sinh dân tộc thiểu số
Thông thường thì giờ dạy trên lớp của giáo viên phản ánh toàn bộ những
gì họ tích lũy, họ bồi dưỡng và luyện tập được Tiết dạy cũng là hoàn cảnh thểhiện tinh thần trách nhiệm của họ, tâm huyết của họ với nghề, tình cảm của họđối với "những đứa con thơ" Hơn hết, tiết dạy phản ảnh rõ nhất sự đầu tư củangười thầy qua nghiên cứu bài dạy-soạn giáo án-chuẩn bị đồ dùng và các điềukiện dạy học khác Kết quả giờ dạy là thước đo trình độ chuyên môn nghiệp vụ,năng lực sư phạm, kỹ năng xử lý tình huống thực tế, tư cách nhà giáo của ngườithầy Và, giờ dạy trên lớp quyết định cơ bản chất lượng giáo dục của học sinhnói chung, chất lượng bộ môn của môn học nói riêng
Khi giáo án tiết minh họa còn là sản phẩm của tập thể thì khâu dự giờthăm lớp giờ dạy minh họa là một mắt xích quan trọng của quy trình Phụ tráchchuyên môn và các tổ chuyên môn chủ động kế hoạch dạy minh họa-bố trí dựgiờ thăm lớp Vượt qua ranh giới thói quen ngồi dự ở cuối lớp Ở những tiếtdạy minh họa, người dự linh hoạt lựa chọn chỗ ngồi phù hợp và thuận lợi, saocho dễ quan sát, ghi chép, ghi hình, vẽ sơ đồ học sinh để nắm bắt tốt nhất hoạtđộng của học sinh, từ biểu hiện tâm lý đến thái độ, hành vi và hoạt động cụ thể
Về đơn vị bài học: Chọn lựa mang tính chiến lược, có sự kết hợp hài hòakiến thức các đơn vị bài học theo hướng xoay vòng từ 6-9, có tính “làm quen”đối với khối 6 (01 tiết/học kỳ I), có tính “ưu tiên” đối với khối 9 (02 tiết/học kỳI) Có sự phân luồng giữa các phân môn theo học kỳ giữa Tiếng Việt-tập làmvăn/học kỳ I và văn-tập làm văn/học kỳ II)
Trang 15Về nội dung, giáo viên phải giúp học sinh giải quyết được nội dung tiếthọc đáp ứng mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ theo chuẩn kiến thức, kỹnăng Đảm bảo tính tối thiểu trong nhận thức và vận dụng đối với học sinhtrung bình trở xuống, đảm bảo tính phát huy đối với học sinh khá giỏi.
Giáo dục học sinh nhân cách đạo đức con người Việt Nam về những nétđẹp của phẩm chất người Việt như kiên cường dũng cảm trong chiến đấu, cần
cù sáng tạo trong lao động sản xuất, giản dị chan hòa trong lối sống, tinh tế taonhã trong đối xử và mạnh mẽ năng động giữa nhịp sống hiện đại cũng là vấn đềsống còn được giờ dạy Ngữ văn bồi dưỡng cho học sinh
Tích hợp giáo dục học sinh học tập và làm theo tấm gương đạo đức HồChí Minh bằng biểu hiện cụ thể thiết thực ứng với nội dung tiết dạy, việc vậndụng kiến thức liên môn vào giải quyết vấn đề thực tế của hoạt động dạy học,việc tích hợp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh qua tiết dạy để học sinhkhông chỉ lĩnh hội được kiến thức – được trang bị tri thức khoa học của bộ môn
mà được phát triển toàn diện hơn, trở thành những người dũng cảm, biết suynghĩ, biết sẻ chia, biết phấn đấu và sống có trách nhiệm, biết sống có ích… nhờnhững kỹ năng sống tốt đẹp được dạy bảo khi ngồi trên ghế trường phổ thông
Các nội dung tích hợp cũng mạnh mẽ khoáng đạt vượt ra khỏi khuôn khổcủa những lời thuyết giảng, hỏi đáp mà được người thầy thiết kế tích cực chohọc sinh thực hiện qua nhiều hình thức khác nhau, nhiều “chất liệu” và “tườngnền” khác nhau dưới sự hỗ trợ của công nghệ thông tin như hình thức tiểuphẩm, hoạt cảnh, phân vai, sáng tác, hùng biện, ráp mô hình, tạo bản đồ tư duy,trò chơi ô chữ, con số may mắn, tổ chức vẽ tranh, thể hiển khả năng ca hát…
Về phương pháp, 07/08 giáo viên tích cực ứng dụng công nghệ thông tin(CNTT) vào tiết dạy (trừ 01 giáo viên đã 54 tuổi) Nhờ CNTT, giáo viên giảmđược nhiều thời gian, công sức trong mang vác đồ dùng dạy học như các tranhảnh bảng biểu, sơ đồ bản đồ tư duy, máy nghe Trên màn hình chiếu, hệ thốnghình ảnh sắc nét có chọn lọc thực sự phát huy hiệu quả minh họa và khêu gợitrong lòng người dự, người học những xúc cảm sâu xa gắn với từng nội dungkiến thức trong các hoạt động dạy học Cũng nhờ CNTT, những âm thanh réorắt trầm bổng làm hệ thống hình ảnh thăng hoa Những đoạn video clip, nhữngthước phim ngắn mang tính minh họa trong bài dạy thực sự phát huy được sứcmạnh của nó trong tái hiện, trong phản ánh và minh họa, làm nhịp cầu nối giữangòi bút của tác giả đặt trên nền thời cuộc với cảm hiểu của người tiếp nhận.Quý thầy cô rất thành công trong sử dụng hiệu quả CNTT có thể kể đến nhưthầy Phan Ngọc Hiệp, cô Đinh Thị Như Hường, cô Võ Thị Vân
Các phương pháp dạy - học truyền thống và các phương pháp dạy họchiện đại được giáo viên kết hợp hài hòa Từ đọc - phân tích - giảng bình -thuyết trình - vấn đáp - đàm thoại - hoạt động nhóm - sử dụng phiếu học tập -
sử dụng bảng biểu - sơ đồ tư duy - dựng hoạt cảnh Mỗi phương pháp dạy học
có một ưu thế riêng, giúp giáo viên lựa chọn và vận dụng sử dụng linh hoạtphục vụ từng nội dung trong các hoạt động dạy - học Sự kết hợp này giúpngười dạy lẫn người học được phát huy, tiết học trở nên sôi nổi - hào hứng mànhẹ nhàng thoải mái chiếm lĩnh nội dung bài học Khi dự giờ, giáo viên đã bắt
Trang 16đầu lựa chọn cho mình những vị trí mới, giáo viên có thể đứng, có thể ngồi,không nhất thiết ở cuối lớp, mà có thể ở bên trên, bên hông phòng hoặc bêncạnh các nhóm ngồi học, sao cho hài hòa và dễ quan sát hoạt động học Giáoviên hình thành thói quen ghi âm, quay phim, ghi hình giờ học tất cả đều diễn
ra hết sức tự nhiên, không ảnh hưởng người dạy và người học
Hoạt động của học sinh: Với sản phẩm của hoạt động chuyên môn theohướng nghiên cứu bài học (các giờ dạy minh họa) thì học sinh đích thực làtrung tâm Các cách thức khai thác, cách thức biểu hiện, thể hiện đều được thiết
kế nhằm giúp học sinh tự khám phá để chiếm lĩnh Từ hoạt động Ổn định tổchức, kiểm tra bài cũ, kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh, dẫn vào bài mới, từtìm hiểu khái quát đến khai thác chi tiết nội dung, vận dụng làm bài tập, từ cácngữ liệu và bài tập trong sách giáo khoa đến việc dẫn thêm ngữ liệu, thêm bàitập, thêm tình huống… Ở cả phần củng cố bài, học sinh cũng được phát huy tối
đa dưới dạng trình bày bản đồ tư duy ghi nhớ nội dung cốt lõi bài học hoặc trảlời các câu hỏi trắc nghiệm hoặc giải mã các trò chơi ô chữ, người thầy chỉ giúp
đỡ khi thực sự cần Học sinh không hề bị chi phối, không hề tỏ ra e dè xấu hổkhi giáo viên quay phim chụp hình làm tư liệu Đó cũng là ưu điểm, là thànhcông trên bước đường giáo dục kỹ năng sống cho các em, khiến các em thêmmạnh dạn, tự tin trong giao tiếp
Về khâu rút kinh nghiệm giờ dạy:
Ưu điểm: Đã trở thành nề nếp đối với mọi tiết dạy có dự giờ thăm lớp,mọi tiết dạy như vậy ở THCS Lê Hồng Phong đều được hội ý rút kinh nghiệmgiờ dạy Rút kinh nghiệm giờ dạy là nề nếp sinh hoạt chuyên môn, không chỉhọp mặt số giáo viên dự giờ và giáo viên dạy mà rất nhiều khi còn thu hút được
sự tham gia của số giáo viên không tham gia dự giờ, phần là để ủng hộ tinh thầncho đồng nghiệp và phần lớn là tham gia để học hỏi Trong quá trình rút kinhnghiệm giờ dạy, cả người dạy và người dự đều hợp tác trên tinh thần cởi mở,thẳng thắn cùng trao đổi, cùng luận bàn, cùng phân tích, cùng nghiên cứu và rútkinh nghiệm Nhờ sự hợp tác này, giáo viên được học hỏi lẫn nhau, chia sẻ lẫnnhau, tiếp cho nhau thêm kinh nghiệm, thêm niềm tin, mang cho nhau sứcmạnh tinh thần cũng hỗ trợ nhau thực hiện tốt hơn nhiệm vụ dạy học của mình
Đặc biệt là, đối với giờ dạy minh họa cho hoạt động chuyên môn theohướng nghiên cứu bài học, người chủ trì (phụ trách chuyên môn hoặc tổ trưởngchuyên môn) thường hướng mọi người quan tâm xem xét hoạt động của họcsinh Gắn liền với ghi nhận những cách thức tổ chức cho học sinh đạt hiệu quảcao là trao đổi, đề xuất những cách thức cải thiện đối với những hoạt động chưaphù hợp hoặc chưa hiệu quả, chưa đồng bộ
Nguyên nhân ưu điểm:
- Nhà trường được Phòng Giáo dục tin tưởng, trưng tập 01 giáo viên là
Tổ trưởng chuyên môn của đơn vị tham gia tập huấn đổi mới “sinh hoạt chuyênmôn theo hướng nghiên cứu bài học” tại Cà Mau do Bộ Giáo dục tổ chức vàotháng 3 năm 2014 (năm học 2013-2014), đó cũng là hạt nhân nắm bắt được cơbản nội dung và thần thái của phương pháp đổi mới này Thêm nữa, tháng 10năm 2014 (năm học 2014-2015) Phòng Giáo dục- Đào tạo EaH’Leo đã tổ chức