1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích các yếu tố tác động đến sự lựa chọn phương pháp tránh thai ở phụ nữ nghiên cứu tình huống tại tp hồ chí minh

99 248 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 3,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ket quả đạt được cho thấy những yếu tố như tuổi, số năm đi học, kiến thức phòng tránh thai, tính nhạy cảm với việc có thai ngoài ý muốn khi không sử dụng các biện pháp tránh thai, chuẩn

Trang 1

ĐẶNG MINH QUANG

PHÂN TÍCH CÁC YÉU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN s ự

L ự A CHỌN PHƯƠNG PHÁP TRÁNH THAI Ở PHỤ NỮ: NGHIÊN cứu TÌNH HUỐNG TẠI TP HCM

LUẬN VĂN THẠC s ĩ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh - 2017

Trang 2

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng biếu

Danh mục các hình vẽ

Mở đầu

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN c ứ u 1

1.1 Vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu tổng q u á t 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.2.3 Câu hỏi nghiên c ứ u 3

1.2.4 Phạm vi nghiên cứu 3

1.3 Cấu trúc luận v ă n 3

CHƯƠNG 2: c ơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VIỆC L ự A CHỌN PHƯƠNG PHÁP TRÁNH TH A I 5

2.1 Tống quan phương pháp tránh thai (Nguồn Trung tâm phòng ngừa và kiếm soát bệnh Hoa K ỳ ) 5

2.1.1 Khái niệm có thai ngoài ý m uốn 5

2.1.2 Các phương pháp phòng tránh th a i 5

2.1.3 Những ưu nhược điếm của Thuốc tránh thai và Bao cao su 8

2.2 Thực trạng sử dụng các biện pháp tránh thai tại Việt N am 14

2.3 Cơ sở lý thuyết 19

2.3.1 Lý thuyết hành vi lựa chọn 19

2.3.2 Lý thuyết lĩnh vực của Lewin (Lewin, 1951) 23

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn “Phân tích các yếu tố tác động đến sự lựa chọn phương pháp tránh thai ở phụ nữ: nghiên cứu tình huống tại TP HCM” là công

trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu được the hiện trong nội dung luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu khác

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2017

Đặng Minh Quang

Trang 4

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng biếu

Danh mục các hình vẽ

Mở đầu

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN c ứ u 1

1.1 Vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu tổng q u á t 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.2.3 Câu hỏi nghiên c ứ u 3

1.2.4 Phạm vi nghiên cứu 3

1.3 Cấu trúc luận v ă n 3

CHƯƠNG 2: c ơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VIỆC L ự A CHỌN PHƯƠNG PHÁP TRÁNH TH A I 5

2.1 Tống quan phương pháp tránh thai (Nguồn Trung tâm phòng ngừa và kiếm soát bệnh Hoa K ỳ ) 5

2.1.1 Khái niệm có thai ngoài ý m uốn 5

2.1.2 Các phương pháp phòng tránh th a i 5

2.1.3 Những ưu nhược điếm của Thuốc tránh thai và Bao cao su 8

2.2 Thực trạng sử dụng các biện pháp tránh thai tại Việt N am 14

2.3 Cơ sở lý thuyết 19

2.3.1 Lý thuyết hành vi lựa chọn 19

2.3.2 Lý thuyết lĩnh vực của Lewin (Lewin, 1951) 23

Trang 5

2.4.2 Yếu tố xã h ộ i 29

2.4.3 Yếu tố chi phí -lợ i ích 32

2.4.4 Tóm tắt các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn phương pháp tránh th a i 33

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 34

3.1 Khung phân tíc h 34

3.2 Hướng tác động kì vọng của các yếu tố 35

3.3 Mô tả biến s ố 38

3.3.1 Biến phụ th u ộ c 38

3.3.2 Biến độc lập 39

3.4 Mô hình kinh tế lượng 41

3.5 Thu thập dữ liệ u 42

3.5.1 Phạm vi 42

3.5.2 Cách lấy m ẫu 42

3.5.3 Phương pháp thu thập số liệu 43

3.5.4 Thống kê mô tả dữ liệ u 43

CHƯƠNG 4: KÉT QUẢ NGHIÊN c ứ u VIỆC LựA CHỌN PHƯƠNG PHÁP TRÁNH THAI TẠI TP HCM 45

4.1 Mô tả mẫu dữ liệu khảo sát về các biện pháp tránh thai của phụ nữ tại Tp.HCM 45 4.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương pháp tránh thai 48

4.2.1 Ket quả hồi quy binary logistic mô hình lựa chọn sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ tình d ụ c 48

4.2.2 Ket quả hồi quy binary logistic mô hình lựa chọn sử dụng thuốc tránh thai hay bao cao su khi quan hệ tình d ụ c 52

Trang 6

5.1 Ket quả nghiên c ứ u 57

5.1.1 Mô tả tình hình sử dụng các phương pháp tránh thai ở phụ nữ trẻ tại Tp Hồ Chí Minh (Phụ lục 3 ) 57

5.1.2 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp tránh thai ở phụ nữ trẻ tại Tp Hồ Chí Minh 58

5.2 Những gợi ý tăng cường sử dụng biện pháp tránh thai 62

5.2.1 Nâng cao nhận thức về hậu quả của việc mang thai ngoài ý muốn và mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục 62

5.2.2 Tăng cường kiến thức phòng tránh thai 63

5.2.3 Tập trung vào các đối tượng nguy cơ cao 63

5.2.4 Tác động vào các chuẩn chủ quan cha, mẹ, bạn tình 64

5.2.5 Thực hiện các chiến dịch hỗ trợ người dân tiếp cận các biện pháp tránh thai 64

5.3 Hạn chế và hướng của nghiên cứu tiếp th eo 64

5.3.1 Hạn chế của nghiên cứu 64

5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 65

Ket luận chung 68 Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 7

HCM Hồ Chí M inh

HIV Human im m unodeficiency virus

HPV Human papillom a virus

HSV-2 Herpes simplex virus tuýp 2

STDs Các bệnh lây truyền qua đường tình dục

THCN, CĐ Trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng

TPB Theory of planned behavior

TRA Theory of reasoned action

TTT Thuốc tránh thai

VTN Vị thành niên

Trang 8

Bảng 2.2 Tỷ lệ phần trăm những người đã từng có quan hệ tình dục hiện chưa có

vợ/chồng 16

Bảng 4.1 Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai thu thập được 45

Bảng 4.2 Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai sau khi xử lý 46

Bảng 4.3 Tông quan về các biến nhân khẩu h ọ c 46

Bảng 4.4 Mô tả các biến Tuổi, số năm đi học và Kiến thức phòng tránh th a i 47

Bảng 4.5 Tóm tắt kết quả hồi quy binary logistic mô hình lựa chọn sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục 48

Bảng 4.6 Tóm tắt kết quả hồi quy binary logistic mô hình lựa chọn sử dụng thuốc tránh thai hay bao cao su khi quan hệ tình d ụ c 53

Trang 9

Hình 2.3 Mô hình T R A 21

Hình 2.4 Mô hình T P B 22

Hình 2.5 Tống số lĩnh vực theo L ew in 24

Hình 2.6 Lực luợng đẩy một người hướng tới mục tiêu 24

Hình 2.7 Mô hình Health Belief (Rosenstock, 1974) 27

Hình 3.1 Khung phân tích 34

Trang 10

học, nhận thức đến sự lựa chọn các phương pháp tránh thai Đe tài sử dụng mô hình Health Belief, thực hiện trên nhóm dân số trẻ tuổi từ 18 đến 30 đang sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh Thông qua mô hình hồi quy logistic, đề tài đã xác định ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau trên lựa chọn sử dụng phương pháp tránh thai Ket quả đạt được cho thấy những yếu tố như tuổi, số năm đi học, kiến thức phòng tránh thai, tính nhạy cảm với việc có thai ngoài ý muốn khi không sử dụng các biện pháp tránh thai, chuẩn chủ quan, tính hiệu quả và tính tiện lợi của thuốc tránh thai có ảnh hưởng đến lựa chọn

sử dụng biện pháp tránh thai Từ đó, tác giả cũng nêu lên một số giải pháp nhằm giúp tăng cường hiệu quả sử dụng các biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục, giảm bớt tỷ

lệ có thai ngoài ý muốn

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN c ứ u

1.1 Vấn đề nghiên cứu

Ngày nay, vấn đề kiểm soát sinh sản ngày càng đóng vai trò quan trọng trong xã hội Một quốc gia có quy hoạch dân số tốt có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu lao động, góp phần xây dựng đất nước đồng thời không làm giảm chất luọng cuộc sống của người dân do dân số tăng cao Cụ thế hơn, mỗi một gia đình cũng có thế dựa vào những biện pháp phòng ngừa nhằm lên kế hoạch sinh sản phù họp với điều kiện kinh tế, xã hội hiện tại Đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân, phương pháp pháp phòng tránh thai cũng được cải tiến và ra đời nhiều chủng loại như bao cao su, thuốc diệt tinh trùng, màng tránh thai, vòng đặt tử cung, các loại thuốc hormon dạng uống, các loại chích, và dán khác Mặc dù chất lượng cũng như chủng loại của các biện pháp tránh thai ngày càng nâng cao, tỷ lệ có thai ngoài ý muốn, tỷ lệ phá thai giảm nhưng vẫn còn cao so với số trung bình của thế giới Nguyên nhân do kiến thức sức khỏe sinh sản và phòng tránh thai của người dân còn thấp, phong tục truyền thống của người Việt gây hạn chế tiếp cận các biện pháp tránh thai Theo báo cáo của Tống cục thống kê về điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình cho thấy tỷ lệ nạo phá thai và hút điều hòa kinh nguyệt những năm

2011, 2012 và 2013 trên cả nước lần lượt là 0.59%, 0.54% và 0.31% Riêng khu vực Đông Nam Bộ, tỷ lệ này thấp hơn so với cả nước qua các năm 2011, 2012, 2013 với tỷ

lệ 0.39%, 0.3% và 0.22% Tổng cục thống kê và Unicef 2015 (theo Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam 2014), 75,7% phụ nữ hiện đang có chồng hoặc đang chung sống như vợ chồng cho biết có sử dụng biện pháp tránh thai Biện pháp phổ biến nhất là đặt vòng tránh thai (28,2%) Biện pháp phổ biến thứ hai là tính vòng kinh (13,4%) BCS nam (11,8%) và TTT (11,9%) được sử dụng nhiều hơn biện pháp xuất tinh ngoài (5,4%), đình sản nữ (2%) và tiêm thuốc (1,7%) Như vậy, vẫn còn nhiều phụ nữ không

Trang 12

áp dụng hình thức tránh thai nào (24.3%) và tỷ lệ phụ nữ sử dụng các biện pháp tránh thai co điển như tính vòng kinh, xuất tinh ngoài vẫn còn cao.

Theo Trung tâm kiếm soát bệnh Hoa Kỳ, mang thai ngoài ý muốn chủ yếu là kết quả của việc không sử dụng biện pháp tránh thai, hoặc sử dụng không phù hợp hoặc không chính xác của phương pháp tránh thai hiệu quả Việc tiến hành một nghiên cứu dế làm

rõ các yếu tố đóng góp trong vấn đề lựa chọn phương pháp tránh thai của người dân là cần thiết Đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh, một thành phố đông dân của cả nước do luồng di dân từ nhiều nơi đến làm việc và sinh sống, thì vấn đề này lại càng nhanh chóng được cải thiện nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển với một cơ cấu dân số mang tính chủ động và duy trì chất lượng dân số cao hơn Bên cạnh đó, những người tuổi từ 18 đến

30 tuổi là những người trẻ, có nhiều hoạt động tình dục và có tỷ lệ không sử dụng bất kì biện pháp nào là cao nhất (Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam 2014) Do đó, đề tài nghiên cứu những yếu tố quyết định việc lựa chọn biện pháp tránh thai ở những người trẻ tuổi từ 18 đến 30 tại Thành phố Hồ Chí Minh được chọn để thực hiện Thông qua kết quả của đề tài, các nhà chính sách đưa ra các giải pháp có thể tác động đến các yếu tố kinh tế - xã hội, nhân khẩu, nhận thức của người dân nhằm đem đến sự lựa chọn phương pháp tránh thai thích hợp nhất, tăng cường sức khỏe sinh sản cho nữ giới, giảm tỷ lệ có thai ngoài ý muốn

1.2 M ục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tống quát

Đánh giá tình hình sử dụng các phương pháp tránh thai tại Thành phố Hồ Chí Minh

và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề lựa chọn phương pháp tránh thai

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Tình hình sử dụng các phương pháp tránh thai ở phụ nữ tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 13

Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp tránh thai ở phụ nữ tại Thành phố Hồ Chí Minh.

1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu

Tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai ở phụ nữ tại Thành phố Hồ Chí Minh như thể nào?

Nhân tố nào tác động đến sự lựa chọn phương pháp tránh thai?

1.2.4 Phạm vi nghiên cứu

Dựa vào kết quả điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ 2014, Khu vực Đông nam bộ có tỷ lệ không sử dụng biện pháp tránh thai nào cao hơn mức trung bình chung của cả nước 25,3% Những người trẻ tuối là những người ít sử dụng các biện pháp tránh thai nhất Độ tuối từ 15-19 tuổi có đến 61,6% không sử dụng biện pháp nào, từ 20-

24 là 44,5% và tù 25-29 là 29,1% Như vậy, những người trong độ tuổi tù 18 đến 30, là những người có xu hướng không sử dụng các biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục cao nhất đồng thời Tp HCM có dân số đông nhất cả nước, có cơ cấu dân số độ tuổi từ

18 đến 30 tuổi chiếm tỷ trọng cao (Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê 2014) và cũng là nơi Tác giả luận văn làm việc và học tập Do đó, Tác giả quyết định lựa chọn phạm vi nghiên cứu là nữ độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi sinh sống tại Tp HCM

1.3 Cấu trúc luận văn

Bài nghiên cứu của tôi được chia làm 5 chương Chương 1: giới thiệu nghiên cứu, tác giả giới thiệu lý do thực hiện đề tài cũng như mục tiêu của đề tài Chương 2: Cơ sở

lý thuyết và các nhân tố tác động đến việc lựa chọn phương pháp tránh thai, bao gồm khái niệm mang thai không mong muốn, các biện pháp tránh thai, những mô hình lý thuyết áp dụng đế giải thích hành vi lựa chọn phương pháp tránh thai trong nghiên cứu luận văn, đồng thời phân tích các yếu tố tác động đến hành vi lựa chọn phương pháp tránh thai thông qua những nghiên cứu trước đó Chương 3: Phương pháp nghiên cứu,

Trang 14

chương này giới thiệu khung phân tích, mô tả các biến số, mô hình kinh tế lượng áp dụng

để thực hiện nghiên cứu cũng như các bước thu thập dữ liệu như phạm vi thu thập, cách lấy mẫu, phương pháp thu thập dữ liệu và thống kê mô tả dữ liệu Chương 4: dữ liệu và kết quả nghiên cứu, chương này bao gồm tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai tại Việt Nam, kết quả khảo sát thực tế, kết quả mô hình hồi quy và cách diễn dịch các kết quả Cuối cùng là chương 5: kết luận và một số giải pháp thúc đẩy sử dụng các biện pháp tránh thai thích hợp, gồm có những nhận xét về tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai tại Tp HCM thông qua số liệu thu thập được của Tác giả luận văn, bàn luận những yếu tố nào tác động đến lựa chọn sử dụng các biện pháp tránh thai, những giải pháp nâng cao sử dụng các biện pháp tránh thai, những hạn chế của luận văn cũng như hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trang 15

CHƯƠNG 2: C ơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VIỆC L ự A CHỌN PHƯƠNG PHÁP TRÁNH THAI

2.1 Tổng quan phương pháp tránh thai (Nguồn Trung tâm phòng ngừa và kiểm soát bệnh Hoa Kỳ)

2.1.1 Khái niệm có thai ngoài ý muốn

Theo Trung tâm phòng ngừa và kiếm soát bệnh Hoa Kỳ, mang thai ngoài ý muốn là

sự mang thai được cho là người phụ nữ hoặc không mong muốn (việc mang thai xảy ra khi người phụ nữ không muốn có con hoặc thêm con) hoặc không đúng lúc (việc mang thai xảy ra sớm hơn so với mong muốn) Mang thai ngoài ý muốn là một khái niệm cốt lõi được sử dụng đế hiếu rõ hơn về khả năng có thai của dân số, nhu cầu chưa được đáp ứng đế tránh thai và kế hoạch hóa gia đình

Mang thai ngoài ý muốn có thể làm tăng nguy cơ của các vấn đề cho mẹ và bé Neu mang thai không được lên kế hoạch trước khi thụ thai, một phụ nữ có the không có sức khỏe tối ưu cho sinh đẻ Ví dụ, phụ nữ có thai ngoài ý muốn có thế trì hoãn chăm sóc trước khi sinh có the ảnh hưởng đến sức khỏe của em bé

Cách tốt nhất đế giảm nguy cơ mang thai ngoài ý muốn ở phụ nữ có hoạt động tình dục là sử dụng ngừa thai hiệu quả một cách chính xác và nhất quán

2.1.2 Các phương pháp phòng tránh thai

2.1.2.1 Vòng tránh thai.

Vòng đồng tránh thai chữ T - Vòng tránh thai này là một thiết bị nhỏ có hình dáng chữ "T." Bác sĩ đặt nó bên trong tử cung để tránh thai Nó có the ở trong tử cung lên đến

10 năm Tỷ lệ sử dụng thất bại điên hình: 0,8%

Vòng tránh thai Levonorgestrel - Vòng tránh thai Levonorgestrel là một thiết bị hình chữ T nhỏ như vòng đồng tránh thai chữ T Nó được các Bác sĩ đặt trong tử cung Nó

Trang 16

giải phóng một lượng nhỏ progestin mỗi ngày đế tránh thai Vòng tránh thai Levonorgestrel ở trong tử cung cho đến 5 năm Tỷ lệ sử dụng thất bại điến hình: 0,2%.

2.1.2.2 Phương pháp nội tiết

Mô cấy - Mô cấy là một que mỏng duy nhất được cấy vào dưới da cánh tay phía trên của phụ nữ Que chứa progestin được phóng thích vào cơ thế trong vòng 3 năm Tỷ lệ

Thuốc chỉ có progestin - không giống như các loại thuốc kết họp, thuốc chỉ có một hormone, progestin, thay vì cả estrogen và progestin Thuốc được Bác sĩ kê toa Một viên thuốc được uống cùng một thời điếm mỗi ngày Nó có thế là một lựa chọn tốt cho những người phụ nữ không thế uống estrogen Tỷ lệ sử dụng thất bại dien hình: 9%.Miếng dán - Miếng dán da được dán trên bụng dưới, mông, hoặc trên cơ thế (nhưng không phải trên ngực) Phương pháp này được bác sĩ chỉ định Nó giải phóng hormone progestin và estrogen vào máu Bạn dán một miếng dán mới mỗi tuần một lần trong ba tuần Trong tuần thứ tư, bạn không cần sử dụng miếng dán, vì vậy bạn có thế có một thời

kỳ kinh nguyệt Tỷ lệ sử dụng thất bại điển hình: 9%, nhưng có thể cao hơn ở những phụ

nữ có cân nặng hơn 198 pounds

Vòng tránh thai âm đạo nội tiết Những chiếc vòng giải phóng các hormone progestin

và estrogen Bạn đặt vòng vào bên trong âm đạo của bạn Bạn để ở đó trong ba tuần, lấy

nó ra trong tuần bạn có kinh, và sau đó đặt vào một vòng mới Tỷ lệ sử dụng thất bại điển hình: 9%

Trang 17

Biện pháp tránh thai khân cấp Ngừa thai khẩn cấp không phải là một phương pháp tránh thai thông thường Ngừa thai khẩn cấp có thế được sử dụng sau khi quan hệ tình dục mà không sử dụng các biện pháp ngừa thai, hoặc nếu các phương pháp ngừa thai thất bại, chang hạn như BCS bị rách Phụ nữ có thể đặt vòng tránh thai đồng chữ T trong thời hạn năm ngày kể từ ngày quan hệ tình dục không được bảo vệ Phụ nữ có thể uống TTT khân cấp tối đa 5 ngày sau khi quan hệ tình dục không được bảo vệ, nhưng sử dụng càng sớm, hiệu quả càng cao.

2.1.2.3 Phương pháp rào cản

Màng hoặc mũ - Những phương pháp rào cản được đặt bên trong âm đạo đế bao phủ

cố tử cung, ngăn chặn tinh trùng Màng tránh thai có hình dáng như một ly cạn Mũ cố

tử cung là một cái tách hình măng sông Trước khi quan hệ tình dục, bạn sử dụng chúng cùng với chất diệt tinh trùng đê ngăn chặn hoặc diệt tinh trùng Bác sĩ sẽ tư vấn kích thước màng và mũ cố tử cung thích họp cho bạn Tỷ lệ sử dụng thất bại điển hình: 12%.Bao cao su nam Bao cao su nam giữ tinh trùng không đi vào cơ thể của người phụ

nữ BCS nhựa cũng như BCS tống hợp mới giúp ngăn ngừa mang thai, HIV và các bệnh STDs khác BCS "tự nhiên" hay "da cừu" cũng giúp ngăn ngừa mang thai, nhưng có thể không bảo vệ chống lại các bệnh STDs, kế cả HIV Tỷ lệ sử dụng thất bại điến hình: 18%

Bao cao su chỉ có thể được sử dụng một lần Bạn có thể mua BCS, KY jelly, hoặc chất bôi trơn gốc nước tại một cửa hàng thuốc Không sử dụng chất bôi trơn gốc dầu như dầu massage, dầu em bé, thuốc nước hoặc dầu bôi trơn với BCS Những loại dầu này sẽ làm suy yếu BCS, làm cho nó rách hay vỡ

Bao cao su nữ Bao cao su nữ giữ tinh tràng không đi vào cơ thể của mình Nó được đóng gói với một chất bôi trơn và có sẵn tại các cửa hàng thuốc Nó có thế được chèn lên đến tám giờ trước khi quan hệ tình dục Tỷ lệ tiêu biểu sử dụng thất bại: 21%, và cũng có thể giúp ngăn ngừa các bệnh STDs

Trang 18

trong âm đạo tối đa một giờ trước khi giao họp Bạn phải đế chất diệt tinh trùng ít nhất sáu đến tám giờ sau khi giao hợp Bạn có thể sử dụng chất diệt tinh trùng bên ngoài BCS nam, màng tránh thai, hay mũ cổ tử cung Bạn có thể mua sản phẩm này tại các cửa hàng thuốc Tỷ lệ sử dụng thất bại điến hình: 28%.

2.1.2.4 Các phương pháp nhận thức khả năng sình sản cơ bản

Kế hoạch hóa gia đình tự nhiên hoặc nhận thức khả năng thụ thai Hiểu mô hình sinh sản hàng tháng có thế giúp bạn có kế hoạch đế có thai hoặc tránh thai Mô hình khả năng sinh sản của bạn là số ngày trong tháng khi bạn có khả năng thụ thai, những ngày bạn không có khả năng thụ thai, và những ngày khả năng thụ thai là không chắc chắn Neu bạn có một chu kỳ kinh nguyệt đều đặn, bạn có khoảng chín (hoặc nhiều hơn) những ngày có khả năng thụ thai mỗi tháng Neu bạn không muốn có thai, bạn không có quan

hệ tình dục vào những ngày có khả năng thụ thai, hoặc bạn sử dụng một phương pháp tránh thụ thai vào những ngày này Tỷ lệ thất bại khác nhau giữa các phương pháp này Nhìn chung, tỷ lệ sử dụng điến hình thất bại: 24%

Trong nghiên cứu này, tác giả đã lựa chọn những phương pháp tránh thai phố biến nhất đế thực hiện nghiên cứu bao gồm: thuốc tránh thai, bao cao su nam, vòng đồng tránh thai và tính chu kỳ kinh nguyệt khi quan hệ tình dục

2.1.3 Những ưu nhược điếm của Thuốc tránh thai và Bao cao su

2.1.3.1 Ưu nhược điêm của thuốc tránh thai

Thuốc tránh thai cũng là một lựa chọn được ưu tiên hàng đầu đe ngăn ngừa việc có thai ngoài ý múốn Trải qua hơn nửa thế kỷ sử dụng, Thuốc tránh thai (TTT) hiện nay mang lại nhiều tiện lợi, ít tác dụng phụ cho phụ nữ Tuy nhiên, khi so sánh với BCS thì TTT sẽ không ngăn chặn được các STDs Nhưng TTT đã mang lại một cuộc cách mạng

Trang 19

cho phụ nữ trong thề kỷ 20, cho phụ nữ có cơ hội phát triển và có chỗ đứng trong xã hội Bắt đầu từ những năm đầu tập kỉ 60, TTT đầu tiên đã ra đời, tuy nhiên, lúc đó nó chi có chỉ định điều hòa kinh nguyệt TTT đầu tiên ra đời với nồng độ estrogen và progestin cao gấp 10 lần viện hiện tại Qua hơn 40 năm cải tiến, TTT đã giảm được đáng kế tác dụng phụ như huyết khối tĩnh mạch sâu, ung thư, và mang lại cảm giác sự tự tin cho phụ

nữ khi quan hệ tình dục Ngày nay, đe mang lại sự tiện lợi cho phụ nữ hiện đại, ngoài viên uống, chúng ta còn cho ra đời sản phấm miếng dán ngừa thai, vòng ngừa thai hay mien film ngừa thai Tuy nhiên, khi sử dụng TTT, phụ nữ luôn phải cấn thận theo dõi các biến tác dụng phụ có thể mắc phải và độ tuổi có nguy cơ cao hơn cho tác dụng phụ ( Jick, Hernandez và Kaye, 2010; Isley, 2011)

Tuy nhiên, các biến cố ngoại ý chỉ xuất hiện với tần suất rất nhò, hầu như không đáng kể, khi so sánh với tác bệnh hay các biến cố đó trên các đối tượng khác Ví dụ như

tỷ lệ những phụ nữ có thai bị biến cố huyết khồi tĩnh mạch sâu là 30 trên 10.000, nhưng

tỷ lệ này ở những người uống TTT chỉ là 9.1 trên 10.000 (Reid và cộng sự, 2010) Dưới một góc nhìn khác, ví dụ như tỉ lệ chết của phụ nữ không hút thuốc khi sử dụng TTT từ 15-34 tuổi là 1/1.667.000, trong khi đó tỷ lệ người chết vì môt hiện hiện tượng siêu nhiên hiếm như sét đành trúng là 1/2000000 (Trussed, 2006) Qua đó chúng ta thấy TDP của TTT không xuất hiện quá thường xuyên Tình huống xấu nhất là phụ nữ hút thuốc sử dụng TTT, đặc biệt là với phụ nữ trên 35 tuối, tuy nhiên, tỷ lệ chết trong nhóm dân số này là 1 trên 5200 bệnh nhân, trong khi đó chúng ta so sánh với tỷ lệ tử vong do tai nạn

xe hơi đã là 1/5000 (Trussell, 2006) Huyết khối tĩnh mạch sâu là một trong những TDP nguy hiếm nhất của TTT, do đó việc giảm nồng độ estrogen trong viên thuốc hiện nay,

do đó tỷ lệ huyết khối được giảm đáng kế Nhưng chúng ta phải nhìn nhận một mặt lợi ích khác của estrogen là ảnh hưởng đến nồng độ mỡ trong máu, estrogen làm tăng nồng

độ HDL_D trên những phụ nữ sử dụng (Sitruk, 2011) Ngoài ra, sử dụng TTT cũng làm tăng nguy cơ mắc ung thư Đặc biêt là ung thư vú, ung thư đầu cổ, ung thư gan (Kahlenbom, Potter và Severs, 2006) Một nghiên cứu cho thấy nếu phụ nữ trước khi mang

Trang 20

thai sử dụng TTT thì tỉ lệ tăng nguy cơ mắc ung thu là 0.6 đến 1.76 trên 10 000 nguời (độ tin cậy 95% trong khoảng từ 0.92 đến 1.67) (Maguire, 2011) Trong khi đó tỷ xuất nguy cơ bị ung thư trên mỗi cá nhân được tư vấn bởi bác sĩ gia đình của họ là cao hơn rất nhiều so với nguy cơ gây ra ung thư của TTT.

Mặc dù TTT đã cho thấy nhiều điếm bất lợi, tác dụng phụ qua các báo cáo trên thế giới, nhưng nhìn về một cách khách quan thì TTT mang lại rất nhiều lợi ích cho phụ nữ Khi chúng ta đặt lên bàn cân để so sánh thì dường như hiệu quả, của TTT đã làm lu mờ tất cả các điếm còn lại (Potter và cộng sự, 2010) Bất kỳ thuốc hay sự lựa chọn nào, chúng

ta cũng phải cân bằng giữa lợi ích và bất lợi Trong thực tế TTT giúp phụ nữ chủ động hơn trong kiểm soát việc có thai ngoài ý muốn cũng như là cuộc sống của mình Ngoài

ra, khi so sánh với các biện pháp khác, TTT còn giảm tỷ lệ chảy máu so với việc đặt vòng, giảm tỷ lệ rong kinh, giảm đau bụng kinh, và các triệu chứng tiền kinh nguyệt (Reid và cộng sự, 2010) Ngoài ra hormone trong TTT cũng giúp phụ nữ ngăn ngừa một vài yếu tố nguy cơ như ung thư buồng trứng hay ung thư đường tiết niệu (Maguire, 2011).Đứng trên góc độ đánh giá kinh tế xã hội, TTT làm giảm tỷ lệ có thai ngoài ý muốn

và giảm chi phí nuôi con, và xa hơn nữa, nó còn giảm được tỷ lệ phá thai, đặc biệt là các trung tâm phá thai không hợp pháp, giảm tỷ lệ tội phạm, tránh được sự bùng nổ gia tăng dân số (đang hiện là một vấn đề nan giải của nhiều quốc gia), giảm sự nghèo đói, sự mất cân bằng sinh thái (Speidel và Grossman, 2011) Tóm lại, TTT không những mai lại lợi ích cho phụ nữ mà còn đem lại thuận lợi cho cả xã hội

Mặc dù đã được sử dụng qua hơn nửa thế kỷ, nhưng các nhà sản xuất vấn luôn mang lại những cải tiến đế giúp TTT ngày càng hoàn thiện và tiện lợi hơn đối với phụ

nữ nhăm giảm gánh nặng chi phí, giảm nguy cơ nguy hại về sức khỏe, chúng ta cùng nhau nhìn về các tiến bộ hay các định hướng về tương lai của TTT Ngày nay, các nhà nghiên cứu cố gắng tìm ra một dạng tác dụng kéo dài của TTT nhằm mang lại thuận tiện, tránh trường hợp quên sử dụng Họ sử dụng có thiết bị phóng thích thuốc chậm đế cấy vào cơ thế hay tử cung Ngoài ra, họ còn cải tiến progesterol và estrogel ở các thế hệ thứ

Trang 21

3, thứ 4, có cấu trúc gần như tương tự hoàn toàn với estrogel tự nhiên trong sinh lý chúng

ta, nhằm giảm nguy cơ giữ muối và nước, ngăn ngừa mụn cho phụ nữ, và quan trọng hơn hết là tăng khả năng có thai khi phụ nữ ngưng thuốc

Ngoài TTT hằng ngày, hiện nay trên thị trường còn có các TTT khẩn cấp, giúp phụ

nữ chủ động hơn trong việc bảo vệ và kiểm soát mình Thực tế, chúng ta đang sống ở thế giới thứ ba, nên điều kiện kinh tế và trợ cấp xã hội chưa được đầy đủ và chu toàn, hoạt động giáo dục, tuyên truyền về kiến thức, bào vệ bản thân của phụ nữ, và con gái chưa cao Việc tăng cường sử dụng BCS hay TTT mang lại hiệu quả kinh tế to lớn, giảm gánh nặng cho kinh tế xã hội, tạo điều kiện cho kinh tế xã hội phát triển Hiện nay, một báo cáo của WHO cho thấy xu hướng của phụ nữ ngày nay sử dụng TTT nhiều hơn BCS Ngoài tác dụng tránh thai, TTT còn sử dụng với các chỉ định khác trong điều trị y khoa như hồ trợ điều trị mụn hay làm liệu pháp thay thế hormone cho các phụ nữ tiền mãn kinh và trong giai đoạn mãn kinh

2.13.2 Những im nhược điếm của Bao cao su

Quan hệ tình dục không an toàn được tin rằng là một nguy cơ quan trọng dẫn đến có thai ngoài ý muốn, các bệnh xã hội, khiếm khuyết hay chết, đặc biệt tại những quốc gia nghèo và đang phát triển (World Health Organization, 2001) Bao cao su (BCS) được xem là một phương pháp đầy hiệu quả đế ngăn ngừa các bệnh tình dục, bao gồm căn bệnh thế kỷ HIV và có thai ngoài ý muốn (Institute AG,1999; WHO, 2003) Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng BCS trên thực tế luôn thấp hơn lý thuyết bởi vì các nguyên nhân như không sử dụng đúng cách, sử dụng không liên tục hay quên sử dụng (Farr và Sturgen, 1994; Spruyt và Joanis, 1998) Chính vì vậy, trên thế giới có rất nhiều chương trinh hướng dẫn cách sử dụng BCS cho công đồng nhắm nâng cao nhận thức và sự hiểu biết của người dân (Oakley và Holland, 1995; Shepherd và Peersman, 2007) Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa có các chương trình phù hợp và phổ biển

Trang 22

Năm 2000, cuộc họp giữa các chuyên gia đến từ các bộ và ban ngành tại Mỳ nhu

bộ y tế và trung tâm phòng chống dịch bệnh quốc gia, cục quản lý thực phấm và thuốc

và trung tâm phát triển quốc tế đã đưa ra đồng thuận về hiệu quả của BCS trong phòng chống các bệnh tình dục (STDs) trong quan hệ giao phối Bộ y tế của Mỹ đưa ra định nghĩa về mức độ hiệu quả của BCS đế bảo vệ khỏi các bệnh tình dục phụ thuộc vào tính liên tục sử dụng và độ chính xác

Các STDs mà BCS có thế phòng ngừa được bao gồm lậu, giang mai, nhiễm kí sinh trùng như chlamydial và trichomoniasis, mào gà, herpes sinh dục, virus Human Papilloma (Davis, 1999) Trong nghiên cứu đưa ra tỷ lệ so sánh giữa 2 nhóm sử dụng và không sử dụng, kết quả cho thấy sự nổi bật của nhóm sử dụng liên tục BCS là 87% giảm nguy cơ mắc HIV và với khoảng ngăn ngừa từ 60% - 96% Xét về một khía cạnh khác

là tỷ lệ bênh mai trong báo cáo của bộ y tế Mỹ kết luận chắc chắn nếu bệnh nhân liên tục

sử dụng BCS sẽ làm giảm tỷ lệ bệnh ở nam giới Nghiên cứu đánh giá nguy cơ mắc bệnh giang mau ở nam từ một quần thể đã biết tỷ lệ mắc giang mai ở nữ Kết quả tiến hành phân tích nhóm nhỏ cho thấy rằng những nam giới thường xuyên sử dụng BCS, thì kết quả có ý nghĩ thống kê không chỉ dừng lại ở STDs mà còn là tỷ lệ mắc viêm nhiễm đường niệu đạo giảm đáng kể (Hooper và cộng sự, 1987)

Tuy nhiên, về các STDs khác thì vẫn chưa có kết luận cụ thế từ bộ y tế Mỹ, nhưng rất nhiều nghiên cứu tống họp cho thấy hiệu quả của BCS trên các STDs khác, tuy nhiên

do thiết kế nghiên cứu và quy mô, nên các bằng chứng chưa đủ sức thuyết phục Như herpes sinh dục túyp 2, một nghiên cứu tiền cứu trình bày tại hội nghị quốc gia về phòng chống STDs tại San Diego Mỹ vào năm 2002 cho thấy BCS một phần giúp bảo vệ nam

và nữ chống lại nhiễm HSV-2 (nghiên cứu này không được đăng toàn bài) Một nghiên cứu khác được tiến hành vào những năm thập niên 1990, trên những cặp vợ chồng trong vòng 18 tháng Trung vị chỉ có 25% dân số dùng BCS thường xuyên, và nhóm đó giảm 92% nguy cơ mac HSV-2 từ phụ nữ (Wald và cộng sự, 2001) Tuy nhiên, một nhiên cứu khác tiến hành trên dân số là các cặp tình nhân, quan hệ không chỉ giữa nam nữ mà con

Trang 23

với nam nam trong vòng 1 năm Với tỷ lệ sử dụng BCS là 65% (nghiên cứu này không được đang toàn bài) thấy tỷ lệ nhiễm HSV-2 vẫn có, mặc dù với phần trăm không đángkể.

v ề bệnh nhiễm Chlamydia, nghiên cứu tiền cứu đầu tiên được tiến hành bởi Sanchez

và cộng sự cho thấy có ý nghĩa thống kê của nhóm sử dụng BCS đến 62% nguy cơ nhiễm bệnh lậu, 26% nguy cơ nhiễm Chlamydial bắt buộc, kết quả không chi dừng ở đó, mà nguy cơ mắc trichomonias cũng dc the hiện rõ (Sanchez và cộng sự, 2003) Một nghiên cứu khác của Macaluso (kết quả không được công bố toàn bộ nhưng đươc báo cáo lên trung tâm bào vệ sức khỏe của trẻ em và cộng đồng năm 2000) cho thấy giữa những phụ

nữ có nguy cơ cao mắc STDs thì khi sử dung đúng cách BCS sẽ biến cố mắc lậu, giang mai 50% so với nhóm không sử dụng Nghiên cứu này được thiết kế dưới dạng nghiên cứu tiền cứu trên bệnh nhân thăm khám tại trung tâm STDs trên khắp nước Mỹ liên tục trong 6 tháng từ năm 1995 đến 1998, nên có giá trị bằng chứng cao Một nghiên cứu khác tiến hành trên dân số là người mỹ đen (Crosby và cộng sự, 2003) Tỷ lệ mắc STDs được báo cáo trên tổng thể ba bệnh là lậu, nhiễm chlamydial và trichomoniasis Khi so sánh giữa 2 nhóm, thì nhóm sữ dụng thường xuyên và đúng cách có 17.8% bệnh nhân bị nhiễm STDs ít nhất một lần, còn trong nhóm còn lại là 30%

v ề khả năng tránh viêm nhiễm virus Human papilloma thì có nhiêu sự mâu thuẫn giữa các nghiên cứu Nghiên cứu tống hợp của Manhart & Koutsky (Manhart, 2002) cho thấy không thấy hiệu quả của BCS trong phòng chống HPV Tuy nhiên nghiên cứu khác của Winer (Devine, 2004) cho thấy hiệu quả của BCS chống lại HPV đáng kế giữa 2 nhóm sử dụng và không sử dụng Tuy nhiên dừ liệu về sử dụng BCS đúng cách hay tầng suất quên sử dụng BCS không được báo cáo

Mặc dù sử dụng BCS có nhiêu điều thuận lợi về phòng tránh không những mang thai ngoài ý múôn và bệnh tình dục (bao gồm HIV, bệnh lậu, bệnh Chlamydia, giang mai, virus Human papilloma), ít tác dụng phụ, dễ dàng và thuận tiện sử dụng Tuy nhiên, một vài cặp đôi đánh giá là gây giảm sút cảm giác và mất hứng thú khi quan hệ Tuy

Trang 24

nhiên, kỳ thuật sử dụng BCS và mức độ thường xuyên sử dụng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tác dụng của BCS.

2.2 Thực trạng sử dụng các biện pháp tránh thai tại Việt Nam

Bảng 2.1 Phần trăm phụ nữ có chồng hoặc sống chung như vợ chồng đang sử dụng(hoặc chồng/bạn tình đang sử dụng)

Không biện pháp

Vòng tránh thai

Thuốc uống

Bao cao su nam

Tính vòng kinh

Xuất tinh ngoài

Trang 25

Dựa vào kết quả điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ 2014 ở bảng 4.1,

tỷ lệ không sử dụng biện pháp tránh thai nào chiếm 24,3%, tỷ lệ sử dụng biện pháp đặt vòng là cao nhất 28,2%, kế đến là phương pháp dùng thuốc 11,9%, BCS 11,8% và tính vòng kinh 13,4% Trong đó khu vực Đông nam bộ lại có tỷ lệ không sử dụng biện pháp tránh thai nào cao hơn mức trung bình chung của cả nước 25,3% Đồng thời, tỷ lệ sử dụng vòng tránh thai lại thấp hơn 21,2%, và tỷ lệ sử dụng thuốc 12,8%, BCS 15,1%, tính vòng kinh 16% lại cao hơn mức trung bình chung cả nước

Xét theo trình độ học vấn, những người có trình độ học vấn từ trung cấp chuyên nghiệp hoặc cao đẳng trở lên lại có tỷ lệ không sử dụng biện pháp tránh thai cao nhất 30,2% Trong số những người có sử dụng biện pháp tránh thai, nhóm người này lại ưu tiên sử dụng BCS chiếm đến 25,2%, cao nhất trong tất cả các biện pháp tránh thai.Những người trẻ tuổi là những người ít sử dụng các biện pháp tránh thai nhất Độ tuổi từ 15-19 tuổi có đến 61,6% không sử dụng biện pháp nào, từ 20-24 là 44,5% và từ 25-29 là 29,1% Dựa trên thống kê theo độ tuổi, những người có độ tuổi từ 15 đến 29 tuổi thì tỷ lệ sử dụng phương pháp đặt vòng tăng dần theo độ tuổi lên tới 23,7% nhưng vẫn ít hơn mức trung bình chung, tỷ lệ sử dụng TTT cao nhất ở độ tuổi từ 15-19 tuổi là 14,4%, tỷ lệ sử dụng BCS tăng dần và đạt cao nhât ở nhóm tuổi 25-29 tuổi là 17,4%.Như vậy, những người trong độ tuối từ 18 đến 30, là những người có xu hướng không sử dụng các biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục cao nhất, đồng thời sử dụng thuốc và bao cao su là hai phương pháp phổ biến được lựa chọn ở độ tuổi này

Trang 26

Bảng 2.2 Tỷ lệ phần trăm những người đã từng có quan hệ tình dục hiện chưa cóvợ/chồng

Bảng 2.2 cho thấy, sau 5 năm, tỷ lệ phần trăm nhũng người chưa kết hôn nhưng đã

có quan hệ tình dục ở đô thị và nông thôn đã tăng lên rõ rệt, nhất là với nam Tỷ lệ phần trăm quan hệ tình dục theo nhóm tuối cũng thay đối theo số tuối

Tỷ lệ có bạn tình không khác biệt nhiều năm 2010 và 2005 hay chỉ tăng ít nhưng điều đó cũng phù hợp với xu thế toàn cầu là người trẻ có bạn tình sớm, do đó cũng sớm

có hoạt động tình dục Ớ năm 2005: tỷ lệ có bạn tình ở nam là 31,8%, nữ 30,2%; ở năm

2010, tỷ lệ tương ứng là 35,7% và 31,3%

Trang 27

Nguỉm: T C T K , Đ ể u rra Biến động dãn sổ vá K H H G Đ 1/4 nâm 2003-2313.

SòUìCd: GSO, Pũpuiatìon cra.rìứe ârttí făn\i'y piBnning Sưrvôy ĩ/4 p&riứd 2003-2013.

Hình 2.1 Tỷ lệ nạo phá thai, sẩy thai (TCTK, 2003-2013)

Dựa trên số liệu hình 2.1, tỷ lệ nạo phá thai giảm đều theo các năm Tuy nhiên, với tỷ lệ 0.4%, đây vẫn cao nằm trong nhóm những quốc gia có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất.

ơ nhóm tuối 15 - 24, 9% (82 trong số 977) phụ nữ đã có hoạt động tình dục cho biết

đã từng nạo phá thai Ta thấy tỷ lệ đã từng nạo phá thai tăng theo tuối, ví dụ trong nhóm tuối 1 8 -2 1 , 7% đã từng nạo phá thai trong khi ở nhóm tuối 22 - 25 thì cứ 10 người có

1 người nạo phá thai, hầu hết phụ nữ đã từng nạo phá thai là những người đã kết hôn (98%).

Tình hình nạo phá thai của nữ VTN và thanh niên ở Việt Nam vẫn luôn là một thực trạng nhức nhối cho gia đình và xã hội: Năm 2008, hơn 116.087 trường hợp phá thai tại các cơ sở y tế công lập ở TP HCM, tăng 5% so với năm 2007 Tình trạng nạo phá thai trong lứa tuối VTN tiếp tục tăng cao với 2.499 ca (hội nghị tống kết chương trình SKSS năm 2008 tại TP HCM, 16/1/2009).

Việt Nam là một trong 3 nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, trong đó 20%

là ở lứa tuối VTN, trên cả nước có 5% em gái sinh con trước tuổi 18,15% sinh con trước tuổi 20 (hội kế hoạch hóa gia đình Việt Nam).

Trang 28

Nạo hút thai/phá thai ở Việt Nam là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu, các ngành chức năng và dư luận xã hội Không chỉ bởi Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ nạo hút thai cao nhất thế giới mà còn bởi những tác động của nó đến chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực trẻ, cũng như đến những vấn

đề liên quan đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của nền văn hoá Việt Nam Một số vấn

đề sức khoẻ sau nạo hút thai đã được DhS 1997 (bảng 4.24) và DhS 2002 (bảng 4.22) đề cập đến: 1/3 số phụ nữ có vấn đề về sức khoẻ sau nạo hút thai và có 16,8% nhận được lời khuyên hoặc cách điều trị (chi 50% tống số phụ nữ có vấn đề về sức khoẻ) và 2,4% (bằng 1/15 số phụ nữ có vấn đề sức khoẻ) được điều trị tại các cơ sở y tế, với thời gian trung bình là 10 ngày Phụ nữ nạo thai có vấn đề về sức khoẻ nhiều hơn phụ nữ hút điều hoà kinh nguyệt (20,4% và 14,4%)

Sự phổ biến cùa nạo phá thai còn liên quan đến quyền sinh sản, quyền tình dục và sức khoẻ phụ nữ Nhiều trường hợp nạo phá thai vì lí do lựa chọn giới tính thai, một điều trái với luật pháp Việt Nam và có nguy cơ dẫn đến mất cân bằng giới tính Nạo phá thai nhiều hay ít còn là thước đo về khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng các biện pháp tránh thai, chất lượng dịch vụ kế koạch hoá gia đình (Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Vy

và Vương Tiến hoà 2007: với nhóm phụ nữ đã có gia đình thì tỷ lệ vỡ kế hoạch/sử dụng biện pháp tránh thai thất bại đến 55%)

Trong chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010 có đoạn nhấn mạnh “Việc mang thai ngoài ý muốn và tình trạng nạo phá thai là đáng lo ngại” (uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em, 2003:220) còn trong chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2001-2010 cũng đề ra mục tiêu “Giảm có thai ngoài ý muốn và các tai biến nạo hút thai” (uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, 2003:255)

Như vậy, có thế thấy giới trẻ với độ tuối từ 18 đến 30 là đối tượng có quan hệ tình dục không an toàn cao, đồng thời tỷ lệ nạo phá thai ở lứa tuối này cũng cao Như vậy, nhu cầu phương pháp tránh thai phù họp với lứa tuổi này vẫn chưa được đáp ứng đầy

Trang 29

đủ Đây cũng là nguyên nhân Tác giả quyết định thực hiện đề tài trên nhóm phụ nữ trẻ

độ tuổi từ 18 đến 30

2.3 Cơ sở lý thuyết

2.3.1 Lý thuyết hành vi lựa chọn

2.3.1.1 Thấp nhu cầu của Maslow

Đe có thế tìm ra các nhân tố ảnh hưởng quyết định sử dụng phương pháp tránh thai,

ta cần phải nắm rõ nhu cầu, hành vi của người tiêu dùng.

ấm , bạn bè thân hữu tin cậy cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm

bảo

\ Hình 2.2: Tháp nhu cầu của A Maslow (Maslow, 1943)

Theo Maslow (1943), về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thế

lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thế thiếu hụt vì nếu con người không được

Trang 30

đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh đê có được

và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày

Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui vẻ, địa

vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân v.v Các nhu cầu cơ bản thường được

ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này Với một người bất kỳ, nếu thiếu

ăn, thiếu uống họ sẽ không quan tâm đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng Maslow (1943) đưa ra một cấu trúc về Tháp nhu cầu có 5 tầng, trong đó, những nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp

Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thoả mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy

đủ Như vậy, 5 tầng trong Tháp nhu cầu của Maslow bao gồm:

Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý" (physiological) - thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi

Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo

Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc (love/belonging) - muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy

Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính men (esteem) - cần có cảm giác được tôn trọng, kinh mến, được tin tưởng

Tang thứ năm: Nhu cầu về tự thế hiện bản thân (self - actualization) - muốn sáng tạo, được thế hiện khả năng, thế hiện bản thân, trình diễn mình và được công nhận là thành đạt

Trang 31

Nhu cầu phòng ngừa mang thai là nhu cầu gần như cơ bản, thuộc về nhu cầu an toàn sức khỏe Từ nhu cầu đó mà con người sẽ đưa ra quyết định lựa chọn hành vi của mình, lựa chọn biện pháp tránh thai phù hợp với nhu cầu của người đó.

2.3.1.2 Mô hình thuyết hành động hợp lý (Theory o f Reasoned Action)

Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được Ajzen và Fishbein xây dựng từ năm 1975 và được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội (Eagly & Chaiken, 1993; Olson & Zanna, 1993; Sheppard, Hartvvick & Warshaw, 1988) Mô hình TRA cho thấy hành vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó Mối quan hệ giữa ý định và hành vi đã được đưa ra và kiêm chứng thực nghiệm trong rất nhiều nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực (Ajzen, 1988; Ajzen & Fishbein, 1980; Canary & Seibold, 1984; Sheppard, Hartvvick & Warshaw)

Yeu tố quyết định cuối cùng đến hành vi cuối cùng không phải là thái độ mà là ý định hành vi Ý định bị tác động bởi thái độ và quy chuẩn chủ quan Thái độ đối với hành động là bạn cảm thấy như thế nào khi làm một việc gì đó Quy chuẩn chủ quan là ảnh hưởng của môi trường xã hội lên hành vi cá nhân Ý định là một chỉ số thể hiện sự sẵn sàng của một người lên những hành vi nhất định

Mô hình giải thích hành vi phòng ngừa mang thai thông qua thái độ đối với việc có thai ngoài ý muốn và những quy chuấn chủ quan đối với việc có thai ngoài ý muốn

Trang 32

Trong bài nghiên cứu của luận văn này, tác giả cũng đề cập đến những quy chuẩn chủ quan nhu là một yếu tố quan trọng góp phần ảnh huởng đến hành vi lụa chọn phuơng pháp tránh thai.

2.3.1.3 Mô hình ỉý thuyết hành vi dự định TPB (Theory o/planned Behavior):

động hợp lý Mô hình TPB khắc phục nhuợc điếm của mô hình TRA bằng cách thêm vào một biến nữa là hành vi kiếm soát cảm nhận Biến này bị tác động bởi hai biến số là niềm tin kiếm soát và sụ dễ dàng sử dụng Nó đại diện cho nguồn lục cần thiết của một nguôi để thục hiện một công việc bất kỳ Mô hình TPB đuợc xem nhu tối rru hon mô hình TRA trong việc sự đoán và giải thích hành vi của nguời tiêu dùng trong cùng một nội dung và hoàn cảnh nghiên cứu

Tác giả luận văn cũng bổ sung yếu tố niềm tin kiểm soát và sự dễ sử dụng vào nghiên cứu thông qua niềm tin kiếm soát khả năng có con trong năm tới khi có và không có sử dụng biện pháp tránh thai cũng nhu sự tiện lợi, tính an toàn và tính hiệu quả của các biện pháp tránh thai

Trang 33

2.3.2 Lý thuyết lĩnh vực của Lewin (Lewin, 1951)

2 3 2 1 K h ô n g g ia n s o n g

Một không gian sống là sự kết hợp của tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của một người bất cứ lúc nào Do đó, hành vi có thế được thể hiện như là một hàm của không gian sống B = / (LS) Hơn nữa, sự tương tác của con người (P), và môi trường (E) tạo không gian sống này, B = / (LS) = F (P, E)

2 3 2 3 C o n n g ư ờ i

Thuộc tính / đặc điếm của cá nhân bao gồm nhu cầu, niềm tin, giá trị, khả năng Một cách đại diện cho bản chất các sự kiện tâm lý cùng một "không gian sống" của chính nó “Việc tự hành xử” có thế được xem như là nhận thức của cá nhân về các quan

hệ của mình với môi trường nhận thức

Sự phát triển của con người không tránh khỏi ảnh hưởng đến không gian sống Một người trải qua những thay đối trong cơ thế hoặc quan niệm có thể gây ra một sự bất ốn trong khu vực không gian sống Ngoài ra, một bất ốn trong môi trường tâm lý hay không gian sống có thế dẫn đến sự bất ốn của con người

2 3 2 4 H à n h v i

Một hành động của con người (P) hoặc một sự thay đổi trong môi trường (E) là kết quả cùa một hành động đã đề cập được xem là hành vi B Những hành vi này có thể gây

Trang 34

ra ảnh hưởng lớn hay nhỏ trên tổng thể của không gian sống Lý thuyết lĩnh vực cho rằng hành vi phải được bắt nguồn từ một tống thế các sự việc cùng tồn tại Những sự việc này cùng tồn tại tạo nên một "lĩnh vực năng động", có nghĩa là trạng thái của bất kỳ một phần nào của lĩnh vực cũng phụ thuộc vào tất cả các phần khác của lĩnh vực Điều này không chi bao gồm cả lĩnh vực tinh thần và thế chất, mà còn những lực vô hình như lực từ tính

và lực hấp dẫn Hành vi phụ thuộc vào lĩnh vực hiện tại hon là quá khứ hay tương lai

2 3 2 5 C h â n lý c ủ a lý th u y ế t lĩn h v ự c

Theo lý thuyết lĩnh vực, cuộc sống của một

người được tạo thành bởi nhiều không gian khác

nhau Hình 2.4 là một ví dụ về tống số lĩnh vực, hoặc

môi trường Hình 2.5 đang cho thấy một người, và

một mục tiêu mà họ có Hình ảnh này cho thấy rằng

có những lực lượng đấy một người hướng tới mục

tiêu của họ Các đường chấm chấm là tất cả mọi thứ

phải trải qua để đạt được mục tiêu, và làm thế nào

người ta phải đi qua nhiều không gian khác nhau Các

cá nhân có thể có cùng một mục tiêu, nhưng các lĩnh

vực đế đạt được điều đó có thế khác nhau, lĩnh vực

của một người có thê được điều chỉnh đế đạt được

nhiều nhất trong cuộc sống Một số lĩnh vực có the bị

xóa, và một số gia tăng, tất cả tùy thuộc vào sự kiện

nào đó xảy ra trong một đời người

Mỗi người giữ một kinh nghiệm khác nhau cho một tình huống Đây không phải nói rằng kinh nghiệm của hai người về một sự kiện không thế giống nhau, nhưng có một số khác biệt Điều này dẫn đến ý tưởng rằng không có hai kinh nghiệm là như nhau cho một người, như lĩnh vực năng động được thay đồi liên tục Lĩnh vực năng động giống như

Hình 2.5 Tổng số môi trường theo Thuyết lĩnh vực (Lewin, 1951)

Hình 2.6 Lực lượng đẩy một người hướng tới mục tiêu (Lewin, 1951)

Trang 35

một dòng suối, không ngừng chảy trong khi thay đổi một chút Một quan điểm của lý thuyết lĩnh vực cho rằng không có bất kì phần lĩnh vực nào của một người là vô nghĩa Mỗi phần của một tổng thể lĩnh vực đều có ý nghĩa và quan trọng.

2.3.3 Mô hình Health B elief

2 3 3 1 N iề m tin

Ý tưởng tiềm ấn đằng sau các học thuyết của Lewin đó là một cá nhân tồn tại trong một không gian sống gồm khu vực có giá trị tích cực (hóa trị dương), khu vực có giá trị tiêu cực (hóa trị âm) cũng như khu vực trung tính Bệnh tật được xem là khu vực có hóa trị âm Luôn có một lực đẩy mọi người tránh xa khu vực của bệnh tật trà khi việc tránh

xa khu vực này sẽ dấn người đó đến một khu vực có hóa trị âm lớn hơn Do đó các hoạt động hàng ngày của một người được hình thành như là một quá trình được kéo bởi lực lượng tích cực và đấy lùi lực lượng tiêu cực

Đặc điếm đầu tiên của mô hình là một cá nhân hành động đế tránh một bệnh người

đó cần phải tin rằng: thứ nhất, cá nhân người đó nhạy cảm với bệnh tật đó; thứ hai, sự xuất hiện của bệnh sẽ ảnh hưởng cuộc đời mình ít nhất ở mức độ vừa; thứ ba, tham gia một hành động cụ thế trong thực tế có lợi bằng cách giảm tính nhạy cảm của mình với bệnh hoặc giảm mức độ nghiêm trọng của nó nếu bệnh xảy ra, và không dẫn tới việc khắc phục rào cản tâm lý quan trọng như chi phí, tính tiện lợi, đau, sự lúng túng

2 3 3 2 N h ậ n th ứ c tín h n h ạ y cả m

Mỗi cá nhân rất khác nhau trong việc chấp nhận tính nhạy cảm đối với bệnh tật Một người có thể phủ nhận bất kì khả năng nhiễm bệnh nào của họ Một người khác có thể chấp nhận một xác suất mang tính thống kê của sự xuất hiện bệnh, nhưng cũng có xác suất không xảy ra bệnh Cuối cùng, một người thê hiện cảm giác rằng người đó đang gặp nguy hiêm thật sự với sự lây nhiễm bệnh Tóm lại, tính nhạy cảm được đo lường có liên quan với những nguy cơ chủ quan của sự lây nhiễm bệnh

Trang 36

2 3 3 3 N h ậ n th ứ c m ứ c độ.

Mức độ nghiêm trọng của một vấn đề sức khỏe cũng khác nhau giữa người với người Mức độ nghiêm trọng có thế được xem xét thông qua mức độ kích thích xúc cảm do suy nghĩ về bệnh cũng như những khó khăn mà cá nhân tin rằng do bệnh mang đến Tất nhiên, một người có thế biết được vấn đề sức khỏe về mặt hậu quả lâm sàng và y học

Vì vậy, người đó có thê đặt ra những câu hỏi liệu rằng bệnh có dẫn đến tử vong, hoặc làm giảm chức năng thế chất hoặc tinh thần trong thời gian dài, hoặc suy giảm suốt đời Tuy nhiên, mức độ nghiêm trọng nhận thức của một bệnh đối với một cá nhân còn bao gồm nhiều hậu quả rộng lớn và phức tạp hon như ảnh hưởng của bệnh đến công việc, đời sống gia đình, và mối quan hệ xã hội

2 3 3 4 N h ậ n th ứ c n h ữ n g lợ i ích th ự c h iệ n h à n h đ ộ n g và n h ữ n g rà o c ả n th ự c h iệ n h à n h

đ ộ n g

Nhận thức tính nhạy cảm với bệnh và mức độ nghiêm trọng của bệnh dấn đến hành động nhưng không xác định quá trình cụ thế của hành động xảy ra Một lựa chọn được xem là có lợi khi lựa đó làm giảm tính nhạy cám hoặc mức độ nghiêm trọng của bệnh một cách chủ quan Có thể nói, niềm tin của một người về tính khả dụng và hiệu quả của những hành động khác nhau mà không phải là sự thật khách quan về tính hiệu quả của hành động ấy quyết định hành động nào được lựa chọn Tuy nhiên, niềm tin của một người lại bị ảnh hưởng bởi những chuẩn mực và áp lực trong xã hội của người đó.Một cá nhân có thể tin rằng một hành động nhất định sẽ đem lại hiệu quả làm giảm nguy cơ bệnh, nhưng cũng đồng thời đem đến những bất tiện, tốn kém, khó chịu, đau đớn hay xáo trộn Những khía cạnh tiêu cực này là rào cản đế thực hiện hành động Neu

sự sẵn sàng đê hành động lớn vượt qua những rào cản, hành động được thực hiện Ngược lại, nếu những rào cản quá lớn so với sự sẵn sàng, hành động không thế thực hiện Bên cạnh đó, có the có những giái pháp khác có cùng hiệu quả được lựa chọn đế thực hiện Tuy nhiên, trong trường họp cả rào cản và tính sẵn sàng đều lớn, hai khả năng có thế xảy

Trang 37

ra Thứ nhất, người đó do dự không thực hiện hành động và tham gia những hoạt động khác mà không thực sự làm giảm nguy cơ Thứ hai, sự sợ hãi và lo lắng ngày càng gia tăng, cá nhân không thể suy nghĩ khách quan và cư xử hợp lý về vấn đề.

2 3 3 5 D ấ u h iệ u h à n h đ ộ n g

Một yếu tố như là một gợi ý, hoặc một sự kích hoạt đế hành động thích họp dường như là cần thiết Các mức độ kết hợp của tính nhạy cảm và tính nghiêm trọng cung cấp năng lượng hoặc sức mạnh để hành động và sự nhận thức lợi ích (ít rào cản) cung cấp đường lối thích hợp cho hành động Những dấu hiệu đó có thế tử bên trong (nhận thứctình trạng cơ thể) hoặc từ bên ngoài (sự tương tác giữa các cá nhân, tác động của truyền thông, bưu thiếp, tờ rơi )

Hình 2.7 Mô hình Health Belief (Rosenstock, 1974)

2 3 3 6 C á c y ế u tố k h á c

Các yếu tố nhân khấu học, tâm lý xã hội và những biến cấu trúc ảnh hường đến nhận thức của cá nhân về bệnh cũng như những lợi ích phòng ngừa

Trang 38

Nghiên cứu luận văn chủ yếu dựa trên mô hình Health Belief và xem xét tình trạng mang thai ngoài ý muốn nhu một mối đe dọa về sức khỏe Thông qua sự đo luờng tính nhạy cảm và tính nghiêm trọng của việc mang thai, nhũng thuận lợi và rào cản khi sử dụng các biện pháp tránh thai cũng nhu các biến cấu trúc khác: tuổi, tình trạng hôn nhân,

số con, tiền sử mắc các bệnh lây truyền qua đuờng tình dục, tiền sử sấy thai, nạo, phá thai để nắm bắt đuợc hành vi lựa chọn biện pháp tránh thai của một nguời Tuy nhiên, nghiên cứu cũng kế thừa thuyết hành động họp lý và thuyết hành vi dự định Tác giả luận văn cũng bố sung yếu tố niềm tin kiếm soát và sụ dễ sử dụng vào nghiên cứu thông qua niềm tin kiếm soát khả năng có con trong năm tới khi có và không có sử dụng biện pháp tránh thai cũng nhu sụ tiện lợi, tính an toàn và tính hiệu quả của các biện pháp tránh thai Bên cạnh những yếu tố đã bao gồm trong mô hình Health Belief, yếu tố chuẩn chủ quan cũng là một yếu tố quan trọng quyết định hành vi lụa chọn phuơng pháp tránh thai của một nguời

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn phương pháp tránh thai.

2.4.1 Yeu tố nhận thức nguy cơ

Theo mô hình Health Belief (Rosenstock, 1974), khi xem xét mang thai là một tình trạng phụ nữ không mong muốn, phụ nữ có nhiều mức độ mong muốn khác nhau trong vấn đề tránh thai và cũng có những nhận thức về lợi ích và chi phí khác nhau đối với một phuơng pháp tránh thai cụ thể

Larry Condelli (1986) kết luận tính nhạy cảm là yếu tố quan trọng ảnh huởng đến sụ lựa chọn phuơng pháp tránh thai Những phụ nữ nhận thấy họ có nguy cơ mang thai ngoài ý muốn lớn sẽ có nhiều khả năng sử dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả Những nguời dùng thuốc đều cảm thấy dễ bị mang thai từ quan hệ tình dục không đuợc bảo vệ nhiều hơn so với nguời sử dụng phuơng pháp rào cản Hơn nữa, nguời dùng thuốc cảm thấy đuợc bảo vệ nhiều hơn khi sử dụng thuốc hơn so với nguời sử dụng phuơng pháp rào cản Điều này hoàn toàn đúng vì hiệu quả của việc dùng thuốc cao hơn hiệu quả sử

Trang 39

dụng phương pháp rào cản Tuy nhiên, nhận thức mức độ nghiêm trọng của việc có thai ngoài ý muốn lại không khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm sử dụng thuốc và sử dụng màng tránh thai Tính nghiêm trọng của bệnh đã được chứng minh là một yếu tố dự báo yếu trong những thử nghiệm khác mà áp dụng mô hình Health Belief (Rosenstock và Kirscht, 1979)

2.4.2 Yeu tố xã hội

2 4 2 1 T u ổ i

Nghiên cứu mới đây về việc sử dụng những phương pháp tránh thai hiện trên phụ

nữ đã kết hôn tại Việt Nam cũng kết luận những phụ nữ từ 30 đến 34 tuổi và có trình độ học vấn cao có xác suất lựa chọn sử dụng những phương pháp tránh thai hiện đại cao hơn (Vũ Thị Hoàng Lan và cộng sự, 2016)

2 4 2 2 T ìn h tr ạ n g h ô n n h â n , s ố co n

Một phân tích riêng biệt của dữ liệu Kenya Democraphics and Health Survey 1998 cho thấy xác suất sử dụng BCS cao hơn đáng kể ở lần quan hệ tình dục cuối cùng trong thanh thiếu niên và phụ nữ chưa lập gia đình, so với phụ nữ lớn tuổi và đã kết hôn (Waithaka và Bessinger, 2001) Tuy nhiên, không có con chứ không phải là tình trạng hôn nhân hay tuổi tác, là yếu tố chính trong việc sử dụng các phương pháp rào cản (Magadi và Curtis, 2003) Tuổi tác, tình trạng hôn nhân, và số con có liên quan chặt chẽ Phân tích đa biến cho phép tác giả kiểm tra tác động độc lập của các biến này Các tác động mạnh mẽ của số con so với độ tuổi và tình trạng hôn nhân có thể chỉ ra việc sử dụng BCS trong số những người có nguy cơ lây nhiễm HIV/ AIDS; thanh thiếu niên chưa lập gia đình không có con có lẽ là những người ít có khả năng có mối quan hệ on định và nhiều khả năng sử dụng BCS hơn so với thanh thiếu niên chưa lập gia đình và

có con Nói cách khác, tình trạng hôn nhân không phải là yếu tố quyết định sử dụng

Trang 40

BCS; sử dụng BCS được quyết định bởi một sự kết hợp của hoàn cảnh tốt nhất bằng số con.

2 4 2 3 T iề n s ử s ứ c k h ỏ e s in h s ả n

Một yếu tố nhân khấu học khác tác động đến sự lựa chọn phương pháp tránh thai là tình trạng sức khỏe sinh sản của người tham gia nghiên cứu bao gồm: sẩy thai, có con, mắc bệnh truyền nhiễm Những người phụ nữ có tiền sử phá thai thường không sử dụng các biện pháp tránh thai và sử dụng phương pháp rào cản (BCS) ít hơn những người không có tiền sử phá thai (Raine và cộng sự, 2003).

2 4 2 4 T r ì n h đ ộ h ọ c v ấ n

Phân tích hai biến số và đa biến số trên một mẫu đại diện gồm những phụ nữ từ 18 tuổi đến 44 tuổi cho rằng những yếu tố nhân khẩu học và kinh tế xã hội có mối liên hệ với sự lựa chọn phương pháp tránh thai Phụ nữ không có trình độ đại học thì thường không lựa chọn phương pháp dùng thuốc mà ưa thích những phương pháp có thời gian tác dụng lâu dài hơn (Frost và Darroch, 2004)

Giáo dục có ảnh hưởng đến lựa chọn biện pháp tránh thai của phụ nữ trẻ Nhìn chung, một phụ nữ độc thân có trình độ giáo dục cao, nhiều khả năng sử dụng một biện pháp tránh thai Việc gia tăng sử dụng các phương pháp phụ thuộc giao họp (BCS) ở phụ nữ

có học vấn cao có thể là do sự gia tăng nhận thức của các tác dụng phụ giả định của thuốc

và vòng tránh thai và khả năng sử dụng phương pháp phụ thuộc giao hợp một cách hiệu quả (Tanfer và cộng sự, 1992).

2 4 2 5 K iế n th ứ c v ề c á c b iệ n p h á p p h ò n g tr á n h th a i

Lượng kiến thức về tránh thai và thụ thai cũng khác nhau giữa các nhóm người sử dụng phương pháp tránh thai khác nhau (Condelli, 1986) Người sử dụng màng tránh thai hiếu biết về các chủ đề này hon những người dùng thuốc Những người sử dụng

Ngày đăng: 30/10/2017, 13:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w