Vào giữa thế kỷ thứ VI trước Công nguyên đạo Phật ra đời ở Ấn Độ và mang tên người sáng lập là Buddha. Đạo Phật được truyền bá rộng rãi ở các quốc gia trong khu vực Châu Á, Châu Phi, gần đây có mặt tại các nước châu Âu và châu Mỹ. Trong quá trình truyền bá, đạo Phật đã kết hợp với tín ngưỡng tập tục, dân gian, văn hóa bản địa hình thành nhiều tông phái và giáo phái, đã có những ảnh hưởng và tác động vô cùng quan trọng đối với đời sống xã hội và văn hóa của nhiều quốc gia trên thế giới.
Trang 1
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Nghành : LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC BỘ MÔN VẬT LÝ
Người hướng dẫn : TS PHẠM HUY THÀNH
Đà Nẵng 2017
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗtrợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốtthời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, chúng em đã nhậnđược rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, chúng em xin gửi đến quý Thầy Cô ở KhoaVật Lý – Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng đã cùng với tri thức và tâm huyết củamình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian họctập tại trường
Em xin chân thành cảm ơn TS PHẠM HUY THÀNH đã tận tâm hướng dẫnchúng em qua từng buổi học trên lớp cũng như những buổi nói chuyện Nếu không
có những lời hướng dẫn, dạy bảo của thầy thì em nghĩ bài thu hoạch này của em rấtkhó có thể hoàn thiện được Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn Thầy
Bước đầu đi vào thực tế, tìm hiểu về lĩnh vực Triết học ,kiến thức của emcòn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót là điềuchắc chắn, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của Thầy vàcác bạn học cùng lớp để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn
Sau cùng, em xin kính chúc quý Thầy Cô trong Khoa Vật lý – Trường ĐạiHọc Sư Phạm Đà Nẵng và TS PHẠM HUY THÀNH thật dồi dào sức khỏe, niềmtin để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế
hệ mai sau
Trang 3
MỤC LỤC MỞ ĐẦU 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO 6
I Nguồn gốc ra đời của Phật giáo 6
II Đạo phật ở việt nam 6
1 Sự du nhập của đạo Phật vào Việt Nam 6
2 Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử 7
a Phật giáo từ đầu Công nguyên đến giữa thế kỷ VI 7
b Phật giáo từ giữa thế kỷ VI đến thế kỷ X (hậu Lý Nam Đế và Bắc thuộc lần thứ 3) 7
c Phật giáo từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV 8
d Phật giáo thời hậu Lê 8
e Phật giáo thời Nam – Bắc phân tranh 9
f Phật giáo thời kỳ khởi nghĩa nông dân (nửa cuối thế kỷ XVIII) 9
g Phật giáo thời Nguyễn 10
h Phật giáo thời kỳ Pháp thuộc (nửa cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX) 10
n Phật giáo Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến nay 11
III Những nội dung chủ yếu của triết lý nhà Phật 11
1 Thế giới quan Phật giáo 11
1.1 Thuyết Vô Thường 12
1.2 Thuyết vô ngã 12
1.3 Thuyết lý nhân duyên sinh 13
1.4 Thuyết nhân duyên quả báo hay thuyết nhân quả 13
2 Nhận thức luận Phật giáo 13
2.1 Bản chất, đối tượng của nhận thức luận 13
2.2 Quy trình, con đường và phương pháp nhận thức 14
3 Nhân sinh quan Phật giáo 15
Trang 4
3.1 Tứ diệu đế: Tứ diệu đế hay còn gọi là tứ chân đế hay tứ thánh đế, là bài thuyết pháp đầu tiên của Phật sau khi thành đạo tại vườn Lộc giã cho năm từ khưu trước kia đi theo Phật Tứ đế là đạo lý căn bản của Thanh Văn Thừa, đồng thời cũng là cơ sở của các thuyết khác trong giáo lý Phật 16
3.2 Những quan điểm về nhân sinh quan Phật giáo 20
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN XÃ HỘI VIỆT NAM 23 I Lịch sử hình thành và phát triển Phật giáo Việt Nam 23
II Ảnh hưởng Phật giáo đến xã hội Việt Nam 26
1 Ảnh hưởng Phật giáo qua ngôn ngữ 26
2 Ảnh hưởng Phật giáo qua các tác phẩm văn học 27
3 Ảnh hưởng Phật giáo qua nghệ thuật sân khấu 34
4 Ảnh hưởng Phật giáo qua sự dung hòa với các tín ngưỡng truyền thống 36
5 Đạo phật với hình thành nhân cách người Việt Nam 36
6 Ảnh hưởng về mặt tư tưởng và đạo lý 38
7 Ảnh hưởng Phật giáo qua phong tục, tập quán 40
8 Đạo phật đối với nền văn hóa Việt Nam: 45
9 Đạo phật với chiến tranh và hòa bình ở Việt Nam 46
10 Đạo phật với vấn đề chính trị 48
KẾT LUẬN 50
Trang 5Vì vậy tôi chọn đề tài: “Phật giáo và sự ảnh hưởng của phậtgiáo trong đời sống xã hội”được xây dựng nhằm tìm hiểu, nghiên cứu về Triết học Phật giáo
và những ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống xã hội Việt Nam nhằm mục đích định hướng cho sự phát triển nhân cách, tư duy, lễ giáo,… của con người Việt Nam
Do sự hiểu biết còn hạn hẹn nên trong quá trình viết không tránh khỏi thiếusót, kính mong thầy giáo giúp đỡ để bài viết được hoàn thiện hơn
Trang 6
NỘI DUNG Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO
I Nguồn gốc ra đời của Phật giáo
Vào giữa thế kỷ thứ VI trước Công nguyên đạo Phật ra đời ở Ấn Độ vàmang tên người sáng lập là Buddha Đạo Phật được truyền bá rộng rãi ở các quốcgia trong khu vực Châu Á, Châu Phi, gần đây có mặt tại các nước châu Âu và châu
Mỹ Trong quá trình truyền bá, đạo Phật đã kết hợp với tín ngưỡng tập tục, dângian, văn hóa bản địa hình thành nhiều tông phái và giáo phái, đã có những ảnhhưởng và tác động vô cùng quan trọng đối với đời sống xã hội và văn hóa củanhiều quốc gia trên thế giới
II Đạo phật ở việt nam
1 Sự du nhập của đạo Phật vào Việt Nam
Xét về mặt địa lý Việt Nam nằm ở bán đảo Đông Dương, là nơi có nhiềuđiều kiện thuận lợi cho việc giao lưu tiếp xúc với các nước trong khu vực Ấn Độ
và Trung Hoa là hai nước có nền văn minh lớn cổ xưa Việt Nam nằm cạnh hainước, cho nên chịu nhiều ảnh hưởng của hai nền văn minh này
Trong những năm đầu Công nguyên, Việt Nam đang ở thời kỳ Bắc thuộc, vềtôn giáo tầng lớp trên của xã hội bắt đầu chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo,tầng lớp dưới có quan niệm về ông trời – đấng gây phúc họa cho con người vàquan niệm đa thần giáo trong tín ngưỡng dân gian
Đạo Phật được truyền bá vào Việt Nam ngay từ đầu Công nguyên bằng haicon đường; đường thủy thông qua con đường buôn bán với thương gia Ấn Độ.Đường bộ thông qua giao lưu văn hóa với Trung Quốc mà Trung Quốc khi ấy cũngtiếp nhận Phật giáo được truyền bá từ Ấn Độ Như vậy Phật giáo Việt Nam mang
cả sắc thái Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc
Đạo Phật truyền vào Việt Nam không phải thông qua con đường xâm lược,không phải do sự cưỡng chế của Trung Hoa mà thông qua đường giao thương buônbán Đạo Phật đến bằng con đường hòa bình, những giáo lý của đạo Phật về bìnhđẳng, bắc ái, cứu khổ, cứu nạn…gần gũi với cư dân Việt Nam do đó dễ được chấpnhận Mặt khác thời kỳ này còn có các tín ngưỡng bản địa của cư dân nông nghiệp
Trang 7
lúa nước, cộng với sự tồn tại của Nho giáo, đạo Lão được Trung Quốc truyền vào,tuy nhiên các tín ngưỡng, tôn giáo đó còn có nhiều mặt khiếm khuyết đối với đờisống tâm linh cộng đồng và đạo Phật đã bổ sung vào chỗ thiếu hụt ấy Vì vậy đạoPhật ở Việt Nam được giao thoa bởi các tín ngưỡng bản địa, cũng như ảnh hưởngbởi đạo Lão ở Việt Nam
2 Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
Đạo Phật truyền bá vào Việt Nam, đến nay đã gần 2000 năm Trong khoảngthời gian dài đó, do sự thay đổi của tình hình kinh tế, chính trị xã hội của đất nước,đạo Phật cũng trải qua một số bước phát triển và hình thành nên một số giai đoạntương đối rõ rệt
a Phật giáo từ đầu Công nguyên đến giữa thế kỷ VI
Thời kỳ này Phật giáo đang trong giai đoạn phôi thai, buổi đầu của sự truyền
bá Nó mang nhiều dấu ấn của Phật giáo Ân Độ, Giao Châu khi đó đang là thuộcđịa của Trung Hoa, mà Trung Hoa cũng muốn truyền bá tư tưởng của mình nênPhật giáo lúc đầu không được chính quyền ngoại xâm chấp nhận Song do sự tồntại và phát triển của Phật giáo ở Giao Châu, chính quyền ngoại xâm cũng phải nớidần cho sự phát triển của Phật giáo
Trung tâm Phật giáo lớn nhất lúc này là Luy Lâu, ở đây đã có những nhà sư
Ấn Độ dịch một số kinh Phật để giảng giải cho người bản địa và có sự trao đổi vềgiáo lý với các nhà sư truyền bá Phật giáo theo con đường Trung Quốc
b Phật giáo từ giữa thế kỷ VI đến thế kỷ X (hậu Lý Nam Đế và Bắc thuộc lần thứ 3)
Đến thời kỳ này Phật giáo đã tồn tại và phát triển khá vững vàng ở ViệtNam Trong đạo Phật đã hình thành một số tông phái và đã diễn ra sự tranh luậngiữa các môn phái… Trên lĩnh vực truyền giáo, ngoài các nhà sư Ấn Độ và TrungQuốc đã có các nhà sư Việt Nam giỏi về giáo lý Phật tham gia
Phật giáo thời kỳ này không chỉ đặt vấn đề giải thoát cho mọi đau khổ củacon người, mà còn đặt vấn đề giác ngộ chân lý Giáo lý Phật ngày càng được phổbiến và chùa chiền ngày càng mở mang phát triển Nhiều người dân tự nguyện đếnvới đạo Phật, có người lấy danh nghĩa Phật như Lý Phật tử… để tập hợp quần
Trang 8
chúng gắn bó với nhau Đạo Phật đã trở thành tiền đề cho việc trở thành quốc giáo
ở giai đoạn lịch sử sau này
c Phật giáo từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV
Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, kỷ nguyên độc lập dân tộc và xâydựng đất nước được mở ra cho dân tộc Việt Nam Phật giáo lan rộng khắp nơi,nhiều trung tâm Phật giáo mới được hình thành
Các nhà sư thời nhà Đinh, Lê mà sau này cả nhà Lý, Trần cũng chú trọngphát triển Phật giáo, nhiều nhà sư trở thành quan trong triều hay được sử dụng vàoviệc ngoại giao với sứ Trung Quốc Giáo lý nhà Phật lên đến đỉnh cao, các vua Lýđều tôn trọng Phật giáo Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân cũng ảnh hưởng
tư tưởng của Phật giáo Các lễ hội mang tính Phật giáo phát triển, chùa vừa là nơicúng Phật vừa là nơi hội tụ lễ hội, dạy học của dân làng
Về giáo lý tiếp tục phát triển hai phái thiền và xuất hiện một phái mới làThảo Đường Về thờ cúng trong Phật giáo cũng được hòa đồng với tín ngưỡng dângian
Thời nhà Trần, tinh thần, ý thức dân tộc được nâng cao thêm sau khángchiến chống quân Nguyên Mông, điều này tác động mạnh đến đời sống văn hóa xãhội Nho giáo dần dần chiếm ưu thế do sự đòi hỏi của phát triển lịch sử Các vuaTrần ý thức được điều đó nhưng Phật giáo thời Trần vẫn được tin dùng và pháttriển Các vua Trần đã tu Phật, Trần Nhân Tông còn lập nên phái Trúc Lâm YênTử
Phật giáo thời Trần phát triển trong sự dung hòa với Nho giáo, mặt kháccũng tiếp nhận đạo Giáo
d Phật giáo thời hậu Lê
Lê Lợi chiến thắng giặc ngoại xâm và lên ngôi vua, đã đánh dấu bướcchuyển quan trọng trong đời sống xã hội Việt Nam Trên lĩnh vực tôn giáo Phậtgiáo đã nhường bước cho Nho giáo, điều này chủ yếu do đời sống chính trị xã hộiViệt Nam quy định, đó là phải xây dựng củng cố nhà nước phong kiến, kỷ cương
xã hội, mà Nho giáo có khả năng đáp ứng được Tuy nhiên Nho giáo chỉ phổ biến
Trang 9
chủ yếu ở tầng lớp trên của xã hội, còn ở đại bộ phận dân cư tác động của Phậtgiáo còn khá lớn
Thời kỳ này Phật giáo dung hòa 3 yếu tố: Tịnh, Thiền, Mật kết hợp cả tự độ,
tự giác và giác tha Bên cạnh đó nhà Lê hạn chế tổ chức thi cử, một số lễ giáo, xâydựng chùa chiền…
Nhìn chung vai trò Phật giáo thời hậu Lê đã bị giảm sút so với trước Phậtgiáo không trực tiếp tham gia vào việc triều chính như trước mà chủ yếu ảnhhưởng trong đời sống dân chúng
e Phật giáo thời Nam – Bắc phân tranh
Từ năm 1528 nước ta bước sang giai đoạn lịch sử mới với nhiều biến đổi vềchính trị, kinh tế xã hội…Điều này cũng tác động không nhỏ đến đạo Phật
Mạc Đăng Dung đoạt ngôi vua Chiêu Tôn, nhà Lê mất ngôi, nhưng con cháunhà Lê đã lập ra triều đình riêng ở Thanh Nghệ để chống lại nhà Mạc Lê – Mạctranh giành nhau suốt 60 năm, sau nhà Lê nhờ họ Trịnh dẹp được nhà Mạc nhưnglại xảy ra hiềm khích Trịnh – Nguyễn và hai nhà Trịnh – Nguyễn đã mâu thuẫnnhau suốt hai thế kỷ
Tình hình chính trị xã hội rối ren, đời sống nhân dân cực khổ, cảnh đói kémlưu tán triền miên, tác động sâu sắc đến mỗi người dân và các bậc quan lại, sư sãi.Đạo Phật lại có điều kiện để phát triển với tư tưởng Từ bi hỷ xả, tin vào một thếgiới tốt đẹp hơn Vì vậy mà đạo Phật thời kỳ này tác động mạnh mẽ vào dân chúnghơn những giai đoạn lịch sử trước Sự tác động ấy được tiếp biến của những tínngưỡng, bởi đạo đức dân gian và tạo dựng cho Phật giáo một sắc thái mới
Thời kỳ này Phật giáo đã hình thành một số môn phái mới, các sư sãi kháđông Chùa chiền ở cả Nam – Bắc đều phát triển và đã xây dựng được một số chùalớn như: chùa Thiên Mụ
f Phật giáo thời kỳ khởi nghĩa nông dân (nửa cuối thế kỷ XVIII)
Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII là xã hội sôi động của những cuộc đấutranh, những biến động liên tục Khởi nghĩa Tây Sơn thắng lợi đem lại những tưtưởng mới cho lịch sử Việt Nam, các trí thức thời này đã tìm cách kiến giải mới về
Trang 10
xã hội về tôn giáo, nhưng tôn giáo thời kỳ này vẫn chưa thoát khỏi tư tưởng tamgiáo đồng nguyên
g Phật giáo thời Nguyễn
Triều đình Nguyễn không được dân ủng hộ, nên luôn gặp sự phản kháng củangười dân, vì vậy mà triều đình Nguyễn muốn lặp lại cơ cấu tổ chức nhà nước, điđôi với nó là các chính sách hà khắc, hạn chế đạo Phật, sư sãi… Với đạo Phật,triều Nguyễn đã phê phán cả giáo lý và hành đạo của Phật giáo Song Phật giáovẫn có chỗ đứng ngay trong cung đình, trong gia đình triều thần, trong các nho sĩquan lại Do vậy việc tu sửa chùa chiền thời này vẫn được diễn ra
Phật giáo đã thấm sâu vào tư tưởng nhân dân, nó được quan hệ làng xã lưugiữ, duy trì Trong quan niệm của nhân dân, trong văn học…đều mang dấu ấn tưtưởng của Phật giáo
h Phật giáo thời kỳ Pháp thuộc (nửa cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX)
Nhà Nguyễn ngày càng bất lực trước sự phát triển của xã hội, của sự tác độngcủa chủ nghĩa tư bản phương Tây Nhu nhược trước sự xâm chiếm của thực dânPháp với dụng ý tách đạo với đời, đưa quần chúng xa lánh đời sống chính trị
Sự chấn hưng của Phật giáo đã tạo bước quan trọng của quan niệm dấn thân,gắn hoạt động tôn giáo với hoạt động chính trị xã hội, gắn ý thức dân tộc với ýthức Phật giáo Phật giáo đã tạo ra những phong trào lớn cho lịch sử Phật giáo vàlịch sử dân tộc thời ấy
Qua các phong trào Phật giáo, đã thành lập được các tổ chức giáo hội, tuychưa có sự thống nhất chung của Phật giáo trong cả nước, song đã có sự quan hệtrao đổi giữa các tổ chức giáo hội này
Về giáo lý đã đặt ra những vấn đề lớn phức tạp mà từ trước đến nay chưa hề
có, đó là: Phật giáo vô thần hay hữu thần, hoặc nhân duyên luận là duy vật hay duytâm, có linh hồn hay không có linh hồn… Trong những cuộc tranh luận trên có cả
sự tham gia của trí thức cộng sản, họ đã gây được ảnh hưởng trong cuộc tranh luậntrên
Nhìn lại lịch sử Phật giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chúng
ta thấy rằng Phật giáo có những biến đổi lớn đã phân hóa cả về xu hướng chính trị
Trang 11
xã hội, về giải thích, tiếp thu giáo lý… tình hình ấy kéo dài và phát triển về saunày
n Phật giáo Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến nay
Trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, tuy cómột bộ phận tăng ni trong giới Phật giáo có sự phân hóa, song phần đông giới chứcsắc và tín đồ Phật giáo đã tham gia tích cực vào công cuộc cách mạng chung củadân tộc
Sau ngày miền Nam giải phóng (1975), Giáo hội Phật giáo Việt Nam đượcthành lập (năm 1981) với phương châm hoạt động: “ Đạo pháp – dân tộc – chủnghĩa xã hội ”, các tăng, ni và Phật tử tích cực tham gia vào công cuộc cách mạngchung của dân tộc
Trong những năm gần đây, Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thịtrường, đồng thời chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước cũnghết sức cởi mở và quan tâm tới vấn đề tôn giáo, Phật giáo Việt Nam phát triểnmạnh, thu hút đông đảo hơn các Phật tử tham gia và đang là một hiện tượng xã hội
mà nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Kể từ sau đổi mới Phật giáo phát triển mạnh,không chỉ có những địa phương truyền thống, mà khắp các địa phương đều cóđông đảo người tin theo Phật một cách mạnh mẽ, chùa được tu sửa mới, đẹp hơn,các ngày tế lễ trong chùa ngày một đông hơn, tâm niệm hướng về Phật Phật giáothực sự sống lại, nhiều người trước là vô thần nay có thiện cảm với Phật Trướcđây, có thời chùa chỉ là nơi lui tới, là chỗ dựa cho người già, nhưng nay cả thanh,thiếu niên, những nhà tri thức có học vị cao cũng có tình cảm với Phật giáo, có thểnói Phật giáo bước sang giai đoạn phát triển với những nét mới
III Những nội dung chủ yếu của triết lý nhà Phật
1 Thế giới quan Phật giáo
Thế giới quan Phật giáo chịu ảnh hưởng của hai luận điểm, thể hiện qua bốnluận thuyết cơ bản: Thuyết Vô Thường, Thuyết Vô Ngã, Thuyết Nhân Quả vàThuyết Nhân Duyên Khởi
Trang 12
1.1 Thuyết Vô Thường
Vô thường là không thường còn, là chuyển biến thay đổi Luật vô thường chiphối vũ trụ, vạn vật, thân và tâm ta Sự vật luôn luôn biến đổi không có gì làthường trụ, bất biến Với ngũ quan thô thiển của ta, ta lầm tưởng sự vật là yên tĩnh,
là bất động nhưng thật ra là nó luôn luôn ở thể động, nó chuyển biến không ngừng
Sự chuyển biến ấy diễn ra dưới hai hình thức:
a) Một là Sátna (Kshan) vô thường: là một sự chuyển biến rất nhanh, trong
một thời gian hết sức ngắn, ngắn hơn cả một nháy mắt, một hơi thở, một niệm, một
sự chuyển biến vừa khởi lên đã chấm dứt Phật dung danh từ Satna để chỉ mộtkhoảng thời gian hết sức ngắn
b) Hai là: Nhất kỳ vô thường: Là sự chuyển biến trong từng giai đoạn Sự vô
thường thứ nhất là trạng thái chuyển biến nhanh chóng, liên tiếp, ngắn ngủi,thường là ta không nhận ra mà kết quả là gây ra sự vô thường thứ hai Nhất kỳ vôthường là trạng thái chuyển biến rõ rệt, kết thúc một trạng thái cũ, chuyển sang mộttrạng thái mới Vạn vật trong vũ trụ đều tuân theo luật: Thành - Trụ - Hoại -Không
1.2 Thuyết vô ngã
Từ thuyết vô thường Phật nói sang vô ngã Vô ngã là không có cái ta Thực
ra làm gì cũng có cái ta trường tồn, vĩnh cữu vì cái ta nó biến đổi không ngừng,biến chuyển từng phút, từng giờ
Thuyết vô ngã làm cho người ta không còn ai tin là có một linh hồn vĩnhcửu, tồn tại kiếp này sang kiếp khác, đời này qua đời khác Sự tin có một linh hồndẫn dắt đến sự cúng tế linh hồn là hành động của sự mê tín Quan niệm có một linhhồn bất tử, một cái ta vĩnh cửu là nguồn gốc sinh ra những tình cảm, những tưtưởng ích kỷ, những tham dục vô bờ của những kẻ dựa vào sức mạnh phi nghĩa đểlàm lợi cho mình, tức là cho cái ta mà họ coi là thường còn, bất biến Còn đối vớinhững người bị hà hiếp, bị bóc lột thì sự mê tín có cái ta vĩnh cửu dẫn đến tư tưởngtiêu cực, chán đời phó mặc cho số mệnh, hy vọng làm lại cuộc đời ở kiếp sau
Hai thuyết vô thường, vô ngã là hai thuyết cơ bản trong giáo lý Phật Chấpngã chấp có cái ta thường còn là nguồn gốc của vô minh mà vô minh là đầu mối
Trang 13
của luân hồi sinh tử sinh ra đau khổ cho con người Căn cứ trên hai thuyết vôthường và vô ngã Phật đã xây dựng cho đệ tử một phương thức sống, một triết lýsống lấy vị tha làm lý tưởng cao cả cho cuộc sống của mình, hay nói một cáchkhác một cuộc sống một người vì mọi người, mọi người vì một người
1.3 Thuyết lý nhân duyên sinh
Với lý nhân duyên sinh Phật muốn nói tới một định lý Theo định lý ấy sựvật vạn vật phát triển trên thế gian đều do các nhân duyên hội họp mà thành, sựvật, vạn pháp sẽ kiến diệt khi nhân duyên tan rã Nhân là năng lực phát sinh, duyên
là lực hỗ trợ cho nhân phát sinh Như cây lúa thì hạt lúa là nhân, nước, ánh sángmặt trời, công cày bừa gieo trồng là duyên Nhân duyên đó hội họp sinh ra cây lúa.Tất cả mọi hiện tượng đều nương nhau mà hành động Nói nương nhau có nghĩa là
sự vật tác động, kết hợp, chi phối, ảnh hưởng lẫn nhau mà thành Đó là nhânduyên
1.4 Thuyết nhân duyên quả báo hay thuyết nhân quả
Thuyết nhân duyên quả báo gọi là thuyết nhân quả là một trong nhữngthuyết cơ bản của giáo lý Phật Phật chủ trương không bao giờ tự nhiên mà có, màsinh ra và cũng cho rằng không một thần quyền nào hay một đấng thiêng liêng nàotạo ra sự vật Sự vật sinh ra là có nhân nguyên nhân Cái nguyên nhân một mìnhcũng không tạo ra được sự vật mà phải có đủ duyên thì mới tạo ra quả được
2 Nhận thức luận Phật giáo.
2.1 Bản chất, đối tượng của nhận thức luận.
Bản chất của nhận thức luận Phật giáo là quá trình khai sáng trí tuệ Còn đốitượng của nhận thức luận là vạn vật, là mọi hiện tượng, là cả vũ trụ Vạn vật là vôthuỷ vô chung, không có sự vật đầu tiên và không có sự vật cuối cùng Mọi vật đềuliên quan mật thiết đến nhau Toàn thể dù lớn đến đâu nếu không có quan hệ vớihạt bụi thì cũng không thành lập được
Sau khi đã tìm hiểu về sự vật, hiện tượng chúng ta sẽ tìm hiểu cái tâm trongđạo Phật để thấy được quan niệm của đạo Phật về tâm và vật
Thông thường người ta cho rằng đạo Phật là duy tâm vì trong kinh phật cócâu ”Nhất thiết duy tâm tạo “ Nhưng chữ “ duy tâm “ ở đây không phải là duy
Trang 14
tâm trong triết học Tây Phương nên ta không thể nhận định như trên Chữ tâmtrong đạo Phật có nghĩa là một năng lượng, nó làm bản thể cho tất cả mọi hiệntượng tâm lý, cho mọi hiện hành Bản thể là cái chất, là cội gốc của vạn vật Khi taphân tích, chia chẻ một vật đến một phần tử nhỏ nhiệm nhất, đến phần cuối cùngthì phần tử ấy là bản thể mà ở đây cũng có vật có chất nên đâu đâu cũng thấy cóbản thể, vì vậy tâm cũng lại là to lớn vô biên Những tình cảm, ý thức phát sinhphải nương vào hiện tượng sinh lý, vật lý Nói nương nhau để phát sinh chứ khôngphải các hiện tượng sinh lý, vật lý sinh ra các hiện tượng tâm lý Hiểu như vậy thìthấy rõ không phải tâm sinh vật hay vật sinh tâm Những hiện tượng sinh lý vật lý
và những hiện tượng tâm lý ấy chỉ tương sinh tương thành
2.2 Quy trình, con đường và phương pháp nhận thức
Sự nhận thức phát triển theo hai con đường tư trào: Hường nội và hướngngoại Phật giáo thường quan tâm đến tư trào hướng nội tức là mỗi người tự chiêmnghiệm suy nghĩ của bản thân Có hai phương pháp để nhận thức là :
Tiệm ngộ : là sự giác ngộ, nhận thức một các dần dần, có tính chất là “ trí
hữu sư”
Đốn ngộ : là sự giác ngộ bột phát, bùng nổ có tính chất là “ trí vô sư ”
Với hai phương pháp ấy sự nhận thức Phật giáo được chia làm hai gia đoạn:
Giai đoạn một là từ tuỳ giác đến thể nhập Nhận thức bắt đầu từ cảm giác và
phụ thuộc vào cảm giác đưa lại Kết quả là con người biết được cái tiếp xúc giữathế giới khách quan và giác quan của con người và từ sự tiếp xúc này tạo nên yếutố” thọ “ trong ngũ uẩn Theo nhà Phật nói chữ thọ ở đây là sự tiếp xúc của sáu cănvới sáu trần tạo nên yếu tố thọ Căn cứ ở đây là những khả năng nhận thức của cácgiác quan Trần là loại kích thích từ thế giới bên ngoài Nếu kích thích tương ứngvới các căn thì con người có cảm giác Sáu căn là : nhăn, nhỉ, tù, thiệt, thân, ý Sáutrần là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp “ Thọ”, cho chúng ta nhận biết đượcnhững hiện tượng riêng lẻ, những cái bề ngoài, ngẫu nhiên Trong một số trườnghợp khác gọi đó là kinh nghiệm Từ những tri thức cảm tính kinh nghiệm nêu trên,con người sẽ đi sâu để nhập vào bản thể của sự vật để biết được cái bên trong, bảnchất đó là tri thức định lý
Trang 15
Giai đoạn hai sự nhận thức đi từ cái tâm tại đến cái tâm siêu thể Từ kết quả
của giai đoạn trước , con người bắt được cái tâm tính của những sự vật hữu hình táithế và đặc biệt là cái tâm ở trong mỗi con người và nâng lên để nắm được cái tâmsiêu thoát, cái tâm trung Để đạt được sự nhận thức đó thì có nhiều phương phápsong hai phương pháp sau: Tam học và Tam huệ là chủ yếu
* Tam học là giới, định, tuệ
Giới: Gồm có nhứng phương tiện để thay đổi lối suy nghĩ, lối sinh hoạt hàng
ngày của con người sống theo đạo, thích hợp với đạo là luôn hướng về thiện
Định: là đình chỉ mọi tư tưởng xấu, ý nghĩ xấu và còn là tập trung tư tưởng
suy nghĩ để làm mọi việc yên lành
Tuệ: là trí tụê sáng suốt, đã thấu được lý vô thường, vô ngã, do đó chỉ nghĩ
đến làm việc thiện, mưu lợi cho chúng sinh
* Tam huệ: là văn, tu, tư
Văn: là nghe pháp phật, hiểu rõ ý nghĩa, quan niệm được bản tính thanh tịnh,
sáng suốt của mình, do đó mà có một lòng tin vững chắc nơi Phật pháp
Tư : là suy nghĩ về các pháp Phật đã nghe được, học được đi đến giác ngộ
bản lai tư tính của mình
Tu: là nương theo trí tuệ, bắt đầu trực nhận được bản tính chân như, mà tụ
tập gột rửa những thói quen mà lầm từ nhiều kiếp để lại đi đến nhập với một phápgiới tính Các phương pháp trên đã phá tan các kiến chấp sai lầm chấp ngã, chấppháp để đi đến trung đạo và nhận rõ trung đạo là chẳng có, chẳng không Với nhậnthức như thế, người tu hành sẽ được sống trong sự giải thoát, sinh tử luân hồi sẽkhông còn nữa
3 Nhân sinh quan Phật giáo.
Từ một vũ trụ quan căn cứ trên những thuyết nhân duyên sinh, thuyết sự vậtduyên khởi đi đến nhận thức là vô thủy, vô chung, từ những thuyết vô thường, vôngã bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu về những quan niệm của Đạo Phật về vấn đề nhânsinh quan
3.1 Tứ diệu đế: Tứ diệu đế hay còn gọi là tứ chân đế hay tứ thánh đế, là bài
thuyết pháp đầu tiên của Phật sau khi thành đạo tại vườn Lộc giã cho năm từ khưu
Trang 16
trước kia đi theo Phật Tứ đế là đạo lý căn bản của Thanh Văn Thừa, đồng thờicũng là cơ sở của các thuyết khác trong giáo lý Phật
* Tứ đế gồm có: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế
a Khổ đế: Trong tứ đế, Phật đưa ra đầu tiên vấn đề khổ, rồi giảng cho ta thấy
vì sao mà khổ, phương pháp diệt khổ và con đường đi đến diệt khổ Nói như thế cóngười hiểu lầm cho rằng đạo Phật chủ trương cuộc đời chỉ toàn là khổ, và đạo Phật
là đạo yếm thế Thực ra, đạo Phật nhìn cuộc đời một cách khách quan, không rungười ta vào một giấc mơ Niết Bàn hay cực lạc và cũng không làm cho người ta sợhãi, chán nản bởi những đau khổ trong cuộc sống Phật chỉ cho chúng ta nhận thức
sự vật, cuộc đời theo chân tướng của nó và chỉ dẫn cho chúng ta đi đến giải thoát
Theo cách phân tích khác Phật chia cái khổ ra làm 8 loại:
1, Sinh khổ: Đã có sinh là có khổ vì đã sinh nhất định có diệt, bị luật vô thường chi phối nên khổ.
2, Lão khổ: người ta mong muốn trẻ mãi nhưng cái già theo thời gian vẫn cứ đến Cái già vào mắt thì mắt bị mờ đi, cái già vào lỗ tai thì tai bị điếc, vào da, xương tủy thì da nhăn nheo, xương tủy mệt mỏi Cái già tiến đến đâu thì suy yếu đến ấy làm cho người ta phiền não.
3, Bệnh Khổ: Trong cuộc sống, thân thể thường ốm đau, nhất là khi già yếu,thân thể suy nhược, bệnh tật dễ hoành hành làm cho người ta đau khổ.
4, Tử khổ : Là cái khổ khi người ta chết Chúng sinh do nghiệp báo chịu cái thân nào thì gắn bó với cái thân ấy coi như cái thân duy nhất của mình thì khi chết thì phiền não vô cùng.
Chứng sinh do nghiệp báo chịu cái thân nào thì gắn bó với cái thân ấy coi như cái thân duy nhất của mình thì khi chết thì phiền não vô cùng.
5, Cầu bất đắc khổ: Người ta thường chạy theo những điều mình ưa thích, mong cầu hết cái này đến cái khác Khi chưa cầu được thì phiền não, khi cầu được rồi thì phải lo giữ nó, nếu nó mất đi thì lại luyến tiếc.
6, Ái biệt ly khổ: nỗi khổ khi phải chia ly.
Trang 17
7,Oán tăng hội khổ: những điều mình chán ghét thì nó cứ tiến đến bên mình.
8, Ngũ ấm xí thịnh khổ: ngũ ấm ấy là sắc ấm, thụ ấm, tưởng ấm, hành ấm, thức
ấm Ngũ ấm ấy che lấp trí tuệ, phải chịu cái khổ luân hồi trong vô lượng kiếp.
b Tập đế: Tập đế còn gọi là nhân đế, là những nguyên nhân tạo thành sự khổ.Những nguyên nhân đó không phải tìm đâu xa mà ở ngay trong mỗi chúng ta.Nguyên nhân thì có nhiều nhưng có thể tóm lại như sau:
Trang 18
Ba nguyên nhân chính ( tham, sân, si) Phật còn gọi là tam độc, là nguồngốc của mọi sự khổ Nguyên nhân của tam độc là do ái dục và vô minh được thểhiện trong công thức sau:
Ái dục: là tham ái, yêu thích do cảm thụ đi đến suy đắm trước những cảnh
yêu thích, vừa lòng, chán ghét cảnh trái ý Vì say đắm với những cảnh nên rongruổi theo cảnh, bám lấy cảnh hình thành nên tham vọng và ước muốn
Vô minh: là mê lầm, không sáng suốt Đối với những hiện tượng trụ
không nhận rõ chân tướng, thực tướng của nó là sự chuyển biến không ngừng, là
vô thường mà lại lầm tưởng các hiện tượng đó là thực có, là thường còn Vôminh che lấp ta không nhận thấy được chân tâm mà luôn luôn chạy theo vọngtâm, làm ta thấy có thân, có cảnh, có ta, có người của ta và thấy quý thân ta,không quan tâm đến người sống quanh ta
Nghiệp là những hoạt động về thân thể, về lời nói ý nên Phật gọi là thân
nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp
Kết quả của hành động ấy gọi là nghiệp báo Không phải hoạt động nàocủa ta cũng gây nghiệp báo Những việc như : đi, đứng, nhìn, ngồi, thì khônggây nghiệp báo
Nghiệp có hai loại: Nghiệp thiện và nghiệp ác
Nghiệp thiện : là những việc có lợi cho người và đem lại quả báo tốt cho mình Nghiệp ác: là những việc làm hại cho ngươi và đem lại quả báo xấu cho mình.
Như vậy, Phật đặt số mệnh của con người trong chính tay họ Tự conngười đã gây nên nỗi khổ cho mình Do đó, Phật đưa ra lý thuyết thập nhị nhânduyên để thấy được nguồn gốc của sự vật trong thế gian 12 nhân duyên là sợidây liên tục nối tiếp con người trong vòng sinh tử luân hồi đó là:
1.Vô minh 2.Hành 3 Thức 4 Danh sắc
5 Lục nhập 6 Xác 7.Thụ 8.Ái
9 Thù 10 Hữu 11.Sinh 12 Lão tử
Trang 19
Tập đế là một chân lý thể hiện tính biểu chứng sâu sắc trong mối quan hệnhân quả và đã tìm tới các nguyên nhân rất đa dạng, phong phú Các nguyênnhân ấy quan hệ với nhau, cái nào cũng có thể làm nhân làm duyên cho cái khác,như làn sóng trên mặt biển, lớp trước là lớp nhân là duyên cho lớp sau và cứ thếtiếp diễn Nhưng cái hạn chế của tập đế là chưa đề cập đến nguyên nhân từ xãhội Đặc biệt là chưa nhắc tới quan hệ giai cấp, bóc lột trong xã hội Luận điểmnày thể hiện rõ từ trào hướng nội hướng nội trong nhận thức luận Phật giáo
c Diệt đế:
Diệt đế là tích quả Niết bàn do thực hành tịnh nghiệp mà đạo đế mang lại.Diệt đế là trừ diệt sự khổ để đi đến chỗ an lạc là chỗ kết nghiệp đã hết khôngcòn luân hồi sinh tử nữa
Có tịnh nghiệp tất sinh tịnh quả Ấy là khi diệt đế vọng niệm không cònkhởi lên, tâm hồn luôn an trụ trong cảnh vắng lặng là do cảnh giới Niết Bàn
Niết Bàn có bốn đặc điểm: Thường - Lạc - Ngã - Tịnh
Thường là thường còn, không biến đổi.
Lạc là an lạc, giải thoát hết phiền não, thâm tâm tự tại.
Ngã là chân ngã, chân thực, thường còn.
Tịnh là thanh tịnh, trong sạch không còn ô nhiễm.
Niết Bàn là sự chấm dứt mọi phiền não được thực hiện không phải ở mộtnơi nào khác, một cõi nào khác mà thực hiện ngay trong cõi thế gian này, nhờ sự
tu hành nghiêm túc mang lại cho ta mọi trạng thái tinh thần đặc biệt: Trạng thái
an lạc, siêu thoát, tịnh diệt
Phật dạy rằng: khi môn đệ làm cho lòng mình sạch hết tham lam, nóng giận
và si mê thì môn đệ đã đến được bến giác, tức là cảnh giới Niết Bàn Do đó, conngười phải dày công tu dưỡng, xoá bỏ được lửa dục, lửa sân, lửa si mê để chứngđược cảnh giới Niết Bàn ngay trong cõi đời hiện tại
d Đạo đế:
Trang 20
Đạo đế là con đường, là môn pháp hướng dẫn cho chúng sinh đạt đượcđến quả giải thoát, ra khỏi luân hồi sinh tử Pháp môn tu dưỡng ra khỏi luân hồisinh tư rất nhiều, nhưng thường được đề cao là phương pháp 37 đạo phẩm
Trong 37 đạo phẩm, bát chính đạo là quan trọng nhất Nó là con đườnggiúp người ta thoát khỏi phiền não, đau khổ đi tới cảnh giới Niết Bàn tự tại, anlạc Bát chính đạo gồm có:
1 Chính ngữ : là tu nghiệp thanh tịnh, không phát ra lời nói sai trái.
2 Chính nghiệp: hành động chân chính, mang lại lợi ích cho mọi người.
3 Chính mệnh: sống bằng nghề nghiệp chân chính.
4 Chính tịnh tiến : tiến tới trên con đường đạo, không đi vào các đường tà.
5 Chính niệm: tâm trí luôn luôn nghĩ đến đạo lý vô ngã, diệt trừ những kiến chấp mê lầm, đoạt trừ những tư tưởng, hành động bất chính.
6 Chính định : Giữ tâm vắng lặng không một vọng niệm khởi lên để trí tuệ xuất hiện, chứng quả tu đà hoàn.
7 Chính kiến : kết quả của việc sống, tư duy con người phải có ý biến lấy tiêu biểu là các vị Phật.
8 Chính tư duy: Sau khi có niệm khởi, con người sẽ tư duy, suy nghĩ một cách chân chính, làm chủ được dòng tư duy.
3.2 Những quan điểm về nhân sinh quan Phật giáo.
Trang 21
sang kiếp khác Con người ở kiếp này sinh ra thì con người ở kiếp trước diệt,nhưng con người ở kiếp sau không phải là con người ở kiếp trước nhưng cũngkhông khác với con người ở kiếp trước Con người không phải là một thực thểtrường tồn mà chỉ là một giả hợp của ngũ uẩn Trong thời gian ngũ uẩn kết hợp,các việc thiện, ác được thực hiện Con người gây nghiệp và tạo ra một động lựclàm xuất hiện nghiệp báo ở kiếp sau
Từ nhận thức trên, con người tu Phật lúc nào cũng phải cẩn thận trongmột ý nghĩ, lời nói việc làm
b Nhân vị trong đạo Phật
Đạo Phật là đạo chủ trương tự do, bình đẳng, từ bi, bác ái Ở một thời đại
cổ xưa cách chúng ta trên 25 thế kỷ Phật đã có một quan niệm hết sức tiến bộđối với vấn đề bình đẳng trong xã hội Phật đã từng nói:
“ Không có đẳng cấp trong dòng máu đỏ như nhau, trong dòng nước mắtcũng mặn như nhau Mỗi người sinh ra không phải ai cũng mang sẵn dây chuyền
ở cổ hay dấu tica trên trán ( dấu hiệu đẳng cấp của Ấn Độ ) ”
Và những quan niệm đó được Phật thực hiện ngay trong giáo hội củamình Phật thu nạp vào giáo hội của Người tất cả mọi đẳng cấp, không phân biệtsang hèn, giàu nghèo Những người ở tầng lớp dưới sau khi tu đắc đạo đã đượccác đệ tử khác tôn trọng, cho đến các vua quan khi đến thăm hỏi cũng phải tỏlòng kính mến
Không dừng lại ở sự bình đẳng giữa con người với con người mà Phật còn
đi xa hơn, nêu lên sự bình đẳng giữa các chúng sinh đều có Phật tính như nhau
và đang cùng nhau: người trước, vật sau, tiến bước trên con đường giải thoát
Tự do theo quan niệm của Phật là con người sống trong an lạc, giải thoát,không có áp bức, nô lệ, cũng không bị chi phối bởi ngũ dục Con người bị ràngbuộc bởi ngoại cảnh và một phần bởi nội tâm Những sự áp bức, những day dứtgây ra bởi dục vọng còn khắc nghiệt bằng vạn ngoại cảnh Nhà lao, cườngquyền, tham nhũng, tàn ác còn chưa khắc nghiệt bằng cái ta ích kỷ Từ đó, Phậtchú trọng đến giải phóng con người ra khỏi xiềng xích của dục vọng bằng
Trang 22và bằng cả bạo lực, bạo lực từ bi.
Hai chữ từ bi càng đẹp biết bao nhiêu đối với những con người thực tâm
tu luyện thì càng xấu xa bao nhiêu đối với những kẻ lợi dụng đạo để mưu cầu lợiích cho mình Vấn đề giải thoát là vấn đề cơ bản trong đạo Phật vì mục đích cuốicùng của đạo Phật là giải thoát con người khỏi cuộc sống đau khổ trong vôminh
Sự giải thoát không chỉ nhằm đấu tranh chống những áp bức về xã hội vềkinh tế như lịch sử Phật giáo đã chứng minh mà sự giải thoát nhằm tiêu diệt tậngốc mọi đau khổ là tham lam và dục vọng
Việc giải phóng này là con người phải tự lực đảm nhiệm, không ai có thểlàm thay được và mỗi người phải coi sự giải thoát là cứu cánh cuối cùng củacuộc đời
Như vậy, Đạo Phật đã đặt con người lên một vị trí hết sức quan trọng vàcao quý Hạnh phúc của con người là do con người xây đắp nên Con ngườithấm nhuần giáo lý Phật, con người vị tha, từ bi, hỉ, xả sẽ kiến lập một xã hộihoà bình, an lạc, công bằng, mọi người sống vì lợi ích của nhau, của tập thể
Trái lại, con người ích kỷ chỉ biết mình, hại người, con người sống tànbạo, độc ác thì cái gì trong tay con người cũng sẽ trở thành khí cụ sát hại và xãhội của những con người ấy là xã hội của địa ngục, xã hội áp bức bóc lột
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN XÃ HỘI VIỆT NAM
I Lịch sử hình thành và phát triển Phật giáo Việt Nam
Trang 23
Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, ngay từ đầu côngnguyên với truyện cổ tích Chử Đồng Tử học đạo của một nhà sư Ấn Độ LuyLâu (thuộc tỉnh Bắc Ninh) là trụ sở của quận Giao Chỉ sớm trở thành trung tâmPhật giáo quan trọng
Các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Man Nương Phật Mẫu xuấthiện cùng với sự giảng đạo của Khâu Đà La (Ksudra) trong khoảng các năm168-189
Do tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ nên từ Buddha (Đấng giác ngộ)được phiên âm trực tiếp thành Bụt, từ “Bụt” được dùng nhiều trong các truyệndân gian Phật giáo Việt Nam lúc ấy mang màu sắc của Tiểu thừa, Bụt được coinhư một vị thần chuyên cứu giúp người tốt, trừng phạt kẻ xấu Sau này vào thế
kỷ thứ IV-V, do ảnh hưởng của Đại thừa đến từ Trung Quốc mà từ Bụt bị mất đi
và được thay thế bởi từ Phật Trong tiếng Hán, từ Buddha được phiên âm thànhPhật đà, Phật đồ rồi được rút gọn thành Phật
Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm Vào đời nhà Lý, nhàTrần, Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất cảmọi vấn đề trong cuộc sống Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là quốcgiáo và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái Đến đầu thế kỷ XVIII, vua QuangTrung cố gắng chấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn xây chùa, nhưng vì mất sớm nênviệc này không có nhiều kết quả Đến thế kỷ XX, mặc dù ảnh hưởng mạnh củaquá trình Âu hóa, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đôthị miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hoà và ThiệnChiếu
Bốn giai đoạn lịch sử Phật giáo Việt Nam:
+ Từ đầu công nguyên đến hết thời kỳ Bắc thuộc là giai đoạn hình thành
và phát triển rộng khắp
+ Thời Đại Việt là giai đoạn cực thịnh
+ Từ đời Hậu Lê đến cuối thế kỷ XIX là giai đoạn suy thoái
+ Từ đầu thế kỷ XX đến nay là giai đoạn phục hưng
Trang 24
Đại thừa có ba tông phái được truyền vào Việt Nam là Thiền tông, Tịnh
Độ tông và Mật tông Thiền tông (còn được biết là Zen) là một tông phái Phậtgiáo do nhà sư Ấn Độ Bồ Đề Đạt Ma (Boddidharma) sáng lập ra ở Trung Quốcvào đầu thế kỷ thứ VI Thiền là cách gọi tắt của Thiền na (Dhyana), có nghĩa là
"Tĩnh tâm", chủ trương tập trung trí tuệ để quán định (thiền) nhằm đạt đến chân
lý giác ngộ của đạo Phật Theo Thiền tông, "thiền" không phải là "suy nghĩ" vìsuy nghĩ là "tâm vọng tưởng", làm phân tâm và mầm mống của sinh tử luân hồi.Cách tu theo Thiền tông đòi hỏi phải tập trung toàn bộ công sức và thời giancộng với phải có khả năng đốn ngộ Yêu cầu đó chỉ có những kẻ căn cơ cao mới
có được nên người tu thiền thì nhiều nhưng người chứng ngộ quả thật rất làhiếm hoi Tuy nhiên lịch sử Thiền tông ở Việt Nam cũng có một lịch sử rõ rànghơn cả
Dòng thiền tu thứ nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam do nhà sư Tỳ Ni
Đa Lưu Chi (Vinitaruci) lập ra Ông là người Ấn Độ, qua Trung Quốc rồi đếnViệt Nam vào năm 580, tu tại chùa Pháp Vân (hay chùa Dâu), thuộc huyệnThuận Thành tỉnh Bắc Ninh và truyền cho tổ thứ hai là Pháp Hiền Dòng thiềnnày truyền được đến 19 thế hệ Dòng thiền tu thứ hai do Vô Ngôn Thông, ngườiTrung Quốc lập ra vào năm 820, tu tại chùa Kiến Sơ, thuộc xã Phù Đổng, huyệnGia Lâm, Hà Nội Dòng thiền này truyền được đến 17 đời Dòng thiền thứ ba doThảo Đường, người Trung Quốc, vốn là tù binh bị bắt tại Chiêm Thành và đượcvua Lý Thánh Tông giải phóng khỏi kiếp nô lệ và cho mở đạo tại chùa KhaiQuốc vào năm 1069 Dòng thiền này truyền được đến 6 đời Năm 1299, vuaTrần Nhân Tông, dưới sự hướng dẫn của thiền sư Tuệ Trung Thượng Sỹ, xuấtgia và lên tu ở núi Yên Tử, thuộc huyện Đông Triều, Quảng Ninh, thống nhấtcác thiền phái tồn tại trước đó và lập nên Thiền phái Trúc Lâm Sau này, một sốthiền phái khác xuất hiện như phái Tào Động dưới thời Trịnh - Nguyễn, pháiLiên Tôn vào thế kỷ XVI - XIX (có trụ sở tại chùa Bà Đá và chùa Liên Phái, HàNội), phái Liễu Quán (Liễu Quán là tên một vị tổ thuộc dòng Lâm Tế) vào thế
kỷ XVIII (miền Trung), phái Lâm Tế dưới thời nhà Nguyễn (miền Trung, và sau
Trang 25
này phát triển ở miền Nam) Thiền tông Việt Nam đề cao cái "tâm" "Phật ở tạitâm", tâm là Niết Bàn, hay Phật Vua Trần Nhân Tông viết: "Nơi mình có ngọctìm đâu nữa, trước cảnh vô tâm ấy đạo thiền"
Tịnh Độ tông là một tông phái Phật giáo, chủ trương tu dựa trên tha lực củaPhật A Di Đà Tha lực này rất quan trọng đối với căn cơ con người thời nay PhậtThích Ca Mâu Ni có lần thuyết giảng: "Một viên đá dù nhỏ đến mấy mà ném xuốngnước thì nó cũng chìm, nhưng nếu một hòn đá dù to đến mấy mà đặt trên bè thì nócũng nổi" Trong Tịnh Độ tông, có tồn tại một cõi Phật cụ thể, gọi là Thế giới cực lạc
do Đức Phật A Di Đà (tiếng Phạn: Amitabha) làm giáo chủ Việc tu hành được mởrộng ra những hành động đơn giản như đi thăm chùa, tụng danh Phật A Di Đà Nhờcách như vậy mà Tịnh Độ tông là tông phái phổ biến khắp cõi Việt Nam Đi đến đâu
ta cũng gặp người dân tụng niệm câu "Nam mô A Di Đà Phật" (có nghĩa là nguyệnquy theo đức Phật A Di Đà) Tượng Phật A Di Đà là tượng có mặt ở khắp mọi nơi
II Ảnh hưởng Phật giáo đến xã hội Việt Nam
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ I sau công nguyên kết hợp vớiphong tục, tập quán truyền thống dân tộc Việt Nam hình thành nên Phật giáoViệt Nam Trải qua một khoảng thời gian dài, Phật giáo ở Việt Nam khôngngừng phát triển, lớn mạnh và đã tạo nên một dấu ấn sâu đậm trong việc hìnhthành đạo đức, nhân cách con người Việt Nam, nền văn hoá Việt Nam Nhữngảnh hưởng tích cực của Phật giáo vẫn đang được con người Việt Nam phát huy
Trang 26
để phục vụ cuộc sống Song bên cạnh đó, Phật giáo cũng có những ảnh hưởngtiêu cực Trong chương này chúng ta sẽ đi sâu phân tích các vấn đề trên
1 Ảnh hưởng Phật giáo qua ngôn ngữ
Trong đời sống thường nhật cũng như trong văn học Việt Nam ta thấy cónhiều từ ngữ chịu ảnh hưởng ít nhiều của Phật Giáo được nhiều người dùngđến kể cả những người ít học Tuy nhiên không phải ai cũng biết những từngữ này được phát xuất từ Phật Giáo, chẳng hạn như khi ta thấy ai bị hoạnnạn, đau khổ tỏ lòng thương xót, người ta bảo "tội nghiệp quá" Hai chữ tộinghiệp là từ ngữ chuyên môn của Phật Giáo Theo Đạo Phật tội nghiệp là tộicủa nghiệp, do nghiệp tạo ra từ trước, dẫn tới tai nạn hay sự cố hiện nay, theogiáo lý nhà Phật thì không có một hiện tượng hay sự cố tai nạn nào xảy ra làngẫu nhiên hay tình cờ, mà chỉ là kết quả tập thành của nhiều nguyên nhântạo ra từ trước Những nguyên đó (theo đạo Phật gọi đó là nhân duyên) khichín mùi, thì đem lại kết quả Mọi người điều nói tội nghiệp nhưng khôngphải nhiều người biết được đó là một từ ngữ nói lên một chủ thuyết rất cănbản của Phật :"thuyết nhân quả báo ứng" thuyết này cũng đi sâu vào nhậnthức dân gian với những cách như "ở hiền gặp lành, gieo gió gặp bão" hay làcâu thơ bình dân:
Người trồng cây hạnh người chơi
Ta trồng cây đức để đời mai sau
Hoặc khi muốn diễn tả một vật gì đó quá nhiều, người ta dùng danh từ
"hằng hà sa số" Nếu hỏi hằng hà sa số là cái gì chắn chắn ít ai hiểu chính xác,
họ chỉ biết đó là nói rất nhiều, bởi khi xưa Đức Phật thường thuyết pháp gầnlưu vực sông Hằng (Gange) ở Ấn Độ, cho nên khi cần mô tả một con số rấtnhiều, ngài thí dụ như số cát sông Hằng Hoặc khi có những tiếng ồn náo,người ta bảo "om sòm bát nhã", do khi đến chùa vào những ngày sám hối,chùa thưởng chuyển những hồi trống bát nhã, nhân đó mà phát sanh ra cụm từtrên Lại có những người rày đây mai đó, ít khi dừng chân ở một chổ, khi