Có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng bao hàm những nội dung giống nhau, đó là: triết học nghiên cứu thế giới một cách chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý. Khái quát lại ta có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí vai trò của con người trong thế giới đó.
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
CHO BẢN THÂN.
Người thực hiện : NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
Trang 2Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự
hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trongsuốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, chúng em
đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn
bè
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, chúng em xin gửi đến quý Thầy Cô ở KhoaVật Lý – Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng đã cùng với tri thức và tâm huyếtcủa mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gianhọc tập tại trường
Em xin chân thành cảm ơn TS PHẠM HUY THÀNH đã tận tâm hướng
dẫn chúng em qua từng buổi học trên lớp cũng như những buổi nói chuyện Nếukhông có những lời hướng dẫn, dạy bảo của thầy thì em nghĩ bài thu hoạch nàycủa em rất khó có thể hoàn thiện được Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơnThầy
Bước đầu đi vào thực tế, tìm hiểu về lĩnh vực Triết học ,kiến thức của emcòn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót làđiều chắc chắn, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu củaThầy và các bạn học cùng lớp để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoànthiện hơn
Sau cùng, em xin kính chúc quý Thầy Cô trong Khoa Vật lý – Trường Đại
Học Sư Phạm Đà Nẵng và TS PHẠM HUY THÀNH thật dồi dào sức khỏe,
niềm tin để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thứccho thế hệ mai sau
Trang 3MỤC LỤC CHƯƠNG 1: TỔNG QUÁT VỀ TRIẾT HỌC
1.Triết học là gì?
1.1 Triết học và đối tượng nghiên cứu của triết học
1.1.1 Khái niệm "Triết học"
1.1.2 Nguồn gốc của triết học
1.1.3 Đối tượng của Triết học; Sự biến đổi đối tượng triết học qua
các giai đoạn lịch sử
1.2 Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan
2 Vấn đề cơ bản của triết học Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
2.1 Vấn đề cơ bản của triết học
2.2 Các trường phái triết học
2.2.1 Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm 2.2.2 Thuyết không thể biết
3 Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình
3.1 Phương pháp siêu hình
3.2 Phương pháp biện chứng
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI CHƯƠNG 3: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC CHO BẢN THÂN.
1 Trong cuộc sống
2 Trong học tập
KẾT LUẬN
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUÁT VỀ TRIẾT HỌC 1.Triết học là gì?
1.1 Triết học và đối tượng nghiên cứu của triết học
1.1.1 Khái niệm " Triết học"
Triết học xuất hiện cả ở phương Đông và phương Tây vào khoảng thế kỷ thứVIII đến thế kỷ thứ III (TrCN)(1)
- Ở phương Đông:
+ Trung Quốc: Người Trung quốc cổ đại quan niệm “ triết” chính là “ trí”, là
cách thức và nghệ thuật diễn giải, bắt bẻ có tính lý luận trong học thuật nhằm đạttới chân lý tối cao
+ Theo người Ấn Độ: triết học được đọc là darshana, có nghĩa là chiêm ngưỡng
nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắtcon người đến với lẽ phải
- Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy lạp được la tinh hoá làPhilôsôphia -nghĩa là yêu mến, ngưỡng mộ sự thông thái Như vậy Philôsôphiavừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý củacon người
Tóm lại: Dù ở phương Đông hay phương Tây, triết học được xem là hình thái
cao nhất của tri thức, nhà triết học là nhà thông thái có khả năng tiếp cận chân
lý, nghĩa là có thể làm sáng tỏ bản chất của mọi vật
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng bao hàm những nội dunggiống nhau, đó là: triết học nghiên cứu thế giới một cách chỉnh thể, tìm ra nhữngquy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hộiloài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nómột cách có hệ thống dưới dạng duy lý
Khái quát lại ta có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chungnhất của con người về thế giới; về vị trí vai trò của con người trong thế giới đó
Trang 51.1.2 Nguồn gốc của triết học
Triết học xuất hiện do hoạt động nhận thức của con người nhằm phục vụnhu cầu cuộc sống, song với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triếthọc không thể xuất hiện cùng sự xuất hiện của xã hội loài người, mà chỉ xuấthiện khi có những điều kiện nhất định
- Nguồn gốc nhận thức:
+ Đứng trước thế giới rộng lớn, bao la, các sự vật hiện tượng muôn hìnhmuôn vẻ, con người có nhu cầu nhận thức thế giới bằng một loạt các câu hỏi cầngiải đáp: thế giới ấy từ đâu mà ra?, nó tồn tại và phát triển như thế nào?, các sựvật ra đời, tồn tại và mất đi có tuân theo quy luật nào không? trả lời các câuhỏi ấy chính là triết học
+ Triết học là một hình thái ý thức xã hội có tính khái quát và tính trừu tượng cao, do đó, triết học chỉ xuất hiện khi con người đã có trình độ tư duy trừutượng hoá, khái quát hoá, hệ thống hoá để xây dựng nên các học thuyết, các lý luận
- Nguồn gốc xã hội:
Lao động đã phát triển đến mức có sự phân công lao động thành lao độngtrí óc và lao động chân tay, xã hội phân chia thành hai giai cấp cơ bản đối lậpnhau là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ Giai cấp thống trị có điều kiện nghiêncứu triết học Bởi vậy ngay từ khi Triết học xuất hiện đã tự mang trong mìnhtính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của những giai cấp, những lực lượng xã hộinhất định
Những nguồn gốc trên có quan hệ mật thiết với nhau, mà sự phân chiachúng chỉ có tính chất tương đối
1.1.3 Đối tượng của Triết học; Sự biến đổi đối tượng triết học qua các giai đoạn lịch sử
* Khi mới xuất hiện, Triết học Cổ đại còn được gọi là Triết học tự nhiên bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực, không có đối tượng riêng Đây
-là nguyên nhân sâu xa -làm nảy sinh quan niệm sau này cho rằng Triết học -làkhoa học của mọi khoa học
Trang 6* Thời kỳ Trung cổ, ở Tây Âu khi quyền lực của giáo hội Thiên chúa baotrùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì Triết học trở thành một bộ phận của thầnhọc Triết học chỉ có nhiệm vụ lý giải và chứng minh cho sự đúng đắn của nộidung trong kinh thánh Triết học tự nhiên bị thay thế bởi nền Triết học kinhviện.
* Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18, để đáp ứng yêu cầu của sản xuất côngnghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành có tính chất là khoa học thựcnghiệm đã ra đời với tính cách là các khoa học độc lập Triết học lúc này có têngọi là Siêu hình học - Khoa học hậu vật lý Đối tượng của Triết học thời kỳ này
là nghiên cứu cái ẩn dấu, cái bản chất đằng sau các sự vật, hiện tượng “vật thể”
có thể thực nghiệm được
+ Triết học duy vật dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đãphát triển nhanh chóng, đạt tới đỉnh cao mới với các đại biểu như Ph Bây cơn,T.Hốpxơ (Anh), Diđrô, Hen Vêtiúyt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)
+ Mặt khác, tư duy Triết học cũng được phát triển trong các học thuyếtduy tâm mà đỉnh cao là Triết học Hêghen
+ Song, cũng chính sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyênngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của Triết học muốn đóng vai trò
“Khoa học của mọi khoa học”, mà Triết học Heghen là Triết học cuối cùngmang tham vọng đó Heghen xem Triết học của mình là một hệ thống phổ biếncủa nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâuphụ thuộc vào Triết học
* Đầu thế kỷ 19, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, cùng với sự chuyểnbiến tính chất từ khoa học thực nghiệm sang khoa học lý thuyết là cơ sở kháchquan cho triết học đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của mọi khoahọc” Triết học Mác - Triết học duy vật biện chứng ra đời thể hiện sự đoạn tuyệt
đó Triết học Mác xít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giảiquyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng vànghiên cứu những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy
Trang 7* Do tính đặc thù của Triết học là xem xét thế giới như một chỉnh thể vàtìm cách đưa ra một hệ thống lý luận về chỉnh thể đó.Và điều đó chỉ thực hiệnđược bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học, lịch sử của bản thân tưtưởng Triết học Cho nên, vấn đề tư cách khoa học của Triết học và đối tượngcủa nó đã gây ra cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay.
Tóm lại, cái chung trong các học thuyết Triết học từ cổ tới kim là nghiên cứunhững vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan
hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xungquanh
1.2 Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan
Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, vềbản thân con người, về cuộc sống và vị trí con người trong thế giới đó
Đặc tính của tư duy con người là muốn đạt tới sự hiểu biết hoàn toàn, đầy đủ;song tri thức mà con người đạt được luôn luôn là có hạn Quá trình tìm hiểu vềquan hệ giữa con người với thế giới đã hình thành nên những quan niệm nhấtđịnh, trong đó có sự hoà quyện thống nhất giữa cảm xúc và trí tuệ, tri thức vàniềm tin Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giớiquan, song nó chỉgia nhập thế giới quan khi đã trở thành niềm tin định hướng cho hoạt động củacon người
Khác với thế giới quan thần thoại và tôn giáo, thế giới quan triết học dựavào tri thức, là sự diễn tả quan niệm của con nưười dưới dạng hệ thống các quyluật, phạm trù đóng vai trò là những nấc thang trong quá trình nhận thức thếgiới Với ý nghĩa đó, triết học được xem là hạt nhân lý luận của thế giới quan, là
hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và về vị trí của con ngườitrong thế giới đó
2 Vấn đề cơ bản của triết học Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
2.1 Vấn đề cơ bản của triết học
Ngay từ thời cổ đại đã nảy sinh vấn đề quan hệ giữa linh hồn con ng¬ờivới thế giới bên ngoài Triết học ra đời cũng giải quyết vấn đề đó, nh¬ng ở tầmkhái quát cao hơn là mốiquan hệ giữa tw duy và tồn tại Theo Ăngghen: "Vấn đề
Trang 8cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa
tư duy với tồn tại"( C Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 1995, t.21,tr.403); bởi vì việc giải quyết vấn đề này là cơ sở và xuất phát điểm để giảiquyết các vấn đề khác của triết học Đồng thời sẽ là tiêu chuẩn để xác định lậptrường thế giớiquan của các triết gia và các học thuyết của họ
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt
Mặt thứ nhất: Giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cáinào quyết định cái nào?
Mặt thứ hai: ý thức con người có thể phản ánh trung thực thế giới kháchquan hay không? Nghĩa là con người có khả năng nhận thức hay không?
2.2 Các trường phái triết học
2.2.1 Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học gắn liền với việcphân chia các học thuyết triết học thành hai trường phái triết học cơ bản là chủnghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
a Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau; thế giới
vật chất tồn tại một cách khách quan, độc lập với ý thức con người và không do
ai sáng tạo ra; còn ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óccon người; không thể có tinh thần, ý thức nếu không có vật chất
Chủ nghĩa duy vật đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại và cho đến nay, lịch sửphát triển của nó luôn gắn liền với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, tồntại dưới nhiều hình thức khác nhau
+ Chủ nghĩa duy vật cổ đại mang tính chất phác, ngây thơ, xuất phát từgiới tự nhiên để giải thích thế giới Hạn chế của nó là còn mang tính trựcquan,trong khi thừa nhận tính thứ nhất của vật chất đã đồng nhất vật chất với một haymột số chất cụ thể Ví dụ như quan niệm của Talét, Hêraclit, Đêmôcrit
+ Chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XVII - XVIII: Do ảnh hưởng của
Cơ học cổ điển nên chủ nghĩa duy vật thời kỳ này chịu sự tác động mạnh mẽ củaphương pháp tư duy siêu hình, máy móc - phương pháp nhìn nhận thế giới trongtrạng thái biệt lập, tĩnh tại Tuy không phản ánh đúng hiện thực, nhưng CNDV
Trang 9siêu hình vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống lại thế giớiquan duy tâm và tôn giáo Ví dụ như quan niệm của Niutơn, Bêcơn và các nhàduy vật Pháp thế kỷ XVIII
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C Mác và Ph Ăngghen sáng lập vàonhững năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó được V.I Lênin tiếp tục phát triển Với sự
kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó và vận dụng các thành tựucủa khoa học đương thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng ngay từ khi mới ra đời
đã khắc phục được những hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước đó, thể hiện làđỉnh cao trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật Nó không chỉ phản ánh đúngđắn hiện thực mà còn là một công cụ hữu hiệu giúp các lực lượng tiến bộ trong
xã hội cải tạo hiện thực ấy
b Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức, tinh thần có trước và quyết định
giới tự nhiên Giới tự nhiên chỉ là một dạng tồn tại khác của tinh thần, ý thức.
Chủ nghĩa duy tâm đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại với hai hình thức chủyếu là:
+ Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của cảm giác, ýthức con ng¬ời, khẳng định mọi sự vật, hiện t¬ợng chỉ là phức hợp những cảmgiác của cá nhân, của chủ thể Ví dụquan niệm của Beccơly
+ Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức,nhưng đó không phải là ý thức cá nhân mà là tinh thần khách quan có trước vàtồn tại độc lập với con người, quyết định sự tồn tại của tự nhiên, xã hội và tưduy Nó thường được mang những tên gọi khác nhau như ý niệm, ý niệm tuyệtđối, tinh thần tuyệt đối hay lý tính thế giới.Ví dụquan niệm của Platon, Hêghen
Cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đều có nguồn gốc xã hội vànguồn gốc nhận thức Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy vật là các lực lượng
xã hội, các giai cấp tiến bộ, cách mạng; nguồn gốc nhận thức của nó là mối liên
hệ với khoa học Còn nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy tâm là các lực lượng
xã hội, các giai cấp phản tiến bộ; nguồn gốc nhận thức của nó là sự tuyệt đối hóamột mặt của quá trình nhận thức (mặt hình thức), tách nhận thức, ý thức khỏi thếgiới vật chất
Trang 10Trong lịch sử triết học luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm
và chủ nghĩa duy vật, tạo nên động lực bên trong cho sự phát triển của tưduy triết học Đồng thời, nó biểu hiện cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng giữa cácgiai cấp đối lập trong xã hội
c Bên cạnh các nhà triết học nhất nguyên luận(duy vật hoặc duy tâm) giải
thích thế giới từ một nguyên thể hoặc vật chất hoặc tinh thần, còn có cácnhà triết học nhị nguyên luận Họ xuất phát từ cả hai nguyên thể vật chất và tinhthần để giải thích mọi hiện tượng của thế giới Theo họ, thế giới vật chất sinh ra
từ nguyên thể vật chất, thế giới tinh thần sinh ra từ nguyên thể tinh thần Họmuốn dung hòa giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm, nhưng cuối cùng
họ rơi vào chủ nghĩa duy tâm khi thừa nhận ý thức hình thành và phát triển tự
nó, không phụ thuộc vào vật chất
2.2.2 Thuyết không thể biết
Khi giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học, đại đa số cácnhà triết học( cả duy vật và duy tâm) đều thừa nhận khả năng nhận thức thế giớicủa con người, nhưng với những cách lý giải trái ngược nhau Chủ nghĩa duy vậtxuất phát từ chỗ coi vật chất có trước, ý thức có sau và là sự phản ánh thế giớivật chất đã thừa nhận con người có thể nhận thức đươc thế giới khách quan vàcác quy luật của nó Còn chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có trước và quyếtđịnh vật chất nên nhận thức không phải là sự phản ánh thế giới, mà chỉ là sự tựnhận thức, tự ý thức về bản thân ý thức Họ phủ nhận thế giới khách quan lànguồn gốc của nhận thức
Học thuyết triết học phủ nhận khả năng nhận thức của con người được gọi
là thuyết không thể biết Họ cho rằng, con người không thể hiểu được đối tượnghoặc nếu có hiểu thì chỉ là hình thức bên ngoài; bởi vì tính xác thực của các hìnhảnh về đối tượng mà các giác quan của con người cung cấp trong quá trình nhậnthức không đảm bảo tính chân thực Tiêu biểu là quan niệm của Beccơly, Hium
3 Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình
Một vấn đề rất quan trọng mà triết học phải làm sáng tỏ là: các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh ta tồn tại như thế nào?