Họcsinh được quan sát chữ mẫu của cô, nhận xét về chiều cao, độ rộng của chữ, cấu tạocủa chữ gồm những nét nào và xem cô hướng dẫn cách viết từ điểm đặt bút đếncách đưa từng nét chữ, học
Trang 1I ĐẶT VẤN ĐỀ
* Tầm quan trọng của việc dạy tập viết cho học sinh lớp 1:
- Tập viết là một trong những nội dung có tầm quan trọng đặc biệt ở Tiểu học,nhất là đối với lớp 1
- Góp phần rèn luyện một trong những kĩ năng hàng đầu của việc học TiếngViệt trong nhà trường
- Tập viết không những có quan hệ mật thiết tới chất lượng học tập ở các mônhọc khác mà còn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho HS những phẩm chấtđạo đức tốt như tính cẩn thận, tính kỉ luật và óc thẩm mĩ
- Nếu viết chữ đúng mẫu, tốc độ viết nhanh thì HS có điều kiện ghi chép bàitốt nhờ vậy kết quả sẽ cao hơn Viết xấu, tốc độ chậm sẽ ảnh hưởng không nhỏ tớichất lượng học tập
- Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: “Chữ viết cũng là một biểu hiện của nết người Dạy cho HS viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy và bạn đọc bài vở của mình”
- Từ năm 2001, chương trình tập viết hiện hành của Bộ GD và ĐT chỉ đạonâng cao chất lượng dạy chữ viết Hướng chỉ đạo chuyên môn các cấp đặc biệtquan tâm đến chất lượng rèn chữ viết của HS Vì vậy vấn đề rèn chữ viết đẹp cho
HS luôn được đề cập và mang tính cấp bách đối với các thầy cô trực tiếp giảngdạy Vì thế cho nên khối 1 chúng tôi đã đưa ra một số kinh nghiệm giảng dạy môntập viết lớp 1
* Lý do chọn đề tài:
Thực tế hiện nay ở trường tiểu học, chữ viết của học sinh chưa đồng đều, một số
em viết đẹp, một số các em viết chữ chưa đẹp, viết ẩu, cẩu thả, có nhiều em lại viếtsai lỗi chính tả Điều này ảnh hưởng nhiều đến kết quả học tập của các em Phảichăng chữ quốc ngữ khó viết? Học sinh do học nhiều môn nên không có thời gian luyện tập? Do chất lượng vở viết? Hay cấu tạo của chiếc bút? Nhưng dù với lý
Trang 2do nào đi nữa ai cũng nhận thấy rằng: “Nắn chữ có nghĩa là rèn người”.
Nhận thức được tầm quan trọng của công việc này, tôi đã tự học hỏi, tìm tòi cộngvới một số kinh nghiệm trong quá trình dạy lớp 1 Tôi mạnh dạn trình bày một vàisuy nghĩ và biện pháp để các em học sinh lớp 1 viết đúng và đẹp hơn qua giờ họcviết của giờ học vần Đó chính là lý do tôi chọn sáng kiến:
“Một số biện pháp dạy Tập viết trong giờ học vần”
* Giới hạn nghiên cứu của đề tài:
+Trong chương trình Tiếng Việt lớp 1.
+ Một số biện pháp dạy Tập viết trong giờ học vần
+ Từ tiết 3 các nét cơ bản đến tiết 216
+ Học sinh lớp 1A trường Tiểu học An Sinh B
1 Cơ sở lý luận:
Chữ viết là một trong những phát minh gây ấn tượng nhất, là thành tựu đánhdấu sự phát triển của nhân loại Việc hình thành và xây dựng những thói quen tốt vềchữ viết cho học sinh là một trong những nội dung giáo dục quan trọng Mặt khác,chữ viết còn thể hiện nền văn hoá, sự tinh hoa của một dân tộc Ông cha từ xưa đã
có truyền thống hiếu học, coi trọng nhân tài, đặc biệt là những người “văn hay- chữtốt”
Trong thực tế, đôi khi chỉ qua chữ viết của một người ta có thể nhận ra một vàinét trong tính cách của họ Nhưng quan trọng hơn cả là cùng với lời nói, chữ viết làphương tiện giao tiếp của con người Chữ viết đúng, sạch, đẹp, rõ ràng khôngnhững giúp người đọc dễ hiểu mà còn tạo thiện cảm với người đọc
Khi đủ tuổi vào lớp 1, các em đã phát âm được một số âm và các tiếng của mẹ
đẻ Một số em đã học mẫu giáo thì nhận dạng được chữ cái, biết giọi tên các chữcái trong chữ nhưng chưa biết dùng ký hiệu để ghi lại từng âm vị Môn học TiếngViệt giúp các em nắm được kiến thức về ngôn ngữ, học để giao tiếp bằng ngôn ngữ,học để cảm nhận cái hay, cái đẹp của ngôn từ Tiếng Việt và phần nào hiếu đượcnhững vấn đề của cuộc sống
Trang 3Như vậy ở môn Tiếng Việt lớp 1 là nền móng của bậc Tiểu học Dạy Tiếng Việtlớp 1 có nhiệm vụ rất lớn lao là trao cho các em cái chìa khoá để vận dụng chữ viếtkhi học tập và là công cụ để các em sử dụng suốt đời Đối với học sinh lớp 1 yêucầu cơ bản và quan trọng nhất trong học Tiếng Việt là đọc thông viết thạo mà cầnthiết hơn cả là chất lượng chữ viết Vậy học sinh lớp1 phải biết xác định đường kẻ,dòng kẻ, phải viết đúng kích cỡ, độ cao, độ rộng… .Nói chung phải có kỹ năngviết đúng quy trình, đây là cơ sở để các em viết chữ đẹp, rõ ràng, linh hoạt, đúngmẫu chữ ở các lớp trên Kỹ năng viết được thực hành trước hết trong các phần tậpviết của giờ Tiếng Việt, trong các tiết tập viết và được củng cố hoàn thiện ở cácmôn học khác Đồng thời với việc rèn chữ các em học sinh sẽ có cơ hội rèn luyệntính cẩn thận, sự khoa học, óc thẩm mỹ, tình yêu Tổ quốc, yêu đất nước và tiếng mẹ
đẻ
2 Cơ sở thực tiễn:
- HS lớp 1 còn rất non nớt, chuyển từ hoạt động vừa học vừa chơi ở mẫu giáo sang hoạt động học tập là chủ yếu nên khả năng tập trung của trẻ kém, tay trẻ cònnon nớt
- Về tri giác: thiên về nhận biết tổng quát
- Về cảm giác: chưa phân biệt được dòng kẻ li, đường kẻ li
- Về vận động: chưa quen với việc cầm bút viết, ngồi đúng tư thế
- Về trí nhớ: lần đầu tiên tập viết nhớ lâu nhưng chưa biết kĩ thuật viết
* Những thuận lợi và khó khăn khi dạy môn tập viết:
Trang 4- Chữ viết là một công cụ để giao tiếp và trao đổi thông tin, là phương tiện đểghi chép và tiếp nhận những tri thức văn hoá, khoa học và đời sống Do vậy ởtrường Tiểu học việc dạy học sinh viết chữ và làm chủ được công cụ chữ viết đểphục vụ cho học tập giao tiếp là yêu cầu quan trọng hàng đầu của môn Tiếng Việt.Đặc biệt là học sinh lớp 1 việc học chữ viết lúc bắt đầu đến trường là vô cùng quantrọng.
- Việc rèn chữ cho học sinh là biểu hiện của nết người Góp phần rèn nhữngphẩm chất như tính cẩn thận, lòng yêu thích cái đẹp, tinh thần trách nhiệm, ý thức
tự trọng và thái độ tôn trọng người khác
Trang 5
II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương I: Dạy tập viết trong giờ học vần thế nào để giúp học sinh viết đúng
1 Rèn học sinh viết chữ đúng mẫu:
Đây là một yêu cầu quan trọng bậc nhất Vì vậy những gì học sinh được tiếpxúc đầu tiên sẽ làm các em dễ nhớ và nhớ lâu nhất Chính vì vậy, ngay sau khi họcsinh được nhận mặt chữ, ghi âm bằng con đường qua mắt nhìn rồi lưu lại hình ảnhcon chữ, các em phải tái hiện ngay con chữ đó trên bảng, (vở) Trong giờ học TiếngViệt ngoài kỹ năng đọc, kỹ năng viết của học sinh cũng được thể hiện ngay Họcsinh được quan sát chữ mẫu của cô, nhận xét về chiều cao, độ rộng của chữ, cấu tạocủa chữ gồm những nét nào và xem cô hướng dẫn cách viết từ điểm đặt bút đếncách đưa từng nét chữ, học sinh có thể nhập tâm ngay vào mẫu chữ và thể hiện điều
đó ngay trên chiếc bảng học sinh
Ví dụ: Bài 8 Tiếng Việt I (tiết 1) - Dạy học sinh viết chữ h bao gồm các
bước sau:
Bước 1: Học sinh quan sát chữ mẫu của cô và nhận xét.
+ Chữ h gồm 2 nét: nét khuyết trên và nét móc 2 đầu.
+ Nét khuyết trên cao 5 li, nét móc 2 đầu cao 2 ly
+ Chữ h rộng 2 ly.
Bước 2: Học sinh quan sát cô viết mẫu:
Giáo viên viết mẫu và giảng
Đặt bút ở đường kẻ ngang thứ hai sát bên trái đường kẻ dọc tâm, viết nét khuyếtcao 5 li dựa vào đường kẻ dọc cho đẹp, đến điểm dừng đến của nét khuyết trênđường kẻ ngang thứ nhất rê bút viết tiếp nét móc 2 đầu (rê sát bút trùng với đường
kẻ dọc đến hết đường kẻ ngang thứ 2 mới tách ra viết nét móc 2 đầu) dừng bút ởđường kẻ ngang thứ 2
Bước 3: Học sinh tập viết chữ h ra bảng con
Bước 4: Kiểm tra - đánh giá.
+ Học sinh nhận xét
Trang 6+ Giáo viên bổ sung và sửa sai cho học sinh kịp thời
Phải rèn cho học sinh viết chữ đúng mẫu ngay từ khi mới bắt đầu viết thì khi mớiviết vào vở các em đỡ bị nhầm lẫn Việc rèn viết được tiến hành đều đặn trong cácgiờ học vần, và như vậy tạo cho các em thói quen viết chữ đúng mẫu Sang tiết 2:Trong phần tập viết GV nhắc lại cách viết và lưu ý cho học sinh về khoảng cáchgiữa các chữ, tư thế viết bài để các em có thể viết bài tốt hơn
2 Các phương tiện giúp học sinh viết đúng và viết đẹp.
Điều quan trọng bậc nhất để học sinh viết đúng chữ mẫu và đẹp là các phươngtiện học tập gồm: bảng, bút, vở tập viết, bàn ghế đúng quy cách, ánh sáng đầy đủ Trong giờ Tiếng Việt phần tập viết của học sinh gồm viết bảng ở tiết 1 và viết
vở ở tiết 2 Để học sinh có thể viết vào vở tốt, khâu viết bảng là rất cần thiết Từ bàiviết của học sinh ở bảng GV dễ theo dõi, kiểm tra và sửa sai ngay cho các em kịpthời Về mẫu chiếc bảng cũng là vấn đề đáng nói, rất nhiều loại bảng có dòng, ô kẻkhác nhau, và mẫu kẻ ở bảng lại khác mới bảng mẫu của cô, khác với vở ô li nêngây khó khăn cho GV khi hướng dẫn học sinh viết và học sinh cũng khó thể hiệnnhững điều cô dạy trên bảng vì các em mới vào học lớp 1 con rất nhiều bỡ ngỡ Vở
ô li chính hiện nay chính là mẫu phổ biến, thông dụng nhất để học sinh dễ bắt nhịptheo và với học sinh lớp 1 càng ít qui định thì các em càng dễ tiếp thu, dễ nhớ bấynhiêu
Lý tưởng nhất hiện nay là mỗi học sinh có một chiếc bảng có kẻ ô giống như
vở ô li mà học sinh đang tập viết gồm 4 li ngang và 4 li dọc trên 1 ô bảng Khi sửdụng loại bảng này về phía giáo viên chỉ cần hướng dẫn một lần học sinh có thểvừa viết bảng, vừa viết vở được Về phía học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho các
em vì chỉ có một hướng dẫn thống nhất các em sẽ không phải lẫn lộn giữa cách viếtbảng và vở Hiệu quả hơn nữa là chiếc bảng được gắn nam châm phía sau để họcsinh sau khi viết bài xong có thể gắn bài lên bảng nam châm, các bạn khác sẽ pháthiện được chỗ đúng, chỗ sai của bạn và tự sửa được cho bạn, cho bản thân mình
Trang 7Với học sinh lớp 1, việc làm này lúc đầu có thể hơi khó nhưng ngày nào cũngđược luyện tập sẽ trở thành thói quen nề nếp, sẽ tạo cho việc làm dễ hơn, hiệu quảhọc cao hơn GV cũng có thể sử dụng ngay bảng của học sinh để gắn ngay vàobảng nam châm để sửa những lỗi sai phổ biến của cả lớp và dùng chiếc bảng họcsinh để viết mẫu chữ cho học sinh quan sát và tập viết giống cô.
Vở tập viết in thuận lợi là chữ có sẵn, chữ mẫu in rõ ràng, đẹp có điểm đặtbút để học sinh biết khoảng cách giữa các chữ và viết bài được dễ dàng
Ngoài các phương tiện nêu trên, bàn ghế đúng quy cách và ánh sáng trongphòng học là điều kiện rất quan trọng để giúp các em viết tốt Vấn đề này Ban giámhiệu trường tôi hết sức quan tâm trang bị cho toàn trường đặc biệt là khối 1 bàn ghếđúng quy cách theo tiêu chuẩn, giữa bàn và ghế liền luôn có khoảng cách đảm bảođúng chuẩn, ánh sáng trong trường học được trang bị đầy đủ, tốt
Chương II: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 1 viết chữ đúng mẫu và đẹp.
1 Đối với học sinh:
1.1.Để giúp học sinh lớp 1 viết đúng và đẹp, trước tiên người giáo viên phải tựthống nhất một số thuật ngữ khi dạy tập viết để học sinh nghe quen tai và có thóiquen nhận biết nhanh
Ví dụ: “Đường kẻ” học sinh nghe cô nói hiểu được đâu là đường kẻ ngang thứnhất, thứ 2, thứ 3, thứ 4, thứ 5, thứ 6 đường kẻ dọc trái, đường kẻ dọc phải Cáchxác định toạ độ trên khung chữ phải dựa vào đường kẻ chuẩn Học sinh qua giờ họcluyện tập, tập viết sẽ tự nhận xét được độ cao, kích thước của chữ, biết được vị trínằm trên đường kẻ nào, dòng kẻ thứ mấy thông qua chữ mẫu
1.2.Việc tiếp theo quan trọng là học sinh phải nắm chắc điểm đặt bút đầu tiên.Biết được điểm dừng bút của một số chữ thường kết thúc ở điểm đặt bút hoặc ởđường kẻ ngang thứ 2
1.3.GV có thể lặp lại điều này ở nhiều tiết học để học sinh luôn lưu ý nên hấtquá tay chữ sẽ mất cân đối hoặc hất quá ít làm chữ viết giống chữ in
Trong kỹ thuật viết tạo sự liền mạch GV cần rèn học sinh biết cách rê bút, lia
Trang 8bút để đảm bảo kỹ thuật và tốc độ viết chữ.
1.2.Để học sinh viết đúng chữ mẫu và viết đẹp phương tiện học tập của học sinh
là đặc biệt cần thiết gồm: bút, bảng, vở tập viết, bàn ghế đúng quy cách, ánh sángđầy đủ
2.2.Khi học sinh viết bài, ngoài việc cầm bút đúng tư thế, muốn viết đúng vàđẹp học sinh cân biết quan sát chữ mẫu để biết cấu tạo chữ, nhận xét được chiềucao, độ rộng của chữ, nhìn cô hướng dẫn cách viết để nắm được kỹ thuật viết chữ
và viết theo mẫu
Đây là một trong những chữ khó viết ở phần chữ cái Rất nhiều em khi viết đếnchữ này đều bị mắc ở phần nét thắt giữa Giúp các em khắc phục tôi đã làm nhưsau:
Cho học sinh so sánh chữ h và chữ k (mẫu hai chữ phóng to)
+ Giống nhau: cùng có nét khuyết trên học sinh đã biết cách viết
+ Khác nhau : chữ h có nét móc 2 đầu Chữ k có nét thắt giữa để viết được đúng nét thắt giữa của chữ k, tôi đã phóng to riêng phần nét thắt giữa của chữ
k trên khung chữ kẻ li Học sinh nhận xét chiều cao, độ rộng của nét thắt: Nét thắt
Trang 9viết ra bảng riêng từng phần của nét thắt cho học sinh quen tay GV chú ý cho họcsinh viết đúng the nét này ngay từ khi cho học sinh học các nét cơ bản.
Sau khi học sinh đã viết được riêng từng phần nét thắt giữa, tôi hướng dẫn họcsinh ghép 2 phần rời của nét thắt để được nét thắt giữa hoàn chỉnh bằng cách rê bútnối 2 phần của nét thắt như sau:
Đặt bút ở đường kẻ ngang thứ 2 viết nét cong phải hơi chếch lên chạm đường kẻngang thứ 3 vòng gần đến điểm đặt bút vừa xong rê bút viết liền nút nằm ngangtrên đường kẻ ngang thứ 2, điểm kết thúc của nét nút thẳng với chỗ rộng nhất củaphần trên nét thắt, rê bút nối liền với nét móc dưới và dừng bút ở đường kẻ ngangthứ 2
Học sinh viết xong sẽ mang bảng mẫu của mình cho các bạn xem Học sinhnhận xét rút ra chỗ đúng cần học tập, chỗ chưa đúng cần phải sửa Học sinh đượctập viết lại nét thắt giữa cho đẹp sau đó mới viết chữ k hoàn chỉnh trên cơ sở côgiáo viết chữ mẫu trên bảng và nhận xét được:
Nét khuyết: cao 5 li, rộng 1 li
Nét thắt giữa: cao 2 li rộng 2 li rưỡi Đặt bút ở giữa đường kẻ ngang thứ 2 (sátbên trái đường kẻ dọc) viết nét khuyết trên dựa vào đường kẻ dọc cho thẳng đếnđường kẻ ngang dưới thứ nhất rê bút viết tiếp nét thắt giữa như trên, dừng bút ởđường kẻ ngang thứ 2
Muốn luyện tập đạt kết quả tốt học sinh phải nắm chắc về:
+ Chữ mẫu+ Cấu tạo của chữ+ Kỹ thuật viết chữ Ngoài ra học sinh còn được rèn luyện thành kỹ năng như: Tư thế ngồi, cáchcầm bút để vở, cách trình bày bài… cộng với ý thức tự giác của mỗi học sinh trongquá trình luyện tập sẽ làm bài viết của các em đẹp hơn Học sinh được viết trênbảng, vở bài tập viết và viết cả vở ô li (giờ luyện viết)
Để nhận biết bài viết của học sinh đã đúng, đẹp chưa cần có sự kiểm tra đánh
Trang 10giá, công việc này phải tiến hành thường xuyên, điều này chỉ có 2 ưu điểm sau:Giáo viên đánh giá được mức độ tiếp thu của học sinh, từ đó có thể điều chỉnhphương pháp dạy cho phù hợp.
2 Đối với GV:
2.1 Chữ viết của Giáo viên là tấm gương cho học sinh
Giáo viên phải viết đúng, viết đẹp, trình bày rõ ràng mới có thể giáo dục chohọc sinh viết sạch đẹp hơn được Bởi xét về tâm lý của học sinh tiểu học giườngnhư các em luôn lấy cô giáo mình làm gương Vì vậy, giáo viên cần phải thườngxuyên luyện chữ, cập nhật ngay với mẫu chữ đang hiện hành
2.2 Chuẩn bị chu đáo khi lên lớp
Mỗi giáo viên khi lên lớp phải soạn bài đầy đủ Việc soạn bài là công việc lập
ra kế hoạch tổ chức hoạt động dạy và học trong từng bài Tiết chính tả nhiều khigây cho học sinh sự tẻ nhạt Giáo viên phải bám vào yêu cầu của từng bài học từ đónghiên cứu bổ xung cho phù hợp với học sinh của lớp mình Bài soạn của giáo viêncông phu sẽ tránh gây nhàm chán, rèn luyện được chữ viết mà lại gây được hàohứng cho học sinh
Để có bài soạn tốt, giáo viên luôn sưu tầm tài liệu, sách tham khảo về cách rènluyện chữ viết cho học sinh, những quyển vở sạch, đẹp giới thiệu cho những emhọc sinh có ý thức lấy đó làm gương cho mình
Ngoài ra, về tư thế cầm bút của học sinh là điều giáo viên cần phải quan tâmđầu tiên, thực tế có nhiều cách cầm bút không đúng như tôi đã nêu ở phần viếtbảng, giáo viên có thể phải mất hàng tuần và luyện thường xuyên trong suốt cả nămhọc về cách cầm bút đúng mẫu để học sinh viết tốt hơn Khi viết đôi tay trực tiếpđiều khiển quá trình viết của trẻ, các cơ và tay của trẻ đang độ phát triển, nhiều chỗcòn là sụn nên cử động các ngón tay còn vụng về, chóng mệt mỏi Khi cầm bút các
em có tâm lý bị rơi Điều này gây một phản ứng tự nhiên là các em cầm bút quáchặt, các cơ tay căng lên rất khó di chuyển Muốn có thói quen viết chữ nhẹ nhàng,thoải mái trước hết học sinh phải biết kỹ thuật cầm bút bằng 3 ngón tay (ngón cái,
Trang 11ngón trỏ, ngón giữa) Bàn tay phải với điểm tựa là mép cùi tay, đầu bút hướng raphía trước, cầm bút phải tự nhiên, đừng chặt quá sẽ khó vận động, nếu lỏng quá sẽkhông điều khiển được bút Nếu các em cầm sai kỹ thuật bằng 4, 5 ngón tay, khiviết vận động cổ tay, cánh tay thì các em sex mau mệt, sức chú ý kém, kết quả viếtchữ sẽ không đúng và nhanh được.
2.3 Rèn cho học sinh tư thế ngồi chuẩn
Giáo viên phải rèn cho học sinh tư thế ngồi chuẩn để có thể viết chữ đẹp lạikhông gây ra những dị tật để đời cho học sinh như: cận thị, vẹo cột sống
* Tư thế ngồi viết:
- Lưng thẳng
- Không tỳ ngực xuống bàn
- Mắt cách vở khoảng 20 - 25 cm
- Tay phải cầm bút, tay trái tỳ nhẹ lên mép vở để giữ.
- Hai chân để song song thoải mái.
*Cách cầm bút:
- Cầm bút bằng ba ngón tay: Ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa
- Khi viết ba ngón tay di chuyển từ trái sang phải, cán bút nghiêng bên phải, cổtay, khuỷu tay, cánh tay cử động mềm mại, thoải mái
- Tuyệt đối sửa ngay những học sinh cầm bút tay trái
Tuy nhiên với những học sinh viết xấu, giáo viên sẽ có những biện pháp để giúpcác em có thể viết đẹp hơn như:
- Tập tô chữ thêm
- Giáo viên kèm tay đôi, cầm tay ở một số nét chữ khó
- Giáo viên sửa sai ngay cho học sinh trên bảng con
- Luyện viết lại những chữ học sinh viết sai
- Xem (bảng) vở mẫu của bảng viết đẹp
- Uốn nắn tư thế ngồi viết đúng
- Bài viết của cô giáo phải luôn chuẩn
Trang 12- Giáo viên nên giám sát học sinh trong quá trình viết để sửa sai kịp thời và lưu ýnhững lỗi học sinh hay mắc trước khi học sinh viết bài để giúp học sinh viết đúng.
- Cho học sinh ngồi xen kẽ: học sinh viết đẹp ngồi cạnh học sinh viết chưa đẹp
để các em bắt chước bạn, thi viết đẹp giống bạn
- Bảng chữ mẫu luôn để trước mặt để học sinh lúc nào cũng nhìn thấy chữ mẫu
và viết theo
Trong quá trình dạy học tôi luôn tạo cho thói quen viết có chất lượng không chohọc sinh viết quá nhiều bài, chấm điểm chữ viết hoặc xếp loại chữ theo từng bàiviết, kể cả trong giờ luyện tập và quy định rõ ở mức độ nào học sinh phải viết lạibài
* Sau đây tôi xin minh họa 1 bài dạy tập viết trong giờ học vần
Bài 8: l - h (Tiếng việt 1 - Tập 1)
Hoạt động dạy và học
* Tiết 1: Hướng dẫn viết bảng: (6’)
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc bài viết
Gắn chữ:
Yêu cầu học sinh so sánh chữ:
Cho học sinh nhận xét về chiều cao? Chiều
H có nét móc 2 đầu
1 HS nhận xétCao: Nét khuyết 5 liNét móc 2 đầu: 2 liNét móc dưới (nét hất) 1 liRộng: h: 3li
l: 2 liCao: Nét khuyết 5 liNét móc 2 đầu: 2 li
Trang 13GV chỉ vào chữ mẫu và nói cách viết
k: Đặt bút ở đường kẻ ngang thứ 2 sát bên
trái đường kẻ dọc viết nét khuyết trên cao 5 li
dựa lưng vào đường kẻ dọc cho đẹp, đến gần
đường kẻ ngang thứ nhất lượn bút nối liền
với nét móc dưới rộng gần 2 li và dừng bút ở
đường kẻ ngang thứ 2
h: Đặt bút viết nét khuyết trên giống như chữ
l, đến điểm dừng bút của nét khuyết trên rê
bút sát vào nét khuyết đến đường kẻ ngang
thứ 2 lượn bút viết nét móc 2 đầu cao 2 li và
dừng bút ở đường kẻ ngang thứ 2
- Viết mẫu và nói cách viết
- GV viết mẫu bảng giống như bảng của
học sinh
Yêu cầu học sinh viết vào bảng của mình
Gọi 2 - 3 học sinh mang bảng mẫu (2 bảng
* Lê: Cách 1 đường kẻ dọc Viết l như đã học
đến điểm dừng bút của l Đưa tay lượn rộng
Nét móc dưới (nét hất) 1 liRộng: h: 3li
Trang 14nửa ô viết như đã học Dừng bút ở đường
ngang thứ 2 Lia bút lên trên viết dấu mũ (^)
* hè: Cách 1 đường kẻ dọc viết như đã học,
đến điểm dừng bút của h
Đưa tay lượn rộng nửa ô viết e giống l - ê,
xong lia bút lên trên e Thêm dấu ( `)
Giáo viên viết mẫu bảng
*Tiết 2: Hướng dẫn viết vở ( 4’)
hè - hơn 1 ô
* nhận xét: Khi dạy bài 8: l – h các em học sinh đều nắm được điểm đặt bút,
điểm dừng bút của chữ l – h Đã biết vận dụng các nét cơ bản để viết HS viết đượcbài Một số em đã viết đúng - đẹp ở bảng con và vở Tập viết
* Sau đây tôi xin giới thiệu một số bài mẫu - chữ viết của học sinh: