1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY

91 253 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại công ty tài chính công nghiệp tàu thủy
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài chính
Thể loại Luận văn
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY

Trang 1

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU,SƠ ĐỒ

TÓM TẮT LUẬN VĂN

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 .4

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỂ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH 4

1.1 Công ty Tài chính và hoạt động tín dụng của Công ty tài chính 4

1.1.1 Công ty iài chính 4

1.1.2 Hoạt động tín dụng của Công ty tài chính 6

1.2 Rủi ro tín dụng của Công ty tài chính 9

1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng 9

1.2.2 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng 10

1.2.3 Tác động của rủi ro tín dụng 14

1.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng 15

1.3 Hạn chế rủi ro tín dụng của Công ty tài chính 19

1.3.1 Sự cần thiết của hạn chế rủi ro tín dụng 19

1.3.2 Đánh giá rủi ro tín dụng 20

1.3.3 Các biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng 28

1.3.4 Bài học về hạn chế rủi ro tín dụng tại Công ty tài chính của một số nước 34

CHƯƠNG 2 .38

Trang 2

THỰC TRẠNG HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY TÀI

CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY 38

2.1 Khái quát về Công ty tài chính Công nghiệp tàu thủy 38

2.1.1 Cơ cấu tổ chức và mạng lưới hoạt động 38

2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh trong thời gian qua 40

2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng tại Công ty tài chính CNTT 42

2.2.1 Thực trạng hoạt động tín dụng tại Công ty tài chính CNTT 42

2.2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng tại Công ty tài chính CNTT 48

2.2.3 Các biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng đang thực hiện tại Công ty tài chính CNTT 55

2.3 Đánh giá chung về hạn chế rủi ro tín dụng tại Công ty tài chính CNTT 61 2.3.1 Kết quả đạt được 61

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 62

CHƯƠNG 3 .68

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY 68

3.1 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng tại Công ty tài chính CNTT trong thời gian tới 68

3.1.1 Định hướng phát triển Công ty tài chính CNTT đến năm 2015 68

3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng trong thời gian tới 69

3.2 Một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Công ty tài chính CNTT 70

3.2.1 Xây dựng bộ máy quản lý rủi ro tín dụng 70

3.2.2 Hoàn thiện chính sách cho vay 72

3.2.3 Hoàn thiện và tuân thủ nghiêm ngặt quy trình cho vay 74

3.2.4 Nâng cao chất lượng công tác phân tích và đánh giá khách hàng78 3.2.5 Nâng cao vai trò của công tác kiểm soát nội bộ 79

Trang 3

3.3.6 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 81

3.2.7 Đa dạng hoá sản phẩm cho vay và đối tượng khách hàng 82

3.2.8 Tăng cường các biện pháp xử lý nợ xấu, nợ quá hạn 83

3.3 Một số kiến nghị 84

3.3.1 Kiến nghị với Chính Phủ và các ban ngành liên quan 84

3.3.2 Kiến nghị với NHNN 85

KẾT LUẬN 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Rủi ro là yếu tố gắn liền với mọi hoạt động đầu tư nói chung, trong đó có hoạt động tín dụng của các TCTD RRTD là một trong những loại rủi ro lâu đời và quan trọng nhất mà các TCTD phải đối mặt Nó không chỉ là nỗi ám ảnh của riêng một TCTD riêng lẻ nào mà là nỗi ám ảnh chung của cả hệ thống TCTD trên thế giới Những bất ngờ luôn có thể xảy ra ngay cả với những TCTD giỏi nhất, nhiều kinh nghiệm nhất cũng khó lường hết được Trên quan điểm RRTD là không thể tránh khỏi, không thể loại trừ mà chỉ có thể đề phòng, hạn chế Vì vậy, việc tìm ra các giải pháp để hạn chế RRTD luôn là mối quan tâm hàng đầu và trở thành vấn đề sống còn của bất kỳ TCTD nào

Trong thời gian vừa qua tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp và khó lường Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động trực tiếp đến nền kinh tế nước ta Do đó rất nhiều doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh, làm ăn thua lỗ dẫn đến giảm khả năng trả nợ cho TCTD Các TCTD luôn canh cánh nỗi lo về nợ xấu, nợ khó đòi

VFC- một thành viên của Tập đoàn Vinashin cũng không tránh khỏi tình trạng chung đó Hơn thế, với đặc điểm hoạt động của Công ty chủ yếu là cho vay ngành đóng tàu nên trong thời gian vừa qua hoạt động tín dụng của VFC gặp nhiều khó khăn do cước phí vận chuyển giảm rất mạnh Các doanh nghiệp vận tải, đóng tàu điêu đứng, doanh thu, lợi nhuận sụt giảm mạnh và hệ quả tất yếu là giảm khả năng trả

nợ Cộng với những thiếu sót từ chính Công ty trong điều hành, quản lý làm cho khả năng xảy ra RRTD là rất lớn, tỷ lệ nợ xấu, nợ khó đòi năm vừa qua tăng mạnh

Trước tình hình đó, với những gì đã được học trên trường, cùng với kiến thức

có được trong quá trình công tác tại VFC, tôi quyết định chọn đề tài: “Hạn chế rủi

ro tín dụng tại Công ty tài chính Công nghiệp tàu thủy” để nghiên cứu Bài viết

Trang 5

muốn nói lên thực trạng hoạt động tín dụng để từ đó đưa ra những giải pháp để hạn chế RRTD tại VFC.

2 Đối tượng nghiên cứu

Rủi ro tín dụng tại Công ty tài chính

3 Mục đích nghiên cứu

Mục tiêu cuối cùng của đề tài là đưa ra một số giải pháp hạn chế rủi ro tại VFC để góp phần đảm bảo cho hoạt động tín dụng của Công ty đạt hiệu quả cao

Đề tài được thực hiện với 3 mục tiêu cụ thể sau:

- Đưa ra khung khổ lý luận chung về RRTD, hạn chế RRTD

- Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng và RRTD tại VFC, từ đó đưa ra đánh giá về RRTD của Công ty

- Đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế RRTD tại VFC

4 Phạm vi nghiên cứu và thu thập dữ liệu

* Phương pháp thu thập dữ liệu: thống kê, miêu tả

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

+ Phương pháp miêu tả;

Trang 6

+ Phương pháp phân tích;

+ Phương pháp so sánh;

+ Phương pháp tổng hợp

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba phần với nội dung cơ bản sau:

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về RRTD của CTTC

Chương 2: Thực trạng hạn chế RRTD tại VFC

Chương 3: Giải pháp hạn chế RRTD tại VFC

Trang 7

Theo Luật các TCTD số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 (sẽ thay thế Luật các TCTD đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2011) thì có thể hiểu CTTC là Tổ chức tín dụng phi ngân hàng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng1.1.1.2 Chức năng của Công ty tài chính

Các chức năng chủ yếu của CTTC bao gồm:

- Chức năng tạo vốn : CTTC huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, hình thành các quỹ tiền tệ tập trung Bằng cách trả lãi suất, các CTTC đem lại lợi ích cho người có tiền tiết kiệm và đồng thời cũng làm lợi cho chính mình trong giai đoạn cung ứng vốn

- Chức năng cung ứng vốn : Trong nền kinh tế thị trường, người cần vốn là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh doanh trong và ngoài nước CTTC cùng với các trung gian tài chính khác sẽ đáp ứng nhu cầu vốn và nhận được một khoản lợi nhất định thông qua việc cho vay với lãi xuất cho vay lớn hơn lãi xuất các tổ chức này trả cho người tiết kiệm

Trang 8

- Chức năng kiểm soát : CTTC sẽ góp phần kiểm soát nhằm giảm tới mức tối thiểu sự rủi ro bằng cách thường xuyên hoặc định kỳ kiểm soát trước khi cho vay, trong và sau khi cho các doanh nghiệp vay vốn.

1.1.1.3 Hoạt động chủ yếu của Công ty tài chính

Cũng giống như các tổ chức tín dụng khác, CTTC là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ với các hoạt động chủ yếu sau:

- CTTC huy động vốn thông qua việc nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, và giấy tờ có giá khác Ngoài

ra, CTTC có thể huy động vốn từ vay các tổ chức tài chính, tín dụng, tiếp nhận vốn

uỷ thác của Chính phủ, các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước

- CTTC có thể cấp tín dụng dưới các hình thức cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, và các hình thức cấp tín dụng khác theo quy định của Ngân hàng nhà nước

- Cung cấp một số loại hình dịch vụ ngân hàng như nhận đại lý, môi giới, ủy thác… và mỗi loại hình còn có chức năng đặc biệt tùy theo mục tiêu hoạt động

- CTTC được thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn và không làm dịch vụ thanh toán cho khách hàng

- Các Ngân hàng thương mại không ngừng mở rộng dịch vụ thanh toán qua Ngân hàng, còn các tổ chức tài chính phi ngân hàng lại tăng cường dịch vụ trên các mặt môi giới, đại lý chứng khoán và các dịch vụ ủy thác

Từ những hoạt động trên giúp chúng ta phân biệt được NH và CTTC Tuy nhiên ranh giới phân biệt này ngày càng bị xóa nhòa do những thay đổi trong cơ cấu và xu hướng pha trộn các hoạt động nghiệp vụ giữa các loại hình trung gian tài chính

Trong khi ngân hàng hoạt động rộng và huy động vốn chủ yếu từ công chúng thì CTTC huy động vốn chủ yếu từ nội bộ tập đoàn và nhóm công ty

Trang 9

Một trong những hạn chế của các CTTC so với các tổ chức ngân hàng là không được làm dịch vụ thanh toán và nhận tiền gửi dưới 1 năm Tuy vậy, các CTTC hiện nay đã khắc phục bằng việc phát triển thêm nhiều sản phẩm dịch vụ mới như dịch vụ nhận ủy thác vốn, nhận ủy thác đầu tư bao thanh toán, thu xếp vốn, v.v cho

cả ngắn hạn, trung và dài hạn Những dịch vụ này đã giúp CTTC thực hiện được các dịch vụ khác tương tự như một NHTM

1.1.2 Hoạt động tín dụng của Công ty tài chính

1.1.2.1 Vai trò của hoạt động tín dụng đối với Công ty tài chính

Trong hoạt động của các TCTD Việt Nam hiện nay, hoạt động tín dụng là một nghiệp vụ truyền thống, nền tảng, chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu tài sản và cơ cấu thu nhập, CTTC cũng không phải là ngoại lệ Với giới hạn hoạt động của mình là không được thực hiện chức năng thanh toán thì tỷ trọng tín dụng trong cơ cấu tài sản

và cơ cấu thu nhập của CTTC còn cao hơn các NHTM Vì vậy, hoạt động tín dụng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của CTTC, có thể nói nó quyết định đến sự sống còn của CTTC

Ngoài ra cũng giống như các tổ chức trung gian tài chính khác, hoạt động tín dụng của CTTC có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như đối với sự phát triển chung của toàn xã hội

1.1.2.2 Các hình thức cấp tín dụng của Công ty tài chính

Hiểu một cách đơn giản tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả

Theo quy định tại khoản 14 điều 4 Luật các TCTD số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 (sẽ thay thế Luật các TCTD đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2011) thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” Như vậy,

Trang 10

khái niệm “cấp tín dụng” trong Luật các TCTD năm 2010 rộng hơn và đầy đủ hơn so với năm 2004

CTTC được cấp tín dụng dưới các hình thức sau:

1 Cho vay, CTTC được cho vay dưới các hình thức:

- Cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn theo quy định của NHNN

- Cho vay theo uỷ thác của Chính phủ, của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định hiện hành của Luật Các tổ chức tín dụng và hợp đồng uỷ thác

- Cho vay tiêu dùng bằng hình thức cho vay mua trả góp

2 Chiết khấu, Tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác

- CTTC được cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác đối với các tổ chức và cá nhân

- CTTC và các TCTD khác được tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác cho nhau

có hiệu quả và thuận lợi nên hoạt động tín dụng của CTTC có nhiều nét đặc thù:

- CTTC có vai trò huy động và cho vay đáp ứng nhu cầu của tập đoàn và các đơn vị thành viên là chủ yếu nên sự đa dạng về khách hàng và ngành nghề cho vay là không cao

Trang 11

- Khi các quan hệ kinh tế trong tập đoàn minh bạch và tuân thủ đúng pháp luật thì khả năng xảy ra RRTD cho CTTC là không lớn Nhưng do cho vay tập chung vào các đơn vị thành viên trong tập đoàn nên khi tập đoàn có biến động, RRTD mà CTTC phải đối mặt là không nhỏ Hay nói cách khác khả năng phân tán rủi ro của CTTC là không cao.

- Không thực sự chủ động trong hoạt động tín dụng, thường bị chi phối và thực hiện theo sự chỉ đạo của tập đoàn

1.1.2.3 Quy trình cấp tín dụng của Công ty tài chính

Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của TCTD trong việc cấp tín dụng

Xây dựng quy trình tín dụng hợp lý sẽ có tác dụng trong việc xây dựng một

mô hình tổ chức thích hợp tại CTTC, dựa vào quy trình tín dụng CTTC sẽ thiết lập các thủ tục hành chính cho phù hợp với những quy định của Luật pháp và đảm bảo mục tiêu an toàn trong kinh doanh, đồng thời quy trình tín dụng cũng là cơ sở để kiểm soát tiến trình cấp tín dụng và điều chỉnh chính sách tín dụng cho phù hợp với thực tiễn

Quy trình tín dụng bao gồm nhiều phương diện và có thể được phân chia thành nhiều giai đoạn khác nhau Thông thường quy trình tín dụng bao gồm 5 giai đoạn sau:

- Giai đoạn 1: Lập hồ sơ cấp tín dụng

Trong giai đoạn này khách hàng có nhu cầu vay vốn sẽ gửi hồ sơ đến CTTC, CTTC sẽ tiếp nhận và hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ theo đúng quy định, sau khi

bộ hồ sơ hoàn thành sẽ được chuyển sang khâu thẩm đinh

- Giai đoạn 2: Thẩm định tín dụng

Trên cơ sở hồ sơ đề nghị vay vốn từ giai đoạn 1 chuyển sang cộng với các thông tin bổ sung thu thập được từ phỏng vấn khách hàng và hồ sơ lưu trữ, CTTC sẽ tiến hành thẩm định về các mặt tài chính và phi tài chính của khách hàng Báo cáo kết

Trang 12

quả thẩm định sẽ được chuyển đến bộ phận có thẩm quyền và quyết định cho vay hay không.

- Giai đoạn 3: Quyết định tín dụng

Dựa trên báo cáo kết quả thẩm định của giai đoạn 2 người hoặc bộ phận được giao quyền phán quyết sẽ quyết định hoặc từ chối cho vay Nếu đồng ý cho vay, CTTC và khách hàng sẽ tiến hành các thủ tục pháp lý như ký kết hợp đồng tín dụng

và các thủ tục giấy tờ liên quan

- Giai đoạn 4: Giải ngân

Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, khi có nhu cầu giải ngân khách hàng sẽ chuyển chứng từ cần thanh toán đến CTTC, CBTD sẽ kiểm tra chứng từ theo các điều kiện của hợp đồng tín dụng Nếu chứng từ phù hợp và đầy đủ CTTC sẽ chuyển tiền vào tài khoản tiền gửi cho khách hàng hoặc chuyển trả cho đơn vị cung cấp

- Giai đoạn 5: Giám sát, thu nợ và thanh lý tín dụng

Giai đoạn giám sát sẽ thực hiện việc theo dõi, đánh giá mức độ chấp hành hợp đồng tín dụng của khách hàng và kịp thời có cách ứng xử thích hợp Một việc rất quan trọng trong giai đoạn này là thu nợ, CTTC sẽ theo dõi lịch trả nợ theo các nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng để thực hiện việc thông báo và đôn đốc khách hàng trả nợ

1.2 Rủi ro tín dụng của Công ty tài chính

1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng

Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến Rủi ro luôn tiềm ẩn trong bất kỳ hoạt động nào của con người Tín dụng – hoạt động lớn nhất và chủ yếu của CTTC cũng như các TCTD khác, thu nhập từ hoạt động này chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng thu nhập của TCTD Nhưng đồng thời đây cũng là lĩnh vực chứa đựng nhiều rủi ro nhất, rủi ro này gây ra những thiệt hại nặng nề thậm chí là dẫn đến phá sản CTTC

Trang 13

RRTD xuất phát từ các hoạt động tín dụng khi khách hàng vay vi phạm các điều kiện của hợp đồng tín dụng làm giảm hay mất giá trị của tài sản có Biểu hiện của RRTD là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của TCTD.

Theo quy định tại khoản 1 điều 2 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD: “rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”

Vì RRTD là khả năng xảy ra tổn thất nên các CTTC cố gắng “thấy” được càng rõ, càng kỹ, càng tốt Để “thấy” được rủi ro, trước khi thực hiện một hoạt động tài trợ cụ thể các CTTC luôn phải tiến hành thẩm định các yếu tố của khách hàng sao cho độ

an toàn là cao nhất Và nhìn chung, CTTC chỉ cho vay khi thấy rằng rủi ro tín dụng sẽ không xảy ra Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân (cả khách quan và chủ quan) mà CTTC không thể lường trước hết được Hơn nữa nhiều cán bộ của CTTC năng lực có hạn nên việc phân tích tín dụng không thích đáng Vì thế, RRTD là không thể tránh khỏi Các CTTC chỉ có thể hạn chế, đề phòng chứ không thể loại trừ RRTD dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung của các CTTC và CTTC coi nó như là bạn đường trong kinh doanh

1.2.2 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng

Trong quan hệ tín dụng có hai đối tượng tham gia là bên cho vay và người đi vay Nhưng người đi vay sử dụng tiền vay trong một thời gian, không gian cụ thể, tuân theo sự chi phối của những điều kiện cụ thể nhất định mà ta gọi là môi trường kinh doanh, và đây là đối tượng thứ ba có mặt trong quan hệ tín dụng RRTD xuất

Trang 14

phát từ môi trường kinh doanh gọi là rủi ro do nguyên nhân khách quan RRTD xuất phát từ người vay và tổ chức cho vay gọi là rủi ro do nguyên nhân chủ quan.

1.2.2.1 Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan

a, Nguyên nhân bất khả kháng

Những nguyên nhân bất khả kháng như: thiên tai, chiến tranh, động đất …tác động đến người vay làm họ mất khả năng thanh toán cho ngân hàng

Những thay đổi này thường xuất hiện bất thình lình ngoài dự kiến của cả TCTD và khách hàng, tác động đến khách hàng gây ra những khó khăn mà họ phải đối mặt Nếu ảnh hưởng không lớn, khách hàng có thể bị tổn thất nhưng vẫn có khả năng trả nợ cho TCTD đúng hạn, đủ gốc và lãi Tuy nhiên, khi tác động của những nguyên nhân bất khả kháng đối với người vay là nặng nề, khả năng của họ sẽ bị suy giảm đáng kể thậm chí là mất khả năng trả nợ

b, Môi trường kinh tế

Sức khỏe của nền kinh tế (được thể hiện qua các chỉ tiêu kinh tế như tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập quốc dân, tốc độ chu chuyển vốn, tỷ lệ lạm phát, ) ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khi nền kinh tế hưng thịnh người vay hoạt động tốt, nguồn thu ổn định, lợi nhuận cao Do đó, khả năng trả nợ vay đầy đủ và đúng hạn cao Ngược lại khi nền kinh tế bước vào thời kỳ suy thoái, tài chính khó khăn, ứ đọng vốn dẫn đến sản xuất bị đình trệ nên khả năng trả nợ của khách hàng cũng bị đe dọa

c, Môi trường pháp lý

Bất kỳ một doanh nghiệp nào đều phải thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong một khuôn khổ pháp luật nhất định, đều phải chịu sự chi phối của các văn bản luật liên quan Trong kinh doanh các yếu tố pháp lý có tác động đến hoạt động kinh doanh bao gồm hệ thống luật, hệ thống các biện pháp bảo đảm cho pháp luật được thực thi và sự chấp hành pháp luật Chỉ cần một sự thay đổi bất lợi của nhà nước cũng có thể đấy các doanh nghiệp đến bờ vực phá sản

Trang 15

d, Các nguyên nhân từ phía khách hàng vay

- Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay: Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn TCTD đều có các phương án kinh doanh cụ thể, khả thi Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo TCTD để chiếm đoạt tài sản không nhiều Tuy nhiên những vụ việc phát sinh lại hết sức nặng

nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác

- Khả năng quản lý kinh doanh kém: Khi các doanh nghiệp vay tiền TCTD để

mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ

ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế

- Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các

sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực Do vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho TCTD nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất Khi cán bộ TCTD lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực Đây cũng là nguyên nhân vì sao TCTD vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống RRTD

1.2.2.2 Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan (từ phía Công ty cho vay)

- Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các CTTC: Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh Nhưng trong thời gian trước đây, công việc kiểm tra nội bộ của các CTTC hầu như chỉ tồn tại trên hình thức Kiểm tra

Trang 16

nội bộ cần phải được xem như hệ thống “thắng” của cỗ xe tín dụng Cỗ xe càng lao

đi với vận tốc lớn thì hệ thống này càng phải an toàn, hiệu quả thì mới tránh cho cỗ

xe khỏi đi vào những ngã rẽ rủi ro vốn luôn luôn tồn tại thường trực trên con đường

đi tới

- Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Một số vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến CBTD đều có sự tiếp tay của một số CBTD cùng với khách hàng làm giả hồ sơ vay, hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế

Đạo đức của CBTD là một trong các yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấn

đề hạn chế RRTD Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguy hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng

- Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay: Các CTTC thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay Khi CTTC cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo sẽ đựơc hoàn trả Theo dõi nợ

là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của CBTD nói riêng và của CTTC nói chung Việc theo dõi hoạt động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và CTTC nhằm tìm ra những

cơ hội kinh doanh mới và mở rộng cơ hội kinh doanh Tuy nhiên trong thời gian qua các CTTC chưa thực hiện tốt công tác này Điều này một phần do yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của cán bộ CTTC, một phần do hệ thống thông tin quản

lý phục vụ kinh doanh tại các doanh nghiệp quá lạc hậu, không cung cấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin mà CTTC yêu cầu

- Sự hợp tác giữa các TCTD quá lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thực sự hiệu quả: Kinh doanh tín dụng là một nghề đặc biệt huy động vốn để cho vay hay nói cách khác đi vay để cho vay, do vậy vấn đề rủi ro trong hoạt động tín dụng là không thể tránh khỏi, các TCTD cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi ro Sự

Trang 17

hợp tác nảy sinh do nhu cầu quản lý rủi ro đối với cùng một khách hàng khi khách hàng này vay tiền tại nhiều TCTD Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiều CTTC cùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ không chừa một TCTD nào

Không thu hồi được khoản vay, CTTC phải sử dụng các nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền, như vậy sẽ làm tăng chi phí và tất yếu dẫn đến giảm doanh thu và lợi nhuận Nếu có nhiều món vay không thu hồi được, CTTC có thể phải đối mặt với rủi ro thanh khoản khi không có đủ nguồn để trả cho người người tiền Điều này sẽ làm thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính, uy tín và sức cạnh tranh của TCTD Nếu không có những biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời, RRTD có thể đẩy các TCTD đến bờ vực phá sản

- Đối với nền kinh tế – xã hội

CTTC là một tổ chức trung gian tài chính thường do các tập đoàn thành lập ra

để điều phối vốn một cách có hiệu quả và hợp lý nhất giữa các thành viên trong tập đoàn Vì vậy, khi rủi ro xảy ra không chỉ CTTC phải gánh chịu hậu quả mà còn ảnh hưởng đến tình hình tài chính của tập đoàn

Trang 18

Như đã nói ở trên RRTD xảy ra ở một chừng mực nào đó sẽ dẫn đến rủi ro thanh khoản Vì hoạt động ngân hàng của TCTD mang tính hệ thống rất cao, nên khi một CTTC gặp phải rủi ro thanh khoản, người gửi tiền ở ngân hàng khác cũng sẽ hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở các TCTD khác làm cho toàn bộ hệ thống gặp khó khăn

Ngoài ra, RRTD cũng có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế khu vực và thế giới Trong thời đại hội nhập, nền kinh tế mỗi quốc gia là một mắt xích trong nền kinh tế toàn cầu, và đều phải có mối quan hệ tác động qua lại với nền kinh tế của các quốc gia khác Tất nhiên, một dây xích không thể “khỏe” nếu có một mắt xích “yếu” Khủng hoảng tài chính Châu Á (năm 1997) và khủng hoảng tài chính Nam Mỹ (2001-2002), khủng hoảng tài chính Mỹ thời gian vừa qua là những minh chứng rõ ràng nhất Khởi nguồn từ một nước (nguyên nhân là từ hoạt động cho vay) các cuộc khủng hoảng trên đã lan tỏa nhanh chóng và làm rung chuyển nền tài chính toàn cầu

1.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng

RRTD là khách quan, song CTTC phải quản lý RRTD để hạn chế đến mức thấp nhất các tổn thất có thể xảy ra Từ những nguyên nhân nảy sinh RRTD có thể đưa ra một số tiêu chí phản ảnh RRTD như sau:

1.2.4.1 Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ

Theo quy định tại khoản 5 điều 2 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD: “Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn”

Như vậy, có thể hiểu nợ quá hạn là những khoản nợ mà khách hàng không trả đúng hạn như đã quy định trong hợp đồng tín dụng và không được TCTD gia hạn Để kiểm soát chặt chẽ và trích dự phòng rủi ro thích hợp các khoản nợ quá hạn, theo quy

Trang 19

định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 nợ quá hạn được phân chia theo thời gian thành các nhóm sau:

- Nợ quá hạn dưới 90 ngày- Nợ cần chú ý

- Nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày – Nợ dưới tiêu chuẩn

- Nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày – Nợ nghi ngờ

- Nợ quá hạn trên 360 ngày – Nợ có khả năng mất vốn

Theo quy định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 về sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định 493/2005/QĐ-NHNN thì nợ quá hạn dưới mười ngày vẫn được xếp vào nhóm nợ đủ tiều chuẩn nếu TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy

đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại

Tỷ lệ nợ quá hạn: được đo bằng tỷ lệ của dư nợ quá hạn trên tổng dư nợ

Tỷ lệ nợ quá hạn = (Dư nợ quá hạn/Tổng dư nợ)x100%

Tỷ lệ này cho biết nợ quá hạn chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ Tỷ lệ này càng cao cho thấy rủi ro danh mục cho vay của TCTD lớn, điều này sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của TCTD do phải tăng dự phòng tổn thất, tăng chi phí để xử lý các khoản nợ quá hạn và tất yếu làm giảm lợi nhuận của TCTD

Ngoài ra người ta còn sử dụng chỉ tiêu tốc độ tăng, giảm của nợ quá hạn và tỷ

lệ nợ quá hạn so với tổng dư nợ để thấy được sự biến động của nợ quá hạn và tỷ lệ quá hạn qua các năm

1.2.4.2 Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ

Theo quy định tại khoản 6 điều 2 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD:

“Nợ xấu” (NPL) là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Điều 6 hoặc Điều 7 Quy định này

Trang 20

Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho biết nợ xấu chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ và là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của TCTD

Tỷ lệ nợ xấu = (Dư nợ xấu/Tổng dư nợ)x100

Theo quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, nợ xấu gồm các nhóm như sau:

* Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh

kỳ hạn trả nợ lần đầu

- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;

* Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;

* Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả

nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;

- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;

Trang 21

So với nợ quá hạn, nợ xấu có quy mô nhỏ hơn nhưng lại thể hiện mức độ rủi

ro rõ hơn Quyết định 493/2005/NHNN đã phân loại nợ với mức độ rủi ro tăng dần làm cơ sở trích lập dự phòng phù hợp để sử lý tổn thất Nếu nợ xấu càng lớn và nhóm nợ càng cao thì tỷ lệ trích lập dự phòng càng lớn và lợi nhuận càng giảm do trích lập dự phòng được tính vào chi phí hoạt động kinh doanh của TCTD

Tuy nhiên, do quy mô khác nhau nên để so sánh mức độ RRTD giữa các TCTD người ta sử dụng tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ Tỷ lệ này được đo bằng thương số giữa dư nợ xấu trên tổng dư nợ và cho biết nợ xấu chiếm bao nhiêu phần trăm trên tổng dư nợ TCTD có thể phân chia nợ xấu theo các tiêu thức khác nhau như: nợ xấu theo thời hạn cho vay, theo ngành nghề kinh doanh, theo mục đích cho vay…từ đó tìm ra nguyên nhân và đưa ra giải pháp hữu hiệu để giải quyết

1.2.4.3 Tỷ lệ quỹ dự phòng rủi ro so với nợ quá hạn

Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của

tổ chức tín dụng Dự phòng rủi ro bao gồm: Dự phòng cụ thể và Dự phòng chung

Tỷ lệ quỹ dự phòng rủi ro so với nợ quá hạn = (Quỹ dự phòng rủi ro /Dư nợ quá hạn)x100%

Tỷ lệ này cho biết quỹ dự phòng có thế bù đắp được bao nhiêu phần trăm nợ quá hạn Tỷ lệ này cao tức là quỹ dự phòng rủi ro đủ bù đắp các thiệt hại có thể xảy

ra trong quá trình cho vay

1.2.4.4 Tỷ lệ nợ khoanh, nợ xóa trên tổng dư nợ

Nợ khoanh, nợ xóa là những khoản nợ được xác định là không thể thu hồi Nhưng khác mới nợ xóa, nợ khoanh tuy được đưa ra theo dõi ngoại bảng nhưng không có nghĩa là xóa nợ cho khách hàng mà vẫn thu nợ khi khách hàng có khả năng trả

Trang 22

Tỷ lệ nợ khoanh, nợ xóa so với tổng dư nợ cho biết trong tổng dư nợ, nợ khoanh, nợ xóa chiếm bao nhiêu phần trăm Tỷ lệ này càng thấp so với tổng dư nợ càng tốt

1.2.4.5 Nợ không có bảo đảm

Bảo đảm tín dụng là bảo vệ quyền lợi của người cho vay dựa trên cở sở thế chấp, cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người đi vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba Bảo đảm tín dụng sẽ là nguồn thu thứ hai khi nguồn thu thứ nhất (nguồn thu từ phương án vay vốn) không thể thanh toán các khoản nợ

Nợ không có đảm bảo là những khoản nợ dựa trên sự tín chấp giữa CTTC và khách hàng, không có bất cứ một tài sản cầm cố, thế chấp cũng như không có bất cứ

sự bảo lãnh của bên thứ ba nào

Nợ không có bảo đảm càng nhỏ khả năng thu hồi nợ của CTTC càng lớn cho

dù nguồn thu chính không thực sự đảm bảo, nhờ đó mà CTTC hạn chế được rủi ro tín dụng có thể xảy ra

Ngoài các chỉ tiêu mang tính định lượng trên, các nhà quản lý của CTTC còn

sử dụng các hình thức đo RRTD khác như: các khoản cho vay có vấn đề, điểm của khách hàng

1.3 Hạn chế rủi ro tín dụng của Công ty tài chính

1.3.1 Sự cần thiết của hạn chế rủi ro tín dụng

Hoạt động tín dụng là quan trọng nhất của CTTC và bao gồm hai mặt: sinh lợi và rủi ro Tín dụng là hoạt động mang lại lợi nhuận nhiều cho CTTC nhưng cũng là hoạt động tiềm ẩn thua lỗ lớn nhất của CTTC Vì vây, trước mỗi quyết định cấp tín dụng, CTTC luôn phải cân nhắc mâu thuẫn giữa sinh lời và rủi ro và luôn phải tìm các biện pháp để hạn chế những rủi ro có thể xảy ra để sao cho khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng là lớn nhất

Hạn chế là việc giữ lại, ngăn lại trong một giới hạn nhất định, không để cho vượt qua một ngưỡng nào đó

Trang 23

Hạn chế RRTD là việc CTTC thực hiện các chính sách, quy trình tín dụng trên cở sở cơ cấu tổ chức được thiết lập, công nghệ ngân hàng, năng lực lãnh đạo của Ban lãnh đạo, năng lực làm việc của cán bộ nhân viên và các công cụ hỗ trợ khác để giảm khả năng xảy ra rủi ro trong hoạt động tín dụng từ đó giảm thiểu tổn thất cho CTTC.

Như đã đề cập ở phần trên, tín dụng là hoạt động quan trọng của CTTC Đối với hầu hết các CTTC, dư nợ tín dụng chiếm khoảng 1/2 đến 2/3 tổng tài sản Tín dụng cũng là hoạt động sinh lời cao nhất, thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu thu nhập của các CTTC Vì vậy, rủi ro kinh doanh của CTTC có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng Khi CTTC rơi vào tình trạng tài chính khó khăn nghiêm trọng thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dụng của CTTC Cấp tín dụng cho khách hàng nhưng không thu hồi được vốn, có thể là do CTTC không minh bạch trong cấp tín dụng, buông lỏng quản lý, chính sách tín dụng kém hiệu quả hay có thể là do những nguyên nhân khách quan bất khả kháng (lũ lụt, thiên tai, thay đổi chính sách của nhà nước…) Chính vì tầm quan trọng cũng như những rủi ro tiềm ẩn có thế xảy ra bất kỳ lúc nào trong hoạt động tín dụng nên các CTTC luôn phải có những chính sách, biện pháp để hạn chế RRTD Hạn chế RRTD không chỉ giúp CTTC duy trì và phát triển mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế

1.3.2 Đánh giá rủi ro tín dụng

Các CTTC có thể sử dụng nhiều mô hình khác nhau để đánh giá RRTD Các

mô hình này rất đa dạng bao gồm mô hình phản ánh về mặt lượng-còn gọi là phương pháp định lượng, mô hình phản ánh về mặt chất-còn gọi là phương pháp định tính ngoài ra còn các phương pháp khác như phương pháp chủ quan, phương pháp chuyên gia hay phương pháp truyền thống Các phương pháp này không loại trừ lẫn nhau nên một CTTC có thể sử dụng kết hợp các mô hình để đánh giá rủi ro tín dụng từ đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một khách hàng cũng như để trích lập DPRR Sau đây là các mô hình được áp dụng tương đối phổ biến:1.3.2.1 Mô hình định tính

Trang 24

a) Phân tích tín dụng

Với mỗi khoản vay cán bộ tín dụng phải làm rõ được các vấn đề sau:

- Có thể tín nhiệm khách hàng không? Và Anh biết họ đến mức nào?

- Hợp đồng tín dụng có được ký kết một cách đúng đắn và hợp lệ, nhằm bảo vệ CTTC và người gửi tiền hay không?

- Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ, CTTC có thể thu nợ bằng tài sản hay thu nhập của người vay một cách nhanh chóng với chi phí và rủi ro thấp hay không?

Để trả lời được các câu hỏi trên, Cán bộ tín dụng cần đi sâu phân tích các nội dung sau:

Thứ nhất: khách hàng vay có thể tín nhiệm?

Để trả lời câu hỏi thứ nhất này ta có thể sử dụng mô hình chất lượng 6 C:

(1) Tư cách người vay (Character): CBTD phải làm rõ mục đích xin vay của khách hàng, mục đích xin vay của khách hàng có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của CTTC và phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của khách hàng hay không, đồng thời xem xét lịch sử đi vay và trả nợ đối với khách hàng cũ; còn khách hàng mới thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác như từ: trung tâm phòng ngừa rủi ro, từ TCTD khác, từ các cơ quan thông tin đại chúng,…

(2) Năng lực của người vay (Capacity): Tùy thuộc vào quy định pháp luật của quốc gia Đòi hỏi người đi vay phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự

(3) Thu nhập của người đi vay (Cash): Phải xác định được nguồn trả nợ của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay thu nhập, tiền từ bán thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán,…

(4) Bảo đảm tiền vay (Collateral): Đây là điều kiện để CTTC cấp tín dụng và

là nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho CTTC

Trang 25

(5) Các điều kiện (Conditions): CTTC quy định các điều kiện cho vay tùy theo chính sách tín dụng của CTTC và chính sách tiền tệ của NHNN theo từng thời kỳ.

(6) Kiểm soát (Control): Tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi của luật pháp có liên quan và quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng xấu đến người vay hay không? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của CTTC hay không?

Thứ hai: Hợp đồng tín dụng có được ký kết đúng đắn và hợp lệ hay không?

Mô hình “6C” giúp CTTC trả lời câu hỏi: người vay có đủ tư cách? Khi câu trả lời là “có” thì câu hỏi tiếp theo là: hợp đồng tín dụng được ký kết đúng đắn và hợp lệ, đáp ứng được yêu cầu của CTTC và người vay?

Nội dung hợp đồng phải phù hợp với phương án vay của khách hàng (như số tiền, thời gian…) có như thế việc trả nợ mới thuận lợi Nếu khách hàng gặp rắc rối trong việc thực hiện khoản vay thì cũng như chính CTTC đang gặp rắc rối vì sự thành bại của CTTC phụ thuộc vào sự thành công của khách hàng Ngoài ra CBTD cũng cần phải cố vấn cho khách hàng để xác định được số tiền và thời hạn cho vay chính xác Vì nhiều khi khách hàng không biết chính xác nhu cầu cũng như thời gian hoàn vốn của phương án

Hợp đồng tín dụng hợp lệ phải bảo vệ được quyền lợi của CTTC với các quy định điều khoản giới hạn hoạt động của người vay, nếu các hoạt động này đe dọa khả năng trả nợ Việc cưỡng chế thu hồi nợ cũng phải được quy định rõ ràng, cụ thể trong hợp đồng tín dụng

Thứ ba: CTTC có thể thu hồi nợ thuận lợi bằng tài sản đảm bảo không?

Với các khách hàng có hệ số tín nhiệm cao có thể không cần có tài sản đảm bảo cho món vay Với các khách hàng còn lại CTTC thường yêu cầu phải có biện pháp đảm bảo tín dụng như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh Tài sản đảm bảo giúp CTTC thu hồi nợ nếu người vay không trả nợ theo quy định, đồng thời cũng làm cho khách hàng có trách nhiệm hơn trong việc hoàn trả nợ vay để không phải gắn tài sản

Trang 26

Để việc thu nợ bằng tài sản đảm bảo thuận lợi, khi nhận đảm bảo CTTC phải xác định rõ ràng và chính xác những tài sản nào là đối tượng có thể đảm bảo và có thể bán, đồng thời phải có giấy tờ chứng minh mình là người hợp pháp có quyền chiếm đoạt tài sản khi khách hàng không trả được nợ.

b) Kiểm tra tín dụng

Việc kiểm tra sau cho vay là rất cần thiết vì các điều kiện cấp tín dụng thường thay đổi theo thời gian có ảnh hưởng đến điều kiện tài chính của người vay và khả năng hoàn trả nợ của khách hàng CBTD phải nhạy cảm với các yếu tố có thể ảnh hưởng đến khoản vay và phải thường xuyên kiểm tra các khoản tín dụng cho đến khi thu hồi hết nợ

Mỗi CTTC có một quy trình khác nhau để kiểm tra tín dụng Tuy nhiên, các quy trình đó đều dựa trên những nguyên lý chung sau:

- Tiến hành kiểm tra các khoản tín dụng theo định kỳ nhất định

- Xây dựng chương trình, nội dung kiểm tra chi tiết, cụ thể để đảm bảo những vấn đề quan trọng của khoản tín dụng được kiểm tra bao gồm: kế hoạch trả nợ, tài sản đảm bảo, điều kiện tài chính của khách hàng, …)

- Kiểm tra thường xuyên các khoản tín dụng lớn

- Quản lý chặt chẽ các khoản cho vay có vấn đề

Kiểm tra tín dụng giúp các CTTC trong việc đánh giá toàn bộ tiềm ẩn rủi ro để từ đó đưa ra các biện pháp phòng chống cũng như định hướng chính sách bù đắp rủi ro

c) Xử lý tín dụng có vấn đề

Mặc dù đã xây dựng một cơ chế bảo đảm an toàn tín dụng, nhưng các CTTC cũng không thể loại trừ một số khoản tín dụng có vấn đề như khách hàng không trả được nợ, tài sản đảm bảo giảm giá mạnh…

Khi khoản tín dụng có vấn đề, CTTC phải tìm ra các giải pháp nhằm thu hồi

Trang 27

nợ với mục tiêu đặt ra là phải tận dụng tối đa các cơ hội để thu hồi đầy đủ nợ đã cho vay Đồng thời phải nhanh chóng báo cáo mọi vấn đề liên quan đến khoản tín dụng để tránh làm cho tình hình tín dụng trở nên xấu hơn.

1.3.2.2 Mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng

Trước đây, các TCTD chỉ dựa vào phương pháp định tính để đánh giá RRTD khách hàng Phương pháp này tỏ ra có nhiều khuyết điểm như mất thời gian, tốn kém lại mang tính chủ quan Vì vậy, các TCTD không ngừng cải tiến các phương pháp đánh giá khách hàng để đưa ra quyết định chính xác hơn Ngày nay một số TCTD đã sử dụng mô hình cho điểm để lượng hóa rủi ro tín dụng Mô hình này cho phép xử lý nhanh một khối lượng lớn các khách hàng vay, chi phí thấp và khách quan hơn mô hình định tính truyền thống Sau đây là một số mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng hay được sử dụng

a) Mô hình điểm số Z (Z – Credit scoring model):

Đây là mô hình do E.I Altman dùng để cho điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại RRTD đối với người đi vay và phụ thuộc vào:

- Trị số của các chỉ số tài chính của người vay

- Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ

Từ đó Altman đã xây dựng mô hình điểm như sau:

Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5

Trong đó:

X1 = Hệ số vốn lưu động / tổng tài sản

X2 = Hệ số lãi chưa phân phối / tổng tài sản

X3 = Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi / tổng tài sản

X4 = Hệ số giá trị thị trường của tổng vốn sở hữu / giá trị hạch toán của nợ

Trang 28

X5 = Hệ số doanh thu / tổng tài sản

Trị số Z càng cao, thì xác suất vỡ nợ của người đi vay càng thấp Ngược lại, khi trị số Z thấp hoặc là một số âm thì đó là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao

b) Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng:

Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng mô hình cho điểm tín dụng bao gồm: Hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, điện thoại cố định, số tài khoản cá nhân, thời gian công tác Bảng dưới đây

là những hạng mục và điểm thường được sử dụng ở các NH của Hoa Kỳ

TT Các hạng mục xác định chất lượng tín dụng Điểm

1 Nghề nghiệp của người vay

- Chuyên gia hay phụ trách kinh doanh

- Công nhân có kinh nghiệm

- Nhân viên văn phòng

- Sinh viên

- Công nhân không có kinh nghiệm

- Công nhân bán thất nghiệp

108754 2

- Nhà riêng

- Nhà thuê hay căn hộ

- Sống cùng bạn hay người thân

642

- Tốt

- Trung bình

152

Trang 29

TT Các hạng mục xác định chất lượng tín dụng Điểm

- Không có hồ sơ

- Tồi

0

- Nhiều hơn 1 năm

- Từ 1 năm trở xuống

52

5 Thời gian sống tại địa chỉ hiện hành

- Nhiều hơn 1 năm

- Từ một năm trở xuống

21

- Có

- Không có

20

- Cả tài khoản tiết kiệm và phát hành Sec

- Chỉ tài khoản tiết kiệm

- Chỉ tài khoản phát hành Sec

- Không có

4320Tiếp đó,TCTD hình thành khung chính sách tín dụng theo mô hình điểm số như sau:

Tổng số điểm của khách hàng Quyết định tín dụng

Từ 28 điểm trở xuống Từ chối tín dụng

31 - 33 điểm Cho vay đến 1.000 USD

Trang 30

Tổng số điểm của khách hàng Quyết định tín dụng

34 – 36 điểm Cho vay đến 2.500 USD

37 – 38 điểm Cho vay đến 3.500 USD

39 – 40 điểm Cho vay đến 5.000 USD

41 – 43 điểm Cho vay đến 5.000 USDa) Mô hình xếp hạng của Moody và Standard & Poor:

RRTD cho vay và đầu tư thường được thể hiện bằng việc xếp hạng trái phiếu

và khoản cho vay Việc xếp hạng này được thực hiện bởi một số dịch vụ xếp hạng tư nhân trong đó có Moody và Standard & Poor là những dịch vụ tốt nhất

Đối với Moody xếp hạng cao nhất từ Aaa nhưng với Standard & Poor thì cao nhất là AAA Việc xếp hạng giảm dần từ Aa (Moody) và AA (Standard & Poor) sau đó thấp dần để phản ánh rủi ro không được hoàn vốn cao

Mô hình xếp hạng của công ty Moody và Standard & Poor

Standard & Poor Aaa Chất lượng cao nhất, rủi ro thấp nhất*

Aa Chất lượng cao*

A Chất lượng trên trung bình*

Baa Chất lượng trung bình*

Ba Chất lượng trung bình mang yếu tố đầu cơ

B Chất lượng dưới trung bìnhCaa Chất lượng kém

Ca Mang tính đầu cơ, có thể vỡ nợ

C Chất lượng kém nhất, triển vọng xấuMoody

AAA Chất lượng cao nhất, rủi ro thấp nhất*

Trang 31

Nguồn Xếp

B Chất lượng dưới trung bìnhCCC Chất lượng kém

CC Mang tính đầu cơ, có thể vỡ nợ

C Chất lượng kém nhất, triển vọng xấuc) Mô hình cấu trúc kỳ hạn rủi ro

Mô hình cấu trúc kỳ hạn rủi ro này là mô hình dựa trên các yếu tố thị trường

để đánh giá RRTD và phân tích “mức thưởng rủi ro chấp nhận” gắn liền với mức sinh lời của khoản nợ công ty hay tín dụng đối với khách hàng vay với cùng mức độ rủi ro

Mô hình này chủ yếu đánh giá về: xác suất vỡ nợ của công cụ nợ kỳ hạn ngắn hạn, xác suất vỡ nợ của công cụ nợ kỳ hạn dài hạn Tuy nhiên, để áp dụng được mô hình này còn phụ thuộc vào chính sách tín dụng cũng như độ chính xác của các thông tin mà TCTD nhận được

1.3.3 Các biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng

Từ lý luận và thực tiễn cho thấy RRTD có thể xuất phát từ nguyên nhân khách quan và chủ quan Để hạn chế những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động tín dụng, các CTTC nên thực hiện một số giải pháp sau:

1.3.3.1 Nhóm giải pháp hạn chế sự phát sinh các khoản tín dụng có vấn đề, nợ quá hạn, nợ xấu, bao gồm:

* Nhóm giải pháp chủ yếu

a) Xây dựng cơ cấu tổ chức hợp lý

Tổ chức công ty là việc bố trí, sắp xếp mọi người trong công ty vào những vai trò, những công việc cụ thể Nói cách khác, tổ chức là tổng thể những trách nhiệm hay vai trò được phân chia cho nhiều người khác nhau nhằm đạt được mục tiêu và nhiệm vụ chung

Trang 32

Một nguyên tắc cần tuân thủ khi tổ chức cơ cấu công ty là phải đảm bảo cho công ty được tổ chức theo một hình thức có thể làm tăng khả năng thực hiện các chức năng đã định của công ty.

Cơ cấu tổ chức của CTTC được tổ chức tốt sẽ là một biện pháp hạn chế RRTD tốt Nếu bộ máy tín dụng được phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, ủy quyền rõ ràng; quyền hạn, trách nhiệm được xác định rõ theo từng đơn vị, từng cán bộ; việc xét duyệt tín dụng qua ba khâu: người trình, người kiểm soát và người quyết định thì sẽ hạn chế đáng kể những rủi ro có thể xảy ra

b) Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý và hiệu quả

Chính sách tín dụng phản ánh đầy đủ các yếu tố liên quan đến hoạt động tín dụng như: Qui mô cấp tín dụng, lãi suất tín dụng, kỳ hạn tín dụng, Chính sách tín dụng chính là bản hướng dẫn đối với hoạt động tín dụng của CTTC Chính sách tín dụng được lập thành văn bản để đảm bảo tính rõ ràng và tính hiệu lực trong thi hành cho các bên liên quan

Chính sách tín dụng hiệu quả phải đạt được các mục tiêu sau:

- Tạo ra các khoản tín dụng lành mạnh

- Tạo lợi nhuận vững chắc và giúp CTTC phát triển

- Thúc đẩy mở rộng thị phần để đáp ứng nhu cầu của thị trường

Để đạt được các mục tiêu trên chính sách tín dụng phải được xây dựng một cách mềm dẻo, linh hoạt, phải thường xuyên cập nhật được sự thay đổi của nhu cầu thị trường và đồng thời phải đảm bảo mức rủi ro an toàn

c) Cần chú trọng nâng cao chất lượng phân tích tín dụng

Phân tích tín dụng là phân tích khả năng hiện tại và tiềm tàng của khách hàng về sử dụng vốn tín dụng, cũng như khả năng hoàn trả vốn vay Mục tiêu của phân tích tín dụng là tìm kiếm tình huống có thể dẫn đến rủi ro cho CTTC và tiên lượng khả năng kiểm soát của CTTC về các loại rủi ro đó, cũng như dự kiến các biện pháp phòng ngừa và hạn chế những thiện hại có thể xảy ra Đồng thời phân tích tín dụng

Trang 33

giúp cho CTTC kiểm tra tính chính xác của các thông tin do khách hàng cung cấp từ đó có nhận định đúng về thái độ của khách hàng Nội dung của phân tích tín dụng là thu thập và phân tích thông tin nhằm xác định uy tín, tư cách pháp lý, sức mạnh tài chính và khả năng thanh toán của người vay,…trong quá khứ, hiện tại và tương lai, hiệu quả của dự án,…Chính vì vậy, phân tích tín dụng là công việc nghiêm túc, không thể làm chiếu lệ Chất lượng phân tích tín dụng sẽ quyết định chất lượng khoản vay, và góp phần hạn chế RRTD Ngày nay, trong môi trường cạnh tranh giữa các TCTD, khách hàng, đòi hỏi các CTTC phải thực hiện qui trình phân tích nhanh, gọn, tiết kiệm chi phí Để đạt được điều đó, quy trình phân tích tín dụng phải được xây dựng và thống nhất trong toàn CTTC, không được tùy tiện, duy ý chí, nội dung phân tích phải được xây dựng chi tiết, và toàn bộ quy trình phân tích phải đảm bảo thực hiện các nguyên tắc tín dụng của CTTC

d) Phân tán rủi ro

CTTC có thể thực hiện phân tán rủi ro bằng các cách sau:

- “Không mang tất cả trứng gà đặt vào một rổ” là một phương pháp quản lý tránh rủi ro hiệu quả nhất Nó sé phát huy tác dụng quan trọng trong các lĩnh vực rộng lớn, làm người ta cảm thấy bớt nguy hiểm hơn Nhưng cũng cần phải chú ý đừng quá phân tán, làm sao để thu lời lớn nhất từ những đồng vốn mà mình bỏ ra

“Không mang tất cả trứng gà đặt vào một rổ” là một nguyên tắc được ứng dụng rất rộng rãi trong hoạt động đầu tư tài chính nói chung và trong hoạt động tín dụng nói riêng Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ CTTC không tập trung cho vay một vài lĩnh vực, khu vực, không tập trung cho vay một hay một số khách hàng, đa dạng hóa danh mục đầu tư

- Cho vay hợp vốn

Tìm con “châu chấu” cùng gánh vác rủi ro Thế nào gọi là “châu chấu”? Trung Quốc có một câu tục ngữ : Châu chấu bám trên dây thừng khó gỡ ra nổi Trên thực tế, đây là một trong những phương thức để giảm bớt rủi ro, khéo léo lựa chọn đồng minh, kéo họ vào cùng kinh doanh với mình, biến họ trở thành “một con châu chấu

Trang 34

bám trên cùng chiếc dây thừng”, cùng gánh vác rủi ro Trong cạnh tranh mà tìm được người hợp tác thì không những có thể làm cho sức mạnh của mình tăng lên, mà còn

có thể giảm bớt những áp lực của rủi ro, tác dụng của nó thật quá rõ ràng Trong hoạt động tín dụng của CTTC cũng vậy, nhất là với các khoản vay lớn, các ngân hàng thường cho vay hợp vốn để vừa đảm bảo nguồn vốn cho dự án, vừa chia sẻ rủi ro, trách nhiệm trong giám sát cho vay

- Chuyển RRTD sang những tổ chức sẵn sàng chấp nhận rủi ro khác thông qua sử dụng các nghiệp vụ phái sinh tín dụng (Hợp đồng hoán đổi RRTD, hợp đồng quyền chọn tín dụng, hợp đồng hoán đổi tổng thu nhập, hợp đồng tương lai chỉ số giá cổ phiếu và hợp đồng quyền chọn phòng ngừa rủi ro mang tính hệ thống, chứng khoán hóa…)

Trong những năm gần đây, bên cạnh các sản phẩm phái sinh giá cả như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng hoán đổi lãi suất và quyền chọn , sản phẩm phái sinh tín dụng đã xuất hiện từ đầu những năm 1990 và phát triển bùng nổ

từ năm 1998 tại Mỹ Các công cụ phái sinh tín dụng được sử dụng để chuyển toàn bộ hoặc một phần RRTD sang cho đối tác thứ ba Đối tác thứ nhất sẽ bán RRTD với một mức giá cả cho một đối tác sẽ thực hiện đền bù nếu như RRTD xảy ra và nhận được một khoản phí RRTD xảy ra là trường hợp như: Phá sản, mất khả năng thanh toán, tái cơ cấu lại nợ và hệ số tín nhiệm bị hạ thấp

Nghiệp vụ này thể hiện rõ ưu điểm trong quản lý RRTD so với phương pháp truyền thống là trích lập dự phòng rủi ro Nó giúp cho các CTTC có một phương tiện để chuyển giao RRTD mà không cần phải bán tái sản có đó, và giúp cho CTTC duy trì được mối quan hệ với khách hàng khi việc bán tài sản làm suy yếu mối quan hệ của CTTC với khách hàng

Các TCTD là các tổ chức chiếm phần lớn trong các giao dịch trên thị trường phái sinh tín dụng, tuy nhiên các công ty bảo hiểm và các công ty tái bảo hiểm đang đóng vai trò ngày càng cao Các TCTD sử dụng công cụ phái sinh tín dụng dưới các hình thức là các công cụ giao dịch hoặc là phương tiện để phòng ngừa RRTD Tuy

Trang 35

nhiên, giao dịch phái sinh tín dụng cũng có thể trở thành một nguyên nhân gây ra rủi

ro cho các đối tượng tham gia và cũng có thể là nguyên nhân gây ra sự bất ổn định của thị trường tài chính Các đối tượng tham gia, do vậy, sẽ phải tính đến những rủi

ro đi kèm, đặc biệt là hệ thống quản lý nội bộ NH trung ương và các cơ quan giám sát sẽ phải theo dõi những rủi ro này và xây dựng các tiêu chuẩn quản lý mới

Bất cứ một sự phát triển nào cũng đều có một động lực thúc đẩy Mọi sự phát triển đều dựa trên nguồn nhân lực, vật lực, tài lực… nhưng chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra được động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy chỉ có thể thông qua nguồn lực con người

Trong thực tế, để có đội ngũ CBTD có trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp đòi hỏi phải có sự đầu tư về vật chất, thời gian và cần phải chú trọng những vấn đề sau:

- Về chuyên môn: CBTD phải thường xuyên học tập, nghiên cứu và thực hiện đúng các quy định hiện hành để nâng cao khả năng phát hiện và ngăn chặn rủi ro

- Về đạo đức: CBTD phải ý thức được trách nhiệm của mình trong công việc, thực hiện đúng các quy định về cho vay, đảm bảo tiền vay, …

- Chính sách đãi ngộ: phải có một chính sách đãi ngộ hợp lý để khuyến khích

và giữ chân người tài như: biểu dương, khen ngợi những người có thành tích tốt, cho CBTD tham gia các lớp học chuyên ngành và bổ trợ… Như vậy không những chất lượng tín dụng được cải thiện mà còn giúp uy tín của công ty nâng cao

b) Hiện đại hóa công nghệ thông tin

Trang 36

Công nghệ thông tin là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kích thích đổi mới đối với nền kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế quốc dân của mỗi nước nói riêng

Công nghệ thông tin được ứng dụng trong các TCTD đã làm tăng hiệu quả hoạt động cũng như giúp hạn chế RRTD tốt hơn Điều đó được thể hiện qua các khía cạnh sau:

- Đơn giản hoá các thao tác nghiệp vụ Tự động hoá hoạt động nghiệp vụ đó đơn giản hoá nhiều khâu trong qui trình xử lý nghiệp vụ và giao dịch với khách hàng

- Đảm bảo, nhanh chóng, an toàn, chính xác trong các giao dịch Thực hiện giao dịch online nên xử lý số liệu đảm bảo tuyệt đối an toàn chính xác

- Cập nhật thông tin quản lý điều hành và hoạt động kinh doanh Hệ thống thông tin đầy đủ, chính xác và cập nhật vào bất cứ thời điểm nào là một thế mạnh mà trước đây không có được Chính có thông tin nhạy bén chính xác mà công tác quản lý ngân hàng tốt hơn, kinh doanh hiệu quả cao hơn rất nhiều so với trước đây

- Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Ứng dụng công nghệ mới bắt buộc phải từng bước nâng cao trình độ cán bộ Đây là yếu tố then chốt, quyết định thành bại của mỗi TCTD, nếu không được quan tâm đúng mức sẽ rất khó khăn trong hoạt động và trụ vững trong cạnh tranh

c) Xây dựng hệ thống thông tin tín dụng hiệu quả

Quyết định cấp tín dụng của CTTC dựa trên những thông tin thu thập được về khách hàng và môi trường xung quanh, để có quyết định chính xác thông tin thu thập phải chính xác Để làm được điều đó, các CTTC cần xây dựng một hệ thống thông tin tín dụng hiệu quả để thu thập thông tin cung cấp cho hoạt động tín dụng với hai loại thông tin sau:

- Thông tin và các chỉ tiêu thống kê phục vụ cho việc phân tích, đánh giá và xếp loại khách hàng và các khoản tín dụng

Trang 37

- Thông tin về khách hàng Để có cái nhìn tổng quát và khách quan về khách hàng, ngoài thông tin tự thu thập được, CTTC cần phải thu thập thông tin từ bên ngoài (từ các cơ quan thông tin tín dụng trong và ngoài nước).

1.3.3.2 Nhóm giải pháp xử lý nợ quá hạn, nợ có vấn đề

- Thành lập bộ phận chuyên trách xử lý nợ xấu và xây dựng chính sách xử lý

nợ xấu thích hợp Để xử lý nợ xấu có hiệu quả cần phải có sự liên kết giữa các bên là CTTC – khách hàng – chính quyền địa phương

- Với những trường hợp khách hàng có khó khăn tài chính tạm thời song vẫn còn khả năng và ý chí trả nợ, CTTC sẽ áp dụng các biện pháp hỗ trợ như gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, giảm lãi…

- Còn trong trường hợp khách hàng cố tình lừa đảo, chây ì, mất khả năng trả

nợ, CTTC sẽ thực hiện các biện pháp thu hồi nợ như thanh lý tài sản thế chấp, kiện…

- Nếu RRTD xảy ra do CBTD thì CBTD phải có trách nhiệm đòi nợ, bồi thường thiệt hại

- Đối với các khoản nợ xấu không thể thu hồi, CTTC phải sử dụng quỹ dự phòng để xử lý và đưa khoản nợ ra ngoại bảng theo dõi

1.3.4 Bài học về hạn chế rủi ro tín dụng tại Công ty tài chính của một số nước

Rủi ro là không thể tránh khỏi trong hoạt động kinh doanh Các ông chủ luôn phải tìm cách hạn chế nó để lợi nhuận kiếm được là cao nhất Để rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí, ta thường học hỏi kinh nghiệm và cách làm từ những người đi trước Hệ thống TCTD Việt Nam mới trong giai đoạn đầu phát triển nên năng lực và kinh nghiệm về quản lý RRTD còn nhiều hạn chế Vì vậy, chúng ta có thể nghiên cứu

Trang 38

kinh nghiệm hạn chế rủi ro tín dụng ở một số nước để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho mình.

1.3.4.1 Hạn chế rủi ro tín dụng tại Mỹ

Mỹ – nước có nền kinh tế lớn mạnh hàng đầu thế giới, vì vậy không có gì lạ khi họ có thị trường tài chính cực kỳ phát triển

Các CTTC Mỹ rất coi trọng tài sản thế chấp (thiết bị, các khoản phải thu, hàng tồn kho, tài sản cố định, …Giá trị các khoản vay sẽ được dựa trên giá trị của các tài sản bảo đảm

Trong thời gian vừa qua cuộc khủng hoảng trên thị trường cho vay thế chấp nhà đất dưới tiêu chuẩn ở Mỹ đã chứng minh rằng khi xem nhẹ tài sản đảm bảo thì hậu quả sẽ rất nặng nề Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn hoạt động cho vay có phần

dễ dãi và ồ ạt - được gọi là “cho vay dưới chuẩn” - của các TCTD đối với người vay tiền mua nhà trả góp với hy vọng sau đó bán đi để kiếm lời Tuy nhiên, dấu hiệu khủng hoảng đầu tiên này đã không được chính phủ cũng như giới tài chính Mỹ nhìn nhận đúng mức nên không có giải pháp kịp thời Chỉ đến khi một loạt các “đại gia”

NH và tín dụng của Mỹ chao đảo thì tình hình đã trở nên quá muộn

Các TCTD Mỹ rất coi trọng thông tin thu thập được Thông tin thu thập được chính xác và đáng tin cậy thì các ngân hàng mới đưa ra được các quyết định chính xác

Các TCTD Mỹ coi trọng việc trao đổi thường xuyên với khách hàng về hoạt động kinh doanh, các khó khăn họ gặp phải cũng như những cơ hội họ có Như vậy, TCTD có thể hiểu và nắm rõ tình trạng của khách hàng và đưa ra cho khách hàng được những lời khuyên hữu ích

1.3.4.2 Hạn chế rủi ro tín dụng tại Thái Lan

Khủng hoảng tài chính châu Á bắt đầu từ tháng 7 năm 1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á Một trong những yếu tố căn bản dẫn đến cuộc khủng

Trang 39

hoảng là tình trạng xấu đi nhanh chóng của bảng cân đối kế toán mà nguyên nhân trực tiếp là từ những khoản vay không có khả năng thanh toán ngày càng tăng Khi những quốc gia, đặc biệt ở khu vực Đông Á, bắt đầu nới lỏng các quy định với thị trường tài chính vào đầu những năm 1990, một làn sóng vay dâng lên rất cao, trong

đó, hoạt động cho vay tín dụng với các khu vực kinh doanh phi tài chính tư nhân tăng đặc biệt nhanh Cũng đồng thời do khả năng giám sát yếu của các cơ quản điều hành pháp lý NH, bản thân CTTC thiếu chuyên gia trong việc theo dõi và giám sát hành vi của đối tương vay, những khoản lỗ do nợ xấu bắt đầu tăng lên, tác động tiêu cực đến

cả nguồn vốn thực của CTTC

Sau cuộc khủng hoảng, Thái Lan đã thay đổi căn bản hoạt động ngân hàng, đặc biệt chú trọng vào xây dựng và thực thi hệ thống quản lý rủi ro tín dụng ngân hàng hiệu quả Cụ thể như sau:

- Ngân hàng trung ương Thái Lan đã ban hành và giám sát nghiêm ngặt việc thực hiện các chỉ tiêu an toàn vốn phù hợp với thông lệ ngân hàng quốc tế như: quy định vốn điều lệ tối thiểu khi thành lập một ngân hàng, chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu 8%, giới hạn cho vay và bảo lãnh đối với một khách hàng và một nhóm khách hàng liên quan, tỷ lệ dự trữ bắt buộc…

- Xây dựng hệ thống chấm điểm tín dụng để đánh giá và xếp hạng khách hàng, trên cơ sở đó có chính sách tín dụng phù hợp vớ từng đối tượng

- Nghiên cứu xây dựng và áp dụng rộng rãi hệ thống đo lường và giám sát các loại rủi ro tín dụng, thị trường và thanh khoản theo thông lệ quốc tế

- Các CTTC xây dựng quy trình cho vay chặt chẽ và tách bạch chức năng giữa các bộ phận rõ ràng để kiểm soát lẫn nhau

1.3.4.3 Hạn chế rủi ro tín dụng tại Hàn Quốc

Vào thời điểm khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, Hàn Quốc có một gánh nặng nợ nước ngoài khổng lồ Các công ty nợ TCTD trong nước, còn TCTD trong nước lại nợ TCTD nước ngoài Một vài vụ vỡ nợ đã xảy ra Khi khủng hoảng xảy ra,

Trang 40

với tình trạng kém cỏi sẵn có của hệ thống TCTD bắt nguồn từ những khoản nợ kém hiệu quả rất lớn, Moody's đã hạ bậc tín dụng của Hàn Quốc từ A1 xuống A3 vào tháng 11/1997 và tiếp tục hạ xuống B2 vào tháng 12 Sau cuộc khủng hoảng tài chính

1997, Hàn Quốc đã thực hiện nhiều biện pháp để thắt chặt và hạn chế rủi ro tín dụng

- Chính phủ Hàn Quốc thanh lý và tiến hành sát nhập các ngân hàng hoạt động không hiệu quả đi đôi với hoạt động cải cách căn bản hệ thống TCTD

- Nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và giảm tỷ lệ cho vay đối với một khách hàng

- Thành lập ủy ban thanh tra, giám sát đặt dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng chính phu, ủy ban hoạt động giám sát tại chỗ và giám sát từ xa, định kỳ đánh giá xếp loại các ngân hàng theo hệ thống Camel

1.3.4.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

Từ việc nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về hạn chế RRTD, các CTTC có thể đúc rút và vận dụng một số bài học sau:

- Xây dựng và áp dụng rộng rãi hệ thống giám sát và đo lường các loại rủi ro tín dụng

- Cần xây dựng một quy trình tín dụng hợp lý, tách bạch chức năng giữa các bộ phận (thẩm định và gia quyết định cho vay) Việc quyết định cho vay cần theo mức tăng dần cho từng người, từng bộ phận nghiệm vụ để tránh được tình trạng gian lận tín dụng Thực hiện nghiêm ngặt những nguyên tắc tín dụng, cần thẩm định thật chặt chẽ năng lực của khách hàng, hiệu quả của phương án vay vốn, cũng như tình hình tài chính của khách hàng

- Cần phải quy định cụ thể về trích lập dự phòng rủi ro Trích lập RRTD là cách thức hữu hiệu để hạn chế rủi ro tổn thất tín dụng

- Ban hành hệ thống chấm điểm đánh giá xếp loại khách hàng hợp lý, hiệu quả dựa trên việc phân loại khách hàng theo nhóm để từ đó đưa ra quy trình thẩm định, cho vay phù hợp với từng đối tượng và chính sách tín dụng phù hợp với từng khách hàng

Ngày đăng: 20/07/2013, 09:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Bộ máy tổ chức và mạng lưới hoạt động của VFC - GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY
Sơ đồ 2.1. Bộ máy tổ chức và mạng lưới hoạt động của VFC (Trang 42)
Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản 2007-2009 - GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY
Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản 2007-2009 (Trang 43)
Bảng 2.2. Tình hình kinh doanh tín dụng 2007-2009 - GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY
Bảng 2.2. Tình hình kinh doanh tín dụng 2007-2009 (Trang 45)
Bảng 2.3. Dư nợ tín dụng theo thời hạn cho vay 2007-2009 - GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY
Bảng 2.3. Dư nợ tín dụng theo thời hạn cho vay 2007-2009 (Trang 47)
Bảng 2.4. Dư nợ tín dụng theo loại hình doanh nghiệp 2007-2009. - GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY
Bảng 2.4. Dư nợ tín dụng theo loại hình doanh nghiệp 2007-2009 (Trang 48)
Bảng 2.5: Dư nợ cho vay theo thành viên trong và ngoài Tập đoàn 2007-2009 - GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY
Bảng 2.5 Dư nợ cho vay theo thành viên trong và ngoài Tập đoàn 2007-2009 (Trang 50)
Bảng 2.6 Tình hình Phân loại nợ 2007-2009 - GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY
Bảng 2.6 Tình hình Phân loại nợ 2007-2009 (Trang 51)
Bảng 2.7 Tình hình trích lập DPRR 2007-2009 - GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY
Bảng 2.7 Tình hình trích lập DPRR 2007-2009 (Trang 55)
Bảng 2.9  Dư nợ cho vay theo đảm bảo 2007-2009 - GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY
Bảng 2.9 Dư nợ cho vay theo đảm bảo 2007-2009 (Trang 57)
Bảng 2.10 Kết quả xử lý nợ bằng thu hồi nợ trực tiếp tại VFC từ 2007-2009 - GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY
Bảng 2.10 Kết quả xử lý nợ bằng thu hồi nợ trực tiếp tại VFC từ 2007-2009 (Trang 63)
Bảng 2.11 Kết quả xử lý nợ bằng sử dụng dự phòng tại VFC từ 2007-2009 - GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY
Bảng 2.11 Kết quả xử lý nợ bằng sử dụng dự phòng tại VFC từ 2007-2009 (Trang 63)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w