1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BIẾN ĐỔI TRONG TANG MA CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

44 624 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 302 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sống làm vợ khắp người ta Khéo thay thác xuống làm ma không chồng Truyện Kiều - Nguyễn Du Dầu quan niệm cái chết thế nào thì tang lễ là một hình thức bày tỏ lòngnhớ ơn và thương xót của

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ CÁC CÔNG VIỆC NGHI LỄ

CHUẨN BỊ TRƯỚC TANG LỄ 1

I QUAN NIỆM CHUNG VỀ TANG MA 1

1 Quan niệm chung 1

2 Quan niệm về tang ma của người Mường ở Hòa Bình 2

3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 3

4 Vài nét về dân tộc Mường 5

II. Khái quát về phong tục tang lễ của người Mường 12

1 Về tên gọi công việc tang lễ 12

2 Người gốc và mục đích, điều kiện để làm tang lễ của người Mường 13

2.1 Nguồn gốc và mục đích tiến hành các nghi lễ 13

2.2 Mục địch cơ bản của tang lễ người Mường 18

2.3 Các yếu tố cơ bản để tiến hành một đám ma bình thường 19

3 Chuẩn bị trước tang lễ 20

3.1 Đối tượng không được củ hành tang lễ 21

3.2 Chuẩn bị trước tang lễ trong trường hợp bình thường 24

PHẦN 2:TIẾN TRÌNH CÁC CÔNG VIỆC, CÁC NGHI LỄ TRONG TANG LỄ CỔ TRUYỀN CỦA NGƯỜI MƯỜNG 25

I NHỮNG NGHI LỄ VÀ CÁC CÔNG VIỆC CHUẨN BỊ BƯỚC ĐẦU 25

1 Thầy Mo, thầy Kèn, Chí chuốc, đến nhà đám ma 25

2 Nghi lễ Đạp ma 27

3 Nghi lễ bao bo ảo – nghi lễ Nhập quan 27

4 Nghi lễ Mo bao bo ảo – thức zayl tha – Mo nhập săng thức gọi hồn ra 27

5 Nghi lễ kẹ 28

6 Công việc của họ tộc và làng xóm đến phụ giúp đám ma 28

7 Việc trình bày đồ lễ và đồ vật trên quan tài và ban thờ người chết 28

II CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH LỄ TANG 28

1 Báo tang 28

2 Nghi thức cho xác vào quan tài 29

3 Thăm hỏi chia buồn và đồ cúng tang 31

4 Phát tang 32

Trang 2

5 Đưa tang 34

6 Hạ huyệt 36

7 Đặc điểm mâm cơm dành cho các đối tượng khác nhau có liên quan đến người chết 37

7.1 Mâm cơm dành cho người chết 37

7.2 Mâm cơm dành cho con cái, dâu rể, khách và họ thông gia 38

7.3 Mâm cơm dành cho thầy Mo và phường bát âm 39

PHẦN 3: MỘT SỐ NÉT THAY ĐỔI TRONG TỤC TANG MA HIỆN NAY CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH 39

Một số nét thay đổi trong tục tang ma hiện nay của người Mường ở huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 39

Kết luận 41

Trang 3

PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ CÁC CÔNG VIỆC NGHI LỄ

CHUẨN BỊ TRƯỚC TANG LỄ III QUAN NIỆM CHUNG VỀ TANG MA

1 Quan niệm chung

Từ xa xưa người Việt Nam sống với tâm thức: con người ta sinh ra, lớn lên,dựng vợ gả chồng, sinh con đẻ cái, tạo lập công danh sự nghiệp… cuối cùngcũng theo quy luật sinh lão bệnh tử Do xem và chấp nhận cái chết là quy luậtnên người Việt Nam đón nhận cái chết trong tinh thần chủ động thư thản nhưsắm trước quan tài (gọi là Thọ), xây dựng sinh phần (gọi là Kim tỉnh) cho chínhbản thân khi còn sống Nhân sinh quan người Việt xưa nay cũng cho là "sống ở,thác về", xem cuộc sống trên mặt đất chỉ là cõi trọ tạm bợ, và chết không phải là

hết, mà về cõi vĩnh cửu Do vậy, "người chết cần được mồ yên mả đẹp", việc "động

mồ động mả" rất kiêng cử ví có thể ảnh hưởng đến sự nghiệp của con cháu nhiều đời Người Việt còn sống theo đạo lý: "nghĩa tử là nghĩa tận", tức là bao nhiêu

hờn oán đều xóa bỏ khi đối tượng đã chết, vì chết là dứt nợ trần gian Không aitruy cứu người chết bao giờ Trong dân gian tới nay ngay vẫn còn một bộ phậnlớn người tin vào linh hồn, cho rằng người chết rồi thì linh hồn sẽ sống ở cõi âm,nơi đó linh hồn cũng sinh hoạt như ở dương thế

Sống làm vợ khắp người ta Khéo thay thác xuống làm ma không chồng

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Dầu quan niệm cái chết thế nào thì tang lễ là một hình thức bày tỏ lòngnhớ ơn và thương xót của người sống đối với người chết Người Việt quan niệm

lễ tang là một phần của đạo hiếu mà con cháu dành cho ông bà cha mẹ khi quá

cố Đám tang là một nghi lễ lớn, nghi lễ cuối cùng trong đời một con người.Nghi lễ đám tang Việt được thiết kế theo nghi thức tang lễ có gốc từ sách “Văncông gia lễ” của Chu Hy đời nhà Tống bên Tàu, giản lược theo “Thọ mai gia lễ”của Hồ Sĩ Dương đời Lê Nghi lễ đám tang ấy thể hiện rất rõ quan điểm con

Trang 4

người là do khí âm, khí dương hòa hợp lại, con người có hồn có vía nên dù đãnhắm mắt xuôi tay vẫn có ảnh hưởng tốt hoặc xấu đối với những người sống.Đám tang là một nghi lễ với những thủ tục quy định nghiêm ngặt, nào “Thiênchính tẩm” (dời ra giữa nhà), nào lắng nghe “Di ngôn” (lời trăng trối), nào “Giatân y” (thay quần áo), nào “Hạ tịch” (đặt xuống chiếu trải dưới đất), nào “Trịquan” (chuẩn bị quan tài), nào “Nhập quan” (đặt vào quan tài)…

Tóm lại, đám tang hay đám ma, lễ tang, tang lễ, tang ma là một trongnhững phong tục của Việt Nam Bao gồm nhiều quy trình của những người đangsống thực hiện đối với người vừa chết

2 Quan niệm về tang ma của người Mường ở Hòa Bình

Đối với người Mường ở Hòa Bình, “tang ma là một trong những nghi lễtôn giáo “đậm đặc” là hình thái khá tập trung của nhiều tập tục cổ truyền Nhưmọi nghi lễ lớn của bất cứ dân tộc nào, tang lễ Mường thể hiện trên lễ tiết,những quan niệm về vũ trụ và về nhân sinh quan của dân tộc Các quan niệm ấy

đã bắt rễ từ lâu đời, ăn sâu vào tâm khảm người dân, là chất liệu góp phần xâydựng nên cái mà nhiều nhà dân tộc học gọi là “mối cộng cảm” của một dân tộc.Bên cạnh những quan niệm lỗi thời những tập tục lạc hậu, tang lễ Mường cònbao gồm nhiều giá trị của di sản văn hóa dân tộc”

Theo quan niệm thông thường, chết là kết thúc một đời người, là sự vĩnhviễn ra đi không bao giờ gặp lại, là đem lại sự mất thăng bằng tới một nhóm giađình do sự mất đi của một thành viên Khi còn sống với nhau, đạo lý ngườiMường đã chỉ ra rằng nên đối xử tốt đẹp với nhau thì khi có người chết đi đạo lý

ấy cũng khuyên người sống phải chăm lo tận tình “nghĩa tử là nghĩa tận” Đó làtrách nhiệm, là bổn phận, đồng thời cũng thể hiện các mối quan hệ giữa conngười với con người thông qua nghi lễ tang ma Tuy nhiên các nghi thức trongđám tang cũng thấy có sự khác biệt giữa các địa phương

Người Mường ở Hòa Bình, nghi lễ tang ma của họ có đặc điểm chung lànhững đêm mo Một lễ tang có thể kéo dài từ một đêm, hai đêm, hoặc mười hai

Trang 5

đêm hoặc lâu hơn nữa Điều này phụ thuộc vào tuổi tác và địa vị xã hội làng,bản của người chết

Các nghi thức tang ma được quy định rất nghiêm ngặt: từ trang phục củangười chết, con cháu, anh em, họ hàng… cho đến việc ngày, giờ nhập quan,cách bày trí các đồ cúng lễ, áo quan; các nghi lễ, nghi thức: đưa ma, quạt ma, lễnhạc đặc biệt là những đêm mo

Trước năm 1954, người xứ Mường Hòa Bình có tục làm ma khô, tục làm

ma khô gắn liền với mối quan hệ xã hội: với người giàu, việc lưu trữ xác chếttrong nhà là cơ hội để bày tỏ sự giàu có, bởi phong tục đòi hỏi những nghi lễ tốnkém trong suốt thời gian lưu quan tài ở trong nhà Ngược lại với người nghèo đó

là dấu hiệu tủi nhục, vì việc chôn cất người chết chỉ được thực hiện sau khi đãlàm đủ các nghi lễ rất tốn kém theo hủ tục cổ truyền “Giờ đã đến lúc đưa ngườithân vừa mất về thế giới bên kia, một thế giới phù hợp với thân phận người ấy:một tinh linh đã hoàn toàn tách khỏi thân xác người sống Giữa thế giới đó và 9thế giới chúng ta là cả một khoảng cách chỉ có thể vượt qua bằng uy lực của bốMo” (Từ Tri - “Vũ trụ luận Mường”)

Theo người Mường ở Hòa Bình nghi lễ tang ma liên quan trực tiếp tới tínngưỡng thờ cúng tổ tiên Nghi lễ tang ma không chỉ cầu xin sự che chở, bảo vệcủa người chết cho người sống mà còn thể hiện mối quan tâm, trách nhiệm sâusắc của người sống đối với người chết Không phải ngẫu nhiên người Mườnggọi đám ma là đám hiếu và việc hoàn thành những nghi thức tang ma cho cha

mẹ lúc về già là bổn phận lớn lao nhất của một đời người Dưới góc độ tínngưỡng tổ tiên, các nghi lễ tang ma chính là sự định vị cho linh hồn người chếtmột vị trí mới trong các thứ bậc của tổ tiên có mặt trên bàn thờ gia đình

5 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

Huyện Lương Sơn có tổng diện tích tự nhiên là 375 km2 (chiếm 8% diệntích toàn tỉnh), dân số trung bình là 80.300 người (chiếm 10,1% dân số toàntỉnh), mật độ dân số trung bình là 214 người/km2 (gấp 1,3 lần so với mật độdân số toàn tỉnh Hoà Bình)

Trang 6

Huyện Lương Sơn là vùng có tính chuyển tiếp giữa đồng bằng châu thổ sôngHồng với miền núi Hoà Bình và khu vực Tây Bắc, phía đông giáp các huyệnQuốc Oai và Chương Mỹ (tỉnh Hà Tây), phía tây giáp huyện Kỳ Sơn, phía namgiáp huyện Kim Bôi, phía bắc và tây bắc giáp các huyện Ba Vì và Thạch Thất(tỉnh Hà Tây).

Lương Sơn là một huyện vùng thấp của tỉnh Hoà Bình, có địa hình phổbiến là núi thấp và đồng bằng Độ cao trung bình của toàn huyện so với mựcnước biển là 251m, có địa thế nghiêng đều theo chiều từ tây bắc xuống đôngnam Đặc điểm nổi bật của địa hình nơi đây là có những dãy núi thấp chạy dàixen kẽ các khối núi đá vôi với những hang động

Căn cứ vào địa hình, có thể chia huyện Lương Sơn thành ba vùng:

- Vùng trung tâm gồm 8 xã: Lâm Sơn, Hoà Sơn, Tân Vinh, Nhuận Trạch,

Hợp Hoà, Cư Yên, Cao Răm, Trường Sơn và thị trấn Lương Sơn Vùng này códạng địa hình núi thấp xen kẽ các dải đồng bằng thấp với những cánh đồngrộng, bằng phẳng ở phía đông của huyện Lương Sơn, có đường quốc lộ 6Achạy qua và hệ thống đường giao thông phát triển theo kiểu xương cá, thuận lợicho việc thông thương buôn bán

- Vùng phía nam gồm 4 xã: Liên Sơn, Thành Lập, Trung Sơn và Tiến

Sơn Địa hình ở đây chủ yếu là núi cao trung bình và núi đá vôi xen kẽ cáccánh đồng vừa và nhỏ

- Vùng mới 7 xã mới chuyển về Lương Sơn: Cao Dương,Cao Thắng, Hợp

Châu, Hợp Thanh, Long Sơn, Tân Thành, Thanh Lương

Khí hậu Lương Sơn mang đặc trưng khí hậu của vùng nhiệt đới gió mùa.Mùa đông bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3, mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10.Nhiệt độ trung bình năm là 23oC, lượng mưa trung bình năm là 1.769 mm với

153 ngày có mưa, tập trung chủ yếu vào các tháng mùa hè

Khí hậu nóng ẩm như vậy tương đối phù hợp với sản xuất nông - lâmnghiệp nói chung Do có nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau nên có thể phát

Trang 7

triển cây trồng, vật nuôi phong phú, đa dạng theo hướng tập đoàn ở LươngSơn Bên cạnh những thuận lợi, khí hậu theo mùa nơi đây cũng gây ra không ítkhó khăn cho phát triển sản xuất Lượng mưa phân bố không đều trong năm đãtạo ra nhiều yếu tố bất lợi cho sản xuất và đời sống của nhân dân như lũ quét,hạn hán, sâu bệnh

6 Vài nét về dân tộc Mường

4.1 Nguồn gốc dân tộc Mường

Người Mường và người Kinh đều là những nhóm cư dân bản địa thuộccác tộc Lạc Việt Theo tục truyền thì người Việt Nam là nòi giống Tiên Rồng,vua đầu tiên họ Hồng Bàng nước Xích Quỷ là Lộc Tục, tức Kinh Dương Vương,một hôm đi ngoạn cảnh ở hồ Động Đình gặp một người thiếu nữ nhan sắc tuyệtvời tự xưng là Long Nữ, con gái của Động Đình Quân Lộc Tục kết duyên cùngnàng ấy sinh ra được một người con trai đặt tên Sùng Lám, nối ngôi cha làm vua

tự xưng là Lạc Long Quân

Lạc Long Quân lấy Âu Cơ là con gái Đế Lai, vua một nước láng giềng đẻ

ra một lần trăm cái trứng, sau nở thành trăm người con trai Một hôm, Lạc LongQuân nói với Âu Cơ rằng: “Tôi là dòng dõi Long Quân mà mình là dòng dõithần tiên, ăn ở lâu với nhau không thể được Nay trăm đứa con thì mình đem 50đứa lên núi, còn 50 đứa để tôi đem xuống Nam Hải” Sau Lạc Long Quân chongười con đầu làm vua Ở nước Văn Lang, người ấy là Thủy Tổ của nòi giốngViệt Nam ta

Chuyện ấy tuy là hoang đường, song tất vẫn có ý nghĩa Theo Đào DuyAnh Trong cuốn Việt Nam văn hóa sử cương, ông cho rằng: “…Có lẽ nó chỉ có

sự phân biệt của nước Xích Quỷ thành những nước gọi là Bách Việt, nhưng đóchỉ là một điều phỏng đoán Nay ta hãy căn cứ vào sự nghiên cứu của các nhà sửhọc, nhất là các vị giáo sư ở trường Viễn Đông bác cổ, mà xem gốc tích của dântộc ta thế nào Có người cho rằng tổ tiên ta phát tích từ Tây Tạng, sau theo lưuvực của sông Nhị mà di cư xuống miền trung châu Bắc Việt Nhưng theo ôngAurousseau dẫn chứng cổ điển rất kỹ càng thì tổ tiên ta lại là người nước Việt ở

Trang 8

miền họ lưu sông Dương Tử, sau bị nước Sở (thời xuân thu) đánh đuổi phảichạy xuống miền nam ở miền Quảng Đông, Quảng Tây, rồi lần lượt đến BắcViệt và phía bắc Trung Việt Theo nhiều nhà nhân chủng học hiện thời thì ở đờithượng cổ, giống người Anhđônêgiêng bị giống Ariăng đuổi ở Ấn Độ mà trànsang bán đảo Ấn Độ China, làm tiêu diệt giống người thổ trước đầu tiên ở đấy làgiống Mê - La nêdiêng, rồi một phần trong đám người di dân ấy đi thẳng mãisang Nam Dương quần đảo, còn một phần ở lại Ấn Độ China, ở phía nam thànhngười Chiêm Thành vào Cao man Sau đồng hóa theo văn hóa Ấn độ, ở phía bắcthì hỗn hợp với giống Mông Cổ ở Trung Hoa xuống mà thành người Việt Nam.

Giống người Việt Nam buổi đầu ở địa vực xứ Bắc Việt ngày nay, sau vìđịa thế và hoàn cảnh sinh hoạt khác nhau mà chia ra hai nhánh: nhánh ở miềntrung châu trù phú, dễ hấp thụ ảnh hưởng của người loài, thì dần dần hóa theovăn hóa Trung Quốc mà tiến thẳng vào phương nam, tức là người Việt Namngày nay; còn nhánh ở miền đồi núi thì còn duy trì được tính chất văn hóa xưa

và vẫn còn tổ chức theo chế độ phong kiến, tuy có chịu ảnh hưởng ít nhiều củangười Thái là giống lân bang, đó là người Mường hiện ở miền thượng du Nghệ

An, Thanh Hóa, Hòa Bình” “Các tác giả Bùi Văn Kín, Mai Văn Trí, NguyễnPhụng trong cuốn Góp phần tìm hiểu tỉnh Hòa Bình đã trình bày: … Trên cơ sởcác công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học, về dân tộc học, về lịch sử, về khảo

cổ học, chúng ta có thể nhận định rằng: dân tộc Việt và dân tộc Mường trướcđây mấy ngàn năm có chung một tổ tiên là người Lạc Việt, chủ 12 nhân của nềnvăn hóa Đông Sơn rực rỡ của Việt Nam Nguyên nhân làm cho người Lạc Việtphân hóa thành hai dân tộc là do chế độ áp bức của thời Bắc thuộc Người Việt ởvùng đồng bằng trong khi bắt buộc phải sống chung với bọn phong kiến ngoạitộc đã có điều kiện tiếp xúc với văn hóa các nước ngoài (như văn hóa TrungQuốc, văn hóa Ấn Độ, văn hóa Chiêm Thành), hoàn cảnh đó làm cho người Việt

ở vùng đồng bằng và người Việt ở vùng núi dần dần phát sinh những yếu tốkhác nhau về đời sống tinh thần và đời sống vật chất Tình hình này đã kéo dàihơn một ngàn năm và cuối cùng làm cho người Việt phân hóa thành hai dân tộc:dân tộc Việt (Kinh) chịu ảnh hưởng một phần của văn hóa nước ngoài; dân tộc

Trang 9

Mường do cư trú lâu đời ở miền rừng núi vẫn bảo lưu được nét đặc biệt của vănhóa Lạc Việt”

Như vậy, người Mường có cùng nguồn gốc với người Việt, tổ tiên củangười Việt - Mường là người Lạc Việt, một cộng đồng nguyên thủy có mặt ởvùng chân núi phía Tây Bắc Việt Nam từ rất sớm

- Tên tự gọi: Mol (hoặc Mon, Moan, mual); các nhóm địa phương: Ao tá

(Âu tá), Mọi Bi

- Ngôn ngữ: tiếng Mường thộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ

Nam Á), rất gần với tiếng Việt

- Trang phục :

( Trang phục nam, nữ của người Mường)

Trang phục nam: nam mặc áo xẻ ngực, cổ tròn, cúc sừng vai, hai túi

dưới hoặc thêm túi trên ngực trái Đây là loại áo cánh ngắn phủ kín mông Quần

lá tọa 13 ống dùng khăn thắt giữa bụng còn gọi là Khăn quần Xưa có tục để tócdài búi tóc, trên đầu bịt khăn, khăn dài gấp 3 vòng đầu quấn dưới búi tóc Cũng

có khi họ dùng khăn ngắn hơn, quấn vòng từ sau gáy sang phía trước giao nhau

ở trán, hai đầu khăn dựng nghiêng giống như hình đôi sừng trông khá ngộnghĩnh Trong dịp lễ hội dùng áo lụa tím hoặc tơ vàng, khăn màu tím than, ngoàikhoác đôi áo chùng đen dài tới gối, cài cúc nách và sườn phải

Trang phục nữ: bộ y phục nữ đa dạng hơn nam giới và còn giữ được nét

độc đáo Khăn đội đầu (mụ) là một mảnh vải trắng hình chữ nhật không thêu

Trang 10

thùa Váy (Wẳl) dài đến mắt cá chân gồm hai phần chính là thân váy và cạp váy,cạp váy nổi tiếng với các loại hoa văn được dệt kì công Trang sức thường ngàygồm vòng tay, chuỗi hạt và bộ xà tích 2 hoặc 4 dây bạc có treo hộp quả đào vàmóng vuốt hổ, gấu bịt bạc.

Áo mặc thường ngày có tên là Áo pắn (áo ngắn) Đây là loại áo cánhngắn, xẻ ngực, thân ngắn hơn so với áo cánh người kinh, ống tay dài, áo màunâu hoặc trắng (về sau có thêm các màu không phải loại vải cổ truyền) Bêntrong là loại Áo báng (yếm), cùng với đầu váy nổi lên giữa hai vạt áo ngắn Đầuthường đội khăn trắng, xanh với các phong cách không cầu kỳ như một số tộcngười khác Váy là loại váy kín màu đen, toàn bộ phận được trang trí là đầu váy

và cạp váy, khi mặc mảng hoa văn nổi lên giữa trung tâm cơ thể Đây là mộtcách trang trí và thể hiện ít gặp ở các tộc khác trong nhóm ngôn ngữ và khu vựcláng giềng Trong các dịp lễ, tết họ mang chiếc áo dài xẻ ngực thường không càikhoác ngoài bộ trang phục thường nhật vừ mang tính trang trọng vừa phô đượchoa văn cạp váy kín đáo bên trong Nhóm mặc áo cánh ngắn xẻ ngực thườngmang theo chiếc yếm bên trong, về cơ bản giống yếm của phụ nữ dân tộc Kinhnhưng ngắn hơn

- Nơi ở: người Mường sống tập trung thành làng, xóm ở chân núi, ở bên

sườn đồi, nơi đất thoải gần sông suối… ở tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ…Mỗi làng có khoảng vài chục nóc nhà, khuôn viên của mỗi gia đình thường nổibật lên những hàng cau, cây mít

Trang 11

(Một góc bản làng người dân tộc Mường)

- Nhà ở truyền thống: người Mường sống trong những ngôi nhà sàn

truyền thống Nhà sàn của người Mường là kiểu kiến trúc cổ truyền, việc dựngnhà sàn của người Mường là kết quả của một quá trình dài đúc kết kinh nghiệm

cư trú Điều đó được thể hiện ở bản mo nổi tiếng là “Tẻ tất tẻ đác” (Đẻ đất đẻnước) Trong bản mo đồ sộ này có đoạn nói về sự ra đời của nhà sàn Mường:

“thời con người chưa có nhà ở, họ còn phải cư trú trong các hang núi, hốc cây,

họ phải đối phó với bao tai ương, hiểm họa: thú dữ ăn thịt, mưa, bão… Khi đólang Đá Cần được người Mường tôn lên làm vua đã tìm cách dựng nhà ở Mộthôm ông gặp được con rùa vàng, bắt đem về, sắp bị làm thịt, bỗng nhiên nó xintha tội chết và đền mạng bằng cách hiến kiểu xây nhà Lời cầu xin được chấpthuận, rùa liền vươn mình trên bốn cái chân tựa như bốn cái cột, mai rùa trởthành mái nhà, vẩy rùa thành ngói lợp, rùa nói:

…”Bốn chân tôi là bốn cái cột Hai vỉa sườn là hai mái nhà Xương sống nên đòn nóc bắc cái kèo

Lỗ đầu làm lối lên cửa chạn…

Lang Đá Cần cho người làm lấy nhà ở” Từ đó, người Mường sống ở nhàsàn

- Ăn uống: người Mường thích ăn các món như xôi đồ, cơm tẻ đồ, rau, cá

đồ hay “củ mài, rau sắng, măng đắng, mật ong”, “cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui…”

Rượu cần người Mường nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị đậm đàcủa men được đem ra mời khách quý và uống trong các cuộc vui tập thể Phụ nữcũng như nam giới thích hút thuốc lào bằng loại ống điếu to Đặc biệt phụ nữcòn có phong tục nhiều người cùng chuyền nhau hút chung một điếu thuốc

- Cưới xin: trai gái tự do yêu đương tìm hiểu, ưng ý nhau thì báo để gia

đình chuẩn bị lễ cưới Để dẫn đến đám cưới phải qua các bước: ướm hỏi (kháo

Trang 12

thiểng), lễ bỏ trầu (ti nòm péng), lễ xin cưới (nòm khảu), lễ cưới lần thứ nhất (ticháu), lễ đón dâu (ti du) Trong ngày cưới, ông mối dẫn đầu đoàn nhà traikhoảng ba, bốn chục người gồm đủ nội, ngoại, bạn bè mang lễ vật sang nhà gái

tổ chức cưới Chú rể mặc quần áo đẹp chít khăn trắng, gùi một chón (gùi) cơm

đồ chín (bằng khoảng 10 đấu gạo), trên miệng chón để 2 con gà sống thiến luộcchín Trong lễ đón dâu, cô dâu đội nón, mặc váy áo đẹp ngoài cùng là chiếc áodài màu đen thắt hai vạt ở phía trước Cô dâu mang về nhà chồng thường là 2chăn, 2 cái đệm, 2 quả gối tựa để biếu bố mẹ chồng và hàng chục gối con để nhàtrai biếu cô dì, chú bác

- Quan hệ xã hội: quan hệ làng xóm với nhau chủ yếu là quan hệ láng

giềng Gia đình hai, ba thế hệ chiếm phổ biến Con cái sinh ra lấy họ cha Quyềncon trai trưởng được coi trọng và con trai trong gia đình được thừa kế tài sản

- Lịch: lịch cổ truyền người Mường gọi là sách Đoi làm bằng 12 thẻ tre

tương ứng với 12 tháng Trên mỗi thẻ có khắc kí hiệu khác nhau để biết tínhtoán, xem ngày, giờ tốt xấu cho khởi sự công việc

- Lễ hội: Người Mường có nhiều ngày hội quanh năm: sắc bùa, hội xuống

đồng (Khung mùa), hội cầu mưa (tháng 4), lễ cơm mới…

- Văn nghệ dân gian: Kho tàng văn nghệ dân gian người Mường khá

phong phú, có các thể loại thơ dài, bài mo, truyện cổ, dân ca, ví đúm, tục ngữ.Người Mường còn có hát ru em, đồng dao, hát đập hoa, hát đối, hát trẻ con chơi

Hát Xéc bùa (có nơi gọi là Xắc bùa hay Khóa rác) được nhiều người ưathích Thường (có nơi gọi Ràng thường hoặc Xường) là loại dân ca ca ngợi lao

16 động và các nét đẹp phong tục dân tộc Đặc biệt, ở người Mường phải kể đến

lễ ca, đó là những áng mo, bài khấn do thầy mo đọc và hát trong đám tang

Cồng chiêng là nhạc cụ đặc sắc của người Mường, ngoài ra còn có nhị,sáo, trống, khèn lù…

- Tổ chức cộng đồng: xưa kia, hình thái tổ chức đặc thù của người

Mường là chế độ Lang đạo (Đinh, Quách, Bạch, Hà) chia nhau ra cai quản các

Trang 13

vùng Đứng đầu mỗi mường có các lang cun, dưới lang cun có các lang xómhoặc đạo xóm, cai quản một xóm.

- Tôn giáo tín ngưỡng

Tục thờ cúng tổ tiên: tục thờ cúng tổ tiên bắt nguồn từ tiềm thức tâm linh

cho rằng chết là về với tổ tiên nơi chín suối, tin rằng tuy ở nơi chín suối nhưngông bà tổ tiên vẫn thường xuyên đi về thăm nom, phù hộ cho con cháu

Người Mường quan niệm con người có hai phần: phần hồn và phần xác;cái chết là sự tách lìa hồn ra khỏi xác Hồn người sau khi chết sẽ được nhập vàothế giới bên kia - nơi có cộng đồng tổ tiên sinh sống và trở thành tổ tiên của giađình Do vậy, họ quan niệm cái chết là sự tiếp tục cuộc sống của linh hồn, linhhồn đó có thể phù hộ, bảo vệ mang lại điều tốt đẹp cho người sống Chính vìlòng tin đó người ta hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Trong ngôn ngữ người mường tại Lương Sơn khái niệm “Tổ tiên” gọi là

“Thốl thăm” Có thể khẳng định, thờ cúng tổ tiên là một trong những hình tháitín ngưỡng xa xưa nhất của người Mường được giữ lại cho đến ngày nay Theoquan niệm của người Mường khái niệm tổ tiên không chỉ bao gồm thành viênthân thuộc dòng họ cha mà gồm cả những thành viên của dòng họ mẹ Đây lànét khác biệt với phong tục một số tộc người khác chỉ thờ cúng tổ tiên là thànhviên thuộc dòng họ cha

Cũng như nhiều dân tộc anh em khác, người Mường coi tổ tiên là malành, thường xuyên che chở, phù hộ cho gia đình nếu được thờ phụng, cúng lễchu đáo Ngược lại sẽ gây ra những điều xui xẻo, ốm đau, bệnh tật… nếu khôngtôn kính, thờ cúng Tổ tiên là người bảo hộ gia đình, chống lại những ma ác, tổtiên còn tham dự vào tất cả các sự kiện trọng đại trong gia đình và trong nhiềulĩnh vực của đời sống

Có thể nói tục thờ cúng tổ tiên có vai trò quan trọng trong đời sống tínngưỡng của người Mường Nó phản ánh ý thức sâu sắc về cội nguồn, về tìnhcảm ruột già máu mủ và trở thành đạo lí “uống nước nhớ nguồn”

Trang 14

Tục thờ thần bản mệnh, thổ công: cũng như một số cư dân phương Đông

khác, người Mường cũng suy tôn những cá nhân, những người lập những chiếncông và có đức độ thành thần để thờ Họ thờ nhân vật khổng lồ trong truyềnthuyết dân gian là ông Tùng (hay ông Đùng) - người anh hùng thời tiền sử cócông diệt chim ác cứu dân Mường, bên cạnh đó người Mường còn thờ đức thánhTản Viên tôn kính gọi là vua ở núi Ba Vì (Bua Thơ, Bua Pavì), Quốc mẫu vua

bà gọi là mẹ của núi rừng Ngoài ra ở mỗi vùng mường còn thờ các vị thần cócông với làng mường Ở mỗi gia đình Mường còn có tục lệ thờ thổ công

Tục thờ động vật cây cỏ: ngoài các con vật ở rừng và vật nuôi thường

được người Mường chọn làm vật cúng tế như trâu, gà, lợn… còn một số độngvật đặc biệt được trọng vọng trong tâm thức của người Mường: con cóc còn gọi

là chàng Hạc đã được thờ từ rất xa xưa Con cóc là tín hiệu báo mưa, là biểutượng tín ngưỡng phồn thực Ngoài cóc là cá và hươu, cá là biểu tượng cho cáccon vật ở dưới nước, hươu là con vật biểu tượng cho các con vật ở trên cạn

Ngoài những con vật được thờ cúng, người Mường ở Tân Lạc còn có tụcthờ cây: cây mía, cây lúa nương, cây pi, thờ hòn đá Tụvạn vật hữu linh Đó lànhững loài động, thực vật quen thộc gắn liền với cuộc sống thường ngày củangười Mường

- Hoạt động kinh tế truyền thống: nông nghiệp ruộng nước chiếm vị trí

hàng đầu, cây lúa là cây lương thực chính Ngoài ruộng nước người Mường cònlàm nương rẫy, chăn nuôi gia súc, săn bắn, đánh cá, hái lượm và sản xuất thủcông nghiệp (dệt vải, đan lát…)

- Như vậy, dân tộc Mường cùng với các dân tộc khác trong cộng đồng 54 dântộc anh em trên dải đất hình chữ S này đã có những đóng góp to lớn về sự pháttriển kinh tế của đất nước cũng như sự đa dạng văn hóa dân tộc Những kháiquát chung về dân tộc Mường cho thấy, nền văn hóa dân tộc Mường đã có từ lâuđời và mang bản sắc dân tộc đạm đà

IV Khái quát về phong tục tang lễ của người Mường

1 Về tên gọi công việc tang lễ

Trang 15

Người Mường cũng như các dân tộc khác trên thế giới, khi trong gia đình cómột người chết, bình thường người ta không đem thi hài đi chôn cất cay họ còn

để trong nhà một thời gian nhất định để tổ chức các nghi lễ phúng, viếng sau đómới mang thi hài đi chôn cất Các công việc, các nghi lễ diễn ra trong quãng thời

từ khi người chết cho đến kh chôn cất được gọi chung là đám ma – Đám ma hay

con gọi là tang lễ

Về tên gọi viêc tổ chức đám ma – tang lễ của người Mường có rất nhiều cáchgọi khác nhau:

- Wiệc chu khà, nhà zạc…dịch sát từ ngữ là: Vệc trâu già (chỉ việc tang lễ,

đám ma) nhà rách (chỉ việc nhà bị hỏa hoạn)

- Wiệc câyl khà lá bayl Dịch nghĩa là : việc cây già lá bay, đây chỉ việc tang

lễ dành chô người chết cao tuổi

- Wiệc khoó Dịch nghĩa là: Việc khó, đây cũng chỉ việc tang lễ dành cho

người chết trẻ

2 Người gốc và mục đích, điều kiện để làm tang lễ của người Mường 2.1 Nguồn gốc và mục đích tiến hành các nghi lễ

Có rất nhiều khái niệm, định nghĩa, cách gọi, cách nói về cái chết, dù nói gì

đi nữa chết là sự cố kinh khủng, đáng sợ vào loại bậc nhất của con người

Tại sao khi có người chết phải làm ma, phải tổ chức tang lễ, đã có biết baotrang sách nói này, nói nọ, nói đến cả những điều cao siêu, huyền hoặc Vóingười Mường việc này được nói rất rõ ràng trong Mo – Cúng dâng cơm:

Nơi bổ nhà người

Clăm khổ, đô fần

Clăm năm thuối hết

……….

Trang 16

Con đứa, con cái nhà người

Ó cho nơi bổ nà người

Ó cho chết luổng, thuổng ró

Còn zắc là chay

Còn bày là ma…

(Woái Bưa – Bùi Huy Vọng sưu tậm)

Dịch nghĩa sang tiếng phổ thông:

Nơi bố nhà người

Trắm số, đủ phần

Trăm năm tuổi hết

…………

Con trai, con gái nhà người

Khôn để cho người

Không cho người chết suông, đi không

Còn nhắc làm chay

Còn bày làm ma….

( Mo dâng cúng dâng cơm- Bùi Huy Vọng sưu tầm và dịch) Câu “chết luổng, thuổng ró” xin được dịch sát âm, từ vựng là “chết suông,

đi không”, từ luống trong tiếng Mường có nghĩa là suông, là đói Nếu không tổ

chức tang lễ khác gì cho người chết chết suông, chết đói đi về Mường Ma

Như vậy là rất rõ, người ta không để cho cha mẹ mình “chết suông, đi không” chính vì thế sinh ra nghi lễ tang ma Đây cũng là cơ sở, là suy nghĩ đơn

giản, rất có tính người và rất thực tế, là ứng xử của người sống đối với ngườichết và cũng là “tuyên ngôn” ban đầu của người Mường về việc tổ chức đám makhi có người chết sau này khi xã hội phát triển, của cải trong xã hội và đời sống

cư dân Mường được nâng cao, nhất là với gia cấp quý tộc Lang- Đạo, đám ma

Trang 17

của tầng lớp này được tổ chức linh đình, dài ngày, tốn kém với sự đóng góp vậtchất và sự phục dịch nặng nề của người Mường, các yếu tố huyền hoặc, caosiêu, nghi lễ rườm rà, hủ tục lạc hậu, nặng nề, nhiễu nhương mới phát sinh.Với người chết, chết là hết, những với những người thân, con cháu trong giađình và trong quan niệm dân gian Mường, chết chưa phải là đã hết Chết là sựtắt thở, tim ngừng đập của thẻ xác, là hình hài không còn hiện diện ở thế giớicủa người sống, thi hài sau tang lễ rồi sẽ được đem chôn cất, nhưng phần hồncủa người đó lại tiếp tục hành trình sang bên Mường Ma, ở bên đó hồn cũngphải:

(Khẩn bao má ngày là nhà …Bùi Huy Vọng sưu tầm và dịch)

Dịch nghĩa sang tiếng phổ thông:

Làm mùa, làm màng

Làm trang, làm trại…

Hay:

Làm mùa, làm màng

Có cái để ăn uống, sinh sống….

(Lời khấn nhập hồn người chết vào Mường Ma.

Bùi Huy Vọng sưu tầm và dịch)Sinh sống như khi còn sống Không chỉ có vậy bên đó hồn nguwoif chết cònphải có trách nhiệm làm nên ăn, giàu có để bênh vực, phù hộ cho con cháu bêndương thế:

Trang 18

Giầu bên ma

Mệ khà bên mọin….

Dịch nghĩa sang tiếng phổ thông:

Giàu có bên ma

Mời khá bên đàng con người ….

(Lời cúng – Mo Nhập Quan, Mo Bữa tận )

Việc mổ lợn, gà, trâu, bò…dâng cũng người chết, không chỉ là đơn thuầncúng cho hồn người chết ăn, nó được nói rất rõ trong lời Mo khấn như sau:

Giàu bên ma mệ khà bên mọil…

(Woái Bưa – Bùi Huy VỌNg sưu tầm)

Dịch nghĩa sang tiếng phổ thông như sau:

Là bàn tra biểu

Biểu bó, biếu mệ mang về của cũ nhà rừng bên ma

Bằng con lợn nại

Trang 19

Giàu bên ma mới khá bên đằng cháu con….

( Mo dâng cũng dâng cơm…Bùi Huy Vọng sưu tầm và dịch)

Vật dâng cúng chính là đồ đạc, con giống, là tài sản để hồn người chết sẽmang theo về bên Mường Ma, và hồn của chúng tiếp tục cuộc sống với hồnngười bên thế giới Mường Ma Thế giới Mường ma trong tâm thức ngườiMường đâu khác gì cuộc sống bên mường con người đang sống Cũng vì thế nênngười Mường tổ chức tang để báo hiếu với cha mẹ, trả ân với người chết vàchuẩn bị hành trang, đồ lễ cho hồn người chết sang thế giới Mường Ma

Ngạn ngữ dân tộc Mường có câu:

Khổng người mộch nết

Chết người mộch nghiệp.

Dịch nghĩa sang tiếng phổ thông:

Sống mỗi người mỗi nết

Chết mỗi người mỗi nghiệp.

Trong cuộc sống mỗi người một tính nết, cái chết cũng vậy, nó cũngmuôn nẻo, đa dạng, mỗi người chết theo một con đường khác nhau, có người bấtđắc kỳ tử, có người chết vì đau ốm, vì sét đánh, chết đuối, và nhiều người còn tựtìm đến cái chết, …vv Thật không kể sao cho hết mọi nguyên nhân dẫn đến cái

Trang 20

chết, những tựu chung mang lại dân gian Mường phân loại chết thành 2 loại cơbản, đó là chết bình thường và chết không bình thường.

Chết bình thường là những người cao tuổi, dù con đường dẫn đến cái chếtnhư: đau ốm, bệnh tật,…vv nhưng tắt thở nagy tại nhà mình, được coi là cáichết bình thường, đúng quy luật:

Cây khà lá bay.

(thiềng đời hơ đớ lại)

Dịch nghĩa sang tiếng phổ thông:

Cây già lá bay.

(Tục ngữ dân tộc Mường)

Những người chết đuối, chết vì sét đánh, chết vì đâm chết,…vv tắt thởngoài đường, ngoài chợ, hốc cây…nhìn chung là tắt thở ở ben ngoài nhà sànđược cho là chết không bình thường Những người chết trẻ cũng được cơi làchết không bình thường dù họ có tắt thở ngay trong ngôi nhà của mình

Ngay cái chết bình thường cũng đã là biến cố lớn lao gây nên sự bất an, lolắng xáo trộn trong đời sống con cháu, những cái chết không bình thường cànglàm cho người đang sống hoang mang, lo lắng hơn Lòng bất an ảnh hưởng rấtlớn đến cuộc sống hàng ngày của con cháu Chính vì thế người mường tổ chứctang lễ như liệu pháp về tinh thần để giải tỏa lo lắng, trấn an người sống, độngviên họ chấp nhận tai ương, vững lòng tin vào ngày mai để an tâm lao động, sảnxuất, tiếp tục sống làm ăn bình thường

Chết là sự cố kinh khủng, đáng sợ vào loại bậc nhất của con người Từquan niệm cho rằng chết chưa phải là hết và không dể cho người chết “chếtsuông, đi không”, người Mường tổ chức tang lễ để báo hiếu với cha mẹ, trả ânvới người chết và chuẩn bị hành trang, đồ lễ ho hồn người chết sang thế giớiMường Ma Về mặt nhân sinh đó là bài thuốc tinh thần để giải tỏa lo lắng, vữnglòng tin vào ngày mai để làm ăn, tiếp tục sống, làm ăn bình thường

2.3 Mục địch cơ bản của tang lễ người Mường.

Trang 21

Tóm lại mục địch làm tang lễ của người Mường dù được tổ chức ngắnngày hay dài ngày cơ bản nhằm:

- Xử lý thi hài, khâm liệm, nhập quan, đảm bảo vệ sinh trong suốt nhữngngày tổ chức tang lễ

- Tiến hành tổ chức các nghi lễ, đây là phần quan trọng tâm, chiếm nhiềuthời gian trong tang lễ Do quan niêm chết chưa phải đã hết mà chỉ là chuyểntrạng thái sống từ người thành ma, nên tang lễ được coi là sự chuẩn bị mọi mặtcho người chết trước khi nhập thế giới Mường Ma

- Tạo thời gia cho con cháu, nhất là những người ở xã kịp về đông đủ đểtang và tham gia vào các công việc, nghi lễ trong đám ma, thể hiện trách nhiệm,

sự gắn kết huyết thông, họ hàng và làng xó trước biến động lớn lao của mộtthành viên trong gia đình, họ tộc và cộng đồng Các nghi lễ có mục đích trừ tà,trấn an tinh thần người đang sống

- Cho con cháu để tang người chết và là dịp cuối cùng cho con cháu báohiếu với cha mẹ, ông bà

- Mai táng, làm nhà mồ

2.3 Các yếu tố cơ bản để tiến hành một đám ma bình thường

Dù là công việc gì, làm gì cũng rất cần có những yếu tố đảm bảo để việc

đó được tiến hành bình thường thấp nhất là ở mức tối thiểu Đám ma là côngviệc trọng đại, lớn lao, quan trọng và thiêng liêng bâc nhất trong các phong tụccủa người Mường Để tiến hành một đám ma tối thiểu về nhân sự, vật chất vàtinh hình xã hội khách quan đương thời

Một đám ma bình thường người Mường cần có những yếu tố cơ bản sau:

- Có người chết trong độ tuổi được làm đám ma theo phong tục cổ truyền

- Gia đình tang chủ phải đảm bảo có đủ vật chất tổi thiểu (Gạo, trâu, bò,lợn…, rượu.vv) đủ nuôi toàn bộ những người tham dự tang lễ trong thời gian ấnđịnh tiến hành tang lễ theo quy phạm trách nhiệm trong lệ tục quy định

Trang 22

- Có họ hàng đến phục vụ và điều hành tang lễ

- Có thầy Mo đến chủ tế các nghi lễ

- Được chính quyền hay người cai trị đương thời chấp nhận Trong xã hội

cũ nhiều đám ma không tiến hành được do gia chủ không thỏa mãn đươc cácyêu cầu của kẻ cai trị là nhà Lang Sang chế độ mới, nhiều nghi lễ tốt đẹp như

Mo sử thi, Mo Cúng dâng cơm bị đánh đồng với mê tín dị đoan, các ông Mođược coi là đối tượng gie rắc mê tín dị đoan nên bị cấm hành nghề

Nếu thiếu một trong những điều kiện trên thì không tổ chức được mộtđám ma bình thường

3 Chuẩn bị trước tang lễ

Chuẩn bị trước tang lễ hay nói đúng hơn là chuẩn bị hậu sự cam giác ban đầu

ai nghe cũng có vẻ như là sự bất đắc dĩ Không hoàn toàn như vậy việc chuẩn bịvật chất và “hành trang” trước tang lễ cho người đang sống, người ốm nặng,người già là việc làm có thực được người Mường quan tâm chu đáo

Người Mường chuẩn bị hậu sự trước hêt cho những người cao tuổi trong giađình, cho những người còn trẻ không may mắc bệnh hiểm nghèo ốm đau liênmiên, người tàn tạ kiệt sức đến mức khó bề qua khỏi

Việc chia thời điểm từ khi chuẩn bị tang lễ cho đến khi vào tang lễ tiến hành

các nghi lễ cho tới khi đủ đem – đoạn tang chỉ là ước lệ để phân bố cục trình tự

trong cuốn sách này hoàn toàn mang tính tương đối, bởi ngay khi người ta đãchết, nếu chưa được giờ lành để nhập hi hài vào quan tài thì lễ tang cũng chưadiễn ra Trong xã hội cổ truyền trước năm 1945 nhiều gia đình có người chếtnhập quan tài, song do chưa có, chưa chuẩn bị đủ vật chất, đủ các “dụng cụ”phục vụ cho tang lễ như : trâu, bò, lợn, gà… nên chua tổ chức đám tang Lâuhơn vào thế kỷ XVI – XVII nhiều gia đình người Mường, nhất là các gia đìnhquý tộc có tục quàn thi hài tại nhà 2 -3 năm trong nhà ới tổ chức tang lễ đem đimai táng, như trường hợp của ông Đinh Văn Kỳ một Quan Lang vùng MườngĐộng (nay thuộc xã Vĩnh Đồng, Kim Bôi – Hòa Bình) Ngay cả khi gia đình đã

Ngày đăng: 29/10/2017, 21:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w