Đề bài: Tìm hiểu về đặc điểm văn hóa tộc người điều kiện về địa văn hóađi sâu vào các hoạt động văn hóa văn hóa tâm linh, văn hóa giải trí, ăn, mặc, ở, ẩm thực, phong tục tập quán ma cha
Trang 1Đề bài: Tìm hiểu về đặc điểm văn hóa tộc người (điều kiện về địa văn hóa)
đi sâu vào các hoạt động văn hóa (văn hóa tâm linh, văn hóa giải trí, ăn, mặc, ở,
ẩm thực, phong tục tập quán ma chay, cưới xin, quan niệm tín ngưỡng…)
Bài làm
Người Thái là một trong số 3 dân tộc có số dân đông nhất trong cộng đồng
54 dân tộc ở nước ta, sau người Kinh và người Tày Theo tổng điều tra dân số năm 2009 người Thái có số dân là 1.550.423 người, cư trú ở nhiều tỉnh thành trong cả nước Trong quá trình tồn tại và phát triển, người Thái đã sáng tạo ra những giá trị văn hóa vô cùng đặc sắc góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam thêm phong phú đa dạng
Thái là tên gọi chính thức đã được Nhà nước công nhận Tên tự gọi của họ
là Phủ tay, Côn tay, Côn Táy (Tay, thay, Phu Thay ), đều có nghĩa là người Các nhóm địa phương của tộc người này bao gồm hai nhóm chính là nhóm Thái Đen, nhóm Thái Trắng:
Nhóm Thái Đen (Táy Đăm) cư trú ở khu vực tỉnh Sơn La, Điện Biên, các nhóm Táy Thanh (Man Thanh), Táy Mười, Táy Khăng ở miền tây Thanh Hóa, Nghệ An từ khu vực Tây Bắc chuyển xuống cách đây vài ba trăm năm và bị ảnh hưởng bởi văn hóa và dân chúng của cư dân địa phương Nhóm Táy Thanh từ Mường Thanh (Điện Biên) đi qua Lào vào Thanh Hóa và tới Nghệ An định cư cách đây hai, ba trăm năm, nhóm này gần gũi với nhóm Thái Yên Châu (Sơn La) và chịu ảnh hưởng của văn hóa Lào
Ngành Thái Trắng (Tay Đón hoặc Tay Khao) chia thành 3 nhóm tương đối biệt lập về thổ ngữ và những nét biểu hiện khác về văn hoá:
Nhóm Thái hiện cư trú ở xã Ngọc Chiến (huyện Mường La), Mường Chiền (huyện Quỳnh Nhai) tỉnh Sơn La; các huyện Mường Lay, Mường Tè và Mường
So (huyện Phong Thố) tỉnh Lai Châu, tự nhận là Tay Đón (không xưng là Tay
Trang 2Nhóm Thái hiện cư trú ở Mường Tấc (huyện Phù Yên), Mường Xang (huyện Mộc Châu) tỉnh Sơn La; Mường Mùn (huyện Mai Châu), Mường Chiềng
Kỷ (huyện Đà Bắc) tỉnh Hoà Bình tự nhận là Tay Khao (ít dùng tên Tay Đón) Nhóm Tày Dọ hiện ở các huyện miền tây 2 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An tự nhận là Thái Trắng (Tay Đón), ít dùng Tay Khao gồm các bộ phận có tên gọi là Tay Mương, Tay Chiêng, Hàng Tổng,
Ngoài ra, một số nhóm có dân số ít hoặc chưa được phân định rõ ràng như Táy Mười (Thái Quỳ Châu), có khoảng 300 người (2002), Táy Mường(Thái Hàng Tổng) có khoảng 10.000 người (2002), Táy Thanh có khoảng 20.000 người (2002), Phu Thai với dân số 209.000 người (2002)
Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định, người Thái là cư dân cổ của vùng tây nam Trung Hoa Từ đó họ thiên di xuống phía nam, tới Myanma, Thái Lan, Lào và miền Tây Bắc Việt Nam Các tài liệu cổ sử và truyền thuyết của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam kể lại rằng, quê hương cổ xưa của họ là vùng có chín con sông: Nặm Tao (sông Hồng), Nặm Tẹ (sông Đà), Nặm Ma (sông Mã), Nặm Kông (sông Mê Kông), Nặm Ư, Nặm Nua, Nặm Na, và hai sông nữa bên đất CHND Trung Hoa Theo cổ sử Đại Việt: Đời Lý, các tù trưởng Thái ở Mường Muổi (Thuận Châu, Sơn La), Mường Mụa (Mai Sơn, Sơn La), đã về Kinh đô dâng cống vật cho triều đình nhà Lý Như vậy trước thế kỷ XI, các tù trưởng Thái đã làm chủ nhiều mường ở Tây Bắc
Tuy khẳng định sự có mặt của người Thái (Nhóm Táy Khao) là từ rất sớm, nhưng đa số các tác giả đều thống nhất rằng, sự có mặt đông đảo của người Thái ở Tây Bắc phải là từ sau các cuộc thiên di ô ạt của tộc người này vào Tây Bắc, từ khoảng Thế kỷ XI-XIII trở đi Về các cuộc thiên di của người Thái vào Tây Bắc Việt Nam, các nhà nghiên cứu Việt nam cho rằng sớm nhất là vào thế
kỷ thứ VII Khi đó một bộ phận người Thái di cư vào Mường Lay, Mường Tùng, Phong Thổ, Bình Lư Vào thế kỷ IX-X, một bộ phận Thái trắng đã di cư
Trang 3từ Mường Thanh và tây Vân Nam vào vùng Mường Luông Pha Băng, đó chính
là cơ sở cho tù trưởng Pha Ngum thành lập vương quốc Lạng Xạng (1353) Người Thái sống tập trung trong các bản làng Mỗi bản có một ranh giới riêng: một khu rừng, ruộng đất, nơi chăn thả gia súc, khu rừng cấm… Hiện nay, người Thái ở trong các nhà sàn bằng gỗ Người Thái ở nhà sàn bốn mái, cầu thang bên đầu hồi ở mặt trước, bậc thang thường là số lẻ 5, 7, 9 Người Thái Đen lưu truyền cách Rùa dạy người cách làm nhà ở và coi rùa là ân nhân, chính
vì thế mà họ làm mái nhà hình mai rùa và có tục treo thờ mai rùa trên đầu cột thiêng trong nhà Phía trên cửa hai bên đầu mái có “khau cút” vừa là kí hiệu nhận ra nhau vừa là biểu tượng trang trí tương ứng đẳng cấp chủ nhà Mô hình nhà nói chung không có vách ngăn, mà ngăn bằng cột, phòng ngủ kéo ghi đô Những người cao tuổi ngồi sát cửa sổ, khách không được ngồi ngang hàng, nếu khách nhờ vả thì ngồi sát mép chiếu ngoài cùng Ghế cao nhất dành cho chủ nhà, họ kiêng không nằm dọc chiều nhà, không được ngồi trực diện cửa bếp, đun củi thì đun gốc trước ngọn sau
Người Thái quan niệm rằng “Nhà Thái- nhà có gác- đầu hồi có cột ”, “đầu gối đất, chân kề nước”: ngủ quay đầu về núi, chân ruỗi ra ruộng, giáp song suối Nhà được phân đôi khoang long nhà theo chiều đơn đòn nóc, phía trên là phía đầu, phía dưới là phía chân
Phía trên trở thành chỗ chính của gia đình để ngủ và cất giữ của cải quý, nơi để chăn Do đó, quan sát mép trên trên đầu gối thì biết nhà giàu hay nghèo, chăm chỉ hay lười tùy thuộc vào số chăn màn trên gác
Nửa phía dưới dành cho sinh hoạt ban ngày của gia đình: ăn uống, đi lại, tiếp khách
Phân đôi khoang long nhà theo chiều ngang: bên trái (bên quản) dành cho nam giới, bên phải (bên chăn) dành cho nữ Họ kiêng con dâu qua lại bên chăn
Trang 4sang bên quản, nữ không đội khăn Piêu trong nhà, không đem cành lá xanh, cá thịt tươi vào trong nhà…
Thang là để cho người sống, người chết không được đi thang mà bắc cầu gia thang hoặc đi phía đằng hiên rồi đưa đi chôn cất ở rừng ma Nhà có người sinh nở hoặc ốm đau thì khi đi cúng cắm vào thang tấm Piêu có đan mắc áo và cắt cành lá xanh ở cột càu thang nhà Đó là dấu hiệu nhà kiêng cấm do đó khách không được lên nhà vào những trường hợp thấy trước nhà có cắm cành cây xanh
lá Lan can bên quản hoặc ban công đầu hồi dành chon am ngồi, nghỉ ngơi, đọc sách, dẫn khách quý (nam hoặc nữ), bước qua cửa lên nhà Đây cũng là nơi đàn ông ngồi làm thủ công, đan, rèn… đây cũng là chỗ ở trong thời gian bên nhà vợ, con rể ngồi vặn dây thừng, làm công cụ sản xuất, băm cỏ chăn ngựa…
Trang phục của người Thái khá đa dạng được phân biệt tùy theo từng nhóm nhưng có thể chia trang phụ trang phục thường ngày và tang phục
Trang phục thường ngày bao gồm:
Trang phục nữ: áo ngắn (xửa cỏm), áo dài (xửa chai, xửa luồng), váy, thắt lưng, hoa tai, vòng cổ, vòng tay …
Áo ngắn:
Thái trắng: Áo thường là màu sáng, trắng, cài cúc bạc tạo hình bướm, ve,ong Cái khác xửa cóm Thái Đen là cổ áo hình chữ V Thân áo ngắn hơn áo cánh người Kinh, tạo dáng ôm chặt lấy thân, khi mặc cho vào trong cạp váy
Thái đen: áo ngăn tứ thân, màu đen, không xẻ tà, cổ tròn, cài cúc bạc giữa , áo thường màu chàm, xanh da trời, trắng Hàng ngày phụ nữ mặc áo màu chàm đen, khuy vải Vào những dịp hội, lễ tết thì họ mặc áo màu khuy bạc, hàng khuy bạc bên trái biểu tượng nam, bên phải biểu tượng nữ thể hiện sự trường tồn giống nòi
Áo dài:
Trang 5 Thái trắng: áo đen dài kiểu chui đầu, cổ tròn Mặt trong của áo ghép sáu dải vải các màu
Thái đen: may bằng vải chàm đen, kiểu năm thân, cổ trong xẻ tà cao, cài cúc bên trái gấu phủ quá gối (mặc lúc lấy chồng, lễ hội, về nhà cha mẹ không mặc áo này)
Váy có hai lớp: trong váy lót trắng, váy chàm bên ngoài Váy ống chàm đen, cạp bằng vải trắng không thêu hoa văn Đây có khi là loại váy kín (ống), màu đen, phía trong gấu đáp vải đỏ Khi mặc xửa cóm và váy phụ nữ Thái còn tấm choàng ra ngoài được trang trí nhiều màu
Thắt lưng người Thái làm bằng tơ tằm, sợi bông xanh hoặc tím sẫm, giữ cho cạp váy luôn cuốn chặt lấy eo bụng Phụ nữ ngoài 40 tuổi thắt lưng màu tím, cô gái trẻ thắt lưng màu xanh Thái trắng còn có vải choàng ra ngoài thắt lưng ghép bằng nhiều miếng vải màu sặc sỡ đen, đỏ, xanh ,vàng Thắt lưng có hai lớp vải (trong đen, ngoài khác màu), ngày thường dùng một thắt lưng, ngày cưới dùng hai thắt lưng
Tóc người Thái để dài, chải ở sân sau nhà, những sợi rụng được thu vào sọt Khi lấy chồng mẹ chọn sợi dài, đẹp bện thành độn tóc cho cô dâu mới, khi
cô dâu lấy chồng và sau này đều chải tóc ngược búi lên đỉnh đầu Những người góa bụa cũng búi tóc lên và hơi lệch một bên
Khăn piêu: bằng vải chàm dài 180cm, rộng 36cm Piêu tết thành sừng hoặc thành tai Piêu tết thành ba sừng là piêu thường, tết năm, tết bảy sừng là piêu sang dung để biếu hoặc đội lúc cưới xin, piêu còn dung cho nam nữ trao nhau khi đính ước như vật làm tin
Trang sức bao gồm: vòng, xà tích, thổ cẩm
Về trang phục nam thì có: Quần chân què, cạp lá tọa với những màu chủ yếu là màu đen, gạch non, kẻ sọc
Trang 6 Áo cánh ngắn xẻ ngực, có hai túi bên dấu vạt Áo của người Thái trắng
có thêm túi ở ngực trái, cài khuy tết bằng dây vải
Áo dài: áo vạt ngắn bằng vải chàm, kiểu năm thân, có thân trong trắng cài cúc bên trái ngực, cổ tròn, vạt dài qua gấu Khi mặc áo này bao giờ cũng mặc kép áo trắng bên trong, áo chàm bên ngoài để lộ áo trắng bên trong thể hiện sự sang trọng, kiểu cách
Khăn (pàu): khăn dài để cuốn lên thay nón, được dùng vào dịp lễ tết, cuốn như khăn xếp của người kinh, khăn trọc ngắn hơn dùng khi lao động trên nương
Y phục trẻ em: Trẻ sơ sinh thường mặc lại quần áo cũ để dễ nuôi, 3 tuổi, 4 tuổi mặc quần áo Khi trẻ lên 5 - 6 tuổi thì đục lỗ tai, 9 - 10 tuổi trẻ em gái đội piêu
Y phục thầy cúng: thầy mo,bà một, ông bà then… mặc áo thung rộng, chui đầu, gấu dài qua gối, ghép vài hình tam giác, gần như xửa luống của người Thái đen Đội mũ bằng vải khitws tua rủ xuống vai, trên mũ có hình con vật: bò, rắn tế…
Trang phụ trong tang ma của người Thái cũng có những quy địn riêng Người chết (là nữ) mặc xửa com vào trong, rồi mặc xửa chai, xửa luống Trong thời gian tang lễ vợ, con dâu trưởng, con gái cả mặc xửa luống Con dâu thứ và con gái thứ mặc xửa có long Họ hang hoặc người thân thích mặc áo xửa com trắng Khi tang ma xong ra về con gái cả bỏ xửa luống treo lên cột nhà mồ để lại cho người chết và mặc xửa co long về
Sau đám tang những người để tang mặc áo xửa com màu trắng chỉ khác là khuy bằng bạc đơm ở mặt trái của nẹp áo
Người Thái có nền kinh tế khá phát triển đặc biệt là đối với trồng trọt đã hình thành các hình thức canh tác chính là ruộng nước và nương rẫy Ruộng nước là nguồn cung cấp lương thực chính cho người Thái Do vậy ruộng bậc thang là một nét đặc trưng của người Thái, ruộng không ở quá cao và có nhiều
Trang 7nét khác so với các dân tộc khác thấp hơn, đều hơn Người Thái nổi tiếng với gạo nếp và đây cũng chính là nguồn lương thực chủ yếu của họ Bên cạnh canh tác lúa nước thì người Thái cũng canh tác nương rẫy Nương rẫy nhằm cung cấp một số lượng lương thực khác bên cạnh cây lúa như ngô, khoai, sắn… và một số sản phẩm khác: vừng, lạc, bí, bầu, rau xanh dùng để làm thức ăn hàng ngày, Trong canh tác nông nghiệp thì người Thái rất tài tình khi sử dụng nước tưới tận dụng từ các sông suối đặc biệt là việc sử dụng “Cọn nước” Trải qua nhiều thế
hệ họ đã có nhiều sáng kiến tạo ra những công trình thủy lợi thích hợp với địa thế ruộng đất Họ đã đào mương, đắp phai, bắc ống dẫn nước về đồng ruộng Khi khoa học kĩ thuật chưa phát triển, đồng bào người Thái đã xây dựng hệ thống thủy lợi với mương- phai- lái- lịn là một trong những kĩ thuật đạt tới trình
độ cao nhất, sớm nhất và rất chuyên nghiệp trong canh tác lúa, đây là một trong những thành tựu đáng kể của người Thái Với công cụ thủ công, họ đã đào hệ thống mương dẫn nước kéo dài hàng chục cây số để dẫn nước về khắp các khu ruộn Cùng với mương và phai, hệ thống đập làm bằng tre và đá ngăn nước từ suối dâng lên cao chảy vào các mương đưa nước tới ruộng Để chia nước vào các ruộng là các lái (mương nhỏ) và lin (ống dẫn nước bằng cây bương, cây vầu với từng thửa ruộng) dẫn nước đến từng chân ruộng để ruộng nào cũng đủ nước cho lúa phát triển ổn định trong chu kì mùa vụ
Bên cạnh đó, việc kết hợp với các luật tục và các lễ hội trong sản xuất nông nghiệp đã tạo cho người Thái có một môi trường canh tác hoàn thiện một cách tổng thể nhất Họ có những luật tục quy định rất chặt chẽ trong việc bảo vệ nguồn nước, bảo vệ rừng, bảo vệ mùa màng được ghi trong luật tục Thái của mường, của bản, có những chế tài cụ thể để sử lí những hành vi vi phạm của người dân ảnh hưởng tới cộng đồng Ngoài trồng trọt người Thái còn kết hợp với chăn nuôi gia súc, gia cầm Phương thức chăn nuôi là nửa thả rông, nửa chăm, ngoài chăn nuôi lợn, gà, người dân còn nuôi trâu, bò để lấy sức kéo và phân bón Các loại động vật chăn nuôi chính: trâu, bò, lợn, gà, vịt… Đối với gia súc thì người Thái thường chăn thả và nuôi ở gần sát nhà hoặc thả rông ngoài
Trang 8đồng, trên mương, đồi… những nơi trống trải nhưng không được quá rậm rạp Đặc biệt người Thái nuôi lợn và gia cầm để dùng trong các dịp lễ, tết và thờ cúng hoặc khi nhà có khách
Thủ công nghiệp của người Thái vẫn còn gắn liền với các hoạt động nông nghiệp trong đó nổi bật là nghề dệt Nghề dệt thổ cẩm là nghề truyền thống của dân tộc Thái tạo nên bản sắc văn hóa riêng Trước đây, để dệt một tấm thổ cẩm, đồng bào phải mất bảy tháng trồng bông, trồng dâu rồi sau nhiều công đoạn mới
se được sợi vải để dệt nên tấm thể cẩm truyền thống Thổ cẩm của người Thái với những họa tiết hoa văn phong phú, độc đáo đã chiếm được cảm tình của nhiều du khách trong và ngoài nước Có thể nói, giữ được nghề thổ cẩm là giữ được những nét văn hóa cổ truyền của người Thái Nếu biết kết hợp giữa tính dân tộc và tính hiện đại thì dệt thổ cẩm của người Thái sẽ tạo được những mặt hàng kinh tế có giá trị trên thị trường
Ngề đan lát là nghề phụ cũng như các dân tộc khác, nghề đan lát rất quan trọng và phát triển ở từng hộ gia đình người Thái Có thể nói đan lát là công việc của đàn ông, các sản phẩm đan lát thường là: gùi (sọt), mũ, nón, giỏ, đặc biệt là cót xát Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu và các tấm đệm ngủ lên trên Cót được đan bằng cây may lọi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao
Nghề gốm, sứ, vại, nồi…Người Thái ở Mường Chanh (Sơn La) có nghề gốm với các sản phẩm quen thuộc như nồi đất,chõ đất, đồ đụng chum, vò Đất sét có ở Mừng Chanh, lò nung được người Thái cho chìm dưới đất (lò nung âm)
lò gồm có hai cửa Cách làm gốm của người Thái rất đơn giản nhưng lại vô cùng hiệu quả… Các sản phẩm có tiếng vang rất to đặc biệt là mõ
Đóng vai trò nhất định trong đời sống kinh tế của dân cư Thái nhưng chỉ giữ ở vị trí phụ săn bắn người Thái chỉ đi săn khi nhàn rỗi có thời gian, mục đích bảo về mùa màng và them nguồn thức ăn hoang dã Người tham gia thường là đàn ông (các thành viên trai tráng hoặc những người có kinh nghiệm rừng núi
Trang 9lâu năm) Công cụ đi săn thường là nỏ, ná, mác hình thức có thể một hoặc hai người cùng đi săn đặt bẫy thú (đi ít thì sẽ bí mật, tránh tình trạng mất thú bẫy được)… còn không họ sẽ đi tập thể để đạt được nhiều thú hơn
Nghề đánh cá, nuôi cá rất phát triển, nguồn cung cấp cá thường là song, suối chảy qua bản, làng Có thể là do bà con tự nuôi và phát triển thành ao, đầm nguồn nước thường là nước ao, hồ, thậm chí nước sinh hoạt… người dân thường nuôi cá trắm… nguồn thức ăn cho cá thường tận dụng cỏ rừng, phân trâu, bò hay gia cầm…
Về ẩm thực người Thái thường ăn cơm nếp, tẻ, rau, cá Cơm nếp là đồ ăn mang tính phổ biến của người Thái, cơm được đồ một lần vào buổi sang có thể
ăn cả ngày Hiện nay người Thái đang chuyển dần sang ăn cơm tẻ như người Kinh Họ thích món ăn: thịt trâu, côn trùng non, trứng kiến, cá…các món luộc, các gia vị ưa thích: cay, chay, đắng… Mắm cá là món nổi tiếng của người Thái Đặc biệt là món “nậm pịa” canh đắng (dùng ruột non của loài nhai lại còn nước sữa đắng như trâu, bò…nấu lên thành canh đắng), người Thái quan niệm canh đắng sẽ tốt cho tiêu hóa, không bị đau bụng khi ăn những món lạ miệng “chẩm chéo” là đồ gia vị để chấm rau, thịt, cá trong các bữa ăn (ớt tươi và tương trộn với một số loại hạt: hạt tiêu…), món canh có: canh cá rêu (gồm cá và rêu), canh măng đắng, luôn luôn có rượu
Về tôn giáo, tín ngưỡng: Người Thái sinh sống dựa vào nông nghiệp nên
họ tin trên trời có Then Luông Then Luông là đấng cai quản trời đất, loài người
và vạn vật
Ở trần gian, người Thái tin bất kì nơi nào cũng có ma cai quản: ma rừng,
mà suối, ma ruộng, mà nương, ma nhà…và khi muốn lập bản, muốn khai phá ruộng, phá nương, đánh bắt cá…đều phải xin phép họ Ngoài ra họ còn tin những ông, bà, cụ kị đã mất là những lực lượng phù hộ, bảo vệ con người Chỗ thờ cúng có thể là một rừng cấm, một gốc cây, một hòn đá Chỉ có chủ nhà mới được thay mặt gia đình cúng ma nhà, chủ trì lễ xiêm hươn, cầu xin tổ tiên phù
Trang 10hộ cho con cháu Để củng cố trật tự gia đình phụ quyền, người Thái có hình thức thờ cúng tổ tiên Mỗi gia đình nhớ rõ nguồn gốc, lịch sử của mình, họ thường có gia phả và có những nơi thờ từng tông tộc, tùng dòng họ Việc thờ cúng trời, đất, bản mường, chúa đất, tổ tiên được thể hiện bằng những nghi thức, hội hè hang năm theo chu kì sản xuất nông nghiệp chủ yếu nhằm cầu xin trời đất bảo vệ mùa màng
Về lễ tết, hội hè: Vào sáng 30 Tết, khi tiếng gà mới chỉ gáy đến canh hai, canh ba thì các gian bếp của người Thái đã bập bùng ánh lửa Con gái đồ xôi, con trai mổ lợn để chuẩn bị tết Đến đêm, người lớn ngồi quay quần bên bếp lửa
ấm cúng để đón giao thừa, còn các chàng trai, cô gái thì ca hát trong tiếng trống chiêng rộn rã Khi đồng hồ điểm 12h, họ đi lấy nước để cầu may Tục lấy nước cầu may có từ lâu đời và được người Thái lưu truyền, gìn giữ cho đến nay Người Thái quan niệm, lấy nước suối ở đầu nguồn về uống và rửa mặt trong những giây phút đầu tiên của năm mới thì sẽ được thanh khiết như nguồn nước suối và cả năm đó họ cùng gia đình sẽ luôn mạnh khỏe, gặp nhiều may mắn Việc đi lấy nước phải được thực hiện tước khi gà gáy canh một Nếu như lấy nước mà gà đã gáy thì sẽ không còn ý nghĩa
Về cưới hỏi: Nguyên tắc cơ bản trong hôn nhân của người Thái là ngoại hôn dòng họ, theo đó tất cả các thành viên nam và nữ trong cộng đồng thân tộc
có chung ông tổ từ 3 đến 5 đời tuyệt đối không được kết hôn với nhau Nguyên tắc thứ hai là cơ sở thuận chiều hình thành 3 mối quan hệ cơ bản tròn dòng họ người Thái là “Ải nọng, lúng ta và nhinh sao” Hôn nhân của người Thái là hôn nhân 1 vợ 1 chồng, cư trú bên nhà chồng, Hôn nhân của người Thái mang tính phụ quyền và buôn bán, thể hiện rất rõ vai trò của cha mẹ và tiền thách cưới Trong hôn nhân tồn tại tàn dư mẫu hệ, biểu hiện ở vai trò ông cậu (nhất là người Thái ở tây bắc) tục ngữ có câu “thà bỏ chăn chớ bỏ màn, thà bỏ an hem chớ bỏ ông cậu” Tục cưới hỏi của người Thái là một phong tục có cách thực hiện độc đáo Thời kì cưới xin kéo dài từ một đến ba năm với nhiều thủ tục nghi lễ Nhà trai nhờ bà mối mang lễ vật tới ăn hỏi Nhận lễ vật rồi nhà gái hẹn ngày lành