1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách quản lý ngoại hối của Việt Nam trong tiến trong thời gian qua

29 542 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách quản lý ngoại hối của Việt Nam trong tiến trong thời gian qua
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Quốc Tế
Thể loại Đề án
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 214 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách quản lý của Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

Trang 1

Chính sách quản lý ngoại hối có vai trò rất quan trọng trong hoạt động hoạch định

và điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương, nhất là các nước đangtrong quá trình chuyển đổi kinh tế và cam kết hội nhập kinh tế quốc tế một cách sâurộng như Việt Nam Chính sách quản lý ngoại hối có tác động và ảnh hưởng quantrọng đối với biến động của các thành tố trên tài khoản vãng lai cũng như tài khoảnvốn như: kim ngạch xuất nhập khẩu, các luồng luân chuyển vốn (đầu tư cũng nhưvay nợ) quốc tế Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu sắc hơn,việc tác động và điều chỉnh được những thành tố đó có ý nghĩa then chốt đối với việc

ổn định và kích thích tăng trưởng kinh tế quốc gia

Nhận thức được tầm quan trọng của chính sách quản lý ngoại hối, em đã

chọn đề tài nghiên cứu “ chính sách quản lý ngoại hối của Việt Nam trong tiến trong thời gian qua".

Trang 2

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là chính sách quản lý ngoại hối ở Việt Nam qua cácthời kỳ đến nay, đặc biệt là các quy định hiện hành về quản lý ngoại hối và thực tiễnquản lý ngoại hối của Nhà nước ta hiện nay

Đối tượng nghiên cứu là chính sách quản lý ngoại hối của Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu như thông kê mô tả, diễn dịch, qui nạp, cácphương pháp quan sát từ thực tế để khai thác quy luật của vấn đề cần nghiên cứu diễn

ra, ghi nhận và diễn giải những điều được quan sát, tìm kiếm số liệu liên quan đểthống kê, phân tích, so sánh, đánh giá, tìm ra xu hướng chung, phương pháp đúngđắn, hiệu quả rồi tổng kết, kiểm chứng trên thực tế để rút ra kết luận

Đề tài này dựa vào cơ sở lý thuyết của chuyên ngành kinh tế quốc tế đồng thời sưutập thêm các thông tin thực tế từ các tài liệu tham khảo khác cũng như các websiteliên quan

5 Kết cấu đề tài

Bài viết gồm ba chương:

Chương 1: Lý luận chung về ngoại hối

Chương 2: Chính sách quản lý ngoại hối của ngân hàng nhà nước Việt Nam trongthời gian qua

Chương 3: Quan điểm và một số giải pháp kiến nghị trong quản lý ngoại hối củaViệt Nam

Mặc dù em đã nhận được rất nhiều sự hướng dẫn tận tình của cô để em có thể hoànthành đề án này, nhưng do kiến thức còn hạn chế, thời gian nghiên cứu ít nên em cònnhiều thiếu sót Vì vậy, em mong được sự góp ý và giúp đỡ của cô

Em xin chân thành cảm ơn

Sinh viên thực hiện

Trang 3

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGOẠI HỐI VÀ

QUẢN LÝ NGOẠI HỐI

1.1.Khái niệm về ngoại hối và sự cần thiết phải quản lý ngoại hối

Ngoại hối là công cụ thiết yếu trong quan hệ kinh tế, văn hóa giữa các quốc gia.Ngoại hối là tiền nước ngoài, vàng tiêu chuẩn quốc tế, các giấy tờ có giá và các công

cụ thanh toán bằng tiền nước ngoài

Ngoại hối trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng, nó là phương tiện thanh dự trữcủa cải, phương tiện để mua, phương tiện thanh toán và hạch toán quốc tế, được cácnước chấp nhận là đồng tiền quốc tế

Tùy theo quan niệm của luật quản lý ngoại hối của mỗi nước mà khái niệm ngoạihối có thể là không giống nhau Tại Việt Nam theo pháp lệnh Số: 28/2005/PL-UBTVQH11 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội ban hành Ngày 13 tháng 12 năm

2005, tại Điều 4 có quy định ngoại hối bao gồm:

a) Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiềnchung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực;

b) Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếuđòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác;

c) Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếucông ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác;

d) Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài củangười cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mangvào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam;

đ) Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợpchuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanhtoán quốc tế

Trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển, quan hệ quốc tế ngày càng mởrộng thì bất cứ một quốc gia nào cũng không thể tự mình khép kín mọi hoạt động,cũng không thể phát triển đất nước một cách đơn độc, riêng lẻ đặc biệt giai đoạn hiệnnay, khi nền kinh tế thị trường đang ngày một sôi động, luôn đòi hỏi sự hợp tác, liênminh giữa các quốc gia Do vậy việc dự trữ ngoại hối là một trong những mục tiêu

Trang 4

kinh tế có ý nghĩa chiến lược quan trọng, có dự trữ ngoại hối cần thiết tức là nhànước đã nắm được trong tay một công cụ quan trọng để thực hiện các mục tiêu kinh

tế vĩ mô

Về nguồn gốc sâu xa, dự trữ ngoại hối chính là kết quả, là biểu hiện của sức mạnhcủa tiềm lực kinh tế quốc gia Dự trữ ngoại hối để đảm bảo sự cân bằng khả năngthanh toán quốc tế,thoả mãn nhu cầu nhập khẩu phục vụ phất triển kinh tế và đờisống trong nước, mở rộng hoạt động đầu tư, hợp tác kinh tế với các nước khác phục

vụ mục tiêu chính sách kinh tế mở

Quỹ dự trữ ngoại hối bao gồm: Ngoại tệ mạnh, vàng và kim loại quý, dự trữ quỹtiền tệ quốc tế IMF, quyền rút vốn đặc biệt SDR và các tài sản tài chính có tính linhhoạt cao

1.2 Mục đích quản lý ngoại hối

1.2.1. Điều tiết tỷ giá thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Như đã nói ở trên, NHNN trực tiếp điều hành và quản lý dự trữ ngoại hối nhằmmục đích phòng ngừa ngắn hạn quá lớn về tỷ giá, do hậu quả của một số biến độngtrên thị trường vì vậy mục đích của việc quản lý dự trữ ngoại hối là để đảm bảo chomột quốc gia luôn luôn trong trạng thái có thể thanh toán các khoản nợ đúng hạn và

có thể giả quyết những dao động về tỷ giá ngoại hối trong ngắn hạn và có thể giảiquyết những dao động về tỷ giá trong ngắn hạn Đồng thời sử dụng chính sách ngoạihối như một công cụ có hiệu lực để thực hiện chính sách tiền tệ, thông qua mua bántrao đổi trên thị trường ngoại hối để can thiệp vào tỷ giá khi cần thiết, nhằm ổn địnhgiá trị đối ngoại của đồng tiền

1.2.2. Bảo tồn dự trữ ngoại hối của Nhà nước

Là cơ quan quản lý tài sản quốc gia, NHNN phải quản lý dư trữ ngoại hối Nhànước nhưng không chỉ bảo quản và cẩt giữ mà còn phải biết sử dụng để phục vụ chođầu tư phát triển kinh tế, luôn bảo đảm an toàn không bị ảnh hưởng rủi ro về tỷ giángoại tệ trên thị trường quốc tế Vì thế NHNN cần phải mua, bán, chuyển đổi để pháttriển, chông thất thoát, xói mòn quỹ dự trữ ngoại hối của Nhà nước, bảo vệ độc lậpchủ quyền về tiền tệ

1.2.3 Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế

Trang 5

Cán cân thanh toán thể hiện thu-chi của một nước với nước ngoài Khi cán cânthanh toán quốc tế bội chi, tăng lượng ngoại tệ chạy ra nước ngoài dẫn đến nhu cầungoại tệ tăng cao hơn khả năng cung ứng.

Vì thế, mục đích của quản lý dự trữ ngoại hối để đảm bảo cho một quốc gia luônluôn trong trạng thái có thể thanh toán các khoản nợ đúng hạn và có thê giải quyếtnhững dao động về tỷ giá ngoại hối trong ngắn hạn

1.3 Cơ chế quản lý tỷ giá

1.3.2 Cơ chế quản lý tỷ giá

1.3.2.1 Cơ chế Nhà nước thực hiện quản lý hoàn toàn

Theo cơ chế này, Nhà nước độc quyền ngoại thương và độc quyền ngoại hối Nhànước thực hiên các biện pháp hành chính áp đặt nhằm tập trung tất cả hoạt độngngoại hối vào tay mình Tỷ giá do Nhà nước quy định mà tất cả các giao dịch ngoạihối phải chấp hành, các tổ tham gia hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nếu bị lỗ

do tỷ giá sẽ được Nhà nước cấp bù, ngược lại nếu lãi thì phải nộp cho Nhà nước Cơchế này thích hợp với nền kinh tế tập trung

1.3.2.2 Cơ chế quản lý tỷ giá có điều tiết

Đây là cơ chế có sự kết hợp của hai cơ chế kể trên Nhà nước tiến hành sự điềutiết tỷ giá nhưng có gắn với thị trường, tức chỉ kiểm soát một mức độ nhất định đểnhằm phát huy tính tích cực của thị trường, nhà nước xuất hiện với vai trò hạn chếnhược điểm do thị trường gây ra, tạo điều kiện cho kinh tế trong nước phát triển ổnđịnh, phù hợp với các quy luật khách quan

1.4 Chính sách quản lý ngoại hối

1.4.1 Khái niệm

Chính sách quản lý ngoại hối là bộ phận của chính sách tiền tệ quốc gia, là mộttrong những công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế Nó bao gồmnhững quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động ngoại hối như mua bán, đầu tư, vay,cho vay và các giao dịch khác về ngoại hối của các bên liên quan nhằm thực hiện

Trang 6

Thông thường, Chính phủ các nước uỷ nhiệm chức năng QLNH và hoạt độngngoại hối cho một cơ quan Bộ hoặc cơ quan ngang Bộ đảm trách nhiệm vụ này Phầnlớn trên thế giới, NHTW giữ trọng trách QLNH và hoạt động ngoại hối Tại ViệtNam, Chính phủ giao cho NHNN là cơ quan chủ quản và phối hợp với các Bộ, ngànhliên quan để thực hiện việc QLNH.

1.4.2 Chính sách quản lý ngoại hối của Ngân hàng nhà nước Việt Nam

1.4.2.1 Chính sách lãi suất ngoại tệ

1.5. Chính sách về quản lý ngoại hối ở một số quốc gia

1.5.1. Chính sách quản lý ngoại hối của Trung Quốc

Dưới đây là một số nét khái quát chính sách QLNH của Trung Quốc trong thờigian qua, góp phần đưa nước này gia nhập WTO một cách thành công năm 2001,vàngày phát triển thị trường ngoại hối

1.5.1.1. Về chính sách kết hối và chính sách kiều hối

Tháng 12/1996, Trung Quốc tuyên bố thực hiện chuyển đổi hoàn toàn đồngCNY đối với cán cân vãng lai (theo Điều 8 Điều lệ IMF) Tuy nhiên, các doanhnghiệp có ngoại tệ từ nguồn thu vãng lai vẫn phải kết hối ngoại tệ theo tỷ lệ quy định(hiện nay là 80%) Để khuyến khích kiều hối chuyển về, Trung Quốc cho phép cánhân có kiều hối chuyển về được tự do giữ bằng CNY hoặc ngoại tệ theo nhu cầu.Người thụ hưởng có thể bán hoặc giữ ngoại tệ trên tài khoản và được chuyển ngoại tệ

ra nước ngoài khi có nhu cầu Khi có nhu cầu ngoại tệ để chuyển, mang ra nướcngoài, cá nhân là người cư trú được mua tại ngân hàng được phép không hạn chế sốlượng khi xuất trình chứng từ chứng minh nhu cầu ngoại tệ Trước đây, chỉ có Ngânhàng ngoại thương bán ngoại tệ cho cá nhân nhưng hiện nay đã mở rộng cho các ngânhàng được phép kinh doanh ngoại hối Các doanh nghiệp Trung Quốc chỉ được mở tàikhoản ở nước ngoài khi được Tổng cục quản lý ngoại hối cấp giấy phép

Trang 7

1.5.1.2. Về QLNH đối với giao dịch vốn

Do ảnh hưởng của giao dịch vốn đối với thị trường tiền tệ và sự phát triển của nềnkinh tế rất lớn, cho nên Trung Quốc thực hiện quản lý giao dịch vốn rất chặt chẽ Tuynhiên, trong những năm gần đây, do yêu cầu mở cửa của nền kinh tế, Trung Quốc đãbuộc phải nới rộng các quy định đối với giao dịch vốn và đối mặt với các thách thứcmới

- Mở cửa có giới hạn các giao dịch vốn

Trung Quốc thực hiện mở cửa có giới hạn giao dịch vốn Các dự án vay, sử dụngvốn nước ngoài được thẩm định kỹ lưỡng, có sự giám sát chặt chẽ sự chu chuyển củadòng vốn ngắn hạn và các giao dịch vốn trên thị trường chứng khoán, đồng thời duytrì một số hạn chế đối với việc chuyển vốn ngoại tệ ra nước ngoài

Hiện nay, các biện pháp quản lý giao dịch vốn của Trung Quốc chủ yếu đượcthực hiện thông qua việc cho phép, thẩm định tính hiệu quả và khống chế quy mô sửdụng vốn ở mức độ nhất định Cơ quan quản lý ngoại hối Trung Quốc căn cứ loạihình giao dịch khác nhau, thực hiện các chính sách quản lý ngoại hối khác nhau Đểhạn chế rủi ro, Trung Quốc thực hiện quản lý hạn mức vay nợ nước ngoài Chính phủquyết định hạn mức vay nợ nước ngoài trung dài hạn hàng năm và phân bổ hạn mứccho các ngành nghề, khu vực, quy định cả thời hạn, kết cấu các loại tiền vay dựa trên

cơ sở có đủ dự trữ ngoại hối để đảm bảo khả năng trả nợ nước ngoài trong tương lai.Các khoản vay vốn nước ngoài phải được Cục quản lý ngoại hối xem xét, chấp thuậnmới được thực hiện (trừ trường hợp vay vốn của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếpnước ngoài) và có sự hạ chế nhất định đối với một số giao dịch Căn cứ quy định củaQuỹ tiền tệ quốc tế (IMF), giao dịch vốn chia ra 43 hạng mục Hiện nay ở TrungQuốc có tới 40% giao dịch vẫn bị hạn chế, trên 10% còn bị quản lý chặt chẽ

- Thực hiện chính sách ưu đãi đối với vốn FDI

Trung Quốc thực hiện chính sách khuyến khhích đầu tư FDI thông qua việc nớilỏng các quy định về chuyển vốn vào ra, mua ngoại tệ chuyển về nước, góp vốn bằngngoại tệ, bằng CNY có được từ lợi nhuận, bằng nhà đất hoặc các tài sản vô hình

Trang 8

khác Số vốn vay nước ngoài của các doanh nghiệp FDI nằm trong tổng số vốn đầu

tư quy định trong giấy phép, không cần sự chấp thuận của cơ quan quản lý ngoại hối

Để tăng thêm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, Trung Quốc cho điềuchỉnh, bổ sung các văn bản luật pháp về đầu tư nước ngoài phù hợp với thông lệ quốc

tế và điều kiện thực tiễn của Trung Quốc, tạo cho các nhà đầu tư nước ngoài một môitrường đầu tư thuận lợi, vừa giảm được giá thành vừa ít rủi ro

- Hạn chế và giám sát chặt chẽ dòng vốn ngắn hạn

Cùng với việc mở cửa thị trường tiền tệ, dòng vốn nước ngoài đổ vào ngày cànglớn, đòi hỏi Trung Quốc phải nâng cao hơn khả năng giám sát sự dịch chuyển củadòng vốn này, đặc biệt là sự dịch chuyển của dòng vốn ngắn hạn, nguyên nhân gây ranhiều rủi ro đối với thị trường tài chính tiền tệ Đối với các khoản vay nước ngoàingắn hạn được quản lý theo hạn mức số dư, chịu sự giám sát chặt chẽ của các cơquan quản lý, phải thực hiện nghiêm ngặt chế độ thông tin báo cáo

Việc thu hút và cho phép các nhà đầu tư nước ngoài có đủ tiêu chuẩn (QFII) hoạtđộng ở Trung Quốc là một trong những biện pháp tích cực thúc đẩy thị trường chứngkhoán phát triển Đây chính là sự lựa chọn mang tính chất quá độ của một nước cóđồng tiền chưa được chuyển đổi, giao dịch vốn chưa được tự do, việc mở cửa thịtrường vốn còn hạn chế Cho đến nay, Cục quản lý ngoại hối Trung Quốc đã chophép 11 ngân hàng trong nước làm nghiệp vụ ủy thác cho các nhà đầu tư nước ngoài

đủ tiêu chuẩn Đã có 12 tổ chức nước ngoài được công nhận là nhà đầu tư nước ngoài

đủ tiêu chuẩn

- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài theo quy định

QDII:

Năm ngoái, thặng dư thương mại của Trung Quốc là 196,1 tỷ USD, giảm 33,7%

so với 295,5 tỷ USD vào năm 2008 Thặng dư tháng của Trung Quốc đã giảm từ 24

tỷ USD trong tháng 10/2009 xuống còn 7,6 tỷ USD trong tháng 1 năm nay.Trước tìnhhình dòng vốn nước ngoài vào Trung Quốc quá lớn, dự trữ ngoại hối tăng mạnh đãgây sức ép lên giá đối với đồng CNY Trong điều kiện này, Trung Quốc khuyếnkhích các dự án đầu tư ra nước ngoài, bằng các biện pháp cụ thể: Dỡ bỏ quy định về

Trang 9

việc giám sát ngoại hối cũng như việc bắt buộc chuyển lợi nhuận về nước, giảm bớtthủ tục kiểm tra nguồn gốc ngoại tệ, nới rộng các điều kiện mua ngoại tệ để đầu tư ranước ngoài, cho phép chuyển các tài sản hợp pháp ra nước ngoài, cho phép một số tổchức trong nước đủ điều kiện được đầu tư chứng khoán ở nước ngoài.

Những quy định về vay vốn nước ngoài nêu trên cho thấy Trung Quốc rất thậntrọng trong việc quản lý các giao dịch vốn Để tránh những rủi ro từ vay nợ nướcngoài, Trung Quốc đã khống chế hợp lý quy mô vay nợ nước ngoài, kịp thời điềuchỉnh kết cấu, phân bổ hạn mức vay nợ nước ngoài cho từng ngành, từng địa phương

để đảm bảo khả năng thanh toán, vay nợ nước ngoài của các doanh nghiệp đầu tưtrực tiếp nước ngoài giới hạn trong tổng số vốn đầu tư được phép, các khoản vay nợnước ngoài được giám sát chặt chẽ, khi trả nợ nước ngoài phải được phép của Cụcquản lý ngoại hối Như vậy, có hai vấn đề chủ yếu, một là cần khuyến khích nướcngoài đầu tư trung, dài hạn và tạo điều kiện cho các dòng vốn lành mạnh vào ra, hai

là cần hạn chế các dòng vốn đầu tư ngắn hạn Đó là các kinh nghiệm quý của TrungQuốc trong việc quản lý giao dịch vốn khi thực hiện chính sách mở cửa kinh tế

1.5.1.3 Về chính sách tỷ giá hối đoái và hoạt động ngoại hối

Từ năm 1994 Trung Quốc có nhiều chuyển biến lớn trong điều hành chính sách tỷgiá như đưa tỷ giá chính thức lên mức cân bằng với tỷ giá thị trường để thống nhấthai tỷ giá và thực hiện chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý, tạo điều kiện cho việc chuyểnđổi đồng CNY Xoá bỏ chế độ doanh nghiệp được giữ ngoại tệ trên tài khoản màphải kết hối ngoại tệ Khi có nhu cầu thanh toán hàng nhập khẩu thì được mua ngoại

tệ tại các ngân hàng được phép nhưng với các giao dịch phi thương mại thì khôngđược phép mua tại ngân hàng Bên cạnh đó thành lập thị trường ngoại tệ liên ngânhàng với một số chi nhánh ở các tỉnh lớn và được kết nối bằng mạng vi tính Cácngân hàng thực hiện giao dịch ngay trên thị trường này

Từ năm 1994 đến nay Trung Quốc vẫn áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lýcủa Nhà nước Tỷ giá giữa CNY và USD ổn định do Trung Quốc can thiệp vào thị

Trang 10

trường ngoại hối thông qua việc phát hành đồng nội tệ để mua lại số ngoại tệ dư thừahay bán số ngoại tệ còn thiếu để cân bằng cung cầu trên thị trường.

Như vậy, quá trình chuyển đổi chế độ tỷ giá của Trung Quốc gắn liền với côngcuộc cải cách nền kinh tế và có xu hướng ngày càng gia tăng yếu tố thị trường Từ năm

1994, Ngân hàng trung ương Trung Quốc chủ yếu sử dụng biện pháp kinh tế thông quaviệc mua bán ngoại tệ trên thị trường để điều chỉnh tỷ giá ở mức độ phù hợp

1.5.1.4. Về quản lý dự trữ ngoại hối

Sau 2001, do Trung Quốc gia nhập WTO, cả cán cân vốn và cán cân vãng laithặng dư lớn đã góp phần làm gia tăng dự trữ ngoại hối của Trung Quốc Hiện nay,

Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đã tăng đến mức

kỷ lục 2,65 nghìn tỉ USD vào cuối tháng 9 năm nay, nhờ kiểm soát ngoại hối và nhànước giữ lại ngoại tệ, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tăng mạnh và chiếm khoảng30% dự trữ ngoại hối toàn cầu Tổng dự trữ ngoại hối trên toàn quốc tăng trung bình16,5%/năm Cán cân vãng lai và cán cân vốn của Trung Quốc luôn thặng dư là doTrung Quốc có lợi thế về nhân công, nguyên liệu rẻ; Trung Quốc có nhiều chính sách

ưu đãi để thu hút đầu tư nước, mặt khác sự sụp đổ của đồng USD gần đây khiến giátrị đồng CNY tăng Trung Quốc cũng mới tạm thời yêu cầu 6 ngân hàng thương mạilớn nhất tăng dự trữ ngoại hối Dự trữ ngoại hối Nhà nước thuộc quyền quản lý củaChính phủ, Ngân hàng nhân dân Trung Quốc hay Bộ Tài chính không có quyền sửdụng số ngoại tệ này ngoài việc can thiệp thị trường ngoại hối Khi hai cán cân vãnglai và cán cân vốn thặng dư, Trung Quốc chịu áp lực giảm phát nhẹ nên Ngân hàngnhân dân Trung Quốc có thể phát hành tiền để mua ngoại tệ dư thừa mà không sợlạm phát

1.5.1.5. Nhận xét chung chính sách quản lý ngoại hối của Trung Quốc

Trung Quốc có quan điểm quản lý thông suốt trong quá trình hội nhập kinh tế thếgiới là hướng tới chính sách tự do hoá một cách thận trọng, sẽ không tự do hoá chođến khi có khả năng quản lý của Nhà nước Do chính sách thận trọng của TrungQuốc, các GD vốn của Trung Quốc, nhất là GD gây nợ được kiểm soát chặt chẽ Các

GD phát sinh chứa đựng rủi ro và khó kiểm soát ít đựơc áp dụng Tuy nhiên điều này

Trang 11

đã cản trở Trung Quốc, cụ thể thị trường ngoại hối kém phát triển, các hoạt động trênthị trường còn sơ khai và không phong phú Việc vay vốn nước ngoài còn quá phứctạp và hạn chế tính tự chủ của doanh nghiệp.

1.5.2.2 Quản lý việc mở và sử dụng tài khoản ngoại tệ

Đối với người cư trú Thái Lan được mở tài khoản ngoại tệ và gửi vào đó số tiền(có nguồn gốc nước ngoài hoặc từ vay ngoại tệ, không được mua ngoại tệ gửi vào tàikhoản) với số dư không vượt quá nhu cầu thanh toán trong 3 tháng Số dư cuối ngàyđược phép duy trì trên tài khoản là 5 triệu USD đối với tổ chức và 500 000 USD đốivới cá nhân Được gửi ngoại tệ tiền mặt vào tài khoản nhưng không vượt quá 2 000USD/ngày; không được rút ngoại tệ tiền mặt (trừ trường hợp được phép mang đinước ngoài) Còn đối với người không cư trú, không có hạn chế đặc biệt đối với tàikhoản ngoại tệ

Tài khoản đồng Baht của người không cư trú được phép thu từ bán ngoại tệ cónguồn gốc từ nước ngoài hoặc trên tài khoản ngoại tệ Số dư trên tài khoản đồng Bahtđược phép tự do chuyển đổi ra ngoại tệ và chuyển ra nước ngoài Số dư trên chỉ đượcphép duy trì đến mức 50 triệu Baht

1.5.2.3 Việc quản lý vay, trả nợ nước ngoài

Các công ty đi vay trực tiếp nước ngoài rất ít mà chủ yếu thông qua các NHTM(đặc biệt là các chi nhánh ngân hàng nước ngoài) Nguồn cho vay ngoại tệ này phải

từ nước ngoài chuyển vào; được hạch toán thành quỹ riêng (các NHTM phải xinphép NHTW để thực hiện) Do đó, các công ty vay NHTM từ nguồn ngoại tệ nàyđược coi là vay nước ngoài

Trang 12

Hạn chế cho vay nước ngoài, một công ty chỉ cho vay nước ngoài (đối với công

ty trực thuộc hoặc liên doanh với nước ngoài không quá 25% vốn) tối đa 10 triệuUSD/năm; không cho vay để đầu tư mua bất động sản và CK ở nước ngoài Ngânhàng, TCTC được mua, bán tài sản Tài chính nước ngoài nhưng không vượt quá 15%vốn tự có ròng

Hiện nay, thông qua hệ thống TK và hệ thống báo cáo, các cơ quan quản lý nắmđược doanh số GD CK hàng ngày của các nhà đầu tư, trong đó phân biệt nhà đầu tưnước ngoài và trong nước; vốn nước ngoài chuyển vào đầu tư CK không hạn chếnhưng phải chuyển đổi ngoại tệ ra Baht nếu giữ ngoại tệ trên TK quá 3 tháng Hạnchế việc người cư trú vay Baht để đầu tư CK hoặc thế chấp CK để vay bản tệ Không

áp dụng hạn chế về thời hạn chuyển ra mà áp dụng mức thuế thống nhất Nhà đầu tưđược tự do chuyển đổi ngoại tệ và chuyển ra nước ngoài nhưng phải xuất trình cácchứng từ cho NHTM để báo cáo NHTW

1.5.2.4. Nhận xét chung về chính sách quản lý ngoại hối của Thái Lan

Thái Lan đang thực hiện chính sách khuyến khích vốn đầu từ nước ngoài chuyểnvào (đặc biệt là các luồng vốn ổn định, dài hạn) và hạn chế tối đa chuyển vốn ra nướcngoài dưới các hình thức Sau cuộc khủng hoảng Tài chính - Tiền tệ xảy ra năm

1997, Thái Lan đã đề ra nhiều biện pháp QLNH chặt chẽ hơn, như cá nhân khôngđược phép chuyển vốn ra nước ngoài (trừ trường hợp đặc biệt), theo dõi và quản lý

để hạn chế tiêu cực đối với các nguồn vốn ngắn hạn Thái Lan cũng không cho phépchuyển đồng bản tệ ra nước ngoài và khống chế số dư trên tài khoản đồng bản tệ làkhông quá 50 triệu Baht nhằm ngăn chặn việc đầu cơ đồng Baht Ngoài ra, hiện nayThái Lan cũng quy định các Ngân hàng thương mại phải thực hiện chế độ báo cáo rấtchi tiết (hàng ngày khoảng 20 báo cáo liên quan đến các giao dịch ngoại hối thôngqua mạng vi tính)

1.5.3 Chính sách QLNH của Mĩ

Mĩ là một cường quốc kinh tế với nền kinh tế TT phát triển, tự do hoá thươngmại, đầu tư và có thị trường Tài chính-Tiền tệ phát triển rất năng động, hiệu quả Đốivới quốc gia này, có thể nói là các giao dịch ngoại hối được tự do hoá Không tồn tại

Trang 13

khái niệm QLNH mà chỉ tồn tại một số những hạn chế liên quan đến ngoại hối nhưsau:

Về hoạt động thanh toán và nhận thanh toán còn tồn tại một số hạn chế liên quanđến an ninh quốc tế Bộ Tài chính điều hành các hình phạt kinh tế đối với những giaodịch tài chính thương mại trực tiếp hoặc gián tiếp với CuBa, IRắc, CHDCND TriềuTiên Bộ Tài chính cũng chịu trách nhiệm phong toả các tài khoản của các nướctrên

Kiểm soát đối với xuất nhập khẩu giấy bạc ngân hàng Mọi người vào và ra khỏi

Mĩ mang theo hơn 10.000 USD bằng bản tệ hoặc ngoại tệ, séc du lịch, thẻ rút tiền,chứng khoán chuyển nhượng vô danh phải khai báo cho Hải quan cửa khẩu

Các giao dịch vãng lai được tự do hoá Các giao dịch vốn còn một số hạn chếtrong việc mua, bán chứng khoán trên thị trường vốn dài hạn Đối với việc kiểm soáthoạt động đầu tư trực tiếp, chỉ cấm đầu tư của nước ngoài nếu đe doạ an ninh quốcgia

1.5.4. Bài học kinh nghiệm rút ra từ chính sách quản lý ngoại hối của một số nước

Qua những nét khái quát về cơ chế QLNH của Trung Quốc, Thái Lan và Mĩ cóthể nói chính sách QLNH của từng quốc gia rất khác nhau và luôn thay đổi phù hợpvới từng giai đoạn và mức độ phát triển của nền kinh tế; đồng thời có sự quan hệ chặtchẽ giữa chính sách QLNH và các chính sách kinh tế khác như chính sách về thươngmại, đầu tư, lãi suất, thuế

Chính sách QLNH của từng quốc gia phụ thuộc vào mức độ phát triển của nềnkinh tế nói chung và của thịt trường Tài chính - Tiền tệ nói riêng Cụ thể ở TrungQuốc và Thái Lan là những nước đang phát triển với thị trường Tài chính - Tiền tệchưa ổn định và hoạt động chưa có hiệu quả thì chính sách QLNH còn phải kiểm soátcác giao dịch chuyển ngoại tệ vào và ra khỏi đất nước nhằm đảm bảo cân bằng cung

Trang 14

cầu ngoại tệ, ổn định thị trường Tiền tệ và không làm suy giảm Dự trữ ngoại hốiquốc gia Còn Mĩ là một nước kinh tế phát triển, tự do hoá thương mại, đầu tư và cóthị trường Tài chính - Tiền tệ phát triển năng động và hiệu quả nên việc kiểm soátluồng chu chuyển ngoại tệ là không cần thiết và chủ yếu để thị trường tự điều tiếttheo quy luật cung cầu Chính phủ chỉ sử dụng các chính sách vĩ mô và các công cụthị trường để định hướng thị trường hoạt động có hiệu quả.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, hầu hết các nước đang phát triển có xu hướngngày càng nới lỏng chính sách QLNH Tuy nhiên, mỗi quốc gia tuỳ thuộc bối cảnhnền kinh tế mà có những bước đi thích hợp để từng bước tự do hoá ngoại hối cho phùhợp Nhìn chung cần có sự thận trọng trong quá trình dỡ bỏ các hạn chế ngoại hốinhằm ổn định tiền tệ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

1.6 Hoạt động mua bán ngoại hối của Ngân hàng nhà nước Việt Nam

NHNN tham gia vào hoạt động mua bán ngoại hối với tư cách là người can thiệp,giám sát, điều tiết nhưng đồng thời cũng là người mua bán cuối cùng Thông qua việcmua bán, NHNN thực hiện giám sát và điều tiết thị trường thưo mục tiêu của chínhsách tiền tệ, đồng thời theo dõi diễn biến tỷ giá đồng bản tệ chủ động quyết định hoặcphối hợp với các nước khác củng cố o sức mua đồng tiền hay đồng tiền khác để đảmbảo trật tự trong quan hệ quốc tế có lợi cho nước mình

1.6.1 Mua bán trên thị trường trong nước

NHNN tiến hành mua bán với các ngân hàng thương mại tại hội sở trung ươngcủa các ngân hàng thương mại mà không trực tiếp mua – bán với các công ty kinhdoanh xuất nhập khẩu Tỷ giá hối doáido NHNN công bố Ở đây NHNN sủ dụng mộtphần dự trữ để bán cho các ngân hàng thương mại và mua bán ngoại tệ của các ngânhàng thương mại đưa vào dự trữ Thông qua việc mua ban, NHNN thực hiện cungứng tiền tệ hoặc rút khỏi lưu thông, trên cơ sở đó ổn định tỷ giá hối đoái của đồngtiền bản tệ

Việc giao dịch mua bán của NHNN với các ngân hàng thương mại trên thị trườnghối đoái chủ yếu được thực hiện thông qua hệ thống điện thoại, telex hoặc hệ thốngmáy tính có nối mạng giữa NHNN với các ngân hàng thương mại

Ngày đăng: 20/07/2013, 09:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w