1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp ứng dụng bao thanh toán vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Hai Bà Trưng

81 638 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp ứng dụng bao thanh toán vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Hai Bà Trưng
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Thu Thảo
Trường học Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam
Chuyên ngành Tài Chính Ngân Hàng
Thể loại Chuyên đề thực tập
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 703 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải pháp ứng dụng bao thanh toán vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Hai Bà Trưng

Trang 1

Lời mở đầu

Ngày nay,khi mà xu thế hợp tác phát triển giữa các quốc gia đang chiếm vaitrò chủ đạo,toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy nhanh.Cách mạngkhoa học công nghệ chuyển từ phát triển chiều rộng sang chiều sâu đã tạo ranhững thay đổi to lớn trong nền kinh tế của tất cả các quốc gia.Tuy nhiên trong

xu thế phát triển đó,tình hình kinh tế thế giới vẫn tỏ ra diễn biến hết sức phức tạp

mà điển hình là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 vừa diễn ra đã gây ramột tổn thất cực kỳ to lớn cho nền kinh tế các nước

Trong bối cảnh đó,Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới và pháttriển đất nước của mình với muôn vàn thách thức và khó khăn,Đẩy nhanh tốc độphát triển kinh tế,đạt được những chuyển biến quan trọng cả về chất và lượng vànâng cao tính bền vững của sự phát triển là mục tiêu quan trọng nhất của đấtnước đã được cụ thể hóa trong các văn kiện của Đảng.Để thực hiện được nhữngđiều đó,cần sự đóng góp rất lớn của các ngành,các lĩnh vực mũi nhọn trong đókhông thể không nhắc đến lĩnh vực tài chính ngân hàng

Hiện nay các ngân hàng đang phát triển với 3 xu thế chủ yêu.Thứ nhất đó làcung cấp các dịch vụ trên thị trường tài chính.Thứ hai là dịch vụ bán lẻ hiện đại

và thứ ba là các dịch vụ ngân hàng quốc tế.Trước tình hình này việc đa dạng hóacác sản phẩm dịch vụ và đưa sản phẩm mới vào hoạt động kinh doanh là điều hếtsức cần thiết với các ngân hàng.Trong số đó các ngân hàng Việt Nam không thể

bỏ qua một sản phẩm đã phát triển từ lâu đời và được ứng dụng mạnh mẽ ở cácnước phát triển nhưng vẫn còn mới mẻ ở nước ta đó là sản phẩm bao thanh toán-Factoring

Những lợi ích to lớn mà bao thanh toán mang lại đã được thừa nhận rộng rãitrên thế giới.Tuy nhiên tại sao nó vẫn còn rất mới mẻ ở Việt Nam.Ngân hàngđang gặp những khó khăn gì trong việc triển khai và ứng dụng sản phẩm này.Cần

có những biện pháp nào để đưa bao thanh toán ứng dụng vào hoạt động kinhdoanh của các ngân hàng

Xuất phát từ thực tế đó,với mong muốn không chỉ dừng lại ở việc hiểu vềbản chất nghiệp vụ,nắm vững được quy trình thực hiện mà còn phải trên thựctrạng ở nước ta tìm ra những giải pháp khả thi nhất để phổ biến bao thanh toán

trong nên kinh tế,em đã chọn đề tài: “Giải pháp ứng dụng bao thanh toán vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Hai Bà Trưng” làm nội dung chuyên đề thực tập của mình.

Chuyên đề được kết cấu gồm 3 chương:

Trang 2

Chương 1:Những lý luận chung về bao thanh toán

Chương 2:Thực trạng bao thanh toán tại ngân hàng đầu tư và phát triển ViệtNam chi nhánh Hai Bà Trưng

Chương 3:Giải pháp ứng dụng bao thanh toán vào hoạt động kinh doanhcủa ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Hai Bà Trưng

Dù đã rất cố gắng nhưng do còn những hạn chế về nhận thức cũng như kinhnghiệm thực tiễn nên bài làm chắc không thể tránh khỏi sai sót.Em rất mongmuốn nhận được những nhận xét và đóng gớp của các thầy cô giáo để bài làmđược hoàn thiện hơn.Em xin được chân thành cảm ơn cô giáo PGS.TS NguyễnThị Thu Thảo đã hướng dẫn chỉ bảo em trong quá trình thực hiện chuyên đề tốtnghiệp này.Em cũng muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể cán bộ lãnhđạo,các anh chị nhân viên ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánhHai Bà Trưng đã nhiệt tình giúp đỡ em trong thời gian em đến thực tập ở ngânhàng

Trang 3

Chương 1: Những lý luận chung về bao thanh toán.

1.1Tổng quan về bao thanh toán

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động bao thanh toán.

Nghiệp vụ bao thanh toán có lịch sử phát triển rất lâu dài,khoảng từ 2000năm trước Xuất phát từ hoạt động đại lý hưởng hoa hồng, những người thực hiệnviệc mua bán vận chuyển hàng hóa dưới thời đế chế La Mã cổ đại Lúc đó hệthống thông tin còn sơ khai, đại lý hoa hồng chủ yếu thực hiện chức năng tiếp thịlàm cầu nối trong giao quan hệ buôn bán giữa nhà sản xuất ở nước ngoài(tứcngười bán) và người mua trong nước Là đại lý, họ được thực sự nắm giữ quyền

sở hữu (chứ không phải trên danh nghĩa) số hàng hoá mà bên uỷ nhiệm thu tứcnhà sản xuất nước ngoài nhờ họ thu hộ,rồi giao hàng hoá đó cho người mua trongnước, ghi sổ doanh thu và thu nợ khi đến hạn.Sau đó họ chuyển dư nợ cho bên uỷnhiệm thu(người bán-nhà xuất khẩu) sau khi đã trừ phần hoa hồng của mình.Sốhoa hồng này thường được thể hiện bằng phần trăm của tổng doanh thu.Lợinhuận của đại lý thu hộ là từ số tiền hoa hồng này.Có thể nói đây là hình thức sơkhai nhất của hoạt động bao thanh toán

Vào thế kỷ thứ 14-15,cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành côngnghiệp phương tây,những chuyến hải trình đi khám phá thế giới xuất hiện đã kéotheo sự lớn mạnh của các đại lý bao thanh toán.Giao dịch thương mại diễn ra tấpnập,sôi nổi giữa các quốc gia và với các vùng đất mới được khám phá.Khi mà độtin cậy về khả năng trả nợ của người mua trong nước tăng cao,các đại lý đã mởrộng hoạt động cấp tín dụng cho người ủy nhiệm mình để hưởng hoa hồng caohơn,từ đó tăng doanh thu cho chính mình

Đến cuối thế kỷ 19, một sự thay đổi quan trọng trong thương mại thế giới đãxảy ra Mỹ phát triển thành một quốc gia chủ quyền và trở nên ít bị phụ thuộcvào hàng hoá nước ngoài Sự phát triển của ngành công nghiệp Mỹ là do dân số

và lực luợng lao động trong nước tăng rất nhanh, tài nguyên thiên nhiên đadạng,dân di cư đổ xô đến đây và xem như đó là miền đất hứa.Lúc này,chính phủ

Mỹ bắt đầu áp đặt biểu thuế gắt gao đối với hàng hóa nước ngoài.Đồng thời vớiđó,nhà sản xuất Mỹ đã phát triển nghiệp vụ tiếp thị của mình,làm cho chức năngmarketing các đại lý bao thanh toán thường thực hiện trước đây bị giảm đi.Giữatình hình đó,các đại lý đã điều chỉnh và phát triển theo hướng phục vụ nhu cầunền kinh tế mới trong nước,tập trung vào tín dụng,kế toán,thu nợ và chức năngtài chính( thường là thông báo việc bán các khoản phải thu cho người mua).Vớiviệc để các đại lý bao thanh toán thực hiện các chức năng này,các nhà sản suất

Trang 4

Mỹ đặc biệt là các nhà sản suất ngành dệt đã tập trung vào sản suất và tiếp thịtrong thời kì phát triển rất nhanh này.

Bước sang thế kỉ 20,khi các nhà sản suất Mỹ mở rộng sang các ngành maymặc,đồ nội thất và thảm thì đồng thời các đại lý bao thanh toán cũng mở rộngchuyên môn và dịch vụ sang các ngành công nghiệp này.Đến giữa những năm40,50 của thế kỷ 20, bao thanh toán ở Mỹ đã phát triển sang các ngành côngnghiệp mới như điện,hóa chất,sợi tổng hợp…

Trải qua một quãng thời gian dài hình thành và phát triển,doanh số hoạtđộng bao thanh toán ngày càng tăng nhanh cùng với đó là số lượng các đơn vịtham gia thực hiện nghiệp vụ Trên thế giới hiện có hơn 2000 đơn vị bao thanhtoán đang hoạt động Trong số đó, có 352 tổ chức bao thanh toán từ 80 quốc gia

là thành viên của FCI (Hiệp hội bao thanh toán quốc tế Factors ChainInternational) Theo số liệu thống kê của FCI, doanh thu bao thanh toán thế giớinăm 2009 là 1.829.127 triệu Euro, tăng 14,53% so với năm 2008 Ở những nướcphát triển, dịch vụ bao thanh toán rất được ưa chuộng, các thị trường bao thanhtoán lớn nhất thế giới thường tập trung ở đây,điển hình là MỸ,Nhật và các nướcphát triển ở Châu Âu

Việc gia tăng số lượng đơn vị bao thanh toán và doanh số bao thanh toán đãnói lên tính ưu việt của nghiệp vụ này,nó đã trở thành một nhân tố khá quantrong đóng góp tích cực vào hoạt động kinh tế của các nước Bao thanh toán đãtrải qua 2000 năm phát triển.Lịch sử hình thành nghiệp vụ bao thanh toán là từlâu đời và hiện nay đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới Tuy nhiên, đối vớiViệt Nam, nghiệp vụ này vẫn còn khá mới mẻ trong hoạt động ngân hàng nóiriêng và nền kinh tế nói chung

1.1.2 Khái niệm bao thanh toán

Bao thanh toán được nhiều tổ chức có uy tín trên thế giới định nghĩa,có thểđiểm qua một số khái niệm như sau:

Theo khoản (a) Điều 2 Luật tiêu chuẩn chuyển nhượng khoản phải thuUNCITRAL (UNCITRAL Model Law on Assignment of Receivables), “chuyểnnhượng khoản phải thu” là thỏa thuận, trong đó một bên (người chuyển nhượng)chuyển cho bên kia (người được chuyển nhượng) quyền thu hồi khoản tiền thanhtoán từ bên thứ ba (người vay) Các quyền lợi liên quan đến khoản phải thu đượcxem là sự đảm bảo cho khoản nợ và các nghĩa vụ khác cũng được nhìn nhận là sựchuyển giao

Theo Hiệp hội Bao thanh toán quốc tế (FCI-Factors Chain International),bao thanh toán là một dịch vụ tài chính trọn gói, kết hợp việc tài trợ vốn lưu

Trang 5

động, phòng ngừa rủi ro tín dụng, theo dõi công nợ và thu hồi nợ Đó là sự thỏathuận giữa đơn vị bao thanh toán và người bán, trong đó đơn vị bao thanh toán sẽmua lại khoản phải thu của người bán, thường là không truy đòi, đồng thời cótrách nhiệm đảm bảo khả năng chi trả của người mua Nếu người mua phá sảnhay mất khả năng chi trả vì những lý do tín dụng thì đơn vị bao thanh toán sẽthay người mua trả tiền cho người bán Khi người mua và người bán ở hai nướckhác nhau thì dịch vụ này được gọi là bao thanh toán quốc tế.

Theo Điều 1 Những quy định chung về hoạt động bao thanh toán quốc tế ấnbản tháng 06/2004 của FCI (General Rules for International Factoring VerionFCI June 2004), hợp đồng bao thanh toán là một hợp đồng, theo đó nhà cung cấp

sẽ chuyển nhượng các khoản phải thu (hay một phần của các khoản phải thu) chomột đơn vị bao thanh toán, có thể vì hoặc không vì mục đích tài trợ, để thực hiện

ít nhất một trong các chức năng sau đây:

- Kế toán sổ sách các khoản phải thu;

- Thu nợ các khoản phải thu;

- Phòng ngừa rủi ro nợ xấu

Điều 2 Chương I Công ước UNIDROIT về bao thanh toán quốc tế(UNIDROIT Convention on International Factoring) còn bổ sung thêm một chứcnăng nữa của bao thanh toán là tài trợ cho người bán, bao gồm việc cho vay lẫnviệc ứng tiền thanh toán trước

Còn ở Việt Nam,chúng ta cũng đã có những quy định đầu tiên để đưa sảnphẩm bao thanh toán vào nền kinh tê

Theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ban hành ngày 06/09/2004 củaThống đốc NHNN, bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tíndụng cho bên bán hàng thông qua việc mua bán các khoản phải thu phát sinh từviệc mua bán hàng hóa giữa bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợpđồng mua bán

Như vậy, theo quan điểm của các nhà làm luật thì hoạt động bao thanh toántại Việt Nam có một số đặc điểm như sau :

Một là, bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng ngắn hạn của các tổchức tín dụng cho các cá nhân tổ chức có nhu cầu Theo đó, hoạt động bao thanhtoán phải gắn trực tiếp với chức năng tài trợ tín dụng, các nghiệp vụ quản lý sổsách, quản lý thu nợ không được coi là một chức năng độc lập trong hoạt độngbao thanh toán; tổ chức thực hiện bao thanh toán phải tuân thủ các điều kiện, thủtục và các mức hạn chế về bảo đảm an toàn theo quy định của Luật các tổ chứctín dụng

Trang 6

Hai là, Hoạt động bao thanh toán dựa trên quan hệ về quyền mua bán quyềntài sản là quyền đòi nợ, quyền đòi nợ là một loại tài sản được xác định từ mộtgiao dịch thương mại cụ thể,phát sinh trong thực tiễn từ hoạt động buôn bán củacác bên tham gia.Do đó khi thực hiện bao thanh toán, đơn vị bao thanh toán phảitiến hành phân tích một cách toàn diện và trực tiếp các giao dịch làm phát sinhcác khoản phải thu , tình hình tài chính và hoạt động của bên bán và bên muahàng,đặc biệt là bên mua vì lúc này bên mua là bên chịu trách nhiệm trả tiền chođơn vị bao thanh toán.Bên bán hàng phải chuyển giao toàn bộ các giấy tờ có liênquan đến giao dịch mua, bán để xác lập và chuyển quyền đòi nợ cho bên baothanh toán.

Bao thanh toán là sự tổng hợp tính chất của các hoạt động tài trợ cho ngườibán, tài trợ dựa trên hóa đơn, tài trợ thương mại hay chiết khấu hóa đơn

Về cơ bản, bao thanh toán là hình thức cho vay ngắn hạn, trong đó ngườicho vay(đơn vị bao thanh toán) được đảm bảo bằng cách nắm giữ quyền đượcđòi khoản phải thu của người đi vay(người bán).Có thể xem khoản phải thu nhưthế chấp của người đi vay(bên bán) để được vay vốn của bên cho vay(đơn vị baothanh toán)

Nói tóm lại, bao thanh toán được hiểu là sự chuyển nhượng nợ của ngườimua hàng (con nợ) từ người bán hay cung ứng dịch vụ (chủ nợ cũ) sang đơn vịbao thanh toán (chủ nợ mới).Thay vì phải trả tiền cho người bán hàng cho mìnhnhư trước đây,bên mua giờ sẽ phải trả cho bên mua lại khoản phải thu của bênbán-tức là bên thực hiện bao thanh toán Đơn vị bao thanh toán đảm bảo việc thu

nợ, tránh các rủi ro không trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ của người mua.Đơn vị bao thanh toán có thể trả trước toàn bộ hay một phần các khoản nợ củangười mua cho bên bán nhưng phải trừ đi một khoản hoa hồng tài trợ và phí thu

nợ Mọi rủi ro không thu được tiền hàng đều do bên thực hiên bao thanh toánchịu vì họ đã mua lại các khoản phải thu từ bên bán

Ngoài ra, ngiệp vụ bao thanh toán còn bao gồm một số dịch vụ như quản lýtài khoản phải thu của khách hàng, cung cấp các thông tin kinh tế, tiền tệ, tíndụng và thương mại nhằm gia tăng các nguồn thu và tạo lập,phát triển mối quan

hệ với các khách hàng một cách lâu dài

1.1.3 Các loại hình bao thanh toán

Dựa vào nhiều tiêu chí mà ta có nhiều cách phân loại bao thanh toán khácnhau.Sau đây là một số tiêu chí cơ bản hay sử dụng để phân loại bao thanh toán

a Căn cứ vào tiêu chí địa lý: có 2 loại

+ Bao thanh toán trong nước:

Trang 7

Là hình thức cấp tín dụng của một ngân thương mại hay một công ty tàichính chuyên nghiệp(đơn vị bao thanh toán) cho bên bán hàng thông qua việcmua lại các khoản thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa đã được bên bán hàng

và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa, trong đó, bên bánhàng và bên mua hàng là người cư trú trong phạm vi một quốc gia

+ Bao thanh toán quốc tế:

Là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng thương mại hay một công ty tàichính chuyên nghiệp(đơn vị bao thanh toán) cho bên bán hàng thông qua việcmua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa đã được bên bánhàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa, mà việcmua bán hàng hóa vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia.Ở đây,bên mua và bên bánđược gọi là nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu

Có thể phân biệt bao thanh toán trong nước và bao thanh toán quốc tế quamột số tiêu thức như sau:

Bảng 1 Phân biệt bao thanh toán trong nước và bao thanh toán quốc tế

Trang 8

Chỉ tiêu Bao thanh toán

chỉnh

Luật của nước sở tại Luật của cả hai nước bên xuất và bên nhập

khẩuPhạm vi trách

Ngân hàng bao thanh toán xuất khẩu sẽchịu toàn bộ rủi ro còn ngân hàng baothanh toán nhập khẩu sẽ chịu trách nhiệmgiám sát khoản tín dụng và thu nợ

b Căn cứ vào phạm vi trách nhiệm rủi ro

+ Bao thanh toán có quyền truy đòi:

Là hình thức bao thanh toán mà đơn vị thực hiện bao thanh toán có quyềntruy đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng khi bên mua hàng không cókhả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán các khoản phải thu khi đến hạn

+ Bao thanh toán không truy đòi:

Là hình thức bao thanh toán mà đơn vị thực hiện bao thanh toán chịu toàn

bộ rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toáncác khoản phải thu Đơn vị bao thanh toán chỉ có quyền đòi lại số tiền ứng trướccho bên bán hàng trong trường hợp bên mua hàng từ chối thanh toán khoản phảithu do bên bán hàng giao hàng không đúng hợp đồng hay một lý do nào kháckhông liên quan đến khả năng thanh toán của bên mua hàng

c Căn cứ vào phương thức bao thanh toán

+ Phương thức bao thanh toán từng lần:

Là phương thức bao thanh toán mà với mỗi lần thực hiện mua bán hàng hóagiữa bên bán hàng và bên mua hàng theo những thỏa thuận trong hợp đồng muabán, đơn vị thực hiện bao thanh toán sẽ ứng trước một số tiền tạm ứng căn cứtrên giá trị giao dịch của lần mua bán hàng hóa đó

Trang 9

+ Phương thức bao thanh toán hạn mức:

Là hình thức bao thanh toán mà đơn vị thực hiện bao thanh toán sẽ xem xétcấp một hạn mức bao thanh toán tối đa cho bên bán hàng Căn cứ vào việc giaodịch mua bán hàng hóa được thực hiện bên bán và bên mua mà đơn vị thực hiện baothanh toán sẽ ứng trước một số tiền tạm ứng căn cứ trên giao dịch, miễn là tổng sốtiền ứng trước tại một thời điểm không vượt quá hạn mức bao thanh toán đã đượccấp

+ Đồng bao thanh toán:

Là phương thức bao thanh toán mà các đơn vị bao thanh toán phải liên kếtvới nhau để thực hiện bao thanh toán cho bên bán hàng do số tiền ứng trước chobên bán hàng lớn hơn tỷ lệ an toàn trên vốn điều lệ hoạt động của đơn vị baothanh toán đó theo quy định của pháp luật hiện hành

d Căn cứ vào cách thức thực hiện

+ Phương thức thực hiện truyền thống (factoring):

Là phương thức mà bên bán và bên mua sẽ liên hệ với đơn vị bao thanhtoán để biết chắc rằng đơn vị bao thanh toán có mua lại các khoản phải thu chobên bán hay không trước khi thực hiện mua bán theo thỏa thuận trong hợp đồngmua bán.Nếu đơn vị bao thanh toán đánh giá thấy đây là hợp đồng có thể sinh lờithì họ mới đồng ý cấp tài trợ cho bên bán và quay sang truy thu bên mua

+ Phương thức thực hiện phi truyền thống (reverse factoring):

Là phương thức mà đơn vị bao thanh toán sẽ tiến hành xây dựng những tiêuchuẩn chung cho bên mua và bên bán Nếu cả hai bên thỏa mãn điều kiện để thựchiện bao thanh toán thì đơn vị sẽ cấp hạn mức bao thanh toán cho cả bên bán vàbên mua Nếu những quan hệ giao dịch mua bán phát sinh mà bên mua và bênbán nằm trong tiêu chuẩn chung thì đơn vị này sẽ tiến hành thực hiện bao thanhtoán, miễn là tổng số tiền ứng trước không vượt quá hạn mức bao thanh toán đãđược cấp cho bên mua hay bên bán

e.Căn cứ vào mức độ ứng trước của bên cung cấp dịch vụ

Theo tiêu chí này,bao thanh toán có hai loại là bao thanh toán từng phần vàbao thanh toán toàn phần Bao thanh toán toàn phần chỉ thực hiện trong giao dịchxuất nhập khẩu vì thế trong cách phân loại này chỉ đề cập tới bao thanh toán quốctế

+ Bao thanh toán từng phần (Factoring)

Theo Từ điển thuật ngữ Ngân hàng – Tác giả GS Hans Klaus thì “baothanh toán từng phần-factoring là một loại hình tài trợ dưới dạng tín dụng chuyển

Trang 10

nhượng nợ Một công ty sẽ chuyển toàn bộ hay một phần khoản nợ cho một công

ty tài chính chuyên nghiệp (gọi là công ty mua nợ, thông thường là một công tytrực thuộc ngân hàng) Công ty này đảm nhận việc thu các khoản nợ và theo dõicác khoản phải thu để hưởng thủ tục phí và có lúc ứng trước các khoản nợ.Thông thường công ty mua nợ phải chịu rủi ro mất khả năng thanh toán của mónnợ”

Như vậy có thể hiểu,Factoring quốc tế là dịch vụ tài chính cho phép nhànhập khẩu mua hàng hóa từ nhà xuất khẩu bằng một khoản tín dụng ngắn hạn.Nhà xuất khẩu sẽ gặp ngân hàng bao thanh toán ở nước mình và đề nghị xem xétcấp một khoản tín dụng cho nhà nhập khẩu Ngân hàng bao thanh toán xuất khẩu

sẽ liên hệ với một ngân hàng bao thanh toán nhập khẩu tại nước nhập khẩu đểthống nhất về cách thức thu tiền, ngày thanh toán và xác định mức độ rủi ro củanhà nhập khẩu Ngân hàng bao thanh toán xuất khẩu có trách nhiệm ứng tiền chonhà xuất khẩu còn ngân hàng bao thanh toán nhập khẩu có trách nhiệm thu tiềnhàng từ nhà nhập khẩu.Sau đó,ngân hàng bao thanh toán nhập khẩu sẽ chuyểntiền cho ngân hàng bao thanh toán xuất khẩu.Thường thì ngân hàng bao thanhtoán xuất khẩu và ngân hàng bao thanh toán nhập khẩu có mối quan hệ khá thânthiết,có thể là đại lý hoặc đối tác lâu năm

+ Bao thanh toán toàn phần (Forfaiting)

Forfaiting là một dạng tài trợ tương tự như factoring và thường được sửdụng đối với các giao dịch xuất khẩu có giá trị lớn, rủi ro cao với thời hạn tài trợtrung và dài hạn.Theo khái niệm bao thanh toán của Việt Nam thì bao thanh toán

là khoản tài trợ ngắn hạn nên Forfaiting không tồn tại ở Việt Nam Dịch vụForfaiting được các tổ chức tài chính ngân hàng cung cấp thông qua việc mua lạicác công cụ nợ như: thương phiếu (hối phiếu và lệnh phiếu), thư tín dụng trảchậm từ nhà xuất khẩu theo một tỷ lệ chiết khấu nhất định dựa trên nguyên tắcmiễn truy đòi Các công cụ tài chính này phải đảm bảo yêu cầu dễ chuyển đổi và

có tính pháp lý quốc tế để tránh các rủi ro có thể xảy ra Do được thực hiện theonguyên tắc miễn truy đòi, nên để giảm thiểu rủi ro,ngân hàng forfaiting yêu cầunhà xuất khẩu phải có được hợp đồng bảo lãnh vô điều kiện, không thể hủyngang và có thể tự do chuyển đổi của một ngân hàng khác mà ngân hàngforfaiting chấp nhận Ngân hàng forfaiting thường không biết đầy đủ về nhà nhậpkhẩu và nhà nhập khẩu có thể không biết rõ về việc thực hiện forfaiting nên bảolãnh của ngân hàng kia là sự đảm bảo duy nhất cho ngân hàng forfaiting trongtrường hợp nhà nhập khẩu không trả được nợ Vì vậy, sự cung cấp bảo lãnh của

Trang 11

một ngân hàng khác là yếu tố quan trọng nhất xét trên nguyên tắc miễn truy đòicủa nghiệp vụ forfaiting

Có thể phân biệt bao thanh toán từng phần và bao thanh toán toàn phần quamột số tiêu thức như sau:

Bảng 2 Phân biệt Factoring và Forfaiting

thanh toán

Chiết khấu trước một phần chonhà xuất khẩu, phần còn lại thanhtoán tại thời điểm đáo hạn

Thanh toán ngay cho nhà xuấtkhẩu dựa trên chứng từ chuyểngiao

Kỳ hạn Ngắn hạn, thường không quá 180

Chủ yếu là các loại tiền mạnh nhưUSD, CHF, EURO, JPY

1.1.4 Quy trình thực hiện bao thanh toán

Bao thanh toán trong nước và bao thanh toán quốc tế đều có quy trình thựchiện riêng.Đối với bao thanh toán trong nước là quy trình chỉ có 1 đơn vị baothanh toán còn đối với bao thanh toán quốc tế sẽ có 2 đơn vị bao thanh toán thamgia

a.Hệ thống một đơn vị bao thanh toán

Trang 12

N g ê i m u a ( C o n n î )

(6) Người bán giao hàng cho người mua theo đúng thỏa thuận trong hợpđồng mua bán hàng hóa

(7) Người bán chuyển giao bản gốc hợp đồng mua bán hàng hóa, chứng từbán hàng và các chứng từ khác liên quan đến các khoản phải thu cho đơn vị baothanh toán

(8) Đơn vị bao thanh toán ứng trước một phần tiền cho người bán theo thỏathuận trong hợp đồng bao thanh toán

(9) Khi đến hạn thanh toán, đơn vị bao thanh toán tiến hành thu hồi nợ từngười mua

(10) Người mua thanh toán tiền hàng cho đơn vị bao thanh toán

(11) Sau khi đã thu hồi tiền hàng từ phía người mua, đơn vị bao thanh toánthanh toán nốt tiền chuyển nhượng khoản phải thu cho người bán

b.Hệ thống hai đơn vị bao thanh toán

Trang 13

8 C h u y Ó n n h î n g

N h µ X K ( N g ê i b ¸ n )

N h µ N K ( N g ê i m u a )

(4) Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu thực hiện phân tích các khoản phảithu, tình hình hoạt động và khả năng tài chính của bên mua hàng

(5) Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu đồng ý tham gia giao dịch bao thanhtoán với đơn vị bao thanh toán xuất khẩu Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu chấpthuận tài trợ cho người bán

(6) Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu và người bán thỏa thuận và ký kết hợpđồng bao thanh toán

(7) Người bán giao hàng cho người mua theo đúng thỏa thuận trong hợpđồng mua bán hàng hóa

(8) Người bán chuyển giao bản gốc hợp đồng mua bán hàng hóa, chứng từbán hàng và các chứng từ khác liên quan đến các khoản phải thu cho đơn vị baothanh toán xuất khẩu.Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu tiếp tục chuyển nhượngcác chứng từ trên cho đơn vị bao thanh toán nhập khẩu

(9) Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu chuyển tiền ứng trước cho người bántheo thỏa thuận trong hợp đồng bao thanh toán

(10) Khi đến hạn thanh toán, đơn vị bao thanh toán nhập khẩu tiến hành thuhồi nợ từ người mua

(11) Người mua thanh toán tiền hàng cho đơn vị bao thanh toán nhập khẩu

Trang 14

(12) Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu trích trừ phí và lãi (nếu có) rồichuyển số tiền còn lại cho đơn vị bao thanh toán xuất khẩu.

(13) Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu trích trừ phí rồi chuyển số tiền còn lạicho người bán

1.1.5 Phí trong nghiệp vụ bao thanh toán.

Hiệp hội bao thanh toán quốc tế FCI kiến nghị cơ cấu của phí nghiệp vụbao thanh toán như sau:phí bao gồm phí bảo hiểm rủi ro tín dụng, phí hành chính,phí giao dịch tính trên số lượng hoá đơn / giấy ghi có, phí ngân hàng (tức là cácphí liên quan tới việc chuyển tiền thanh toán qua hệ thống ngân hàng), lãi và cácphí khác

Phí nghiệp vụ bao thanh toán trong nước thường do người bán chịu tráchnhiệm thanh toán cho đơn vị bao thanh toán trong nước

Phí nghiệp vụ bao thanh toán quốc tế trong hệ thống hai đại lý thường dongười xuất khẩu thanh toán cho đại lý bao thanh toán xuất khẩu.Người nhập khẩukhông cần trả phí cho ngân hàng bao thanh toán nhập khẩu.Phí dành cho ngânhàng này được phân chia trong số phí mà nhà xuất khẩu đã trả cho ngân hàng baothanh toán xuất khẩu Phí này thường cao hơn phí nghiệp vụ bao thanh toántrong nước do khối lượng công việc nhiều hơn, chi phí hệ thống, chi phí xử lý vàrủi ro cũng nhiều hơn

1.2 So sánh bao thanh toán với các loại hình tài trợ thương mại khác,lợi ích và rủi ro đối với các chủ thể tham gia hoạt động này.

1.2.1 So sánh bao thanh toán với các loại hình tài trợ thương mại khác.

a.So sánh bao thanh toán với cho vay thông thường

+ Giống nhau:

Thứ nhất, cả hai sản phẩm đều cung cấp vốn lưu động cho bên bán dựa trêncác khoản phải thu Khoản phải thu là yếu tố cốt lõi để ngân hàng quyết định cótài

trợ hay không tài trợ vốn cho bên bán Do đó các khoản phải thu này phảihợp pháp, tức là những khoản mua bán phải minh bạch,có hóa đơn,giấy tờ xácnhận rõ ràng.Để hạn chế rủi ro, ngân hàng thường từ chối tài trợ cho các khoảnphải thu thiếu minh bạch,mập mờ,hóa đơn chứng từ có dầu hiệu sai phạm

Khi áp dụng sản phẩm bao thanh toán hay sản phẩm cho vay thế chấp bằngtài sản có, thì vấn đề này được hạn chế triệt để Đối với sản phẩm bao thanh toánđơn vị thực hiện bao thanh toán không cần nhất thiết phải quan tâm đến toàn bộhoạt động của bên bán, bên mua mà chỉ cần quan tâm tới tính minh bạch, hợppháp của lần giao dịch mua bán cần được bao thanh toán, và khả năng thanh toán

Trang 15

của bên mua trong lần giao dịch này như thế nào mà thôi.Tuy nhiên ,để đánh giáchính xác được khả năng trả nợ của bên mua,nhưng thông tin về họ là không nên

bỏ qua

Đối với sản phẩm cho vay thế chấp bằng tài sản có, ngân hàng bắt buộc phảitheo dõi hoạt động kinh doanh của bên mua, bên bán có minh bạch và hợp pháphay không Tuy nhiên, ngân hàng sẽ phần nào hạn chế được rủi ro khi nhận tàisản có của bên vay làm tài sản đảm bảo Trong trường hợp xấu nhất, thông quacác biện pháp đảm bảo tiền vay như công chứng đăng kí.… ngân hàng có thể xử

lý tài sản thế chấp để thu hồi vốn vay của ngân hàng

Do đó, khi áp dụng sản phẩm bao thanh toán hay cho vay thế chấp bằng tàisản có,ngân hàng sẽ dễ quyết định hơn trong việc ra quyết định có nên cấp tíndụng hay không

+ Khác nhau:

Bên cạnh những điểm giống nhau giữa sản phẩm bao thanh toán và sảnphẩm cho vay thế chấp bằng tài sản có, giữa hai loại sản phẩm này có khá nhiềuđiểm khác nhau tuỳ theo khía cạnh phân tích và nhận xét

Nhìn chung, vấn đề khác biệt giữa hai sản phẩm này được thể hiện ở nhữngđiểm sau:

Thứ nhất, khi áp dụng sản phẩm bao thanh toán, quyền sở hữu các khoảnphải thu được chuyển hoàn toàn cho đơn vị bao thanh toán Điều này đồng nghĩabên bán không còn quyền quyết định đối với khoản phải thu đó nữa Đơn vị baothanh toán sẽ trực tiếp theo dõi khoản phải thu, đôn đốc thu hồi nợ nhằm thu hồi

số tiền đã ứng trước cho bên bán, thu phí dịch vụ và hoa hồng như thỏa thuận.Ngược lại, khi áp dụng sản phẩm cho vay thế chấp bằng tài sản có, bên bánkhông chuyển quyền sở hữu khoản phải thu cho ngân hàng Lúc này, ngân hàngcũng chỉ đóng vai trò là người cấp tín dụng dựa trên tài sản đảm bảo (không phải

là khoản phải thu) Bên bán vẫn phải có trách nhiệm theo dõi công nợ, đôn đốc

và thu hồi các khoản phải thu khi đến hạn và hoàn trả vốn vay cho ngân hànghoặc ngân hàng áp dụng các biện pháp xử lý tài sản đảm bảo nhằm thu hồi vốn

Cụ thể cho sự khác biệt này, là ngoài lãi suất như thường lệ Sản phẩm baothanh toán yêu cầu bên bán phải nộp thêm một khoản phí trong khi cho vay bằngthế chấp tài sản lại không Nguyên nhân chính cho khoản phí có thêm đơn vịđược bao thanh toán và chấp nhận rủi ro cao hơn so với sản phẩm cho vay thếchấp bằng tài sản có

Thứ hai, “tài sản đảm bảo” trong sản phẩm bao thanh toán chỉ có thể làkhoản phải thu mà thôi Trong khi đó sản phẩm cho vay thế chấp bằng tài sản có

Trang 16

lại tài trợ cho hàng hoá và thiết bị, có nghĩa là “tài sản đảm bảo” trong hình thứcnày được mở rộng hơn so với sản phẩm bao thanh toán.

Thứ ba, so với sản phẩm cho vay bằng tài sản có, sản phẩm bao thanh toánngày càng phổ biến hơn và có nhiều tiềm năng hơn Đặc biệt, với xu hướng bánhàng trả chậm ngày càng phổ biến nên thị trường như hiện nay

Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc rất nhiều vào công nghệ ngân hàng vànền kinh tế mỗi quốc gia Đối với các quốc gia có nền kinh tế phát triển nền côngnghệ ngân hàng hiện đại, thì việc áp dụng sản phẩm bao thanh toán được áp dụngrộng rãi hơn so với cho vay bằng tài sản có, bởi sự nhanh chóng tiện lợi, an toàn,đơn giản và các đơn vị bao thanh toán có thể kiểm soát tốt các khoản phải thu.Trong khi đó, tại những quốc gia có nền kinh tế phát triển chưa cao, trình độdịch vụ ngân hàng còn nhiều hạn chế và phương thức thanh toán vẫn còn dungtiền mặt là chủ yếu thì sản phẩm cho vay thế chấp bằng tài sản có lại được ápdụng rộng rãi Sản phẩm này có tính an toàn cao hơn, hạn chế được nhiều rủi rocho ngân hàng, tuy nhiên sản phẩm lại mang tính rườm rà chậm chạp

Chính vì vậy, đứng trước sự phát triển của xã hội, nền kinh tế các nướccũng bắt đầu phát triển nhanh, trình độ dịch vụ ngân hàng phát triển nhanh sẽkhiến sản phẩm bao thanh toán phát triển mạnh mẽ và sản phẩm cho vay thế chấpbằng tài sản có sẽ được dung hòa hơn, bảo đảm cho nền kinh tế được vận hànhhiệu quả

b.So sánh bao thanh toán với chiết khấu hóa đơn

Trang 17

Bao thanh toán Chiết khấu hóa đơn

Đối tượng là các khoản phải thu Đối tượng là hối phiếu và các giấy tờ có

giáCác bên tham gia có quan hệ ràng buộc:

bên bán,bên mua và đơn vị bao thanh toán Các bên tham gia là bên bán và bên muacó quan hệ tài trợ mang tính độc lập và

có sự ràng buộc giữa 2 bênKhi bên bán gửi thông báo về hợp đồng

bao thanh toán cho bên mua,bên mua phải

xác nhận đồng ý thanh toán

Bên mua thường không được thông báo

về việc ngân hàng tài trợ khoản phải thucho bên bán

Đơn vị bao thanh toán sẽ quản lí sổ sách

bán hàng,theo dõi,thu khoản phải thu cho

bên bán hàng

Ngân hàng không quản lí sổ sách bánhàng mà là bên bán quản lí

Đơn vị bao thanh toán quản lí bên mua chặt

chẽ Ngân hàng không quản lí bên mua,ngườibán mới là người chịu trách nhiệm nàyViệc tài trợ cho bên bán có thể xét theo hạn

mức hoặc từng lần

Tài trợ cho bên bán thường theo phươngthức từng lần

Bên bán phải có tài khoản tại ngân hàng

( đơn vị bao thanh toán) Bên bán không nhất thiết phải có tàikhoản tại ngân hàng

c So sánh bao thanh toán với chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu

Bên nhập khẩu không cần làm các thủ

Đơn vị bao thanh toán sẽ cấp hạn mức

dựa trên uy tín và tiềm lực tài chính của

bên nhập khẩu

Cấp hạn mức dựa trên sự hoàn hảo của

bộ chứng từ và uy tín của ngân hàng

mở LCNhà xuất khẩu chịu phí bao thanh toán Nhà nhập khẩu chịu phí mở LC

Kiểm soát được năng lực và biến động

bên nhập khẩu thông qua tổ chức

Factors chain international

Ít kiểm soát được bên nhập khẩu

Không cần bận tâm về độ phù hợp của

d.So sánh bao thanh toán với 1 số loại hình tài trợ khác

Những khía cạnh mà bất kỳ người kinh doanh nào cũng quan tâm khi lựachọn một phương thức tài trợ và quản lý tín dụng thương mại là:

• Chi phí

• Rủi ro tín dụng

• Luồng tiền mặt

• Khả năng cạnh tranh

Trang 18

Sau đây là bảng phân tích một số phương thức thanh toán bao gồm: hốiphiếu, nhờ thu kèm chứng từ (bao gồm nhờ thu chấp nhận thanh toán D/A và nhờthu trả ngay D/P), tín dụng chứng từ L/C và bao thanh toán theo các khía cạnh ởtrên xét từ quan điểm của doanh nghiệp bán hàng.

Phương thức Chi phí Rủi ro tín

dụng

Tài trợ luồngtiền mặt

Khả năngcạnh tranhcủa người bán

Vậy, đối với người bán hàng, bao thanh toán là sự tổng hợp của bảo hiểmrủi ro tín dụng và tài trợ luồng tiền mặt.Tuy chi phí của nó là cao nhất trong sốcác phương thức nhưng vẫn mang lại cho người bán khả năng cạnh tranh cao vàcho người mua một phương thức thanh toán dễ chịu

Trên thực tế, việc lựa chọn một phương thức tài trợ và quản lý tín dụngthương mại phù hợp còn phụ thuộc vào đặc điểm của thị trường, đặc điểm củasản phẩm và thái độ của người bán đối với rủi ro, cũng như mong muốn mở rộngthị trường của người bán Ngoài ra, còn một yếu tố không nhỏ, đó là yêu cầu củangười mua Dĩ nhiên, nếu người bán đáp ứng được yêu cầu của người mua thìngười mua sẽ mua hàng nhiều hơn Tất nhiên là điều này có cái giá của nó.Đápứng được yêu cầu của người mua thì người bán phải chấp nhận rủi ro tín dụng Vấn đề quan trọng là,lựa chọn phương án nào sao cho đôi bên mua, bán cùng cólợi hoặc ít nhất cũng ở mức cả hai cùng hài lòng.Điều này sẽ giúp cho duy trìmối quan hệ thương mại bền lâu

1.2.2 Lợi ích và rủi ro khi sử dụng bao thanh toán.

a.Lợi ích khi sử dụng bao thanh toán

+ Đối với người bán

Thứ nhất, cải thiện dòng lưu chuyển tiền tệ do thu được tiền hàng nhanhchóng hơn Lượng tiền mặt sẵn có tại doanh nghiệp tăng lên,doanh nghiệp tránhđược tình trạng bị chiếm dụng vốn,điều đó góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuấtkinh doanh và làm đẹp hơn các con số trong báo cáo tài chính

Bao thanh toán là một quá trình chuyển hóa các khoản phải thu thành tiềnmặt Đối với bất kỳ một người bán nào, tiền mặt đáp ứng được khả năng thanh

Trang 19

khoản.Có tiền mặt, người bán có thể tồn trữ nhiều hàng hóa hơn, có tiền để trảlương cho công nhân viên Bao thanh toán không phân biệt khách hàng là ai, đó

có thể là một công ty may mặc, một cửa hàng bán công cụ, một nhà máy sản suất

ô tô, một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thương mại dịch vụ hay bất cứmột chủ thể nào của nền kinh tế Mỗi một đơn vị bao thanh toán, với sự hiểu biệttổng thể trong rất nhiều lĩnh vực, sẽ là một cộng tác đắc lực hỗ trợ cho công việclàm ăn của khách hàng ngày càng thuận lợi và phát triển hơn

Người bán có thể yên tâm vì các đơn vị bao thanh toán hoàn toàn có đủ uytín trên thị trường,đủ năng lực chuyên môn, hệ thống mạng lưới rộng khắp cũngnhư là sự hiểu biết cặn kẽ về từng lĩnh vực chuyên môn để có thể thực hiện tốtcông việc của mình

Ở một số tổ chức bao thanh toán chuyên nghiệp trên thế giới, người bánthậm chí có thể nhận được tiền ngay trong ngày đề nghị bao thanh toán Nói mộtcách khác các tổ chức bao thanh toán giúp người đáp ứng được nhu cầu tiền mặtngay khi giao hàng

Thứ hai, điều kiện cấp tín dụng thương mại dễ dàng, hấp dẫn làm tăng sứchút đối với các doanh nghiệp

Các tổ chức bao thanh toán sẽ hỗ trợ cho người bán nguồn lực tài chính để

mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, dự trữ thêm nhiều hàng tồn kho( nếu cầnthiết), cung ứng nhiều đơn hàng hay chỉ đơn thuần là có cơ hội để tìm kiếm cácmối làm ăn mới Các tổ chức bao thanh toán luôn khẳng định mình sẽ luôn sátcánh với khách hàng, thấu hiểu mọi nhu cầu của họ, và thiết lập một chương trình

hỗ trợ tài chính phù hợp để giúp đỡ các doanh nghiệp

Các doanh nghiệp thường rơi vào tình trạng càng phát triển kinh doanh thìlại càng thiếu tiền Khi đó, bao thanh toán sẽ là một trong những phương tiệnhiệu quả giúp họ vượt qua khó khăn này Người mua nào cũng mong muốn muahàng từ một người bán đưa ra giá thấp nhất mà lại có nguồn hàng dồi dàonhất.Họ có xu hướng chiếm dụng vốn của người bán Chính điều đó đã đẩyngười bán vào tình thế khó xử, càng phát triển lại càng phải bán chịu nhiều hơn

để giữ mối với khách hàng Nhưng không phải người bán nào cũng xoay xở đượcvới tất cả các khoản bán chịu đó Dù việc buôn bán có phát đạt đến thế đâunhưng để khách hàng chiếm dụng vốn quá nhiều cũng là một rủi ro đáng kể chocác doanh nghiệp

Các tổ chức bao thanh toán sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu được rủi ro nàybằng cách chuyển các hóa đơn chưa thu được tiền thành tiền mặt, nhờ đó màngười bán có thể tiếp tục cấp tín dụng thương mại cho người mua mà không cần

Trang 20

phải lo thiếu tiền hay bị chiếm dụng vốn nữa Hệ quả trực tiếp của việc này làngười bán nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình,giữ được các mối quan

hệ và làm ăn nhờ sẵn sàng chấp nhận khoảng thời gian bán chịu hấp dẫn ngườimua

Các tổ chức bao thanh toán cam kết tận dụng sự thông thạo trong lĩnh vựctín dụng, thu hồi nợ, cung ứng nguồn tiền mặt hay tài trợ giúp cho người bánnâng cao được hiệu quả hoạt động, vừa tăng doanh số vừa giảm được mất mát dokhông thu hồi được nợ, đồng thời cải thiện rõ rệt dòng lưu chuyển tiền tệ Dùphải trả cho đơn vị bao thanh toán những khoản phí nhưng khi thực hiện nghiệp

vụ này doanh nghiệp sẽ tránh đước những rắc rối như trên.Đơn vị bao thanh toán

sẽ thay doanh nhgieepj gánh chịu những vấn để đó.Do đó,người bán có thể toàntâm toàn ý tập trung vào việc sản xuất hay cung ứng hàng hóa

Nói tóm lại, người bán càng thêm có nhiều cơ hội làm ăn nhờ:

- Bán chịu cho người mua mà dòng lưu chuyển tiền tệ vẫn không bị ảnhhưởng

- Tăng doanh số

- Tăng tồn trữ hàng tồn kho( nếu cần thiết )

- Nâng cao tín nhiệm cũng như uy tín trên thị trường

- Tìm kiếm nhiều cơ hội làm ăn mới,giữ các mối quan hệ quan trọng

Thứ ba, nâng cao hiệu quả hoạt động nhờ chuyên môn hóa sản xuất

Các doanh nghiệp không chỉ lo sản suất kinh doanh mặt hàng chính yếu, họcòn phải mất thời gian quản lý các khoản phải thu từ người mua bởi không phảilúc nào người mua cũng thanh toán tiền ngay.Nếu doanh nghiệp sử dụng dịch vụbao thanh toán, việc lo thu hồi các khoản nợ sẽ được đơn vị bao thanh toán thựchiện thay Họ sẽ không còn phải tốn chi phí để duy trì và điều hành một bộ phậnchuyên trách việc xem xét khách hàng có đủ điều kiện mua chịu hay không, cũngnhư phải kiểm tra và thu hồi các khoản nợ nữa Với kinh nghiệm, nguồn lực vậtchất và nguồn nhân lực được đào tạo bài bản và chuyên sâu , các đơn vị baothanh toán sẽ giải quyết nhanh chóng, chuyên nghiệp và hiệu quả mọi vấn đề liênquan đến các hóa đơn và việc thu hồi nợ Có một câu châm ngôn rất hay của cácđơn vị bao thanh toán đó là “Hãy để chúng tôi làm những việc mà chúng tôi làmtốt nhất, còn bạn, hãy làm những việc mà bạn làm tốt nhất ! Chúng ta hãy cùng làđối tác tốt của nhau.”Họ sẽ làm công việc thu hồi các khoản nợ hộ còn ngườibán-các doanh nghiệp chỉ cần tập trung vào hoạt động sản suất kinh doanh!+ Đối với người mua

Trang 21

Cho tới thời điểm hiện nay,tín dụng chứng từ L/C vẫn là phương phápphương thức thanh toán quốc tế được chấp nhận phổ biến nhất trên thếgiới.Phương thức này bảo đảm rằng nhà xuất khẩu sẽ cung cấp hàng đúng nhưquy định trong hợp đồng hay đơn đặt hàng và nhà nhập khẩu sẽ thực hiện nghĩa

vụ thanh toán của mình khi xuất trình các chứng từ hợp lệ và nhận được hàng.Nhưng nếu trường hợp hàng đến chậm hay bị hư hại giữa đường vận chuyển thìL/C sẽ gây khó khăn rất lớn cho nhà nhập khẩu Nếu sử dụng bao thanh toánquốc tế, nhà nhập khẩu sẽ có những lợi ích sau đây:

- Được mua chịu hàng dễ dàng hơn

- Mua hàng không cần phải mở L/C,không cần đặt cọc,kĩ quỹ

- Tăng sức mua hàng mà vẫn không vượt quá hạn mức tín dụng chophép,không cần sử dụng các hạn mức tín dụng của doanh nghiệp

- Có thể nhanh chóng đặt hàng mà không bị trì hoãn, không tốn phí mởL/C, hay phí thương lượng và các phí khác

-Chỉ phải thanh toán khi đã nhận hàng,tránh được nguy cơ trả tiền rồi màbên bán không chuyển hàng hoặc chuyển hàng không đúng quy định

+ Đối với đơn vị bao thanh toán

Đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng:Thường thì các đơn vị bao thanh toán là cácngân hàng thương mại.Thông qua việc cung cấp dịch vụ bao thanh toán các ngânhàng sẽ đưa tới cho khách hàng nhiều sự lựa chọn hơn Qua đó cũng kết nốikhách hàng với ngân hàng,tạo ra lợi thế cạnh tranh với các ngân hàng khác cũnghoạt động trên địa bàn

- Phát triển mạng lưới khách hàng: Việc áp dụng nghiệp vụ bao thanh toán

sẽ giúp người tiêu dùng có nhiều sản phẩm mới hơn để lựa chọn Một khi baothanh toán tìm đúng nhu cầu của khách hàng thì dần dần sẽ tạo cho khách hàngthói quen sử dụng.Họ sẽ đến với ngân hàng nhiều hơn,quan hệ mật thiết hơn Đóchính là cơ sở giúp cho ngân hàng nói riêng tổ chức bao thanh toán nói chungphát triển được mạng lưới khách hàng của mình

- Gia tăng lợi nhuận: Bao thanh toán là một nghiệp vụ bổ sung cho hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng.Do đó,nếu hoạt động hiệu quả ngân hàng hayđơn vị bao thanh toán sẽ thu được các khoản phí và lãi, nhờ đó, gia tăng lợinhuận cho mình

+ Đối với quốc gia áp dụng bao thanh toán

Thứ nhất, việc áp dụng bao thanh toán thường xuyên và hiệu quả sẽ giúptăng cao lợi thế cạnh tranh và thu hút giao thương quốc tế trong điều kiện quốcgia đó còn nhiều hạn chế về luật pháp như luật thương mại,luật phá sản hay các

Trang 22

kinh nghiệm quản lý.Các doanh nghiệp nước ngoài sẽ yên tâm kinh doanh vớiđối tác mà quốc gia nơi đó có một dịch vụ giúp họ thu hồi được các khoản phảithu một cách an toàn hơn.

Đặc biệt là trong hoạt động thương mại quốc tế, các bên bán-nhà xuất khẩurất hạn chế giao dịch đối với bên mua tại các quốc gia mà có luật thương mại yếukém không rõ ràng Điều này cũng đồng nghĩa với sự phát triển của quốc gia đó

sẽ gặp nhiều trở ngại, sự hấp dẫn đầu tư cũng giảm sút

Thứ hai, bao thanh toán đem lại lợi thế đối với việc tài trợ các khoản phảigiữa các quốc gia

Trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hóa như hiện nay thì việc trao đổi muabán giữa các quốc gia, giữa các công ty của quốc gia này với các công ty củaquốc gia khác là điều tất yếu và thường xuyên xảy ra,Có nhiều công ty đa quốcgia với chi nhánh kéo dài đến hàng trăm nước Thông qua sản phẩm bao thanhtoán, những quốc gia của bên xuất khẩu có thể tăng cường tài trợ trực tiếp chodoanh nghiệp xuất khẩu để một mặt tăng cường phát triển kinh tế nhưng mặtkhác cũng đồng thời đảm bảo nguồn thu ngoại tệ cho đất nước

b.Rủi ro khi sử dụng bao thanh toán

Bao thanh toán tuy có nhiều lợi ích nhưng không phải không mang lạinhững rủi ro

+ Rủi ro từ phía người bán

Một là, rủi ro xuất hiện do người bán cố tình gây ra Có thể khách hàng vìmột mục đích không trung thực nào đó trong hoạt động mà dẫn đến những rủi rocho tổ chức bao thanh toán

Hai là, rủi ro xảy ra do năng lực yếu kém của bên bán về mặt quản lý, sảnxuất, chiến lược phát triển… Từ đó, kéo theo sản phẩm của bên bán không đủhay không đạt yêu cầu, không đáp ứng được chất lượng đề ra.Thế nhưng khi báncho người mua,bằng cách này hay cách khác mà họ đã làm người mua tin tưởng

và chấp nhận hàng hóa.Sau đó,họ sẽ thu tiền từ đơn vị bao thanh toán Và nhưthế, giá trị các khoản phải thu theo hợp đồng mua bán đã ký lại nhỏ hơn giá trịứng trước của đơn vị bao thanh toán đã cấp cho bên bán Những tổn thất ởđây,đơn vị bao thanh toán đều phải gánh chịu

+ Từ phía người mua:

Năng lực tài chính và đạo đức của người mua sẽ là yếu tố quan trọng trongviệc tổ chức bao thanh toán có thu được các khoản phải thu một cách dễ dànghay không Do bên mua và bên bán trao đổi hàng hóa và mau bán vớinhau,không liên quan đến đơn vị bao thanh toán nên sẽ rất khó khăn cho đơn vị

Trang 23

bao thanh toán trong quá trình tiếp cận với bên mua Nếu như bên mua đã có chủ ýxấu với bên bán thì việc đơn vị bao thanh toán thực hiện nghiệp vụ của mính cũngđồng nghĩa với việc họ đã mua lại rủi ro Trong hoạt động tín dụng nói chung, rủi rođạo đức là rủi ro khó lường và thường gây ra những hậu quả rất xấu, mất thời gian

và tốn nhiều chi phí

+ Từ phía đơn vị bao thanh toán

Dưới góc độ là tổ chức thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán, các tổ chức tíndụng phải thực sự hiểu và giám sát các khoản phải thu Tuy vậy, việc xem xétđánh giá khách hàng bên mua cũng là cả một quá trình, đây là rủi ro xuất hiệntrong quá trình thẩm định Nguyên nhân có thể do trình độ cán bộ thẩm định yếuhoặc thẩm định không kỹ

Như vậy nhìn chung,rủi ro trong hoạt động bao thanh toán đến từ tất cả cácđối tượng tham gia.Có thể tổng kết lại một số rủi ro điển hình như sau:

Thứ nhất là rủi ro về tín dụng: tương tự như trong hoạt động ngân hàng,rủi

ro tín dụng trong hoạt động bao thanh toán là rủi ro do mất khả năng thanh toáncủa cả bên bán và bên mua

Khi người bán chuyển nhượng khoản phải thu cho đơn vị bao thanhtoán,đơn vị bao thanh toán sẽ chịu trách nhiệm cũng như lợi ích được chuyểngiao từ bên bán.Họ sẽ hưởng lợi từ việc người mua thanh toán khoản phải thu.Đó

là phí dịch vụ,đó là hoa hồng Nhưng đi kèm với những quyền lợi đó,đơn vị baothanh toán cũng đồng thời sang nhận luôn rủi ro liên quan đến khoản phải thuđó.Nếu người mua phá sản hoặc mất khả năng thanh toán,nếu bao thanh toán làmiễn truy đòi,đơn vị bao thanh toán sẽ phải thanh toán cho bên bán 100% giá trịkhoản phải thu ( trừ đi phí bao thanh toán,hoa hồng và phí khác ).Ở đây khônggiống như bảo hiểm rủi ro tín dụng,các công ty bảo hiểm chỉ thanh toán chongười bán một tỷ lệ phần trăm nhất định trên giá trị đối tượng bảo hiểm,còn cácđơn vị bao thanh toán sẽ phải chấp nhận 100% rủi ro khi người mua không thểhoàn thành nghĩa vụ của mình

Rủi ro tín dụng cũng có thể đến từ người bán.Khi thực hiện hợp đồng baothanh toán,đơn vị bao thanh toán sẽ cấp cho bên bán một số tiền ứng trước.Việcnày giống như cấp một khoản tín dụng ngắn hạn với tài sản đảm bảo là khoảnphải thu.Nếu xảy ra tranh chấp giữa người bán và người mua thì người mua sẽkhông phải thực hiện thanh toán cho đến khi tranh chấp được giải quyết.Lúc nàyngười bán phải trả lại cho đơn vị bao thanh toán số tiền ứng trước.Trong trươnghợp người bán mất khả năng thanh toán,rủi ro sẽ xảy đến với ngân hàng

Trang 24

Thứ hai là rủi ro gian lận:Nghĩa là rủi ro mà hóa đơn được bao thanh toán( có ứng trước) không có giá trị pháp lý.Điều đó dẫn tới đơn vị bao thanh toánkhông thể thu được nợ từ bên mua.

Đơn vị bao thanh toán sẽ căn cứ vào đâu để xác định khoản phải thu là cóthật? Trên thực tế,người bán sau khi giao hàng sẽ ký phát hóa đơn đòi tiền ngườimua và gửi cho đơn vị bao thanh toán một bản sao của hóa đơn Tại các quốc giaphát triển, các đơn vị bao thanh toán sử dụng hệ thống phần mềm có kết nối quamạng, cho phép người bán chỉ cần truy cập vào hệ thống đó để gửi thông tin vềhóa đơn được chuyển nhượng qua một bản tin điện tử (electronic messages).Phần lớn các gian lận có thể xuất phát từ đây Khi gặp khó khăn về tài chính,người bán có thể ký phát hóa đơn đòi tiền người mua trước khi thực sự giao hànghoặc thậm chí ký phát những hóa đơn hoàn toàn không có thật để nhận được tiềnứng trước từ đơn vị bao thanh toán.Nếu đơn vị bao thanh toán không lường trướcđược điều này,mọi hậu quả họ đều phải gánh chịu

Thứ ba là rủi ro thu hồi nợ: Rủi ro thu nợ là rủi ro đơn vị bao thanh toánkhông thể thu được nợ đúng hạn và hiệu quả

Đơn vị bao thanh toán có thể gặp phải rủi ro này nếu họ cung cấp dịch vụbao thanh toán cho các mặt hàng được bán theo phương thức ký gửi, hoặc hànghóa cần được lắp đặt, hoặc hàng hóa có điều khoản bảo hành cho phép ngườimua có quyền yêu cầu người bán mua lại hoặc phải giảm giá nếu hàng hóa khôngđáp ứng được những yêu cầu nhất định… Trong những trường hợp này, đơn vịbao thanh toán có khả năng không thu được nợ hoặc thu được không đầy đủ dongười mua khấu trừ vào tiền thanh toán Mặt khác, nếu người bán sử dụng cáckhoản phải thu làm tài sản đảm bảo cho các khoản vay khác, đơn vị bao thanhtoán có thể mất quyền đòi nợ của mình

Ngoài ra, nếu cung cấp dịch vụ bao thanh toán cho những hàng hóa thườnggiao dịch với số lượng nhỏ, để không làm phật ý khách hàng,đơn vị bao thanhtoán vẫn phải thực hiện những hợp đồng này.Do đó,đơn vị bao thanh toán sẽ phảităng một số chi phí như chi phí thu nợ và điều này sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuậncủa họ

Thứ tư là rủi ro trong thanh khoản:Đơn vị bao thanh toán có thể gặp khókhăn về tính thanh khoản khi luồng tiền ra và luồng tiền vào của đơn vị khôngtương xứng, cả về lượng và thời gian Khi đó họ sẽ không thể ứng trước chongười bán cho đến khi thu được nợ

Thứ năm là rủi ro ngoại hối:

Trang 25

Đây là rủi ro xảy ra đối với những đơn vị thực hiện bao thanh toán quốc tế.Khi ứng trước cho người bán hoặc khi thu nợ từ người mua bằng ngoại tệ, lợinhuận của đơn vị bao thanh toán có thể bị ảnh hưởng khi tỷ giá hối đoái thay đổi

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động bao thanh toán

1.3.1 Các nhân tố khách quan

a.Môi trường kinh tế vĩ mô

Trình độ phát triển của nền kinh tế: Bao thanh toán là một dịch vụ tiệnlợi,có nhiều ưu điểm.Nhìn chung bao thanh toán phát triển mạnh mẽ trong giaiđoạn thương mại quốc tế hoạt động sôi nổi.Trong điều kiện kinh tế thế giới hiệnnay,với xu thế toàn cầu hóa,khu vực hóa bao thanh toán lại càng có cơ hội được

áp dụng nhiều hơn.Tuy nhiên,các nước không phải có điều kiện kinh tế tươngđồng.Có nhiều nước có nền kinh tế phát triển mạnh,hoạt động trao đổi buôn bánvới thế giới diễn ra tấp nập,đó chính là những nước mà bao thanh toán được thựchiện nhiều nhất.Ở những nước này,bao thanh toán phát triển đòi hỏi phải có chấtlượng cao và hoàn hảo và thực sự là một dịch vụ đem lại nhiều ích lợi.Ngượclại,ở những nước có nền kinh tế kém phát triển hơn,bao thanh toán lại bị xemnhẹ.Có những nơi dịch vụ này còn chưa xuật hiện hoặc đã xuất hiện nhưng pháttriển rất chậm chạp.Nguyên nhân xuất phát từ sự yếu kém của nền kinh tế nộitại.Họ đã quen với những sản phẩm truyền thống nên ngại đưa sản phẩm mới vàokinh doanh.Trình độ hiểu biết còn hạn hẹp và ít có khách hàng có nhu cầu sửdụng dịch vụ

b.Môi trường pháp lý:

Môi trường pháp lý là một yếu tố quan trọng là điều kiện căn bản và thiếtyếu cho một sản phẩm mới được đưa vào sử dụng.Qua thực trạng pháp luật củamột nước có thể biết được một cách tương đối sản phẩm đó được cho áp dụngđến mức nào,có được khuyến khích hay hạn chế phát triển.Bao thanh toán cũngvậy,ở một số nước mà hoạt động này diễn ra sôi nổi,các văn bản pháp quy liênquan đều rất rõ ràng mạch lạc.Quyền và nghĩa vụ của các đối tượng tham gia, chếtài sử dụng khi vi phạm đều rất minh bạch.Ngoài ra nó còn kết hợp một cáchkhéo léo với các luật về điều chỉnh các hoạt động của ngân hàng,đơn vị cung cấpdịch vụ bao thanh toán chính Đối với các nước mà môi trường pháp lý còn yếukém,văn bản ban hành hướng dẫn còn chưa đầy đủ thì dịch vụ bao thanh toán hầunhư rất chậm phát triển,thậm chí bị đóng băng

c.Nhu cầu khách hàng sử dụng dịch vụ

Trang 26

Một quy luật đơn giản là có cầu mới có cung,các đơn vị mong muốn thựchiện bao thanh toán phải có nhu cầu,tức là họ nhận thấy được lợi ích,tầm quantrọng của bao thanh toán thì họ sẽ tìm đến với nhà cung ứng,tức các đơn vị cungcấp dịch vụ này.Tất nhiên,điểu này còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác nhưnăng lực hiện tại của bên cầu.Đó có thể là trình độ quản lý của doanhnghiệp.trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như công nghệ sử dụng trong quảntrị điều hành của doanh nghiệp.

Cụ thể ,xem xét với doanh nghiệp bán hàng và doanh nghiệp mua hàng.+ Các nhân tố về phía bên bán hàng

Bao thanh toán có thể coi là một nghiệp vụ đặc biệt của tín dụng ngân hàng

và doanh nghiệp bán hàng chính là một khách hàng vay vốn với điều kiện đảmbảo cho khoản vay là các khoản phải thu của khách hàng của họ Với tư cách làngười đi vay, bên bán có thể dẫn ra rất nhiều lý do để vay được tiền Điều nàycũng đồng nghĩa với việc có nhiều rủi ro có thể xảy ra từ phía họ, ảnh hưởng tớiviệc thực hiện bao thanh toán của ngân hàng

-Chất lượng sản phẩm: chất lượng sản phẩm hàng hóa là một yếu tố hết sứcquan trọng trong hoạt động trao đổi mua bán Nếu hàng hóa không đạt yêu cầu,không đáp ứng được chất lượng như trong hợp đồng sẽ dẫn tới giá trị các khoảnphải thu theo hợp đồng mua bán đã ký có thể nhỏ hơn giá trị ứng trước của ngânhàng bao thanh toán.Lúc đó, đơn vị bao thanh toán sẽ hứng chịu một khoảnlỗ,điều này làm ảnh hưởng một cách căn bản đến lợi ích của ngân hàng

-Lịch sử thu tiền hàng của bên mua: khả năng thu được tiền hàng của bênbán hàng phụ thuộc vào mối quan hệ với bên mua, vị thế của hàng hóa Nếu bênmua hàng có quan hệ gắn bó, tin cậy với bên bán, hàng hóa trao đổi là hàng hóađặc thù thì khả năng thu tiền hàng đúng hạn của bên mua sẽ cao hơn Dựa vàolịch sử thu tiền hàng của bên bán, ngân hàng có thể đánh giá được một phần rủi

ro của hoạt động bao thanh toán

-Độ tin cậy của chứng từ: trong nghiệp vụ bao thanh toán người bán lànhững người sử dụng hóa đơn, chứng từ mua bán để lấy nó làm tin thuyết phụcngân hàng thực hiện dịch vụ.Rất có khả năng họ sẽ sử dụng các tiểu sảo như hợp

lý hóa hóa đơn chứng từ, tạo ra các hợp đồng ma, đội giá hợp đồng… Điều nàycũng có thể xảy ra do bên mau và bên bán thông đồng với nhau để tạo ra cácchứng từ hợp lý hợp lệ hoặc tạo khống các khoản phải thu trên giấy tờ

+ Các nhân tố về phía bên mua hàng

Khi thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán, việc thu nợ được chuyển từ bênbán sang ngân hàng Sau khi các bên đã ký kết xong hợp đồng bao thanh toán và

Trang 27

nhận các hồ sơ cần thiết, ngân hàng sẽ nhận trách nhiệm thu nợ và chịu rủi rothay bên bán Các nghĩa vụ trách nhiệm giờ bên mua phải thực hiện đối với ngânhàng.Mọi giao dịch phát sinh chủ yếu giữa ngân hàng và bên mua,sẽ chịu ảnhhưởng của các nhân tố sau:

-Năng lực tài chính của bên mua: tình hình tài chính của bên mua sẽ quyếtđịnh việc họ có trả được nợ cho ngân hàng hay không Nếu bên mua có cán cântài chính không tốt, nợ phải trả so với vốn chủ và tài sản cao, trong khi chính cáckhoản phải thu của họ cũng khó đòi hoặc nhỏ hơn nhiều so với các khoản phải trảthì rõ rang họ đang gặp khó khăn về tài chính,khó mà trả nợ cho ngân hàng Lúcnày ngân hàng sẽ gặp phải các vấn đề về nợ quá hạn, nợ khó đòi, phát sinh thêmchi phí và gặp phải rủi ro không đòi được nợ

-Uy tín và đạo đức của bên mua hàng: Hợp đồng mua bán xảy ra giữa bênmua và bên bán,ngân hàng chỉ làm dịch vụ thu hồi nợ hộ,nghĩa là có rất ít thôngtin về bên mua Điều này gây rủi ro rất lớn cho ngân hàng Mặc dù mô hình hai

tổ chức bao thanh toán có thể hạn chế được rủi ro này nhưng vấn đề uy tín và đạođức của bên mua là một yếu tổ quan trọng cần xem xét khi thực hiện bao thanhtoán

1.3.2 Nhân tố chủ quan về phía ngân hàng thương mại

a.Năng lực thẩm định của ngân hàng: Là một tổ chức thực hiện nghiệp vụbao thanh toán, ngân hàng cần phải thực sự hiểu và đánh giá được chất lượng cáckhoản phải thu của khách hàng, đồng thời phải giám sát tốt các khoản phải thu.Việc xem xét, đánh giá khách hàng là cả một quá trình thẩm định đòi hỏi các yêucầu cao về sự chính xác và năng lực, trình độ của các cán bộ tín dụng

b.Phạm vi trách nhiệm trong bao thanh toán: đối với nghiệp vụ bao thanhtoán, ngân hàng có thể thực hiện dưới hai hình thức là truy đòi và miễn truy đòi.Điều này có thể làm giảm bớt một phần rủi ro cho ngân hàng trong thực hiệnnghiệp vụ Tuy nhiên,ở đây cần sự đánh đổi.Thực hiện bao thanh toán truy đòicũng đồng nghĩa với việc đánh đổi rủi ro và lợi nhuận trong hoạt động của ngânhàng.Rủi ro giảm xuống nhưng lợi nhuận thì bị ít đi

c.Năng lực marketing: hiện nay trên thế giới, nghiệp vụ bao thanh toán đã pháttriển mạnh và được nhiều doanh nghiệp sử dụng,nhất là ở các nước phát triển Vìvậy, để thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ này, ngân hàng cần phải có những biệnpháp marketing thích hợp để khách hàng thấy được tiện ích của hoạt động bao thanhtoán của ngân hàng vì sự cạnh tranh trong lĩnh vực này là rất lớn Một chiến lượcmarketing thích hợp sẽ tạo ra sức bật và lợi thế của ngân hàng trước đối thủ cạnhtranh

Trang 28

1.3.3 Các nhân tố khác

Rủi ro từ phía ngân hàng bảo lãnh: Trong nghiệp vụ bao thanh toán quốc tế,đòi hỏi phải có một ngân hàng tham gia bảo lãnh cho thương phiếu của nhà nhậpkhẩu Mặc dù ngân hàng thực hiện bao thanh toán được quyền lựa chọn có chấpnhận ngân hàng bảo lãnh hay không, nhưng sự khác biệt về quốc gia cũng có thểdẫn đến những rủi ro như: thanh toán chậm, mất chứng từ…hoặc ngân hàng bảolãnh có thể gặp rủi ro thanh khoản trong khi nhà xuất khẩu không trả được nợ.Ngoài ra, hoạt động bao thanh toán quốc tế diễn ra giữa nhà nhập khẩu vàxuất khẩu ở hai nước khác nhau vì thế bất cứ sự khác biệt nào về luật pháp, sựbiến động về chính trị, kinh tế ở những quốc gia này cũng có thể dẫn đến tranhchấp, biến động tỷ giá, lãi suất gây bất lợi cho giao dịch bao thanh toán

Trang 29

Chương 2: Thực trạng hoạt động bao thanh toán tại ngân hàng đầu tư

và phát triển Việt Nam chi nhánh Hai Bà Trưng.

2.1 Khái quát về ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam chi nhánh Hai

Bà Trưng

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của BIDV chi nhánh Hai Bà trưng

Chi nhánh BIDV Hai Bà Trưng được thành lập vào ngày 03/10/2008 tại số

10, phố Trần Đại Nghĩa, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội trên cơ sở số HĐQT của Chủ Tịch hội đồng quản trị Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Namngày 19/09/2008 BIDV Hai Bà Trưng lúc mới thành lập có 80 cán bộ, đượctrang bị đầy đủ thiết bị công nghệ tin học, viễn thông, thiết bị an ninh an toàntrong tác nghiệp theo đúng chuẩn mực quy định của Ngân hàng Nhà nước và Hội

718/QĐ-sở chính của BIDV BIDV Hai Bà Trưng được thành lập với mục đích tận dụnglợi thế nơi cửa ngõ phía Tây và phía Nam Hà Nội,phố Trần Đại Nghĩa là con phốmới được đưa vào sử dụng được mệnh danh là tuyến phố ngân hàng,nơi nhiềunhà đầu tư lớn trong và ngoài nước đặt nhiều công ty, khách sạn, nhà hàng, cơ sởkinh doanh, trường học, phù hợp với xu hướng mở rộng bán lẻ của BIDV

Là một trong những chi nhánh mới của BIDV ra đời vào năm 2008, vớiđiểm xuất phát rất thấp, trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và quốc tế chịuảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, liên tục diễn biến phức tạp, tráichiều, chi nhánh BIDV Hai Bà Trưng gặp rất nhiều khó khăn trước sức ép của thịtrường, mức độ cạnh tranh gay gắt đến từ các ngân hàng khác hoạt động cùng địabàn, do quy mô nhỏ bé, thị trường hẹp, nền khách hàng mỏng… Bên cạnh đó,các chi phí cho hoạt động kinh doanh lớn, các nguồn thu khác lại giảm mạnh sovới dự kiến kế hoạch tài chính ban đầu khi thành lâp Tuy nhiên sau hơn 2 nămhoạt động, với sự nỗ lực đáng khen,chi nhánh đã hoàn thành kế hoạch được giao,vượt qua giai đoạn đầy chông gai và vững bước trên con đường phát triển chungcủa BIDV BIDV Hai Bà Trưng đã và đang từng bước khẳng định được vịthế,tầm quan trọng của mình không chỉ trong hệ thống BIDV toàn quốc mà còntrong toàn bộ hệ thống ngân hàng

Trang 30

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của BIDV Hai Bà Trưng.

Nguồn:Báo cáo tổng kết BIDV Hai Bà Trưng 2010

2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ chính của các phòng, tổ tại chi nhánh BIDV Hai Bà Trưng.

Trang 31

+ Thực hiện công tác quản lý tín dụng: Quản lý, giám sát, phân tích, đánhgiá rủi ro đối với danh mục tín dụng của chi nhánh; Trình lãnh đạo cấp tíndụng/bảo lãnh cho khách hàng; Giám sát và tổng kết việc phân loại nợ và tríchlập dự phòng rủi ro; Thực hiện việc xử lý nợ xấu.

+ Tham mưu, đề xuất xây dựng các quy định, biện pháp quản lý rủi ro tíndụng; Phối hợp, hỗ trợ phòng quan hệ khách hàng để phát hiện xử lý nợ có vấnđề; Chịu trách nhiệm về vận hành, thực hiện kiểm tra, giám sát hệ thống quản lýrủi ro của chi nhánh

+ Thực hiện các công tác quản lý rủi ro tác nghiệp, phòng chống rửa tiền,quản lý hệ thống chất lượng ISO và thực hiện công tác kiểm tra nội bộ

Trực tiếp quản lí tài khoản và giao dịch với khách hàng cá nhân

Quản lí và vận hành hệ thống máy ATM,POS

e) Phòng quản lí và dịch vụ kho quỹ

+Trực tiếp thực hiện nghiệp vụ về quản lí kho và tổ chức xuất nhập bảoquản vận chuyển tiền,tài sản quý và giấy tờ có giá

+Theo dõi tổng hợp ,lập báo cáo tiền tệ,an toàn kho quỹ theo quy địnhf) Phòng kế hoạch tổng hợp

+ Công tác kế hoạch tổng hợp: Thu thập thông tin, tham mưu, xây dựng kếhoạch phát triển và kế hoạch kinh doanh; Tổ chức triển khai, theo dõi tình hìnhthực hiện kế hoạch kinh doanh; Giúp việc giám đốc quản lý, đánh giá tổng thểhoạt động kinh doanh của chi nhánh

+ Công tác nguồn vốn: Đề xuất và tổ chức thực hiện điều hành nguồn vốn;Trực tiếp thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ; Giới thiệu các sản phẩm huyđộng vốn, sản phẩm kinh doanh ngoại tệ với khách hàng; Hỗ trợ các bộ phậnkinh doanh khác để bán sản phẩm, cung cấp thông tin thị trường, giá vốn; Chịu

Trang 32

trách nhiệm quản lý các hệ số an toàn trong hoạt động kinh doanh, đảm bảo vềkhả năng thanh toán, trạng thái ngoại hối của chi nhánh.

g) Phòng tài chính kế toán

+ Quản lý và thực hiện công tác hạch toán kế toán chi tiết, kế toán tổng hợp;Thực hiện công tác hậu kiểm đối với hoạt động tài chính kế toán của chi nhánh(bao gồm cả các phòng giao dịch); Thực hiện nhiệm vụ quản lý, giám sát tàichính; Thực hiện quản lý thông tin khách hàng

+ Đề xuất tham mưu với Giám đốc chi nhánh về việc hướng dẫn thực hiệnchế độ tài chính, kế toán, xây dựng chế độ, biện pháp quản lý tài sản, định mức

và quản lý tài chính

h) Phòng tổ chức hành chính

+ Công tác tổ chức nhân sự: Đầu mối tham mưu, đề xuất, giúp việc Giámđốc về triển khai thực hiện công tác tổ chức – nhân sự và phát triển nguồn nhânlực tại chi nhánh

+ Công tác hành chính: Thực hiện công tác văn thư; Đầu mối tổ chức hoặcđại diện chi nhánh trong quan hệ giao tiếp, đón tiếp các tổ chức, cá nhân trong vàngoài hệ thống BIDV; Kiểm tra, giám sát, tổng hợp, báo cáo về việc chấp hànhcác nội quy lao động, nôi quy cơ quan…; Xây dựng, thông báo chương trìnhcông tác và lịch làm việc của ban Giám đốc đến các đơn vị liên quan; Đầu mốitriển khai thực hiện công tác phục vụ các cuộc họp, hội nghị do chi nhánh tổchức hoặc do BIDV giao cho chi nhánh tổ chức; Tham mưu, đề xuất xây dựngnội quy, quy chế về công tác văn phòng và các biện pháp quản lý hành chính cơquan

+ Công tác quản trị, hậu cần: Thực hiện công tác tham mưu, quản lý, khaithác, sử dụng tài sản của chi nhánh; Đảm bảo điều kiện vật chất đầy đủ và môitrường làm việc an toàn, văn minh, sạch đẹp cho toàn chi nhánh

Trang 33

2.1.4 Hoạt động kinh doanh của BIDV Hai Bà Trưng trong thời gian qua.

a) Tổng tài sản

Cuối năm 2010 đạt 1.089 tỷ đồng, tăng trưởng 64.5% so với cuối năm 2009.Tốc độ tăng trưởng chủ yếu tập trung ở tăng chỉ tiêu là huy động vốn.Điều này cóthể giải thích vì đây là giai đoạn nền kinh tế bắt đầu phục hồi sau ảnh hưởng củacuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu

b) Huy động vốn

Huy động vốn là một nghiệp vụ bắt buộc đối với bất cứ một ngân hàngthương mại nào.Thường thì vốn tự có của ngân hàng chỉ chiếm một phần rất nhỏtrong tổng nguồn vốn,không thể đáp ứng đủ được nhu cầu cho vay của nền kinhtế.Do đó,điều bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại là họ phải tìm mọi cách

để huy động được nguồn vốn nhàn rỗi từ trong dân cư,từ các tổ chức kinh tế,rồi

sử dụng các nguồn vốn đó để cho vay,tức là hoạt động đầu tư vào nên kinh tếthông qua hình thức tín dụng

Trong hai năm qua BIDV chi nhánh hai bà trưng luôn quan tâm sát sao vàđặt công tác huy động vốn lên làm một trong những nhiệm vụ trọng tâm tronghoạt động của mình

Năm 2010 chi nhánh đạt tăng trưởng tốt trong công tác huy động vốn, đạt

1068 tỷ đồng, tăng 767 tỷ đồng so với năm 2009, tương ứng tăng trưởng 255%.Huy động vốn bình quân năm 2010 đạt 750 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch

Về cơ cấu loại tiền: tiền VNĐ chiếm xấp xỉ 87.5%, tiền gửi 12 tháng trởlên chiếm 33%

Về cơ cấu đối tượng khách hàng: nguồn huy động dân cư chiếm 33%; tổchức kinh tế chiếm 25%; định chế chiếm 42%

Trong điều kiện nến kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn,kinh tế Việt Nam nổilên với 3 vấn đề:lạm phát,tỷ giá và lãi suất,BIDV Hai Bà trưng phải đối diện vớinhiều thách thức như việc mở rộng quy mô của các ngân hàng trên cùng địabàn,chạy đua lãi suất của các ngân hàng thương mại cổ phần hay việc giảm trầnlãi suất của ngân hàng nhà nước Để bảo đảm tăng trưởng cũng như giữ được sự

an toàn về vốn,cán bộ công nhân viên BIDV chi nhánh hai Bà Trưng luôn chútrọng công tác tuyên truyền,tiếp thị,tích cực tìm kiếm khách hàng mới,củng cốmối quan hệ với các khách hàng lớn,khách hàng truyền thống Chính vì làm tốtnhững công tác ấy mà cho đến nay tuy mới chỉ đi vào hoạt động trong một thờigian ngắn ,BIDV Hai Bà Trưng đã xây dựng được một vị trí khá tin cậy,1 điểmđến ưa thích của các khách hàng dù là khối dân cư hay là khối doanh nghiệp,từ

Trang 34

đó tạo nên một lượng khách hàng gửi tiền truyền thống khá vững chắc ,gắn bóvới chi nhánh.Đây là nguồn vốn có tính ổn định cao,mức độ biến động ảnhhưởng đến kết quả huy động vốn không quá lớn.

c) Dư nợ tín dụng

Đến 31/12/2010 dư nợ tín dụng đạt 415 tỷ đồng, tăng 857.5% so với năm

2009 trong đó dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất là 186 tỷ đồng, chiếm 45% Dư nợbình quân năm 2010 là 219 tỷ đồng

Về cơ cấu loại tiền: dư nợ bằng VNĐ chiếm 93% tổng dư nợ

và chuẩn hóa các văn kiện tín dụng… một mặt theo sát diễn biến thị trường, chođến tháng 10/2010 khi các điều kiện về thị trường, khách hàng tương đối chínmuồi chi nhánh mới tăng trưởng dư nợ, tập trung giải ngân những khách hàng,

dự án được đánh giá là khả thi

Chi nhánh đã chủ động xây dựng các kịch bản tăng trưởng , các cơ cấu tíndụng, đồng thời với đó cũng thực hiện công tác bám sát khách hàng để đôn đốcthu hồi nợ,tránh để xảy ra phát sinh các khoản nợ xấu.Đến 31/12/2010 chi nhánh

đã có một cơ cấu tín dụng và chất lượng tín dụngtương đối khả quan như sau:

- Về chất lượng tín dụng:

+ Nợ xấu (thuộc nợ nhóm 3, chi nhánh không có nợ nhóm 4, nhóm 5)chiếm 0,38% tổng dư nợ Số nợ xấu này do chi nhánh giải ngân 900.000 USDđối với khách hàng xếp tín dụng loại B, không phải do chất lượng nợ suy giảm.+ Nợ nhóm 2 chiếm 17,5% nằm trong giới hạn hội sở chính giao (20%)+ Chi nhánh không có nợ quá hạn

+ Dư lãi treo là 210 triệu đồng, chiếm 0,05% tổng dư nợ

- Về cơ cấu tín dụng:

+ Tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo chiếm 69% (tăng 105% so với cuối năm2009)

Trang 35

+ Tỷ trọng cho vay trung và dài hạn chiếm 50% (tăng 147% so với cuối năm2009)

+ Tỷ trọng dư nợ ngoài quốc doanh chiếm 90% (tăng 89% so với cuối năm 2009)+ Tỷ trọng cho vay bán lẻ chiếm 17%

Đặc biệt chi nhánh luôn bám sát định hướng mô hình bán lẻ nên tỷ trọngnày thường xuyên duy trì ở mức 25% - 30% trên tổng dư nợ

d) Thu dịch vụ ròng

Tổng thu dịch vụ ròng trong năm 2010 chi nhánh đạt xấp xỉ 3.95 tỷ đồng,trong khi năm 2009 là 0,243 tỷ đồng, tính bình quân theo tháng năm 2010 tănggấp 4 lần Cơ cấu tập trung ở dịch vụ thanh toán (chiếm 30%), tài trợ thương mại(chiếm 22.5%) và bảo lãnh (chiếm 22%)

Tuy nhiên, trong năm 2010 do khó khăn về nguồn ngoại tệ nên ảnh hưởnglớn đến doanh số tài trợ thương mại, kinh doanh ngoại tệ của chi nhánh Dịch vụbảo lãnh mới tập trung ở một số ít khách hàng như công ty xây dựng công trình

656, CTCP LILAMA3, công ty thiết bị y tế Hồng Hà… Đồng thời do là chinhánh mới nên chi nhánh áp dụng các chính sách khách hàng miễn, giảm phí đểthu hút khách hàng nên tổng thu dịch vụ còn hết sức khiêm tốn Số lượng kháchhàng cá nhân sử dụng tài khoản tiền gửi thanh toán tăng 1.500 khách hàng, sửdụng dịch vụ mobile banking tăng 750 khách hàng so với năm 2009

Về dịch vụ thẻ, tổng số thẻ ghi nợ nội địa chi nhánh phát hành trong năm

2010 đạt 1.700 thẻ và thẻ visa đạt 12 thẻ Kể cả với đặc thù là chi nhánh đầu mốitiếp quỹ tập trung trên địa bàn Hà Nội , được quản lý 82 máy ATM nhưng phần

Trang 36

dịch vụ thu phí qua ATM rất khiêm tốn, khoảng 300 triệu đồng năm 2010 (baogồm cả nguồn thu thanh toán banknet và thanh toán thẻ visa).

Đặc biệt, quán triệt chỉ đạo của hội sở chính về bán chéo sản phẩm, tậndụng tối đa lợi thế để phát triển sảm phẩm bảo hiểm của BIC nên trong năm 2010chi nhánh đạt doanh thu khai thác phí bảo hiểm là 1,65 tỷ đồng, vượt 65% kếhoạch và thu phí hoa hồng bảo hiểm là 27.2 triệu, vượt 67% kế hoạch

e) Hiệu quả hoạt động

Cuối năm 2009 chênh lệch thu chi của chi nhánh là -2,34 tỷ đồng vì đây làgiai đoạn chi nhánh mới thành lập và chịu ảnh hưởng của các yếu tố khách quan.Đến cuối năm 2010 là 1,2 tỷ đồng (năm 2010 chưa trích dự phòng rủi ro) Kếtquả thu chi năm 2010 còn thấp chủ yếu do chi cho lương nhân viên cao, chi phíthuê trụ sở lớn, trong khi nguồn thu từ cho thuê lại sụt giảm đã làm ảnh hưởngđến kế hoạch tài chính của chi nhánh Ngoài ra, hội sở chính chưa ghi nhận hếtphẩn chi phí liên quan đến hoạt động ATM (lương, phân bổ bản quyền, khấuhao… ước tính khoảng 820 triệu đồng)

Trang 37

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh từ khi thành lập đến

TH31/12/09

TH 31/12/10Tổng

số

Tăngtrưởng sovới năm2008

Tăngtrưởng

so vớinăm2009

Nguồn:Báo cáo thường niên BIDV Hai Bà Trưng 2008,2009,2010

2.2.Thực trạng hoạt động bao thanh toán trên thế giới và Việt Nam 2.2.1 Thực trạng hoạt động bao thanh toán trên thế giới

a.Các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động bao thanh toán

Hiện nay hoạt động thanh toán quốc tế đang chịu sự điều chỉnh của cáccông ước quốc tế và luật của các hiệp hội.Đó chính là những hướng dẫn và quytắc chung nhất để giúp hoạt động bao thanh toán diễn ra thuận lợi và có hiệu quả.+ Công ước quốc tế:

-Công ước UNIDROIT về bao thanh toán quốc tế: Công ước này được kí ởCanada vào tháng 5/1988.Nội dung của nó là chi phối các hợp đồng bao thanhtoán và chuyển nhượng các khoản phải thu

-Công ước Liên Hợp Quốc UNICITRAL về chuyển nhượng các khaonr phảithu

Trang 38

Công ước này được Hội đồng chung Liên Hợp quốc thông qua từ cuối năm

2001 nhưng lại để ngỏ cho Chính Phủ các nước tham gia kí kết.Cho đến nay,do

số các nước kí kết chưa nhiều nên công ước này chưa có hiệu lực thi hành

+ Luật hiệp hội

Trên thế giới hiện nay có hai hiệp hội bao thanh toán quốc tế lớn nhất là FCI(Factors chain International) và IFG (International Factors Group ) Hầu hết cácđơn vị bao thanh toán là thành viên của hai hiệp hội này.Hiệp hội có hệ thốngluật riêng để điều chỉnh hoạt động thanh toán một cách quy củ.FCI là hiệp hộibao thanh toán lớn nhất thế giới.Được thành lập năm 1968 có trử sở tại Hàlan.Hiện nay,đến năm 2010 Hiệp hội có 250 thành viên tại 67 quốc gia.Doanhthu của FCI đã chiếm 80% doanh số bao thanh toán toàn cầu.Hiệp hội cũng đề ramột loạt các quy tắc thống nhất để điều chỉnh hoạt động bao thanh toán quốc tếgồm: Điều lệ FCI,thỏa thuận đại lý giữa các thành viên FCI,quy tắc chung vềhoạt động bao thanh toán quốc tế

b.Sự phát triển của hoạt động bao thanh toán quốc tế trên thế giới

Đơn vị:Triệu EUR

Châu Âu 546,935 612,504 715,486 806,983 932,269 888,533 876,649Châu Mỹ 104,162 109,619 135,240 140,493 149,673 154,195 142,013

Bảng doanh thu bao thanh toán theo quốc gia trong năm 2009

Đơn vị: triệu EUR

Trang 39

2.2.2 Thực trạng bao thanh toán ở Việt Nam

a.Cơ sở lí luận để thực hiện hoạt động bao thanh toán ở Việt Nam

+Nhu cầu phát triển sản phẩm của các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế-Việt Nam mở cửa nền kinh tế, định hướng phát triển nền kinh tế theo cơchế thị trường định hướng XHCN tạo điều kiện cho tất cả các thành phần kinhtế

phát triển Hoạt động kinh tế của ta ngày càng thâm nhập sâu vào nền kinh

tế thế giới.Nền kinh tế vận hành theo kinh tế thị trường tất yếu sẽ tạo ra sự cạnhtranh trongnội bộ các ngành kinh tế nói riêng và cạnh tranh của nền kinh tế nóichung.Mở cửa với thế giới đã tạo đà cho kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh dẫntới những nhu cầu mở rộng các phương tiện thanh toán, tín dụng ngân hàng…-Nhu cầu ngày càng lớn của việc sử dụng các phương tiện thanh toán, cáccông cụ tài chính, dịch vụ tài chính đã làm cho ngành ngân hàng trở thành ngành

có tỷ suất lợi nhuận rất cao Nhà nước không còn độc quyền trong lĩnh vực ngânhàng, các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước liên tục ra đời và phát triển nhanhchóng.Cổ phần hóa diễn ra mạnh mẽ trong lĩnh vực ngân hàng,hiên nay các ngânhàng mới cũng ồ ạt ra đời,Hà Nội đã có những tuyến phố được mệnh danh là phốngân hàng vì sự tập trung đông đảo của trung gian tài chính này trên những tuyếnphố đó Sự xuất hiện của càng nhiều ngân hàng làm cho mức độ cạnh tranh ngàycàng gay gắt, sản phẩm ngân hàng nghèo nàn trong khi thiếu cơ sở pháp lý để các

Trang 40

TCTD cung cấp các công cụ tài chính mới nhằm đa dạng hóa sản phẩm, tăng vịthế cạnh tranh của các TCTD và đáp ứng nhu cầu về vốn của nền kinh tế.

b Cơ sở pháp lý của hoạt động bao thanh toán tại Việt Nam

Hiện nay, các đơn vị thực hiện bao thanh toán trên thế giới nói chung vàViệt Nam nói riêng đều có hệ thống ngân hàng thương mại hay các công ty tàichính (các tổ chức tín dụng) Các tổ chức này hoạt động tuân thủ theo luật các tổchức tín dụng và những văn bản dưới luật chi phối đối với từng nghiệp vụ cụ thể.Đây là những hệ thống luật, văn bản cơ bản nhất chi phối toàn bộ hoạt động củacác hệ thống ngân hàng thương mại và các công ty tài chính chuyên nghiệp.Đối với Việt Nam, các hệ thống ngân hàng thương mại và công ty tài chínhthực hiện hoạt động bao thanh toán chịu sự chi phối chủ yếu của các hệ thốngvăn bản pháp luật sau:

+ Luật các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 ngày 12 tháng 12 năm 1997+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật của Luật các tổ chức tín dụng số20/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004

+ Quyết định của Thống đốc ngân hàng nhà nước về việc ban hành quy chếcho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng số 127/2005/QĐ7-NHNNngày 3 tháng 2 năm 2005

+ Quyết định của Thống đốc ngân hàng nhà nước về việc ban hành Quy chếhoạt động bao thanh toán của tổ chức tín dụng số 1096/2004/QĐ-NHNNngày 6 tháng 9 năm 2004

+ Quyết định 30/2008/QĐ-NHNN sửa đổi Quy chế hoạt động bao thanhtoán của các Tổ chức tín dụng theo Quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN do Thốngđốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành

c.Tình hình thực hiện bao thanh toán tại các ngân hàng

Ngày đăng: 20/07/2013, 09:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Th.S. Nguyễn Quỳnh Lan (2006), “Về nghiệp vụ bao thanh toán – factoring”, NXB Chính Trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nghiệp vụ bao thanh toán – factoring
Tác giả: Th.S. Nguyễn Quỳnh Lan
Nhà XB: NXB Chính Trị
Năm: 2006
5. PGS.TS. Nguyễn Văn Tiến (2005), “Thanh toán quốc tế tài trợ ngoại thương”, NXB Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh toán quốc tế tài trợ ngoạithương
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Văn Tiến
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2005
6. Nguyễn Xuân Trường (2007), Bài viết “Bao thanh toán - Một dịch vụ tài chính đầy triển vọng cho các doanh nghiệp Việt Nam” trên Tạp chí Ngân hàng số 7 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bao thanh toán - Một dịch vụ tàichính đầy triển vọng cho các doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Xuân Trường
Năm: 2007
1. Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng Khác
2. Quyết định 30/2008/QĐ-NHNN sửa đổi Quy chế hoạt động bao thanh toán của các Tổ chức tín dụng theo Quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Khác
3. Luật các tổ chức tín dụng- Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khác
7. Giáo trình Tài chính doanh nghiệp- PGS. TS. Lưu Thị Hương Khác
8. Giáo trình Ngân hàng thương mại - PGS.TS. Phan Thị Thu Hà Khác
9. Quản trị Ngân hàng thương mại- Peter Rose, Nhà xuất bản Tài chính Khác
10. The International Factoring- Factors Chain International (FCI), August 2001 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh từ khi thành lập đến nay - Giải pháp ứng dụng bao thanh toán vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Hai Bà Trưng
Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh từ khi thành lập đến nay (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w