Bài luận về sự độc quyền ngành hàng không của Vietnamairlines sau cuộc đổ bộ của các hãng hàng không giá rẻ.SỰ ĐỘC QUYỀN CỦA VIETNAM AIRLINES.Gần 60 năm kể từ khi ngành hàng không Việt Nam ra đời (1511956) và đặc biệt sau khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, thị trường hàng không là cuộc chơi độc quyền của Vietnam Airlines.Với đặc thù và quá trình phát triển là doanh nghiệp Nhà nước, được định hướng trở thành lực lượng chủ lực của Nhà nước trong lĩnh vực vận tải hàng không, Vietnam Airlines nhận được nhiều hỗ trợ từ Nhà nước. Theo đó, chính sách quản lý giá sản phẩm và dịch vụ vận chuyển hành khách được thực hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, giá dịch vụ được các Bộ ngành liên quan kiểm soát theo khung giá phù hợp với định hướng thị trường. việc Vietnam Airlines là Hãng hàng không lớn nhất, quy mô nhất tại thị trường Việt Nam nên chính sách giá này một phần giúp tăng sức cạnh tranh của Vietnam Airlines, một số hãng hàng không tư nhân như Mekong Air, Trãi Thiên Cargo và Indochina Airlines đã phải ngừng bay do hoạt động kinh doanh thua lỗ.Một lợi thế khác không thể không nhắc đến, đó là khả năng tiếp cận vốn và lãi vay cạnh tranh. Vietnam Airlines đã được Nhà nước hỗ trợ trong việc tiếp cận vốn, được Chính phủ bảo lãnh thực hiện vay vốn dài hạn để tài trợ mua máy bay, động cơ máy bay, phát triển đội bay của Vietnam Airlines phục vụ cho hoạt động kinh doanh.Vietnam Airlines đang nắm giữ trên 80% thị phần hàng không, còn lại của các hãng hàng không khác. Điều này dẫn đến hệ lụy trong độc quyền về đường bay, về giá. Yếu tố độc quyền khiến giá vé cao, cơ hội đi lại bằng đường hàng không của nhiều người dân gặp khó khăn hơn.Các doanh nghiệp HKVN chưa thực sự thích nghi với môi trường cạnh tranh, còn quen với sự độc quyền và bảo hộ của Nhà nước. Đến nay, Nhà nước vẫn phải duy trì một số chính sách bảo hộ đối với hoạt động của Tổng công ty HKVN dưới những hình thức như chính sách trao đổi thương quyền; giá, phí ưu đãi tại các cảng hàng không và phí quản lý bay; hỗ trợ tài chính và ưu đãi về thuếGiai đoạn sauTừ tháng 122011, hãng hàng không giá rẻ VietJet Air bắt đầu gia nhập thị trường và trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Vietnam Airlines tại thị trường nội địa. Đến cuối năm 2013, VietJet Air đã chiếm khoảng 23% thị phần hàng không nội địa. Áp lực cạnh tranh đã có nhiều ảnh hưởng tới Vietnam Airlines, cụ thể: Tăng trưởng doanh thu vận chuyển hàng hóa, bưu kiện của Vietnam Airlines đã và đang có xu hướng giảm dần qua các năm, đặc biệt sản lượng hàng hóa vận chuyển nội địa giảm khi bị chia sẻ thị phần.Sự xuất hiện của VietJetAir đã tạo nên “hiện tượng” trong ngành hàng không, phá bỏ thế độc quyền của Vietnam Airlines, tạo nên sự lựa chọn tối ưu cho khách hàng.Nếu SkyViet và Vietstar Airlines được cấp giấy phép, khi đó thị trường hàng không nội địa sẽ gồm có 5 hãng bay là Vietnam Airlines, Vietjet, Jetstar Pacific, SkyViet, Vietstar Airlines. Trong đó, Vietnam Airlines nắm quyền bằng việc góp vốn tại 45 hãng hàng không.Theo đó, thế độc quyền mới của VNA sẽ khác với trước đây khi thị trường hàng không có một mình VNA. Bằng việc nắm giữ phần vốn góp lớn tại các hãng hàng không khác VNA sẽ nắm quyền chi phối hàng không ở tất cả phân khúc từ giá rẻ, vận tải hàng không.Việc hình thành một Vietnam Airlines “siêu hãng” sẽ khiến thị trường hàng không một lần nữa trở thành sân diễn của Vietnam Airlines. Không nói ai cũng biết, vấn đề độc quyền khiến người tiêu dùng chịu lệ thuộc dẫn đến thiệt từ giá vé, chất lượng phục vụ.Dù lo lắng thế độc quyền nhưng theo PGS.TS Phạm Quý Thọ về luật không thể bắt bẻ Vietnam Airlines bởi doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực hàng không không phải đầu tư ngoài ngành. Hơn nữa vấn đề này nhà nước rất khó can thiệp. Tuy nhiên, với việc nỗ lực đẩy nhanh việc xin cấp phép kinh doanh vận tải hàng không cho SkyViet và Vietstar Airlines Cục Hàng không, Bộ Giao thông vận tải đang vô hình chung tiếp tay củng cố thế độc quyền của Vietnam Airlines.
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- -BÀI TẬP NHÓM KINH TẾ CÔNG CỘNG
Đề tài: Sự độc quyền trong ngành hàng không Việt Nam GVHD : Ths Trần Lê Yên Hà
Trang 2PHẦN 1, TỔNG QUAN VỀ NGÀNH HÀNG KHÔNG VIỆT NAM.
1 L CH S RA Đ I C A NGÀNH HÀNG KHÔNG VI T NAM Ị Ử Ờ Ủ Ệ
1.1.1 S ra đ i c a ngành hàng không nói chung ự ờ ủ
Hàng không là thuật ngữ nói đến việc sử dụng máy bay, máy móc, khí cụ do con người chế tạo ra có thể bay được trong khí quyển Nói chung, thuật ngữ này cũng mô tả những hoạt động, những ngành công nghiệp và những nhân vật nổi tiếng liên quan đến máy bay, máy móc và khí cụ bay
Ước mơ được như chim bay lên bầu trời đã ấp ủ trong lòng nhân loại ở mọi dân tộc, tôn giáo kể từ khi con người biết ước mơ mà điển hình được văn học hình tượng hoá rõ nhất là câu chuyện của cha con Daedalus và Icarus với đôi cánh bằng lông chim gắn sáp trong thần thoại Hy Lạp
Nhưng trong hàng nghìn năm đã qua mong muốn đó đối với con người chỉ dừng lại ở ước mơ: một vài người có các thí nghiệm bay nhưng đều thất bại và không gây được tiếng vang nào và con người đã an phận là không thể bay được như chim… Mãi cho đến thời kỳ Phục Hưng, trong các ghi chép của Leonardo da Vinci ở thế kỷ XV người ta tìm thấy các bản vẽ về thiết bị bay có nguyên tắc giốngnhư máy bay trực thăng ngày nay, với cơ cấu quay cánh quạt bằng dây chun xoắn lại và có cả bản vẽ người nhảy dù Từ đó một số người táo bạo không chỉ ước mơ
mà đã tin tưởng là con người có thể bay được: một loạt các nhà tiên phong trong lĩnh vực hàng không đã có các thực nghiệm để bay vào không trung Nhưng tất cả
họ cho đến thế kỷ 19 đều thực hiện việc bay bằng cơ chế “vỗ cánh” mô phỏng động tác bay của chim và tất cả đều thực hiện việc bay bằng “sức mạnh cơ bắp” (dùng tay vẫy cánh hoặc dùng chân đạp cơ cấu truyền lực như khi đạp xe đạp), khi
đó con người chưa có động cơ để thực hiện bay… Con người không thể bay được chỉ với sức mạnh cơ bắp
Trang 3Vào thế kỷ XIX cách mạng khoa học kỹ thuật bùng nổ ở châu Âu và Mỹ con người đã có các nền tảng để bay vào không khí: đó là lý thuyết về thuỷ khí động Việc phát minh ra động cơ nhiệt có thể sản sinh ra công suất lớn gấp hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn lần sức người đã mở ra triển vọng thắng trọng lực để bay thực sự vào không khí.
Từ đầu đến cuối thế kỷ XIX một loạt các nhà tiên phong hàng không đã tiến hành các thí nghiệm bay thành công với lực nâng khí động học bằng tàu lượn Tất cả cácnguyên nhân chính ngăn cản sự phát triển của ngành hàng không trong thời kỳ này
là chưa có một động cơ tốt vừa nhỏ nhẹ vừa phát huy được công suất lớn, vì thời
kỳ đó con người vẫn chỉ dùng động cơ hơi nước rất nặng nề, có chỉ số công suất riêng (mã lực/kg), thấp và chưa có nghiên cứu chuyên ngành về khí động học nên các nhà tiền phong của ngành hàng không (NHK) chỉ làm theo kinh nghiệm mò mẫm, hiệu suất lực nâng không cao đòi hỏi diện tích cánh phải rất lớn, nặng nề và chưa có hình dạng thích hợp để bảo đảm vừa có lực nâng tốt vừa có độ vững chắc của kết cấu cánh
Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, đầu thế kỷ XX sự xuất hiện của ô tô với động cơ đốt trong có công suất mạnh, lại gọn nhẹ thì việc bay được đã trở thành hiện thực trước mắt
Năm 1903 đánh dấu cho lịch sử NHK bằng chuyến bay của anh em nhà Wrightngười Mỹ, máy bay của họ có động cơ đã có thể duy trì bay trong một khoảng cách vài trăm mét, tuy rằng chưa thể tự cất cánh mà vẫn phải sử dụng thiết bị phóng và khi cất cánh, hạ cánh phải lựa theo chiều gió, nhưng thành công của họ cho thấy máy bay là hoàn toàn hiện thực và đã gây tiếng vang lớn trong dư luận, tạo động lực cho việc nghiên cứu phát triển NHK
Trang 4Những năm 1920 đến cuối chiến tranh thế giới thứ hai, là thời kỳ nở rộ của
kỹ thuật máy bay Yếu tố quan trọng nhất của kỹ thuật máy bay là động cơ được quan tâm đặc biệt, không còn là động cơ tự chế hoặc cải tiến từ động cơ thông thường, mà đã được các hãng lớn chuyên sản xuất động cơ máy bay tạo ra loại động cơ có công suất rất lớn, có sức lai cánh quạt đường kính lớn, lực đẩy mạnh cho phép nâng sức nặng, kích thước và tốc độ bay nhanh hơn
Thời kỳ này, động cơ đốt trong chạy bằng xăng thường là nhiều xi lanh bố trí hình sao Các cơ cấu điều khiển của máy bay đã hoàn chỉnh: máy bay đã có thể thực hiện được các hình nhào lộn phức tạp Việc tăng kích thước và các thông số của máy bay đòi hỏi kết cấu vững chắc nhưng vẫn phải nhẹ nên thân vỏ gỗ chỉ còn tồn tại trên những máy bay nhẹ loại nhỏ hai tầng cánh mà thôi, còn hầu hết máy bay đã có thân hợp kim nhôm vừa nhẹ vừa có độ bền vững kết cấu tốt Ngoài những thiết bị bay, máy bay được trang bị thêm rất nhiều các bộ phận phụ trợ khác như radio liên lạc, các hệ vũ khí: súng máy, pháo, bom, đạn các loại Đặc biệt thời
kỳ này người ta đã sử dụng dù là phương tiện cứu sinh cho phi công và để tạo ra một binh chủng mới là quân nhảy dù Sự phát triển của máy bay thời kỳ trước và trong đại chiến gắn liền với sự phát triển không quân của các nước
Trước chiến tranh thế giới thứ hai, không quân các nước đã phát triển
chuyên môn hoá ra các nhánh trong không quân
Với sự lớn mạnh của không quân, tính chất chiến tranh đã thay đổi rất nhiều Sau chiến tranh thế giới thứ 2, kỹ thuật máy bay phát triển rất mạnh theo nhiều hướng khác nhau nhưng có thể thấy vài điểm chính đặc trưng cho giai đoạn này là: phát triển động cơ, phát triển cấu trúc máy bay, phát triển các công năng
Trang 5đặc dụng, phát triển theo công nghệ cao và phát triển trực thăng.
1.1.2 S hình thành và phát tri n c a ngành hàng không Vi t Nam ự ể ủ ệ
* Thời kỳ đầu tiên:
Lịch sử của NHK Quốc gia Việt Nam bắt đầu từ tháng Giêng năm 1956, khiCục Hàng không Dân dụng được Chính phủ thành lập, đánh dấu sự ra đời của Ngành Hàng không Dân dụng ở Việt Nam Vào thời điểm đó, đội bay còn rất nhỏ, với vẻn vẹn 5 chiếc máy bay cánh quạt IL 14, AN 2, Aero 45… Chuyến bay nội địađầu tiên được khai trương vào tháng 9/1956 Hai mươi năm sau đó, NHK Việt Namvẫn chưa có sự phát triển
Giai đoạn 1976 - 1980 đánh dấu việc mở rộng và khai thác hiệu quả nhiều tuyến bay quốc tế đến các các nước châu Á như Lào, Cam-pu-chia, Trung Quốc, Thái Lan, Phi-lip-pin, Ma-lai-xi-a và Xinh-ga-po Vào cuối giai đoạn này, hàng không dân dụng Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Hàng không Dân dụngQuốc tế (ICAO)
Tháng 4 năm 1993 chính là thời điểm lịch sử khi Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) chính thức hình thành với tư cách là một tập đoàn kinh doanh vận tải hàng không có quy mô lớn của Nhà nước Vào ngày
27/05/1996, ngành hàng không Việt Nam được thành lập trên cơ sở liên kết 20 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh dịch vụ hàng không, lấy Vietnam Airlines làm nòng cốt
* Tiến trình phát triển của Vietnam Airlines.
Vào ngày 20/10/2002, Vietnam Airlines giới thiệu biểu tượng mới - Bông Sen Vàng, thể hiện sự phát triển của Vietnam Airlines để trở thành Hãng hàng không có tầm cỡ và bản sắc trong khu vực và trên thế giới Đây là sự khởi đầu cho chương trình định hướng toàn diện về chiến lược thương hiệu của Vietnam
Trang 6Airlines, kết hợp với những cải tiến vượt trội về chất lượng dịch vụ, mở rộng mạngđường bay và đặc biệt là nâng cấp đội máy bay.
Tháng 10/2003, Vietnam Airlines tiếp nhận và đưa vào khai thác chiếc máy bay hiện đại với nhiều tính năng ưu việt Boeing 777 đầu tiên trong số 6 chiếc Boeing 777 đặt mua của Boeing Sự kiện này đánh dấu sự khởi đầu của chương trình hiện đại hóa đội bay của hãng Ba năm sau đó, Vietnam Airlines trở thành một trong những hãng hàng không có đội bay trẻ và hiện đại nhất trong khu vực
Trong 15 năm qua, với tốc độ tăng trưởng trung bình hơn 10%/ năm (trừ giai đoạn khủng hoảng tài chính ở châu Á năm 1997), ngành hàng không Việt Nam
đã không ngừng lớn mạnh và vươn lên trở thành một hãng hàng không có uy tín trong khu vực châu Á nhờ thế mạnh về đội bay hiện đại, mạng bay rộng khắp và lịch nối chuyến thuận lợi, đặc biệt là tại Đông Dương
Khởi đầu với những chuyến bay nội địa không thường lệ, ngày nay mạng đường bay của Vietnam Airlines đã mở rộng đến 19 tỉnh, thành phố trên cả nước và 42 điểm đến quốc tế tại Mỹ, Châu Âu, Úc và Châu Á
Năm 2006, sau khi được đạt được chứng chỉ uy tín về an toàn khai thác của Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA), Vietnam Airlines đã chính thức trở thành thành viên của Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế và khẳng định chất lượng dịch vụ mang tiêu chuẩn quốc tế của mình
Xuất phát từ đặc thù của hoạt động VTHK là sử dụng công nghệ cao, gồm nhiều công đoạn với những yêu cầu cao và sự phối hợp chặt chẽ theo những qui trình nghiêm ngặt đối với mỗi mắt xích trong dây chuyền công nghệ đó Chính vì thế, NHK Việt Nam đã đề ra định hướng, chuyển giao công nghệ (CGCN) là nhiệm
vụ và tiêu chí hàng đầu trong các dự án lớn và dài hạn; chuẩn hóa quốc tế các qui trình, qui định chuyên ngành; ưu tiên cho kỹ thuật, công nghệ hiện đại theo hướng
đi tắt đón đầu; linh hoạt trong chiến lược phát triển, đặc biệt là trong lĩnh vực CGCN và cạnh tranh thị trường
Trang 7Trong hơn mười năm qua, thị trường VTHK có rất nhiều biến động phức tạp
do phải chịu ảnh hưởng nặng nề của hàng loạt biến cố trên toàn thế giới, như khoảng hoảng tài chính khu vực châu Á (1997-1998), khủng bố 11/9/2001 tại Mỹ, hai lần chiến tranh vùng Vịnh (năm 1991 và 2003), đại dịch SARS Trong bối cảnh
đó, do kiên trì thực hiện mục tiêu chiến lược đề ra, HKVN đã vững vàng vượt qua khó khăn, tận dụng mọi cơ hội và phát huy nội lực, từng bước xây dựng Vietnam Airlines từ một hãng hàng không nhỏ bé thành hãng hàng không trẻ, năng động, cóbản sắc và uy tín trong khu vực Trong 10 năm liền HKVN vẫn duy trì được mức tăng trưởng bình quân là 12,5%, cao gấp rưỡi mức tăng GDP của Việt Nam (từ 7-9%) Vận chuyển hành khách tăng từ 1,1 triệu lượt hàng khách năm 1993 lên 4 triệu lượt hành khách năm 2003; tổng doanh thu giai đoạn 1993-2003 là 75.442 tỷ đồng, tăng bình quân 23%/năm; thị phần vận chuyển quốc tế tăng từ 37% lên 42-44%; đội máy bay của HKVN không ngừng được tăng cường và hiện nay thuộc hàng trẻ và hiện đại nhất thế giới: năm 2000: 21 chiếc; năm 2001: 25 chiếc; năm 2002: 29 chiếc và tính đến hết tháng 12/2003: trong nước có 34 chiếc, trong đó có
11 chiếc thuộc sở hữu, bao gồm: 07B-767; 13 A-320 và A-321; 8 ATR-72; 2
Fokker F70 và 4 chiếc B-777, loại máy bay mới nhất và hiện đại nhất hiện nay, bắt đầu được khai thác từ tháng 4/2003 Mạng đường bay gồm 25 đường bay quốc tế tới khoảng 42 điểm trên thế giới, hơn 20 đường bay nội địa tới 16 tỉnh, thành phố, với tần suất bay nội địa 56 chuyến/ngày và 49 chuyến quốc tế/ngày[1, tr 5] Nhằm khẳng định thương hiệu quốc tế và thế mạnh về đội bay trẻ, hiện đại, Vietnam Airlines đã để lại ấn tượng mạnh mẽ khi cùng với Công ty cho thuê tàu bay Việt Nam mà Vietnam Airlines là một trong những sáng lập viên, ký một hợp đồng muamáy bay lớn gồm 12 chiếc Boeing 787, 10 chiếc Airbus A350 - 900, 20 chiếc Airbus A321 và 5 chiếc ATR72 - 500 trong năm 2007 Vietnam Airlines hy vọng sẽ
mở rộng đội bay lên mức 104 chiếc máy bay hiện đại vào năm 2015 và 150 chiếc vào năm 2020
Trang 81.2 Đ C ĐI M C A NGÀNH HÀNG KHÔNG VI T NAM Ặ Ể Ủ Ệ
* Công cụ lao động
Trang thiết bị của ngành Hàng không gồm:
Ðội máy bay vận tải dân dụng các loại Thiết bị điện tử - viễn thông hàng không Thiết bị phù trợ không vận, vận chuyển thương mại hàng không Máy móc
và thiết bị bảo dưỡng máy bay, bộ phận cơ điện lạnh, máy vận chuyển và nâng
hạ v.v
* Ðiều kiện lao động
Trừ nghề phi công và tiếp viên là phải làm việc trên bầu trời khi máy bay cấtcánh nên thường chịu tác hại bởi vi khí hậu lạnh và tải gia trọng Nghề khai thác vận tải hàng không có tư thế làm việc thường là đứng và nhiều khi phải cúi khom
để vận chuyển hàng hoá, đồng thời thường bị tác hại bởi tiếng ồn và chấn động bởiđộng cơ nổ của các loại máy bay gây ra
Còn các nghề khác thì làm việc ở cảng hàng không, thường làm việc ở trạng thái căng thẳng và ức chế tâm lý do công việc phục vụ liên tục, cần phải chuẩn xác
và khoa học
1.2.1 Cơ cấu t ch c c a ngành hàng không Vi t Nam ổ ứ ủ ệ
NHK Việt Nam có hệ thống tổ chức bộ máy quản lý ngày càng tiên tiến, hội nhập với hàng không thế giới Những năm gần đây, cơ quan quản lý NHK Việt Nam đã tách hẳn khối sản xuất kinh doanh, chấm dứt hiện tượng "vừa đá bóng, vừathổi còi" trong lĩnh vực quản lý, đặc biệt là giám sát an toàn bay
Đối tượng phục vụ của ngành Quản lý bay là các hoạt động bay, mà đội ngũ máy bay ngày càng được trang bị các thiết bị hiện đại sẽ bay cao, bay xa, nhanh hơn và tần suất hoạt động cũng cao hơn
Song song với việc đầu tư thiết bị hiện đại tiên tiến với trình độ công nghệ cao, Trung tâm quản lý bay đang tích cực đào tạo nguồn nhân lực để đội ngũ nhân
Trang 9viên của Trung tâm có khả năng nắm bắt khai thác tốt và làm chủ thiết bị Đến nay,toàn bộ kiểm soát viên không lưu, nhân viên kỹ thuật cuả Trung tâm quản lý bay đãđược huấn luyện về khai thác, sử dụng các hệ thống thiết bị mới như: ATM
Automation, VCCS (Trung tâm chuyển mạch thoại), các cán bộ kỹ thuật đầu ngànhđược huấn luyện theo chiều sâu theo từng lĩnh vực như: phương pháp khắc phục sự
cố, cài đặt hệ thống chức năng cuả thiết bị Muốn cho toàn bộ hệ thống hoạt động liên tục, ổn định 24/24h, thì yếu tố điện, nước, đường truyền với độ an toàn khoảng300% mới đảm bảo cho hệ thống được liên hoàn
Với các lĩnh vực hoạt động về Quản lý Nhà nước (trong ngành HK dân dụngVN), Cảng HK - sân bay, quản lý - điều hành bay, kỹ thuật, thông tin thư viện, đào tạo và hợp tác quốc tế, Đã thực hiện hàng trăm nhiệm vụ KH&CN (gồm các đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, Ngành), chủ trì và tham gia các hội nghị, hội thảo quốc
tế trong và ngoài nước, tổ chức thành công triển lãm thành tựu Kinh tế - Kỹ thuật Hàng không Xuất bản định kỳ các ấn phẩm thông tin (Thông tin Kinh tế - Kỹ thuậtHàng không, Thông tin Hàng không và Tin nhanh Hàng không), duy trì hoạt động Thư viện khoa học và công nghệ Hàng không phục vụ bạn đọc trong và ngoài ngành, tồ chức hàng trăm lớp đào tạo cho hàng ngàn học viên, trong đó tổ chức đàotạo tiếng Anh đến trình độ đại học…
Chìa khóa cho những thành tựu trên là do HKVN đã tăng cường đầu tư có trọng điểm cho công tác đào taọ, huấn luyện, phát triển, nâng cao năng lực hệ thống, đảm bảo nguồn nhân lực đủ khả năng vận hành những trang thiết bị và côngnghệ hiện đại, điều hành có hiệu quả qui trình sản xuất, kinh doanh theo mô hình một hãng hàng không quốc tế Đây thực sự là một quá trình đấu tranh để đổi mới
và hoàn thiện toàn bộ hệ thống khai thác vận tải hàng không theo những mô hình tiên tiến, được kiểm soát chặt chẽ, cập nhật thường xuyên
Song song với đổi mới, hiện đại hóa công nghệ, đổi mới hệ thống quản lý điều hành, một yêu cầu bắt buộc là phải thực hiện chiến lược đào tạo nguồn nhân lực
Trang 10theo tiêu chuẩn quốc tế để vận hành và khai có hiệu quả hệ thống đó Trong 10 năm qua, HKVN đã triển khai đào tạo huấn luyện, CGCN trong và ngoài nước cho gần 18.000 lượt người, trong đó chủ yếu là phi công, kỹ thuật viên và cán bộ quản
lý Từ chỗ đi thuê toàn bộ tổ lái và máy bay vào những năm 1993-1994, đến nay, HKVN đã đào tạo, đáp ứng được 80% lái chính, 90% lái phụ cho B-777/767, A-320/321; 100% người lái cho ATR-72 và Fokker-70 Hơn 900 lượt kỹ sư, thợ máy được đào tạo và chuyển loại tại nước ngoài năm 2002, gần 1100 lượt người năm
2003 Đến nay, đội ngũ kỹ thuật có khả năng đảm nhận hầu hết các vị trí chủ chốt trong lĩnh vực bảo dưỡng máy bay mà trước đây phải thuê của nước ngoài Các xí nghiệp máy bay đã bắt đầu cung ứng dịch vụ bảo dưỡng cho các hãng Hàng không quốc tế và nội địa, tạo nguồn thu mới, mở rộng và nâng cao vị thế cạnh tranh quốc tế
Khoa học và công nghệ luôn phát triển theo hướng tích cực Để nâng cao hiệu quả ứng dụng thành tựu mới của khoa học và công nghệ, đòi hỏi người quản
lý và đội ngũ làm công tác chuyên môn phải chủ động nắm bắt sự đổi mới, phải biết thay đổi cái mình đang có sao cho phù hợp và thích nghi với sự đổi mới, hay nói một cách khác là phải biết quản trị sự đổi mới một cách có hiệu quả và đó cũng
là nhiệm vụ trọng tâm của công tác đào tạo Do đó, để có đủ nguồn nhân lực có khả năng làm chủ công nghệ hiện đại, phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH ngành VTHK của Việt Nam, đẩy nhanh quá trình hội nhập, hợp tác và nâng cao năng lực cạnh tranh
Trước xu thế cạnh tranh ngày càng khốc liệt và toàn cầu hóa thị trường VTKH, đối với HKVN, song song với việc thực thi chiến lược đổi mới công nghệ thì quan tâm đến yếu tố con người, thường xuyên tăng cường đào tạo và tái đào tạonguồn nhân lực là những nhân tố then chốt cho HKVN vững bước trên con đường hội nhập và phát triển
Thực trạng trên đã tác động đến sự ra đời của Học viện hàng không
Trang 11Học viện Hàng không Việt Nam là cơ sở đào tạo công lập đã có bề dày truyền thống với gần 30 năm đào tạo và phát triển Hàng ngàn học sinh, sinh viên tốt nghiệp của Học viện đã và đang đóng góp đáng kể vào sự nghiệp phát triển của ngành Hàng không dân dụng Việt Nam cũng như công cuộc xây dựng kinh tế của đất nước
Năm học 2007-2008 là năm đầu tiên Học viện thực hiện đồng thời nhiệm vụ đào tạo ở bậc đại học, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề Trong bối cảnh đổimới cải cách của nền giáo dục nước nhà và xu hướng hội nhập với thế giới, tất cả các chương trình đào tạo được xây dựng mới cũng như xây dựng lại theo hướng thực tiễn, cập nhật và hiệu quả hướng đến thực tế sản xuất kinh doanh và dịch vụ của ngành hàng không dân dụng Việt Nam và phù hợp với quốc tế, bảo đảm Học sinh - Sinh viên tốt nghiệp được trang bị kiến thức nền tảng cơ bản, có kỹ năng phong cách chuyên nghiệp, có khả năng phát triển, tạo cơ hội tốt tham gia vào thị trường lao động trong nước và có khả năng đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế
1.2.2 C s h t ng c a ngành Hàng không Vi t Nam ơ ở ạ ầ ủ ệ
Thực trạng hệ thống cảng hàng không (CHK), sân bay (SB) dân dụng.
Hiện nay Việt Nam có tổng số 22 sân bay, trong đó có 3 sân bay quốc tế tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh Hệ thống sân bay phân bố đều khắp các vùng, mạng đường bay nội địa của HKVN đã được phát triển đều khắp, giải quyết được 2mục tiêu cơ bản: đáp ứng nhu cầu đi lại bằng đường hàng không trong nước, phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng, địa phương, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo và đảm bảo hỗ trợ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế của các hãng HKVN Đến nay, chúng ta đã có 25 đường bay nội địa đến 19 tỉnh, thành phố,thị xã trên toàn quốc Các mạng đường bay quốc tế của các hãng vận tải HKVN cũng không ngừng được tăng cường và mở rộng với 39 đường bay (36 đường bay trực tiếp và 3 đường bay liên doanh) từ 3 thành phố lớn (Hà Nội, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh) đến 42 điểm thuộc 15 quốc gia trên thế giới, trong đó có 11 điểm ở Đông
Trang 12Bắc Á, 6 điểm ở Đông Nam Á, 2 điểm ở Úc, 3 điểm ở Châu Âu và 2 điểm ở Bắc
Mỹ Về năng lực vận tải hàng không: Tổng số máy bay của các doanh nghiệp vận chuyển trong ngành tính đến thời điểm tháng 12/2005 là 47 chiếc; tỷ lệ sở hữu trên đầu máy bay đạt hơn 42%; tỷ lệ sở hữu trên tổng số ghế cung ứng xấp xỉ 30%[1, tr 7]
Tuy nhiên với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, trong giai đoạn phát triển mới, các cảng hàng không ở nước ta cần phải hiện đại hóa hơn nữa để hội nhập với cộng đồng hàng không quốc tế, nhanh chóng đưa các sân bay quốc tế trở thành các trung tâm trung chuyển vận tải hàng không lớn của khu vực và thế giới
mẽ và vững chắc, khẳng định được vị thế và vai trò của NHK quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở các địa phương, cũng như thúc đẩy hoạt động đầu tư, xúc tiến du lịch và hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với các nước
Năm 2008 NHK Việt Nam đã thực hiện tốt các chỉ tiêu, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, nhất là trong vận tải hành khách và hàng hoá, kinh doanh có lãi, bảo đảm tuyệt đối an toàn, an ninh hàng không…góp phần vào kết quả kinh tế xã hội chung của đất nước
Trong ngành hàng không, với sự tăng trưởng của nhu cầu hiện tại thì vai trò của thương hiệu không còn như truyền thống Những yếu tố thực tế như giá cả, hành trình bay và thời gian bay luôn là những mối quan tâm hàng đầu ảnh hưởng tới quyết định mua vé của khách hàng Đây là sự thật, thậm chí trong những trườnghợpthương hiệu - bởi vì kinh nghiệm của thương hiệu, hay chính xác hơn, đó là đường bay trên không của thương hiệu Điều này tạo ra một câu hỏi: Các thương hiệu chính xác đóng vai trò gì trong cái giá trị đang tăng của ngành hàng không?
Trang 13Ngành hàng không là một hoạt động nằm trong lĩnh vực vận chuyển hàng hóa, giao lưu văn hóa, thúc đẩy du lịch phát triển nhằm mục đích phát triển kinh tế… Hoạt động đó không chỉ diễn ra ở trong nước mà còn ở nước ngoài, đặc biệt
có sự tham gia của toàn bộ hệ thống kinh tế với sự điều hành của nhà nước
Chính vì vậy ngành Hàng không có vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế
xã hội của mỗi quốc gia, nền kinh tế của một nước phát triển như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động kinh doanh của ngành hàng không
Thông qua hoạt động hàng không có thể làm gia tăng ngoại tệ thu được, cải thiện cán cân thanh toán, kích thích đổi mới công nghệ, cải biến cơ cấu kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm và nâng cao chất lương sống cho người dân
Đối với những nước có trình độ phát triển còn thấp như nước ta thì những nhân tố tiềm năng là tài nguyên thiên nhiên và lao động, còn những yếu tố thiếu hụt là vốn, kỹ thuật, thị trường và khả năng quản lý.Chiến lược hướng về phát triểnngành hàng không thực chất là giải pháp mở cửa của nền kinh tế nhằm thu hút đầu
tư nước ngoài về vốn và kỹ thuật, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam Kết hợp chúng lại với tiềm năng trong nước về lao động và tài nguyên thiên nhiên để tạo ra sự tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế, góp phần rút ngắn khoảng cách chênh lệch với các nước khác
Ngành hàng không còn có vai trò mở rộng quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Phát triển ngành hàng không có vai trò tăng cường
sự hợp tác quốc tế với các nước, mặt khác chính các quan hệ đối ngoại lại tạo tiền
đề cho việc mở rộng ngành hàng không
Có thể nói NHK không chỉ đóng vai trò là chất xúc tác hỗ trợ phát triển kinh
tế, mà nó cùng với hoạt động xuất nhập khẩu như là yếu tố bên trong trực tiếp thamgia vào việc giải quyết những vấn đề thuộc nội bộ nền kinh tế như vốn, kỹ thuật, lao động, mở rộng thị trường…
Trang 14Đối với nước ta, hướng mạnh về phát triển NHK là một trong những mục tiêu quan trọng trong phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại, qua đó tranh thủ đón bắt thời cơ, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, rút ngắn sự chênh lệch về trình độ của Việt Nam so với thế giới Bất kì một quốc gia nào và trong thời kì nào có NHKphát triển thì nền kinh tế của nước đó, trong thời gian đó sẽ có tốc độ phát triển cao,lưu thông và trao đổi hàng hóa dễ dàng.
Tóm lại, NHK có nhiều đóng góp quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì NHK góp phần khai thác tối đa lợi thế, tiềm năng của đất nước đồng thời đẩy mạnhthu hút lợi ích từ bên ngoài
2 SỰ ĐỘC QUYỀN CỦA VIETNAM AIRLINES.
Gần 60 năm kể từ khi ngành hàng không Việt Nam ra đời (15/1/1956) và đặcbiệt sau khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, thị trường hàng không là cuộc chơiđộc quyền của Vietnam Airlines
Với đặc thù và quá trình phát triển là doanh nghiệp Nhà nước, được định hướng trở thành lực lượng chủ lực của Nhà nước trong lĩnh vực vận tải hàng
không, Vietnam Airlines nhận được nhiều hỗ trợ từ Nhà nước Theo đó, chính sách quản lý giá sản phẩm và dịch vụ vận chuyển hành khách được thực hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, giá dịch vụ được các Bộ ngành liên quan kiểm soát theo khung giá phù hợp với định hướng thị trường việc Vietnam Airlines là Hãng hàng không lớn nhất, quy mô nhất tại thị trường Việt Nam nên chính sách giá này một phần giúp tăng sức cạnh tranh của Vietnam Airlines, một sốhãng hàng không tư nhân như Mekong Air, Trãi Thiên Cargo và Indochina
Airlines đã phải ngừng bay do hoạt động kinh doanh thua lỗ
Một lợi thế khác không thể không nhắc đến, đó là khả năng tiếp cận vốn và lãi vay cạnh tranh Vietnam Airlines đã được Nhà nước hỗ trợ trong việc tiếp cận vốn, được Chính phủ bảo lãnh thực hiện vay vốn dài hạn để tài trợ mua máy bay,
Trang 15động cơ máy bay, phát triển đội bay của Vietnam Airlines phục vụ cho hoạt động kinh doanh.
Vietnam Airlines đang nắm giữ trên 80% thị phần hàng không, còn lại của các hãng hàng không khác Điều này dẫn đến hệ lụy trong độc quyền về đường bay, về giá Yếu tố độc quyền khiến giá vé cao, cơ hội đi lại bằng đường hàng không của nhiều người dân gặp khó khăn hơn
Các doanh nghiệp HKVN chưa thực sự thích nghi với môi trường cạnh tranh, còn quen với sự độc quyền và bảo hộ của Nhà nước Đến nay, Nhà nước vẫnphải duy trì một số chính sách bảo hộ đối với hoạt động của Tổng công ty HKVN dưới những hình thức như chính sách trao đổi thương quyền; giá, phí ưu đãi tại cáccảng hàng không và phí quản lý bay; hỗ trợ tài chính và ưu đãi về thuế
Giai đoạn sau
Từ tháng 12/2011, hãng hàng không giá rẻ VietJet Air bắt đầu gia nhập thị trường và trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Vietnam Airlines tại thị trường nội địa Đến cuối năm 2013, VietJet Air đã chiếm khoảng 23% thị phần hàng
không nội địa Áp lực cạnh tranh đã có nhiều ảnh hưởng tới Vietnam Airlines, cụ thể: Tăng trưởng doanh thu vận chuyển hàng hóa, bưu kiện của Vietnam Airlines
đã và đang có xu hướng giảm dần qua các năm, đặc biệt sản lượng hàng hóa vận chuyển nội địa giảm khi bị chia sẻ thị phần
Sự xuất hiện của VietJetAir đã tạo nên “hiện tượng” trong ngành hàng
không, phá bỏ thế độc quyền của Vietnam Airlines, tạo nên sự lựa chọn tối ưu cho khách hàng
Nếu SkyViet và Vietstar Airlines được cấp giấy phép, khi đó thị trường hàng không nội địa sẽ gồm có 5 hãng bay là Vietnam Airlines, Vietjet, Jetstar Pacific, SkyViet, Vietstar Airlines Trong đó, Vietnam Airlines nắm quyền bằng việc góp vốn tại 4/5 hãng hàng không
Theo đó, thế độc quyền mới của VNA sẽ khác với trước đây khi thị trường
Trang 16hàng không có một mình VNA Bằng việc nắm giữ phần vốn góp lớn tại các hãng hàng không khác VNA sẽ nắm quyền chi phối hàng không ở tất cả phân khúc từ giá rẻ, vận tải hàng không.
Việc hình thành một Vietnam Airlines “siêu hãng” sẽ khiến thị trường hàng không một lần nữa trở thành sân diễn của Vietnam Airlines Không nói ai cũng biết, vấn đề độc quyền khiến người tiêu dùng chịu lệ thuộc dẫn đến thiệt từ giá vé, chất lượng phục vụ
Dù lo lắng thế độc quyền nhưng theo PGS.TS Phạm Quý Thọ về luật không thể bắt bẻ Vietnam Airlines bởi doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực hàng không không phải đầu tư ngoài ngành Hơn nữa vấn đề này nhà nước rất khó can thiệp Tuy nhiên, với việc nỗ lực đẩy nhanh việc xin cấp phép kinh doanh vận tải hàng không cho SkyViet và Vietstar Airlines Cục Hàng không, Bộ Giao thông vận tải đang vô hình chung tiếp tay củng cố thế độc quyền của Vietnam Airlines
PHẦN 2, THỊ TRƯỜNG HÀNG KHÔNG TỪNG BƯỚC PHÁ BỎ ĐỘC QUYỀN.
- Năm 2005 theo dự thảo Luật Hàng không dân dụng cho phép mọi thành phần kinh tế được tham gia , Hàng không sẽ mở cửa cho tư nhân và nước ngoài Đồng thời rút bớt đặc quyền của VNAvề giờ bay, lịch bay
- Các công ty cảng sẽ phải phát triển dịch vụ hàng không của mình để tạo sự cạnhtranh Nhưng tất nhiên ở đây không thể cạnh tranh tự do được, mà đó là cạnh tranh trong hàng rào khép kín trong sân bay
- Cho phép đầu tư nước ngoài vào một hãng hàng không Đó là một chính sách lớn, một chính sách mở Nếu không thì sẽ khó nghĩ đến việc có một hãng hàng không nào đủ lớn để cạnh tranh trở lại với VNA hoặc là hàng không nước ngoài