Trong thời kỳ đầu cai trị Việt Nam, đi đôi với việc tố chức bộ máy thực dân, chính quyền Pháp vẫn bảo lưu bộ máy của chính quyền phong kiến ở các làng xã.. Đế phục vụ cho Chương trình nà
Trang 1CẢI LƯƠNG HƯƠNG CHÍNH Ở TỈNH HÀ ĐÔNG -
GIAI ĐOẠN THỬ NGHIỆM (1913-1920)
Nguyễn Tlíị Lệ Ha
1 Lý do buộc chính quyền Pháp cải lưong huong chính ỏ' Bắc Kỳ
Làng xã là đơn vị cơ sở trong hệ thống hành chính thời Nguyễn Trong thời kỳ đầu cai trị Việt Nam, đi đôi với việc tố chức bộ máy thực dân, chính quyền Pháp vẫn bảo lưu bộ máy của chính quyền phong kiến ở các làng xã Vì chính quyền
Pháp cho rằng làng xã ‘7ó tế bào cơ sở của xã hội Annam và vì thế chủng ta phải tôn trọng nó bởi nó là cái nền của cấu trúc xã hội xứ này"1 Mục đích của chính
quyền Pháp lúc đó là bình định các vùng đất vừa chiếm đóng, trấn áp các hoạt động chống đối của nhân dân, đồng thời nắm được các nguồn thu về sưu, thuế cùng với
việc bắt phu và bắt lính ở làng xã “Trước khi chúng ta tới, làng xã Annam là một to chức phức tạp như thế, dễ bảo như thế, một tổ chức mà trong đó không bao giờ thấy
có một viên kỳ mục nào hành động đơn độc cả, một tổ chức đã tồn tại theo truyền thống từ thời rắt xa xưa, tồ chức đó chủng ta không nên đụng chạm tới kẻo làm dãn chúng bất bình, xứ sở rối loạn.
Công cụ cũ kỹ, nhimg tôí, phù hợp với dân chúng Vậy thì có ích lợi gì mà chúng ta lại thay đổi nó? ”2.
Năm 1905, Paul Doumer Toàn quyền Đông Dương từ năm 1896 đến năm
1902 đã xuất bản cuốn Hồi ký trong đó có nhận định về tổ chức quản lý cấp xã ở xứ
Đông Dương thuộc Pháp như sau: “Theo tôi, duy trì trọn vẹn, thậm chí tăng cường cách tổ chức cũ kỹ mà chúng ta đã thấy đó, là một điều tốt Theo cách tổ chức này thì mỗi làng xã sẽ là một nước cộng hòa nhỏ, độc lập trong giới hạn những quyền lợi địa phương Đó là một tập thể được tổ chức rất chặt chẽ, rất có kỷ luật, và rất
có trách nhiệm đối với chính quyền cấp trên về những cá nhân thành viên của nó,
Trang 2VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TÉ LẰN THỦ TƯ
những cá nhân mà chính quyền cấp trên cỏ thế không cần biết tới, điều đó rất thuận lợi cho công việc của chính quyền” “Việc to chức làng xã của người An Nam nếu như nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc duy trì trật tự và bảo đảm cho những hoạt động mang tính chất lợi ích xã hội mà chúng ta đã được làng xã gánh đỡ, thì nỏ cũng có tác dụng làm giảm bớt khó khăn và giảm bớt tôn kém trong việc thu các loại thuế trực thu nữa về điếm này cũng vậy, trước chúng ta sẽ là tập thê những người phải đóng thuế, chứ không phải là từng cá nhản những người phải đóng thuế Thay vì việc lập sổ thuế cho từng cá nhân, chúng ta chỉ cần ấn định mức thuế chung cho từng xã Chính vì thế, ngay từ đầu chính quyền Pháp đã không muốn cớ bất
kỳ một sự thay đổi nào trong làng xã, tiếp tục duy trì cơ chế hoạt động truyền th ống, tránh được những đảo lộn, nguy hại đến an ninh của chế độ thuộc địa Có thể nói chính quyền Pháp thấy rằng việc duy trì bộ máy quản lý cấp xã theo truyền thống trong giai đoạn khai thác thuộc địa lần thứ nhất là phù hợp với yêu cầu của chính quyền thực dân cả về chính trị và kinh tế.
Nhưng sang đầu thế kỷ XX, tình hình thế giới và trong nước có nhiều thay đổi sau khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc và chính quyền Pháp tiến ỉhành Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1929) Đế phục vụ cho Chương trình này, Pháp bộc lộ rõ tham vọng kiểm soát chặt chẽ chính quyền cai trị tư trung ương đến địa phương trong đó, cấp thấp nhất là ỉàng xã; Đồng thời từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, khi phone trào giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam bắt đầu thức tỉnh theo một xu hướng mới, ngàv càna, lan rộng ở nông thôn, thì làng
xã đã trở nên bất lợi cho chính quyền thực dân Các phong trào Đông Du, Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, đặc biệt là phong trà o kháng thuế Trung Kỳ là nhữne bằng chứng về sự thức tỉnh khiến người Pháp phải thay đổi quan điểm Tính độc lập., tính
tự trị của làng xã trước đây, nay lại có khả năng biến mỗi làng xã thành một pháo đài chổng Pháp Đó là điều chính quyền Pháp lo sợ nhất Vì vậy, đe nắm chặt iấy nông thôn Việt Nam, chính quyền Pháp nhận thấy ràng không thể quản lý nông thôn bằng cách chỉ dựa vào tầng lớp kỳ mục do chế độ phong kiến để lại Chính vì- vậy,
họ quyết định tiến hành cải tổ lại bộ máy chính quyền cấp xã theo hướnơ có lợi cho
sự thống trị thực dân, trước hết nhằm tách nông íhôn và làng xã ra khỏi môi trường cách mạng Chính quyền Pháp đưa ra các chính sách lừa bịp: Pháp - Việt đuè huề, Pháp-Việt hợp tác và đã có nhiều thay đổi trong chính sách cai trị Họ cho thiết lập các Viện Dân biểu Bẳc Kỳ, Trung Kỳ, xây dựng và củng cố tầng lớp thượng lưu trí thức làm nòng cốt cho việc thống trị về tư tưởng, tuyên truyền học thuật và U tưởng của nước “Đại Pháp’', tiến hành chấn chỉnh quan trường, đặc biệt là xác định lại
1 Dần theo: Dương Kinh Quốc, Chính quyền thuộc địa ờ Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945. Nxb Khoa học xã hội, 2005, tr 227.
Trang 3CÀI LƯ ƠNG H Ư Ơ N G C H ÍN H Ở TỈN H HÀ ĐÔ NG
quyền hạn gần như tuyệt đối của Thống sứ, Công sử Pháp đối với quan lại bản xứ Một điều thuận lợi với Pháp, sau hơn 20 năm thống trị đã đào tạo được một đội ngũ tay sai khá đông đảo, trung thành, có thể phục vụ đắc lực cho công cuộc cải cách thôn xã.
Đồng thời sau chiến tranh, để bù đắp thiệt hại, chính quyền Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa trên quy mô lớn Để tăng cường bóc lột thuộc địa với đa phần dân cư là nông dân, chính quyền thực dân bắt đầu tấn công mạnh vào tính chất tự trị, khép kín của làng xã, chấm dứt tình trạng phó mặc cho Hội đồng kỳ mục quản
lý làng xã trước kia Bởi Hội đồng kỳ mục quyết định các việc rất quan trọng trong làng như phân bổ thuế má, sưu dịch, lính tráng, bầu cử tổng lý và thi hành khoán ước phân cấp công điền, sử dụng quỹ làng, bàn việc sửa chữa, xây dựng đình chùa, trường học, tổ chức đình đám, khao vọng Tình trạng ẩn lậu về dân đinh và điền thổ Av^ần tiếp tục diễn ra dẫn đến sự không kiểm soát được nguồn thu sưu thuế Chế độ tự quản cũng sinh ra những rắc rối trong việc phân chia thứ bậc xã hội, gây mâu thuẫn, chia rẽ, tranh giành ngôi thứ và tệ mua quan bán tước làm mất hiệu lực của bộ máy chính quyền Thêm vào đó, làng đã lấy “lệ làng” được đặt ra tùy tiện để chống lại
‘■ ‘phép nước” Chế độ tự quản bị lý dịch lợi dụng để biến các làng xã thành các tiểu
vương quốc, tha hồ làm mưa làm gió gây bất mãn trong nhân dân "Thôn xã An Nam do những gia tộc họp lại thành ra, có quyền tự trị, có quyền lợi riêng, cỏ thể cách bình đảng, thực là hay lắm, nhà nước lâu ngày dùng để giúp việc, song cứ để nguyên như cũ tất không hợp thời thế,,i Do cách tổ chức xã thôn như vậy nên việc
thi hành các chú trương, chính sách của nhà nước bảo hộ bị bê trễ, kém hiệu quả.
Bộ máy quản trị thôn xã ngày càng tỏ rõ những yếu kém, không đáp ứng được
những yêu cầu của một đơn vị hành chính cấp cơ sở “Huynh thứ thì tiếng rằng trông nom việc làng thực, song phần nhiều có việc gì can trọng phải trù tính thì chẳng qua chỉ lại may người hào cường bàn định riêng mới nhau, cỏ khi chỉ một mình lý trưởng định đoán, như thế thì việc quản trị hàng xã không rõ ra ai trông nom cả, thành thử không có trật tự, không có luật lệ chút nào ”2 Bên cạnh đó, chế
độ “tự quản” ở làng xã bị lý dịch lợi dụng, gây ra sự bất mãn trong nhân dân, vì tranh giành ngôi thứ và tệ mua quan bán tước, sự cạnh tranh về quyền lực cũng như s;ự đối đầu giữa thế lực của các dòng họ trong làng ngày càng trở nên gay gắt và phổ biến Cách thức tổ chức lỏng lẻo, mất hiệu lực của chính quyền cấp xã đã không thể phục vụ đắc lực cho công cuộc cai trị của thực dân Pháp Do đó cần phải cải tổ bộ máy đó, đặt dưới sự chỉ đạo, khống chế của chính quyền cấp trên
11 .Hà Đông tỉnh địa dư chí , T rung Bắc tân văn, 1925, tr.31.
2’ Trần Văn Minh, Cải lương thực lục , Nhà in Kim Đức Giang, Hà Nội, 1924, tr.3.
Trang 4VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LẦN THỨ TƯ
Mặt khác, nạn tham nhũng và sự thối nát của bộ máy chức dịch làne xã cho đến đầu thế kỷ XX tỏ ra ngày càng trầm trọng hơn trước Bởi trên thực tế, làng xã chỉ là tổ chức của một nhóm những người có thế lực nhất trong làng xã, trên danh nghĩa là thay mặt dân quản trị công việc làng Đây là một thực trạng đã diễn ra khá phổ biến trong làng xã Bắc Kỳ bấy giờ Tổ chức xã thôn trở thành công cụ đế củng
cố hơn nữa quyền lực và lợi ích của bộ phận cường hào, địa chủ Nạn cường hào ngày càng đẩy người nông dân đến con đường bần cùng hóa Xã thôn trở thành mối
ràng buộc đáng sợ với người dân “Vì không có ai kiểm soát, cho nên Hội đồng Hương chức không còn thật là một hội đồng quản trị nữa, thành ra chỉ là một bọn người quản trị các việc trong xã mà lại không có quyền chức của quan trên cho,,]
Chính vì thế, chính quyền Pháp cho rằng cần phải cải lương hương chính vì “tàm
cho thôn xã được hợp với trình độ tiến hóa của dân’'1.
Nhưng vì Bắc Kỳ là vùng đất có phong tục tập quán hàng ngàn năm, tư tưởng Nho giáo ăn sâu vào mọi tầng lớp nhân dân, nên việc thay đổi phong tục tập quán của làng xã cổ truyền ngay là một việc làm không dễ Do vậy, thực dân Pháp đã cho tiến hành thử nghiệm chính sách này ở một số làng xã tỉnh Hà Đông từ năm 1913 đến năm 1920 nhằm thăm dò phản ứng của nhân dân, trước khi thực hiện đồng loạt tất cả các làng xã ở Bắc Kỳ.
2 Chính quyền Pháp chọn tỉnh Hà Đông làm noi thí điếm thực hiện chính sách cải ỉưong hương chính
Hà Đông có 6 điểm vượt trội so với các tinh khác ở Bắc Kỳ, khiến chính quyền thực dân Pháp đã chọn làm thí điểm cái lương hương thôn.
Thứ nhất, Hà Đông nằm ở phía Tây-Nam Hà Nội, có một vị trí đặc biệt auan
trọng, là cửa ngõ ra vào Hà Nội - trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội của toàn xứ Bắc Kỳ Hà Đông cũng là cầu nối Hà Nội với nhiều vùng của đất nước, là địa bàn cơ độna, có tính chiến lược Phía Bắc Hà Đông giáp tỉnh Sơn Tây,
ià vùng đệm nàm giữa đồng bằng Bắc Bộ với Việt Bắc Phía Tây Hà Đông tiếp giáp với tỉnh miền núi Hòa Bình, cửa ngõ Tây Bắc Phía Nam Hà Đông siáp tỉnh Hà Nam, cửa ngõ của đồng bằng sông Hồng nhiều phù sa Tỉnh Hà Đông hình tứ giác, hai phía dài chạy từ Bắc đến Nam, hai phía ngắn, một phía chạv từ Đông Bắc đến Tây Nam, còn một phía nữa chạy từ Tây Bắc đến Đông Nam Các tuyến đường huyết mạch lấy tâm điểm thành phố Hà Nội đi các tỉnh qua Hà Đông: Hà Nội - Sơn Tây, Hà Nội - Hòa Bình, Hà Nội-Phủ Lý như ôm trọn lấy tỉnh Hà Đông Ngoài ra,
1 Nghị định và lời chỉ dẫn về việc tổ chức hương hội và lập sổ chi thu trong các xã ở Bắc Kỳ
Trích lục ờ Bắc Kỳ quan báo, Kẻ sở, 1924, tr.2.
2 Hà Đông tình địa dư chí , Trung Bắc tân văn, 1925, tr.31 s.
Trang 5CẢI LƯ ƠNG H Ư Ơ N G CH ÍN H Ở TỈN H H À Đ Ô N G
Hà Đông còn có hai con sông lớn chảy qua là sông Hồng và sông Đáy Với vị trí đặc biệt quan trọng như vậy, Hà Đông được chính quyền Pháp đặc biệt quan tâm Bởi có thể nói, mọi diễn biến xã hội ở Hà Nội đều tác động mạnh mẽ tới Hà Đông
và ngược lại.
Hà Đông có lịch sử lâu đời, là vùng đất cổ xưa của đồng bằng Bắc Bộ Các làng xã ở Hà Đông có bề dày truyền thống lịch sử và văn hóa, mang đầy đủ đặc trưng của làng Việt truyền thống Ở đây có sự phân tầng đẳng cấp sâu sắc trong các
bộ phận dân cư, sự tồn tại vững bền các tập tục cố truyền và tính tự trị, tự quản lâu đời trong làng xã Bởi vậy, diện mạo của các làng xã ở tỉnh Hà Đông có thể xem là tiêu biểu và điển hình cho vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Thứ hai, về chính trị, Hà Đông nằm ở vị thế thuận lợi có điều kiện tiếp nhận
nhanh nhạy, sâu sắc mọi diễn biển về chính trị, xã hội của đất nước thông qua tác động trực tiếp từ thành phố Hà Nội Ngược lại, sự hưởng ứng kịp thời, mạnh mẽ của nhân dân Hà Đông qua các phong trào yêu nước và cách mạng là sự phối hợp, hỗ trợ trực tiếp đối với Hà Nội, sự đóng góp tích cực với phong trào chung của cả nước Tiêu biểu nhất là trường Đông Kinh nghĩa thục) mở tại Hà Nội (năm 1907) với người sáng lập là cụ Lương Văn Can quê ở Nhị Khê huyện Thường Tín đã có ảnh hưởng khá sâu rộng ở các huyện Hà Đông bao quanh Hà Nội như Hoài Đức, Thanh Trì, Đan Phượng.
Năm 1908, trong một bản tường trình, Công sứ Jules Bosc1 đánh giá vị trí chiến lược quan trọng của tỉnh Hà Đông như sau: uDo điều kiện địa dư, do mật độ dân số trong đó có nhiều sĩ phu sống và hoạt động, do sự tiếp giáp với Hà Nội là thành phổ bị đất đai Hà Đông bao quanh, cho nên tỉnh Hà Đông là một trong những tỉnh ở Bắc Kỳ mà những biến cố về chính trị gây được ảnh hưởng và tiếng vang nhiều nhất Nếu như cần có một mảy ghi để đo sức mạnh tinh thần của người
An Nam và những thay đối về trạng thái tư tưởng của dân chúng, thì chỉnh Hà Đông là nơi cần phải đặt thứ máy đó, là vì những chấn động của nó làm lay chuyển hình thái xã hội được thể hiện một cách mạnh mẽ nhất, trung thực nhất”2.
Chính quyền Pháp không ngừng tăng cường và củng cố bộ máy cai trị ở tỉnh
Hà Đông Tính từ năm 1906 đến năm 1915 tỉnh Hà Đông đã có 9 viên Công sứ3.
1 Jules Bosc là Công sứ tinh Hà Đông từ 8/8/1908 đến 13/5/1910.
2 Hoàng Trọng Phu, Nhận xét về tỉnh Hà Đông, Lê Gia Hội dịch, Thư viện tỉnh Hà Tây,
1975, tr.9.
3 Le Gallen, Maurice (27/7/1906-7/3/1907) quan cai trị hạng III; Duvillier, Eugène Francois (8/3/1907-7/8/1908) quan cai trị hạng I; Bose, Jules (8/8/1908-13/5/1910) quan cai trị hạng II; Bride, Jules-Joseph (24/5/1910-18/7/1910) quan cai trị hạng III; Maire, Georges Henri (19/7/1910-21/10/1910) quan cai trị hạng II; Le Gallen, Maurice (9/11/1910-6/4/1912) quan cai trị hạng I; Buffel Du Vaure, Raoul Marie (7/4/1912-22/12/1913) quan cai trị hạng I;
Trang 6VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỦ TƯ
Chính quyền Pháp bố trí nhũng viên công sứ nhà nghề, lão luyện, nhiều thủ đoạn trong nghề cai trị Trong đó có nhữns phần tử thực dân khét tiếng như Công sứ Jules Bride được mệnh danh là một trong tứ hune Bắc Kỳ1, hay như Công sứ Henri Fouque được các viên quan cai trị Pháp tôn là bậc thầy trong ‘‘nghề cai trị” nhất là mặt tâm lý, tập quán và đào tạo tay sai vì “hiếu thấu người bản xứ” Chính vì vậy, ngay từ cuối năm 1909, chính quyền thực dân Pháp đã đánh giá tình hình chính trị ở
Hà Đông “trở lại tình trạng bình ổn về mặt chính trị” hay “mãn nguyện về tình hình chính trf'3
Do Hà Đông gần Hà Nội, nên đội neũ cai trị còn được bổ sung một lực lượng đông đảo đó là các hưu quan, thành phần có nhiều kinh nehiệm trong việc cai trị Sự cộng tác giữa hai bộ phận thống trị người Việt và người Pháp ở đây đã đạt đến “một
sự hài hòa mới mẻ” để chính quyền thực dân có thể thực thi có hiệu quả chính sách cai trị thông qua đội ngũ tay sai đông đảo và trung thành này.
Thứ ba, về kinh tế, Hả Đông là một t ỉ n h đông dân, đất đai màu mỡ Ngoài sản xuất lương thực thực phẩm, Hà Đông còn có nền tiểu thủ công nghiệp cổ truyền, phong phú có 136 ngành nghề, với những sản phẩm thủ công mỹ nghệ không những nổi tiếng trong nước mà còn trong khối Liên Hiệp Pháp “có một số mặt hàng kinh doanh tương đương với một số mặt hàng của một xứ nào đó trong khối Liên hiệp Pháp, nó đứng đầu các tỉnh ở Đông Dương" như nghề khảm trai ở Chuyên Mỹ
(Phú Xuyên), nghề ren ở Bình Minh (Thanh Oai), nghề làm nón ở Chuông (Thanh Oai), nghề thêu ở Quất Động (Thường Tín), đặc biệt là nghề dệt the, lụa ở Vạn Phúc, La Khê thị xã Hà Đôneu
Nền tiểu thủ côn® nghiệp cổ truyền ỏ' tỉnh Hà Đông rất phong phú, không những nổi tiếng bền, đẹp, tinh xảo mà còn giải quyết được vấn đề việc làm và mang lại giá trị kinh tể cao như: Nghề làm mây ờ Bằng Sở (Thanh Trì) và ở Phủ Vinh (Chương Mỹ) làm thủng mủng, giỏ đựnẹ giấy, đĩa đựng bánh, năm 1914 bán được
hơn 4.000$ hàng5 “Nghề làm ren, cả tỉnh Hà Đônọ, có khoảng 20.000 người làm,
Emmerich, Pierre (5/3/19 ỉ 3-9/3/1914) quan cai trị hạng 1; Garid, Charles (10/3/1914- 16/6/1918) quan cai trị hạng lí.
1 Bốn tên thực dân tàn ác nhất dàn ta thường gọi là tứ hung Bắc Kỳ: nhất Đ á c ( Đ á c lơ), nhì Ke (Éc-ke), tam Be (Đè Ga-lam-be), tứ Bích (Bơ-ríí).
2 Hoàng Trọng Phu, Nhận xét về tình Hà Đông, Lê Gia Hội d ị c h Thư v i ệ n t ỉ n h Hà Tây, 1975,
Trang 7CẢI LƯ ƠNG H Ư Ơ N G CH ÍN H Ở TỈN H HÀ Đ Ô N G
thường làm thử ren filet Nghề dệt lụa, thêu có 1.550 cái khung cửi dệt lụa Nghề làm nón có 16 làng N g h ề dệt vải có khoảng 3.000 khung cửu dệt vải n ằ m rải rác trong 20 làng và khoảng 1.050 người làm giấy, 200 người làm hư ơn g”' Tỉnh H à
Đông có nhiều làng nghề tiểu thủ công nổi tiếng nên trone các Hội chợ được tổ chức hàng năm, Hà Đông thường thuê tới 7 gian hàng để giới thiệu và bán những sản phẩm thủ công nổi tiếng nhất tỉnh.
Ngoài phát triển kinh tế nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, Hà Đông còn là địa bàn trực tiếp hoặc trung gian cung cấp lương thực, thực phẩm, các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày cho thành phố Hà Nội Hà Đông còn là cầu nổi giao lưu kinh tế giữa
H à N ộ i v à n h i ề u v ù n g c ủ a đ ấ t n ư ớ c Đ i ề u n à y đ ư ợ c c h ứ n g m i n h “ ốổtt p h ầ n trăm kinh tế H à Đ ô n g là buôn bán nh ư buôn sơn, luạ, vải, giấy bản, nón lá, m ũ đan, thừng chão, đồ go chạm những lò m o ở H à Nội, Hải P h ò n g thường đến m u a bò, lợn, trâu ở chợ Bằng, chợ Đơ ”2.
Chính sự phát triển về kinh tế, việc trao đổi hàng hóa giữa Hà Đông và Hà Nội
đã dần tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa các thương nhân người Pháp với nhân dân
trong tỉnh, sự giao lưu về tư tưởng ngày càng lớn, càng thường xuyên hơn D ù là
trực tiếp hay gián tiếp thì sự giao lưu đó đã ảnh hưởng đến lối sống và cách sống, làm nảy sinh những nhu cầu mới Lâu dần ở một số làng tiếp giáp với Hà Nội, đã có
nhiều nhà ngói thay thế nhà tranh, làng quê dần dần biến đổi, đường sá được m ở
rộng C ó thể nói, những thay đổi nho nhỏ này cũng là một trong những điều kiện thích hợp cho việc thí điểm cải lương hương chính của Pháp ở thôn quê được thuận lợi Chính vì vậy, sự phong phú trong các họat động kinh tế của Hà Đông cũng là một trong những tiêu chí để chính quyền Pháp chọn làm tỉnh thí điểm cải lương hương chính.
Th ứ tư, về o u â n s ự tỉn h H à Đ ô n g là v à n h đai trự c tiế p b ả o v ệ an to à n c h o th à n h
phổ Hà Nội, nơi đầu não của bộ máy thống trị thực dân ở Bắc Kỳ và toàn Đông Dương Đồng thời, Hà Đông cũng là bàn đạp để thực dân Pháp tiến hành đàn áp và
b ì n h đ ị n h các t ỉ n h Bắc Kỳ.
v ề quân sự, n g o à i việc dựa vào lực lượng tập trung ở Hà Nội, thực dân Pháp đặt ở tỉnh Hà Đông một trại lính khố xanh có khoảng 200 binh sĩ các bọn giám binh Pháp trực tiếp chỉ huy Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn đóng nhiều đồn lẻ ở những nơi trọng yếu trên đường giao thông, nơi tiếp giáp Hà Đông - Hòa Bình, Hà Đông - Sơn Tây như đồn Phùng, Xuân Mai, Ba T há để phong tỏa những khu vực này và
1 J.Rouan, H à Đông tinh địa dư chí, Trung Bắc tân văn, 1925, tr.57-58.
2 “Niên biểu hành chính Đông Dương, năm 1909” , trích lại Lịch sứ Đảng bộ H à Táy, tập 1:
1926-1945, Tỉnh ủy Hà Tây, 1992, tr 19
Trang 8VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LẦN THỦ T ư
k i ể m s o á t s ự g i a o lư u v ớ i m iề n t ru n g , t h ư ợ n e du Đ ồ n B a T h á “ có thời gian ổồn khổ xanh ngã ba Thá đã bỏ đi, n ă m 1914 lại phải tái lập để tăng cicờng sự canh gác tuần phòng: hạt C h ư ơ n g Mỹ, M ỹ Đ ứ c là nơi có nhiều khó khăn lại giáp H ò a Bình, nơi trú ẩn của nhiều kẻ khả nghi
Hà Đông là vùna, đất giàu truyền thốne văn hiến với một nền giáo dục có trinh
độ học vấn tương đối cao, kết quả khoa cử khá nổi bật, trong đó tập trung nhất ở các làng khoa bảng, tức là những làng có nhiều người đồ đạt qua các kỳ thi Nho học ;ủa Nhà nước phon? kiến Chính truyền thống hiếu học đó làm cho làng xã Hà Đòng thêm yên bình và hưng thịnh Điều này được minh chứng bằng số lượng các tiến sĩ Nho học trong 8 huyện ở tỉnh Hà Đông gồm (Thường Tín, Thanh Oai, I loài Eức,
C h ư ơ n g M ỹ , ứ n g H ò a , Đ a n P h ư ợ n g , thị x ã H à Đ ô n g , P h ú X u y ê n ) t r o n g s u ố t c á c
t r i ề u đ ạ i p h o n g k i ế n c ó 2 5 6 t iế n sĩ, c h i ế m 8 , 8 3 % 3 so v ớ i c ả n ư ớ c v à đ ứ n g t h ứ 3 c ả
nước sau Hải Dương và Bắc Ninh Có nhữne, làng ở Hà Đông đỗ tiến sĩ nhiều nổi tiếng cả nước như làng Chi Nê huyện Chương Mỹ lơ người, lảng Sơn Đong phủ Hoài Đức 8 người, làng Nghiêm Xá huyện Thường Tín đỗ 7 người
Hà Đông lả một vùng đất cổ vì vậy dẩu ấn tín ngưỡng của nhiều thời kỳ [ịch
sử kết lắng khá đậm nét trong sinh họat văn hóa ở làng xã Do đó, Hà Đông nổi
tiếng có nhiều di tích lịch sử văn hóa gan liền vớ i các họat độnẹ tôn giáo, tín
ngưỡng Đó là hệ thống đền, miếu, đình, chùa có mật ở khắp mọi nơi: chùa Tây Phương, chùa Trăm Gian, chùa Thầy, chùa Hương, đình Tây Đằng
Tỉnh Hà Đông nổi tiếng không chỉ là địa phương có truyền thống khoa cử,
nhiều người đỗ đạt mà còn là vùng đất cổ kính có truyền thống văn hóa lâu đòi, vì
vậv việc lựa chọn Hà Đônạ làm tỉnh thí điểm cải lương hương chính còn bao -làm
1 Province de Hadong (tỉnh Hà Đông) Thư viện Quốc eia, ký hiệu M 10349, không có tên tác giả (Trích lại Sơ thảo lịch sứ Cách mạng thúng Tám H à ĐõníỊ, Sơn Tây, năm 1967, tr 14-15.
2 Hoàng Trọng Phu, Nhận xét về tỉnh Hà Đông, Lê Gia Hội dịch, Thư viện tỉnh Hà Tây, 9n 5,
tr 15?
3 Một so van đề văn hiến H à Táy truyền thống và hiện đại, sỏ' Văn hóa Thông tin Ilà Tiy và
Trung tâm Bảo tồn và Phát triển nghệ thuật dân tộc, 2001, tr.98
Trang 9CÁI LƯ Ơ N G H Ư Ơ N G C H ÍN H Ở TỈN H HÀ Đ Ô N G
m ột ý đồ nữa của chính quvền thực dân Pháp: thăm dò sự phản ứng của các tầng lớp nhân dân ở m ộ t địa ph ư ơ n g có truyền thống văn hóa và lịch sử đối với chủ trư ơng cải lương hư ơ n g chính của Pháp, m ột việc làm đụng chạm trực tiếp đến tập quán cổ
t r u y ề n c ủ a l à n g xã
Thứ sáu, M ột tro n g nh ữ ng yếu tố không thế thiếu khiến chính quyền Pháp chọn H à Đ ông làm tỉnh thí điểm cải lương h ư ơ n e chính là vai trò của T ổng đốc H à Đôna, H oàng T rọng Phu
H oàng T rọng Phu sinh ra trong m ột gia đình gắn bó với chính quyền thực dân Pháp ngay từ n h ữ ng buổi đầu đặt chân lên Bắc Kỳ, là con trai thứ hai của H oàng
C ao Khải, em trai củ a H oàng M ạnh Trí, T ổng đốc N am Đ ịnh, con rể của Đ ỗ H ữu Phương, T ổng đốc C h ợ Lớn N ăm 1897, khi T rường H ậu bổ được thành lập theo thông tư của phó T o àn quyền Đ ông D ương v à theo đề nghị của K inh lược B ắc K ỳ
H oàng C ao K hải, H o àn g T rọng Phu được giao nhiệm vụ giảng dạy và điều hành
việc học tập của trường.
H oàng T rọiig Phu được đào tạo bài bản, từ ng du học 6 năm bên Pháp, và là
m ột trong số quan ch ứ c đầu tiên tốt nghiệp trư ờng thuộc địa về lãnh chức T ổng đốc
H à Đ ông từ năm 1907 đến năm 1938, được phong tước T h iếu bảo N ăm 1915, C ông
sứ tỉnh H à Đ ô n g là F ourque rất hài lòng khi cộng tác với T ổng đốc H oàng T rọ n g
P h u “ To/ lấy làm vinh d ự được làm việc dưới quyền ông Ô n g đã đ e m lại cho tôi một tổ chức hành chính hoàn hảo nhất, đã chỉ cho tôi cách hiếu biết về người bản
xứ và nơi sinh sông của họ, làm cho tôi hiêu về sự vững bền của CO' cau co truyền
của nước này”'.
Có thể nói, một lợi thế nữa khiến Hà Đông được chọn làm nơi thí điểm cải
lương hương chính là vì tổng đốc của địa phương này, H oàng Trọng Phu được tiếng
là có những cách thứ c thu phục lòng dân Đ iều đó được thể hiện qua đánh giá của
m ột số quan chức chính quyền thực dân: “Ô n g đã đi khắp tỉnh thăm dần dần tất cả các làng mạc, làm quen với các chức dịch hàng tong, hàng xã để m à xe m xét, đánh giá, ông đặc biệt chú ý đến đời song của người dân quê m à ông m u ố n làm cho nó tot đẹp hơn Rất nhiều xưởng thủ công được dựng lên hoặc phục hồi Hoạt động kinh tế được nâng đ ỡ như vậy chắc chắn sẽ làm tăng sự giàu có cho xứ sở ”2, tiếp nhận kiến nghị của họ đê m à giải quvết những vụ kiện tụng xây ra trong các làng x ó m và
đã được đệ trình lên ông, nhất là ông đã tìm mọi cách duy trì những lệ cô .
1 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Tây, Sơ thảo lịch sử Cách mạng tháng Tám Hà Đông, Ban
Trang 10VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HOI THẢO QUÓC TE LẦN THỨ TƯ
Đ i ề u n à y đ ư ợ c m in h c h ứ n s t r o n g v ò n g 8 n ă m t ừ 1907 đ ế n 1915 t ỉ n h H à Đ ô n g
t h a y đ ôi 9 v iê n C ô n g sứ "các vị đó thay đôi nhanh quá nhanh, đến noi khó m à định
ra được kê hoạch theo V kiên từng vị, vậy m à ông Tông đôc H c à n g Trọng P h u đã biết chú ỷ đến phúc lợi của người dân quê và tự đ ả m đương việc phát triển kinh tê trong tỉnh M ộ t C ônR s ứ ở H à Đ ô n g t ừ n g n h ậ n x é t: “Bằng cách đ e m lại mối bi ông (chỉ H o à n g Trọng Phu) đã thành công trong việc thắt chặt dây liên lạc giữa các gia đình, hướng tâm trí người ta vào việc làm ăn, xua đuôi sự nhàn roi thường
là moi sinh ra nhiều tật xấu Nen kinh tế phát triển giúp cho ôn<ị quan đầu tỉnh tản
x ứ rất lớn trong công việc cai trị về phươ ng diện chính trị”
1 Lịch sử Đ ảng bộ Hà Tây, tập 1: 1926-1945, Tỉnh ủy Hà Tây, 1992, tr.32.
2 Richard Jules Luois Công sứ đầu tiên của thực dàn Pháp của tỉnh c ầ u Đơ trước khi đd tên thành tỉnh Hà Đông từ 6/4/1899 đến 3/1900