1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng lý thuyết danh mục đầu tư vào thị trường chứng khoán HOSE

81 747 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng Dụng Lý Thuyết Danh Mục Đầu Tư Vào Thị Trường Chứng Khoán Hose
Người hướng dẫn TS. Ngô Văn Thứ
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Toán Tài Chính
Thể loại Chuyên đề
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ứng dụng lý thuyết danh mục đầu tư vào thị trường chứng khoán HOSE

Trang 1

Lời mở đầu

Thị trường chứng khoán (TTCK) là một kênh huy động vốn rất cóhiệu quả Hoạt động này đã thu hút được nhiều các nhà đầu tư tham gia thịtrường Sau hơn 10 năm hoạt động (TTCK) ở Việt Nam đã có khá nhiềubiến động xảy ra Tuy nhiên trong quãng thời gian này đã có người kiếmđược khoản tiền khá lớn từ việc đầu tư chứng khoán nhưng bên cạnh đócũng không ít nhà đầu tư gặp nhiều rủi ro và thua lỗ khá nặng gây phá sản.Giá chứng khoán của các công ty hầu như không ổn định chỉ số VNINDEXbiến động liên tục và hầu như là tụt dốc so với thời gian trước gây tâm lýbất ổn cho các nhà đầu tư.Chính vì vậy các công ty chứng khoán trở thànhđịa điểm tin cậy của các nhà đầu tư,nơi cung cấp các dịch vụ tốt nhất vàtiên tiến nhất cho các nhà đầu tư.Nơi đó có các chuyên gia phân tích caocấp-những người thường xuyên theo dõi biến động thị trường để đưa ranhững nhận xét,phân tích bổ ích cung cấp đến các nhà đầu tư như 1 cẩmnang giúp các nhà đầu tư dựa vào đó và cùng những phân tích của bản thânmình để đưa ra quyết định thích hợp.Vậy câu hỏi được đặt ra cho các

Trang 2

chuyên gia phân tích là gì?''Làm thế nào để phòng ngừa,có thể giảm thiểu

và tránh được rủi ro".Đây là 1 câu hỏi hàng đầu của các chuyên gia phântích Một trong những phương pháp được sử dụng nhiều hiện nay nhằm tốithiểu hóa rủi ro là nguyên tắc đa dạng hóa Đa dạng hóa được thể hiệnthông qua việc đầu tư danh mục Làm thế nào để có thể xây dựng được 1danh mục đầu tư hiệu quả?

Trong thời gian thực tập tại công ty chứng khoán Liên Việt em đãđược gợi ý nghiên cứu lập danh mục đầu tư bằng phương pháp toánhọc.Với vốn kiến thức được tích lũy sau gần 4 năm học đại học,rèn luyện

trong chuyên ngành Toán tài chính em quyết định lựa chọn đề tài: "Ứng

dụng lý thuyết danh mục đầu tư vào thị trường chứng khoán HOSE

nhằm xác định danh mục đầu tư hiệu quả của 1 số ngành"

Kết cấu chuyên đề của em gồm 3 chương:

- Chương I: Tổng quan về danh mục đầu tư chứng khoán

- Chương II: Một số lý thuyết và mô hình áp dụng trong việc xâydựng danh mục

Trang 3

- Chương III : Xây dựng danh mục đầu tư trên thị trường chứngkhoán Việt Nam

Em xin chân thành cảm ơn các anh chị trong phòng phân tích thuộccông ty chứng khoán Liên Việt đã giúp đỡ em nhiệt tình và tạo điều kiệntốt cho em trong quá trình thực tập cũng như hoàn thành chuyên đề

Và trên hết em xin bày tỏ lòng biết ơn thầy giáo TS.Ngô Văn Thứ

đã tận tình hướng dẫn,cho em định hướng cũng như góp ý chình sửa giúp

em hoàn thành tốt nhất chuyên đề của mình

Trang 4

Chương 1:

Tổng quan về danh mục đầu tư chứng khoán

1.1.Một số nét khái quát về thị trường chứng khoán

1.1.1.Khái niệm và đặc điểm của chứng khoán

a)Khái niệm chứng khoán

Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp phápcủa người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành.Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc

dữ liệu điện tử

b)Đặc điểm chứng khoán

Hiện nay trên thị trường chứng khoán có các loại chứng khoán đanglưu thông sau:

- Cổ phiếu:cổ phiếu phổ thông,cổ phiếu ưu đãi

- Chứng khoán phái sinh: Quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợpđồng tương lai, quyền chọn mua cổ phần

Trang 5

*)Cổ phiếu

Cổ phiếu là loại chứng khoán chứng nhận cổ phần,nó xác nhậnquyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với 1 phần vốn cổ phầncủa tổ chức phát hành.Người nắm giữ cổ phần trở thành cổ đông và đồngthời là chủ sở hữu của công ty phát hành

Cổ phiếu gồm 2 loại chính:cổ phiếu phổ thông(hay cổ phiếu thường)

và cổ phiếu ưu đãi

●Cổ phiếu phổ thông

Cổ phiếu phổ thông là loại cổ phiếu có thu nhập phụ thuộc vào hoạtđộng kinh doanh của công ty Người sở hữu cổ phiếu phổ thông được thamgia họp Đại hội đồng cổ đông và được bỏ phiếu quyết định những vấn đềquan trọng nhất của công ty, được quyền bầu cử và ứng cử vào Hội đồngquản trị của công ty

Loại cổ phiếu này được chia cổ tức đều đặn hàng năm và được tănggiá trị cổ phiếu khi công ty kinh doanh có lãi và phát triển tốt

●Cổ phiếu ưu đãi

Trang 6

Cổ phiếu ưu đãi tương tự như cổ phiếu phổ thông nhưng cổ đông sởhữu nó không được tham gia bầu cử và ứng cử vào Hội đồng quản trị,nhưng lại có quyền được hưởng thu nhập cố định hàng năm theo một tỷ lệlãi suất cố định không phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty, được ưu tiênchia lãi cổ phần trước cổ đông phổ thông và được ưu tiên chia tài sản cònlại của công ty khi công ty thanh lý, giải thể.

Gọi là cổ phiếu ưu đãi vì thông thường cổ tức được chia cao hơn cổphiếu thường, và khi công ty bị thanh lý thì có ưu tiên thanh toán hơn cổphiếu thường Có nhiều cách phân loại cho cổ phiếu ưu đãi tuỳ theo cácđiều kiện ưu đãi cho cổ phiếu đó, có thể phân loại theo hình thức như sau:

Cổ phiếu ưu đãi được chia cổ tức cao hơn cổ phiếu thường, bù lại cổphiếu ưu đãi không được dự chia giá trị gia tăng của doanh nghiệp khidoanh nghiệp kinh doanh tốt hơn

Cổ phiếu ưu đãi dự phần, cũng như trên, cổ phiếu này được chia cổtức cao hơn cổ phiếu thường, và thỉnh thoảng được dự chia giá trị gia tăngcủa doanh nghiệp

Trang 7

Cổ phiếu ưu đãi có lãi suất điều chỉnh, loại cổ phiếu này có lãi suất(tức là cổ tức gắn theo sự điều chỉnh của lãi suất trái phiếu chính phủ vàđược điều chỉnh từng quý một).

*)Quyền mua cổ phần,quyền chọn mua-quyền chọn bán,hợp đồng tương lai

●Quyền mua cổ phần

Quyền mua cổ phần là loại chứng khoán do công ty cổ phần pháthành kèm theo đợt phát hành cổ phiếu bổ sung nhằm đảm bảo cho cổ đônghiện hữu quyền mua cổ phiếu mới theo những điều kiện đã được xác định

●Quyền chọn mua, quyền chọn bán

Quyền chọn mua, quyền chọn bán là quyền được ghi trong hợpđồng cho phép người mua lựa chọn quyền mua hoặc quyền bán một sốlượng chứng khoán được xác định trước trong khoảng thời gian nhất địnhvới mức giá được xác định trước

●Hợp đồng tương lai

Trang 8

Hợp đồng tương lai là cam kết mua hoặc bán các loại chứng khoán,các nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán nhất định với một lượng

và mức giá nhất định vào ngày xác đinh trước trong tương lai

1.2.Lý thuyết chung về danh mục đầu tư

1.2.1.Tổng quan về danh mục đầu tư

a.Khái niệm danh mục đầu tư

Theo cách hiểu đơn giản nhất,danh mục đầu tư là một tập hợp gồm

ít nhất 2 loại tài sản trở lên.Mục đích cơ bản nhất của việc xây dựng vàquản lý danh mục đầu tư là đa dạng hóa nhằm tránh những khoản lỗ lớn

Danh mục đầu tư chứng khoán là các khoản đầu tư của 1 cá nhânhoặc 1 tổ chức vào việc nắm giữ 1 hoặc nhiều loại cổ phiếu,trái phiếu,hànghóa,đầu tư bất động sản,tài sản tương đương tiền hoặc các tài sản khác

Với mục đích là giảm thiểu rủi ro bằng đa dạng hóa danh mụcđầu tư,trên cơ sở các tài sản đầu tư,nhà đầu tư lập 1 danh mục đầu tư baogồm các tài sản khác nhau.Nguyên tắc là "không bỏ trứng vào 1 giỏ",cácnhà đầu tư tạo ra 1 danh mục có rủi ro thấp nhất-rủi ro của thị trường

Trang 9

b.Đặc điểm danh mục đầu tư.

Danh mục đầu tư chứng khoán, thực chất là một tổ hợp các tài sảnkhác nhau trong hoạt động đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư Danh mụcđầu tư biểu hiện sự phân bổ các tài sản đầu tư Việc phân bổ tài sản là việclựa chọn các tài sản đầu tư nhằm mục đích được mức lợi nhuận dài hạn caonhất với một mức rủi ro thấp nhất Trong quá trình đầu tư nhà đầu tư có thểthay đổi các tỷ lệ nhằm tận dụng cơ hội xuất hiện để đạt được mức lợinhuận cao hơn Khi nhà đầu tư nhận thấy triển vọng (hoặc kì vọng) về mộttài sản tốt họ có thể điều chỉnh danh mục đầu tư bằng cách giảm tỷ trọngvào các tài sản không có triển vọng và tăng đầu tư vào các tài sản có tỉtrọng cao có triển vọng tốt hơn

Danh mục đầu tư phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ, khả nănghiểu biết và phân tích TTCK của các nhà đầu tư, mức thuế suất với từngđối tượng nhà đầu tư, lứa tuổi, tâm lý, tính chất nhà đầu tư, thái độ của nhàđầu tư với rủi ro có người thì ưa thích rủi ro, có người thì dung hòa nhưngcũng có người thì e ngại rủi ro,…do đó với nhà đầu tư khác nhau thì có

Trang 10

danh mục đầu tư khác nhau Việc quyết định đầu tư phụ thuộc vào nhiềuyếu tố như: tình hình tài chính của nhà đầu tư, thông tin về các tài sản đầu

tư, xu thế chung của thị trường, mức chấp nhận rủi ro của chính nhà đầu tư

Tương ứng với mức chấp nhận rủi ro khác nhau thì lợi suất kỳ vọngdanh mục của từng nhà đầu tư cũng khác nhau Với nhà đầu tư ưa thích rủi

ro, có thể chấp nhận một mức rủi ro cao thì lợi nhuận kỳ vọng cao Ngượclại, các nhà đầu tư e ngại rủi ro có mức chấp nhận rủi ro thấp tương ứng vớilợi nhuận kỳ vọng thấp hơn

1.2.2.Sự cần thiết phải đầu tư chứng khoán theo danh mục

Đối với nhà đầu tư trên thị trường, đầu tư chứng khoán là một hoạtđộng đầu tư mang lại lợi nhuận cao Tuy nhiên, điều đầu tiên họ phải chấpnhận là không bao giờ có sự đầu tư nào đem lại lợi nhuận mà không có rủi

ro Nói cách khác khi đầu tư vào thị trường chứng khoán, họ không thểchắc chắn về lợi nhuận thu được; mặt khác khi nhà đầu tư thực hiện đầu tưđơn lẻ vào một loại cổ phiếu thì sẽ đối mặt với độ rủi ro cao Do đó, nhàđầu tư cần thiết phải xác định một danh mục đầu tư cho phù hợp với mức

Trang 11

chấp nhận rủi ro của mình Và việc đầu tư theo danh mục mang lại nhữnglợi ích sau:

- Thứ nhất, đầu tư chứng khoán theo danh mục vẫn đảm bảo đượccác yêu cầu của nhà đầu tư về lợi suất đầu tư Bên cạnh đó nhà đầu tư cóthể điều chỉnh danh mục phù hợp với lợi suất yêu cầu

- Thứ hai, đầu tư bằng danh mục đầu tư giúp nhà đầu tư có thể đadạng hóa rủi ro Khi đầu tư chỉ duy nhất một cổ phiếu, nếu cổ phiếu đó biếnđộng tốt thì tất nhiên nhà đầu tư sẽ thu được lợi nhuận tương đối cao;nhưng ngược lại trong trường hợp cổ phiếu đó mất giá hoặc doanh nghiệpphát hành bị phá sản, nhà đầu tư sẽ thua lỗ khá lớn Do đó nếu nhà đầu tưthực hiện đầu tư theo danh mục, các rủi ro riêng của chứng khoán đã được

đa dạng hóa, và họ sẽ xác định được danh mục đầu tư hiệu quả, phù hợpvới nhu cầu lợi nhuận của bản thân mình

- Thứ ba, với hình thức đầu tư bằng danh mục, các nhà đầu tư có thểđầu tư vốn của mình vào chứng khoán bằng cách đầu tư thông qua các tổchức chuyên nghiệp (đầu tư gián tiếp) Với hình thức này, nhà đầu tư uỷ

Trang 12

thác cho công ty tài chính hoặc quỹ đầu tư Họ sẽ không phải bỏ ra quánhiều chi phí giám sát đối với các chứng khoán Với khoản phí uỷ thác,công ty được uỷ thác sẽ quản lý danh mục đầu tư cho nhà đầu tư.

1.2.3.Chiến lược đầu tư

Trước khi xây dựng danh mục, nhà đầu tư phải xác định mục tiêumình muốn đạt được cho khoản đầu tư, do đó cần thiết lập một nhóm cácchỉ tiêu cho các công ty mà họ muốn đầu tư Và ít nhất nó phải xem xét đếnquy mô công ty, tỉ lệ tăng trưởng, sức mạnh tài chính và giá trị công ty.Đồng thời cũng phải tính đến số lượng chứng khoán mà nhà đầu tư muốn

có trong danh mục đầu tư của mình, điều này rất quan trọng với rủi ro vàlợi nhuận của danh mục đầu tư

Nhà đầu cũng phải quyết định xem họ muốn giữ mức đầu tư tăngtrưởng đến đâu thì bán chúng và nên bán ngay khoản đầu tư nếu bị khấuhao, hay nếu giá thị trường của nó đạt đến ngưỡng giá trị yêu cầu mà nhàđầu tư đã đề ra, hoặc khi có một cơ hội thực sự lớn hơn Đồng thời cần phảitiến hành quản lý danh mục đầu tư, việc quản lý này đòi hỏi nhà đầu tư và

Trang 13

người quản lý danh mục phải theo sát các tin tức quan trọng liên quan đếncông ty trong danh mục đầu tư Chiến lược quản lý danh mục đầu tư ở đây

có thể là chiến lược quản lý danh mục đầu tư thụ động; chiến lược quản lýchủ động và chiến lược quản lý hỗn hợp

- Chiến lược quản lý danh mục đầu tư thụ động là chiến lược mua vànắm giữ Khi các nhà đầu tư đều có cùng một đánh giá chung về lợi suất vàrủi ro một tài sản,có cùng quan điểm là các tài sản được định giá đúng thìcác nhà đầu tư lúc này sẽ quyết định nắm giữ tài sản này trong danh mục.Tỷ trọng của tài sản trong danh mục không thay đổi trong một thời hạn dàinhất định mặc dù các tài sản này bị biến động trên thị trường

- Chiến lược quản lý chủ động là chiến lược quản lý mà nhà đầu tưcho rằng các tài sản được định giá sai.Hay qua phân tích và dự báo, lợi suất

và rủi ro của tài sản phân tích khác với số đông.Lúc đó nhà đầu tư quyếtđịnh điều chỉnh danh mục để kiếm lời Do đó, danh mục của chiến lược đầu

tư chủ động luôn biến đổi theo biến động của thị trường

Trang 14

- Chiến lược quản lý hỗn hợp là chiến lược kết hợp cả hai chiến lượctrên Nhà đầu tư căn cứ vào tình hình chung của thị trường và các kết quảđịnh giá tài sản để tiến hành quản lý danh mục đầu tư

Trang 15

một chứng khoán bất kỳ là kết quả phản ánh mọi thông tin liên quan đếnnó.

*)Những hình thái của thị trường hiệu quả

Sự phân chia thành các hình thái của thị trường hiệu quả là dựatrên mức độ khác nhau của tiêu thức mà những thông tin có thể nhận đượctheo như cách phân loại thông tin ở trên Có ba loại hình thái:

- Hình thái yếu của thị trường (Weak form): Trong hình thái này,giá cả của chứng khoán đã phản ánh đầy đủ và kịp thời những thông tintrong quá khứ về giao dịch của thị trường như giá cả giao dịch, khối lượng,động thái… Khi hình thái yếu của thị trường tồn tại thì các nhà phân tích

kỹ thuật sẽ bị “vô hiệu hoá” và không có bất kỳ những thông tin nào trongquá khứ có tác dụng để dự đoán cho tương lai

- Hình thái trung bình của thị trường (Semi strong form): Hình tháinày phản ánh tất cả những thông tin liên quan đến công ty và được công bốđối với công chúng như báo cáo tài chính, chi trả cổ tức, tình hình sảnxuất… và nhà đầu tư có thể nhận thấy giá chứng khoán phản ánh các thông

Trang 16

tin công khai của công ty Khi hình thái trung bình tồn tại thì không có hìnhthức phân tích nào kể cả phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật có thể đemlại lợi nhuận siêu ngạch cho nhà đầu tư nếu việc phân tích chỉ dựa trên cácthông tin trên thị trường

- Hình thái mạnh của thị trường (Strong form): Trong hình thái nàygiá cả của chứng khoán phản ánh tất cả những thông tin cần thiết liên quanđến tổ chức phát hành thậm chí đó là những thông tin nội gián, thông tinmật Các thông tin nội bộ có thể được mua bán trên thị trường nhằm tậndụng cơ lợi về chênh lệch thông tin và thị trường sẽ phản ánh hết sức nhanhvới bất kỳ thông tin nào, do đó không thể vận dụng bất kỳ một phân tíchnào trong hình thái này

b.Rủi ro và phân tán rủi ro

Theo Webster, rủi ro là khả năng bị thua lỗ hoặc tổn thất Trongđầu tư chứng khoán, rủi ro được định nghĩa là khả năng xảy ra nhiều kếtquả ngoài dự kiến hay nói theo cách khác mức sinh lời thực tế nhận đượctrong tương lai có thể khác với dự tính ban đầu

Trang 17

Người ta chia rủi ro thành hai loại, đó là rủi ro hệ thống (rủi ro thịtrường) và rủi ro phi hệ thống Rủi ro hệ thống bao gồm rủi ro lãi suất, rủi

ro sức mua… chúng đều không kiểm soát được và có ảnh hưởng rộng rãiđến thị trường và tất cả mọi loại chứng khoán Ngược lại rủi ro phi hệthống do các yếu tố nội tại gây ra, có thể kiểm soát được và chỉ tác động tớimột ngành, một công ty hay một loại chứng khoán nào đó

Rủi ro khi đầu tư chứng khoán là không thể tránh khỏi nhưng chúng

ta có thể kiểm soát được Một trong những biện pháp được căn cứ để kiểmsoát rủi ro là “đa dạng hóa đầu tư” Theo đó việc đầu tư nên được thực hiệnqua nhiều loại tài sản vốn khác nhau tạo thành một danh mục đầu tư saocho tổng mức rủi ro trên toàn bộ danh mục được giới hạn nhỏ lại

Khi tiến hành đa dạng hóa danh mục đầu tư thì lợi suất và phươngsai của danh mục được tính như sau:

Lợi suất danh mục: E(rP) = w1 E(r1) + w2 E(r2) +…+ wn E(rn)

= 1

n i

 wi

E(ri)

Trong đó:E(rP) là lợi nhuận ước tính của danh mục

Trang 18

wi là tỷ trọng của tài sản i trong danh mục

ri là lợi suất ước tính của tài i trong danh mục

Phương sai của danh mục:σd

2

= 1

n i

c.Quan hệ rủi ro và lợi nhuận

Hầu hết các quyết định đầu tư trên thị trường chứng khoán đềuđược cân nhắc dưới góc độ rủi ro,tỷ suất sinh lợi mong đợi và những tácđộng của chúng trên giá chứng khoán cũng như kết quả tài chính cuối cùngđạt được trong quyết định đầu tư.Ở 1 số quốc gia có thị trường chứngkhoán phát triển,từ rất lâu nhà đầu tư đã biết áp dụng nguyên tắc "không bỏtrứng vào cùng 1 giỏ".Để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của danhmục,nhà đầu tư phải đánh giá dựa trên 2 yếu tố quan trọng đó là rủi ro và tỷsuất sinh lợi

Trang 19

Không bao giờ có 1 sự đầu tư nào đem lại lợi nhuận mà không córủi ro.Rủi ro được xem như là khả năng xuất hiện các khoản thiệt hại về tàichính.Những chứng khoán nào có khả năng xuất hiện những khoản lỗ lớnđược xem như có rủi ro cao hơn những chứng khoán có khả năng xuất hiệnnhững khoản lỗ thấp hơn.Vì vậy,rủi ro được mô tả bằng sự biến đổi cuả cáctỷ suất sinh lợi của chứng khoán đó

Tỷ suất sinh lợi của chứng khoán chịu tác động của rất nhiều yếu tốrủi ro.Rủi ro có thể bị triệt tiêu hoàn toàn thông qua việc kết hợp danh mụcđầu tư hiệu quả của nhiều chứng khoán được gọi là rủi ro phi hệthống.Phần lợi nhuận mong đợi để bù đắp cho loại rủi ro này chính là phần

bù rủi ro chứng khoán.Loại rủi ro không thể triệt tiêu được gọi là rủi ro hệthống.Phần lợi nhuận mong đợi tương ứng với loại rủi ro này chính là tỷsuất sinh lợi phi rủi ro.Lợi suất càng cao thì rủi ro càng lớn và ngược lại

d.Nguyên lý đa dạng hóa danh mục

Đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm giảm rủi ro tức là kết hợp đầu

tư vào nhiều loại chứng khoán mà các chứng khoán này không có tương

Trang 20

quan cùng chiều với nhau một cách hoàn hảo, do đó nếu chứng khoán nàybiến động theo chiều hướng giảm lợi nhuận thì có thể được bù đắp bằngbiến động tăng lợi suất của chứng khoán khác.Vì thế các nhà đầu tư thựchiện chiến lược đầu tư “không nên bỏ trứng vào cùng một giỏ”.

Theo như cách phân loại đã đề cập ở phần trước: mỗi một loại chứngkhoán đều tiểm ẩn hai loại rủi ro là rủi ro hệ thống (rủi ro thị trường) và rủi

ro phi hệ thống Tuy nhiên rủi ro phi hệ thống không phải là yếu tố được sửdụng để xác định mức lợi suất kỳ vọng, vì rủi ro này có thể bị mất đi nếudanh mục được đa dạng hóa hoàn hảo Do đó rủi ro hệ thống là một trongnhững yếu tố quyết định mức lợi nhuận dự kiến của một tài sản, vì thếchúng ta cần biết cách thức đo mức độ rủi ro hệ thống cho các khoản đầu tưkhác nhau Thước đo mà chúng ta sẽ sử dụng là hệ số Bêta (β)

Hệ số β cho ta biết mức rủi ro hệ thống của từng tài sản cụ thể so vớimức rủi ro hệ thống trung bình của tất cả tài sản là bao nhiêu.Theo địnhnghĩa này, một tài sản nào đó có β = 0,5 nghĩa là: mức độ rủi ro có hệ thốngcủa tài sản này bằng một nửa so với mức rủi ro trung bình của một tài sản

Trang 21

Đây là lý do giải thích tại sao khi phân tích rủi ro của từng cổ phiếu riêng lẻ

để đưa vào danh mục đầu tư, nhà đầu tư phải quan tâm nhiều đến phần rủi

ro hệ thống hơn là rủi ro tổng thể của danh mục

Ta có: Tổng rủi ro = rủi ro hệ thống + rủi ro phi hệ thống

Đồ thị 2.1 : Rủi ro của danh mục

Nhìn trên đồ thị ta thấy có mối quan hệ ngược chiều giữa rủi ro củadanh mục với số lượng chứng khoán Khi số lượng chứng khoán càng

Trang 22

nhiều thì rủi ro phi hệ thống của danh mục ngày càng nhỏ kéo theo rủi rocủa danh mục cũng càng nhỏ

e.Lý thuyết lựa chọn danh mục

Ý tưởng đa dạng hóa rủi ro là 1 ý tưởng đã tồn tại từ rất lâu.Tuynhiên phải đến năm 1952,Hary Markowitz mới đưa ra một mô hình chínhthức trong việc lựa chọn danh mục đầu tư,trong đó phản ánh nguyên tắc về

đa dạng hóa rủi ro.Mô hình của ông chính là bước đầu tiên của quản lýdanh mục đầu tư:xác định một hệ thống các danh mục đầu tư hiệu quả,tậphợp các danh mục này sẽ có một đường cong biên hiệu quả của các danhmục chứng khoán rủi ro,thường gọi là đường cong biên hiệu quả

Tất cả các danh mục nằm ở phần trên của đường cong biên(kể từđỉnh của đường cong) là các danh mục được kết hợp rủi ro-lợi nhuận tốtnhất và là những ứng cử viên của danh mục đầu tư tối ưu.Phần đường congnày gọi là đường cong biên hiệu quả.Với bất kỳ danh mục nằm ở phần dướicủa đường cong biên,sẽ có danh mục khác có cùng mức rủi ro mà lại có lợi

Trang 23

tức lớn hơn nhiều.Do vậy phần dưới của đường cong biên không có hiệuquả,sẽ bị bỏ qua khi nghiên cứu.

Danh mục đầu tư khả thi được lựa chọn là danh mục đầu tư tốt nhất

và luôn nằm trên đường cong biên hiệu quả.Phương pháp lựa chọn này doMarkowitz khởi xướng,do vậy gọi là mô hình lựa chọn Markowitz.Cácdanh mục nằm trên đường cong biên hiệu quả này còn được gọi là danhmục tối ưu Markowitz

Mô hình Markowitz đã cung cấp 1 khái niệm quan trọng là danhmục đầu tư hiệu quả.Đó là danh mục mà với mỗi lợi suất kỳ vọng cho trước

ta lựa chọn được mức rủi ro ít nhất hoặc với mỗi mức rủi ro ít nhất ứng vớimức lợi suất kỳ vọng lớn nhất

rP

P Biên hiệu quả Markowitz

B/A MPV

Trang 24

0 1/A 2P

Đồ thị 2.2 : Danh mục hiệu quả

2.1.2.Lựa chọn 1 số mô hình lý thuyết để phân tích và xác định danh mục đầu tư hiệu quả

1)mô hình Markowitz

Mô hình Markowitz đã cung cấp một 1 cách thức xác định danhmục đầu tư tối ưu.Đó là danh mục mà với mỗi lợi suất kỳ vọng cho trước talựa chọn được rủi ro ít nhất hoặc với mỗi rủi ro ít nhất ứng với mức lợi suất

kỳ vọng lớn nhất.Với mô hình Markowitz cổ điển người ta đưa ra 2 bàitoán:

Với: ri là lợi suất tài sản i

ilà độ dao động của tái sản i

cov(r i,r j)  ij

V =  n

ij 1

 : ma trận hiệp phương sai của các tài sản

n: số tài sản trong danh mục

Trang 25

r r r r

2 1

1 1

n

i T

n

i i

w Vw w

Max r

w

Yêu cầu xác định w =

) ,

( ) (

) , ,

0

T T

w w

w L

Vw w

Trang 26

(3)  1  1 0

T

w L

1 1

1 1

1 1

.

1 1

.

1

A C B D

V C

r V r B

V r A

T T T

1

2 1 1

2 1 1

A R C

p p

Lợi suất trung bình của danh mục:

1 1

2 1 1 1

1 1 ( 1 )D

C

C C C

(

)

1

1 1 1

A R C

P P

b.Bài toán 2:

Trang 27

-Nội dung: Xác định danh mục đầu tư gồm n cổ phiếu trên sao chovới mức lợi suất kỳ vọng cho trước độ rủi ro của danh mục là nhỏ nhất.

-Bài toán 2 như sau:

w

r r

w

Min Vw

w

Yêu cầu xác định w =

) ,

( ) (

2

1 ) , ,

Từ (1), (2), (3) ta kí hiệu:

   

2 2 2 2 2

1 2

1 2

1 2

.

.

].

1 [

1 1

B C A D

r V r

C

r V B

V A

T T

Trang 28

1 2 1

2 2

1 2 1

2 2

r V B V

C D G

Tỷ trọng của các tài sản trong danh mục tối ưu P(ro) được xác địnhnhư sau: W(P(r0 )) Gr0H

Độ rủi ro của danh mục được xác định như sau:

2

2 0 2 0

2 2

D

C r B r A p

>Tiến hành phân tích quan hệ nghiệm của 2 bài toán này người

ta đã đưa ra bài toán đa mục tiêu tối ưu

c.Bài toán đa mục tiêu tối ưu:

Lợi ích của nhà đầu tư khi nắm giữ danh mục P là mức lợi ích kỳvọng U(P).Do U(P) tăng theo lợi suất kỳ vọng rp và giảm theo phương sai

2

P

 của danh mục P nên để tối đa hóa lợi ích kỳ vọng nhà đầu tư sẽ chọndanh mụcP w w: ( , 1 2 , ,w n) sao cho đồng thời r p cực đại và P2 cực tiểu.Đó

Trang 29

chính là mục tiêu lý tưởng của nhà đầu tư.Như vậy để đạt mục tiêu lý tưởngnhà đầu tư phải giải bài toán tối ưu sau:

Maxr p và Min P2

p i i

rw r , 2p WVW' , 1 1

n i

Mô hình định giá tài sản vốn ( Capital asset pricing model _ CAPM)

do William Sharpe phát triển từ những năm 1960 và đã có được nhiều ứngdụng từ đó đến nay, là mô hình mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận

kì vọng Trong mô hình này, lợi nhuận kì vọng của một chứng khoán bằnglợi nhuận không rủi ro (risk-free) cộng với một khoản bù đắp rủi ro dựatrên cơ sở rủi ro toàn hệ thống của chứng khoán đó Còn rủi ro không hệthống không được xem xét trong mô hình này do nhà đầu tư có thể xâydựng danh mục đầu tư đa dạng hóa để loại bỏ rủi ro này

a Các giả thuyết của mô hình

Trang 30

Mô hình luôn bắt đầu bằng những giả định cần thiết, mặc dù cónhững giả định được đưa ra là phi thực tế nhưng chúng có tác dụng làmđơn giản hóa mà vẫn đảm bảo không thay đổi tính chất của vấn đề.

Giả thuyết về các nhà đầu tư:

- Các nhà đầu tư e ngại rủi ro, họ luôn có mục đích là tối đa hóa lợiích kì vọng của bản thân mình, vì vậy khi đưa ra quyết định đầu tư họ đềudựa trên việc phân tích hai yếu tố đó là lợi suất kì vọng và rủi ro của chứngkhoán Tuy nhiên một nguyên tắc trong việc lựa chọn các phương án đầu tư

là nếu lợi nhuận mong muốn càng cao thì tương đương với việc phải chấpnhận một mức độ rủi ro càng lớn nên cần phải thận trọng khi đưa ra quyếtđịnh đầu tư

- Mỗi nhà đầu tư là một tác nhân cạnh tranh hoàn hảo trên thịtrường Họ sẽ tìm cách giảm thiểu rủi ro theo nguyên tắc đa dạng hóa, tức

là đầu tư vào nhiều chứng khoán khác nhau trong tập hợp danh mục đầu tưcủa mình

Trang 31

- Các nhà đầu tư đều đồng nhất trong việc đánh giá lợi suất cũng nhưmức độ rủi ro của các tài sản.

Giả thuyết về tài sản và thị trường vốn

- Lợi suất của các tài sản có phân phối chuẩn: ri ~ N(E(ri),σ

2 i

), các tàisản có số lượng không đổi có thể được chia nhỏ tùy ý để giao dịch trên thịtrường

- Trên thị trường có tài sản phi rủi ro, nhà đầu tư có thể đi vay hoặccho vay tài sản này không hạn chế Lãi suất vay bằng lãi suất cho vay vàbằng lãi suất phi rủi ro

- Thị trường vốn là thị trường cạnh tranh hoàn hảo, ở đó có rấtnhiều người bán kẻ mua và mọi thông tin trên thị trường các nhà đầu tư cóthể được tiếp cận miễn phí

- Năng lực của một nhà đầu tư thì riêng lẻ so với thị trường vì vậyhoạt động của họ không làm ảnh hưởng đến thị trường Giá cả trên thịtrường chỉ chịu ảnh hưởng bởi mối quan hệ cung – cầu

Trang 32

- Không có hạn chế về giao dịch bán khống và khối lượng giaodịch

- Các giao dịch không bị đánh thuế, không có chi phí

b Danh mục đầu tư thị trường và tính hiệu quả

Danh mục đầu tư thị trường là một danh mục đầu tư bao gồm tất cảnhững tài sản có nguy cơ rủi ro trên thị trường và mỗi tài sản trong danhmục này chiếm một tỷ lệ đúng bằng giá trị thị trường của tài sản đó trongtổng giá trị của toàn bộ thị trường

Xét tất cả các thị trường và tất cả các tài sản được giao dịch muabán trên thị trường Kí hiệu:

Vi ( i = 1,N ) là giá trị thị trường ( hay thị giá ) của tổng tài sản i

V w

V

 (i1,N)

Trang 33

1 , w , , w

N 1 i

M i

M

i   

*Cân bằng thị trường và tính hiệu quả của danh mục

Giả sử trên thị trường có K nhà đầu tư, có hàm lợi ích theo kỳ vọng

M

r

  rM

Trang 34

Như vậy tỉ trọng đầu tư vào tài sản rủi ro i trong Pk là: w k t i với

i1; N, k(1; L)

Kí hiệu :

V

k

: giá trị thị trường của tổng tài sản của nhà đầu tư k

V i k: giá trị thị trường của tài sản rủi ro thứ i do nhà đầu tư k nắm giữ

V : tổng cầu về tài sản rủi ro i (i = 1;N)

Mức cung của tài sản i trên thị trường là Vi (i = 1;N)

Trạng thái cân bằng của thị trường là trạng thái cân bằng giữa

cung và cầu tài sản => 

L 1 k

k i k

i w t V

Do đó:

i N

1 i

L 1 k

k i k

L 1 k

k i k N

1 i i

L 1 k

k i k N

1 i i

i M

V t w

V t w

V

V t w

Trang 35

c Đường thị trường vốn và đường thị trường chứng khoán

Đường thị trường vốn (CML)

Từ những giả thuyết của thị trường vốn: thị trường tồn tại loạichứng khoán phi rủi ro (với lãi suất r f) và nhà đầu tư có thể vay và mượnkhông hạn chế trên cơ sở lãi suất này thì kết quả về lý thuyết lựa chọn danhmục đầu tư sẽ được mô tả như hình vẽ sau đây:

Đồ thị 2.2: biểu diễn đường thị trường vốn

Trên hình vẽ, đường thẳng xuất phát từ điểm R f tiếp tuyến vớiđường cong hiệu quả Markowitz thể hiện mọi danh mục khả thi có thể tạo

ra được từ sự kết hợp giữa chứng khoán phi rủi ro (tín phiếu kho bạc) với

Đường Markowitz

CML

M

2 f

Trang 36

danh mục đầu tư có rủi ro (danh mục tối ưu Markowitz) Tiếp điểm củachúng được ký hiệu M là danh mục thị trường, được coi là tối ưu nhất trong

số các danh mục tối ưu Nếu nhà đầu tư lựa chọn danh mục đầu tư để tối đahóa lợi ích kì vọng thì họ sẽ lựa chọn danh mục trên đường CML: danhmục P mà tại đó đường mức của nhà đầu tư tiếp xúc với đường CML

Công thức xác định :

Xét danh mục đầu tư bao gồm : chứng khoán phi rủi ro (rf) với tỷtrọng vốn đầu tư wf và danh mục thị trường M với tỷ trọng đầu tư wM

 wf + wM = 1 hay wf = 1 - wM

wT = 0 nhà đầu tư rất ngại rủi ro nên đầu tư hoàn toàn

vào tài sản phi rủi ro

wT = 1 nhà đầu tư đầu tư toàn bộ vào tài sản rủi ro

0 < wT < 1 nhà đầu tư sẽ đầu tư vào tài sản rủi ro với tỉ suất

wt và cho vay với mức lãi suất phi rủi ro rfNếu wT > 1 nhà đầu tư sẽ đầu tư 100% vốn vào tài sản rủi ro

và đi vay với lãi suất rf với tỉ trọng là wf để đầu

Trang 37

tư vào tài sản rủi roPhương trình : r P r f ( r T r f ) T P

r : lợi suất của danh mục thị trường

rf : lợi suất phi rủi ro

Đường thị trường chứng khoán (SML)

Trong mô hình CAPM, độ rủi ro của mỗi chứng khoán không được

đo bằng độ lệch chuẩn vì một phần của độ lệch chuẩn đã bị triệt tiêu bởi sự

đa dạng hóa của danh mục đầu tư Khi các chứng khoán tham gia vào danhmục thì chúng tương tác với nhau để triệt tiêu bớt phần rủi ro không hệthống của nhau và trong trường hợp này danh mục đó là danh mục thịtrường đa dạng hóa hoàn hảo Vì vậy, rủi ro phi hệ thống của từng chứng

Trang 38

khoán được triệt tiêu hết, chỉ còn lại phần rủi ro hệ thống đo bằng tích saicủa chứng khoán đó với danh mục thị trường M Một chứng khoán i có σiMcàng lớn thì độ rủi ro của nó càng lớn, do đó lợi suất đầu tư yêu cầu càngcao.

Đồ thị thể hiện mối quan hệ giữa rủi ro và lợi suất đối với mỗi chứngkhoán riêng lẻ được gọi là đường thị trường chứng khoán (Security MarketLine- SML) được thể hiện dưới đây

Hình 2.3: Đồ thị biểu diễn đường thị trường chứng khoán

Trục tung của đồ thị biểu thị lợi suất ước tính cho mỗi chứng khoán.Trục hoành biểu thị hệ bê ta (β)_mức độ rủi ro của mỗi chứng khoán Mối

SM L

Trang 39

quan hệ của chúng được thể hiện bằng đường thẳng Đường thẳng này làđường thị trường chứng khoán.

Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) như sau:

E R( )iR f  iE R( M) R f

Phương trình trên thể hiện mối quan hệ giữa rủi ro và lợi suất ướctính của từng chứng khoán riêng lẻ Phương trình cho thấy lợi suất kỳ vọngcủa mỗi chứng khoán có quan hệ tỷ lệ thuận với hệ số rủi ro hệ thống ()

Trong đó: R f : lợi suất của tài sản phi rủi ro

R M: lợi suất của danh mục thị trường

R f: lợi suất của tài sản i

iE R( M) R f

Với hệ số β được sử dụng để định lượng hóa tỷ trọng rủi ro hệ thốngcủa mỗi chứng khoán i (σiM) góp phần vào rủi ro chung của danh mục M(σ

2

M

) và được xác định như sau: 2

iM i M

Danh mục thị trường có  = 1

Trang 40

Cổ phiếu biến động lớn hơn thị trường thì  > 1, hay còn gọi là tàisản năng động.

Cổ phiếu biến động ít hơn thì  < 1, hay còn gọi là tài sản thụ động.Như vậy là độ đo rất hữu ích khi xem xét rủi ro

d Ý nghĩa của CAPM

Xuất phát từ ý nghĩa của đường SML, nếu tất cả các chứng khoánđược định giá chính xác nhất thiết phải nằm trên đường SML Với nhữngđiểm nằm phía trên hoặc dưới đường SML đều biểu hiện tình trạng giákhông phản ánh đúng với giá trị cân bằng trên thị trường Nếu là điểm nằmphía trên đường SML, chứng khoán đó được định giá thấp hơn giá hơn giátrị thực của chúng Trong trường hợp này, các nhà đầu tư nên mua loạichứng khoán đó Ngược lại, nếu điểm đó nằm phía dưới đường SML,không nên mua loại chứng khoán này vì giá của chúng cao hơn giá trị thựccủa chúng

Ngày đăng: 20/07/2013, 08:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.3: Đồ thị biểu diễn đường thị trường chứng khoán - Ứng dụng lý thuyết danh mục đầu tư vào thị trường chứng khoán HOSE
Hình 2.3 Đồ thị biểu diễn đường thị trường chứng khoán (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w