ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------ NGUYỄN THỊ PHỨC LIÊN KẾT NGUỒN LỰC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG NHẰM HỖ TRỢ NGƯỜI DÂN GIẢM NGHÈO Nghiên cứu trường h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ PHỨC
LIÊN KẾT NGUỒN LỰC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG NHẰM HỖ TRỢ NGƯỜI DÂN GIẢM NGHÈO ( Nghiên cứu trường hợp tại Xã An Phú – Huyện Mỹ Đức – TP Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội, 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ PHỨC
LIÊN KẾT NGUỒN LỰC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG NHẰM HỖ TRỢ NGƯỜI DÂN GIẢM NGHÈO ( Nghiên cứu trường hợp tại Xã An Phú – Huyện Mỹ Đức – TP Hà Nội)
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng
nhằm hỗ trợ người dân giảm nghèo (Nghiên cứu trường hợp tại Xã An Phú –
Huyện Mỹ Đức – Thành phố Hà Nội )’’ là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi
dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hoàng Thu Hương và những kết quả
nghiên cứu ở trong luận văn này là hoàn toàn trung thực
Ngày 20 tháng 4 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Phức
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Công tác xã hội với tên đề
“Liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ người dân giảm nghèo
(Nghiên cứu trường hợp tại Xã An Phú – Huyện Mỹ Đức – Thành phố Hà Nội )’’, tôi đã nhận được rất nhiều sự ủng hộ, động viên và giúp đỡ từ phía thầy cô, gia
đề tài nghiên cứu này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các vị lãnh đạo, cán bộ công tác tại xã An Phú đã tạo điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ tôi, đặc biệt xin cảm ơn các thầy cô trong Khoa Xã hội học - Trường Đại Học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã cung cấp cho tôi nền tảng kiến thức quý báu và sự giúp đỡ tận tình để tôi có thể hoàn thành luận văn của mình
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các bác/cô/chú là hộ nghèo tại xã An Phú đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, thu thập số liệu phục vụ luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn bạn bè hỗ trợ cho tôi nguồn tài liệu hữu ích và những kinh nghiệm quý báu tích lũy trong hoạt động nghề nghiệp thực tế
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, những người đã luôn ở bên động viên khích lệ tôi để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn
Tuy nhiên, dù có nhiều cố gắng nỗ lực, song luận văn không tránh khỏi thiếu sót và hạn chế Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và mọi người quan tâm tới đề tài nghiên cứu này
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2017
Học viên
Nguyễn Thị Phức
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 10
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 11
6 Câu hỏi nghiên cứu 11
7 Giả thuyết nghiên cứu 11
8 Phương pháp nghiên cứu 12
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 15
1.1 Khái niệm công cụ 15
1.1.1 Liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng 15
1.1.2 Khái niệm nghèo 18
1.1.3.Khái niệm hộ nghèo 20
1.1.4 Khái niệm giảm nghèo 23
1.2.Các lý thuyết áp dụng trong đề tài 26
1.2.1 Lý thuyết hệ thống 26
1.2.2 Lý thuyết nhu cầu 27
1.2.3 Lý thuyết Phát triển cộng đồng 29
1.4 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác xoá đói giảm nghèo 30
1.5 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 32
1.5.1.Vị trí địa lý 32
1.5.2.Lịch sử hình thành 33
1.5.3 Đặc điểm cộng đồng 35
Tiểu kết chương 1 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGHÈO KHỔ VÀ PHƯƠNG THỨC GIẢM NGHÈO CỦA NGƯỜI DÂN TẠI XÃ AN PHÚ 36
2.1 Thực trạng đói nghèo của người dân tại xã An Phú – Mỹ Đức – Hà Nội 36
2.1.1 Đặc điểm hộ nghèo 37
Trang 62.1.1.1 Tình trạng nhà ở 38
2.1.1.2 Diện tích bình quân đầu người 38
2.1.2 Điều kiện sinh hoạt của các hộ nghèo tại xã An Phú 40
2.1.2.1 Loại hố xí hộ nghèo đang sử dụng 40
2.1.2.2 Loại nước sinh hoạt mà hộ nghèo đang sử dụng 41
2.1.2.3 Loại điện mà các hộ đang sử dụng và số điện tiêu thụ bình quân hộ/tháng 42 2.1.2.4 Phương tiện thông tin liên lạc của hộ gia đình 43
2.1.3 Đặc điểm chủ hộ của các hộ gia đình nghèo 44
2.1.3.1 Đặc điểm thành phần dân tộc của chủ hộ 44
2.1.3.2 Trình độ học vấn chủ hộ 45
2.1.3.3 Lao động, việc làm của hộ gia đình nghèo 46
2.2 Nguyên nhân nghèo khổ của các hộ nghèo tại xã An Phú 48
2.2.1 Khó khăn thiếu vốn và sử dụng vốn không hiệu quả 49
2.2.2 Khó khăn xuất phát từ ốm đau, bệnh tật 49
2.2.3 Khó khăn do thiếu nhân lực lao động 50
2.2.4 Khó khăn do không có việc làm 51
2.2.5 Thiếu kiến thức và kỹ năng ( Không biết làm ăn ) 52
2.2.6.Thiếu đất canh tác, thiếu phương tiện sản xuất 53
2.3 Những thách thức trong quá trình giảm nghèo của hộ nghèo tại xã An Phú 54
Tiểu kết chương 2 57
CHƯƠNG 3: TÌNH TRẠNG LIÊN KẾT NGUỒN LỰC, XÁC ĐỊNH NHU CẦU VÀ HỆ THỐNG NGUỒN LỰC CÓ KHẢ NĂNG HỖ TRỢ NGƯỜI DÂN GIẢM NGHÈO TẠI XÃ AN PHÚ – MỸ ĐỨC – HÀ NỘI 58
3.1 Nhận diện các nguồn lực tại xã An Phú có khả năng trợ giúp người nghèo 58
3.1.1 Hệ thống hộ gia đình, họ hàng của người nghèo 59
3.1.2 Hệ thống Chính quyền địa phương 59
3.1.3.Hệ thống Hội Phụ nữ, Hội Nông dân 60
3.1.4.Hệ thống Ngân hàng chính sách 62
3.1.5 Hệ thống các doanh nghiệp, tổ chức xã hội địa phương 63
3.1.6 Hệ thống Tài nguyên môi trường 63
Trang 73.1.7 Hệ thống trung tâm khuyến nông 64
3.1.8 Hệ thống trạm y tế 65
3.2 Nhu cầu liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng nông thôn nhằm hỗ trợ người dân giảm nghèo tại xã An Phú 65
3.3 Hiện trạng liên kết nguồn lực trong cộng đồng nhằm hỗ trợ người dân nghèo tại xã An Phú 68
3.4 Đề xuất các hoạt động liên kết nguồn lực dựa vào cộng động nhằm hỗ trợ người dân xã An Phú giảm nghèo 72
3.4.1 Các hoạt động liên kết nguồn lực dự kiến hỗ trợ người dân nghèo ở xã An Phú 72
3.4.1.1 Hỗ trợ đào tạo nghề và giới thiệu việc làm phù hợp 75
3.4.1.2 Hỗ trợ vốn tín dụng chính sách 76
3.4.1.3 Liên kết thị trường 77
3.4.1.4 Mở rộng các mô hình phát triển hộ gia đình 78
3.4.1.5 Vận động làm thay đổi ý thức người nghèo, vùng nghèo để họ tự vươn lên 78
3.4.2 Vai trò của nhân viên CTXH trong các hoạt động liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ người dân giảm nghèo 80
3.5 Mô hình thí điểm liên kết các nguồn lực tại xã An Phú nhằm hỗ trợ người dân nghèo Xã An Phú tạo dựng việc làm 83
Tiểu kết chương 3 93
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 103
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HỘP BẢNG
Bảng 2.1 Tỷ lệ hộ nghèo của xã giai đoạn 2012 – 2016 (%) 37
Bảng 2.2 Tình trạng nhà ở của các hộ nghèo xã An Phú năm 2016 38
Bảng 2.3 Số điện tiêu thụ bình quân/ hộ của các hộ nghèo xã An Phú năm 2016 43
Bảng 2.4 Tỷ lệ hộ nghèo biểu hiện về thành phần dân tộc của chủ hộ 44
Bảng 2.5 Trình độ học vấn của chủ hộ nghèo xã An Phú năm 2016 45
Bảng 2.6 Phân tích nguyên nhân nghèo của các hộ nghèo xã An Phú năm 2016 48
Bảng 3.1 Bảng phân tích nguyện vọng của các hộ gia đình nghèo xã An Phú năm 2016 66
Bảng 3.2 Kế hoạch thực hiện mô hình nuôi cá thương phẩm 87
Bảng 3.3 Kế hoạch đơn vị tham gia thực hiện mô hình nuôi cá thương phẩm xã An Phú 90
Bảng 3.4 Thời gian tập huấn mô hình nuôi cá thương phẩm tại xã An Phú 90
SƠ ĐỒ Sơ đồ 3.1: Mô hình liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng hỗ trợ người dân giảm nghèo 73
HỘP Hộp 2.1 Nghèo do không có việc làm 51
Hộp 2.2 Nghèo do thiếu kiến thức và kỹ năng 52
Hộp 2.3 Nghèo do thiếu đất canh tác 53
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Diện tích bình quân đầu người các hộ nghèo xã An Phú 39
Biểu đồ 2.2 Loại hố xí sử dụng của các hộ nghèo xã An Phú năm 2016 40
Biểu đồ 2.3 Loại nước sinh hoạt hộ nghèo đang sử dụng xã An Phú năm 2016 41
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu việc làm của các hộ nghèo xã An Phú năm 2016 47
Trang 9LĐ-TBXH Lao động – Thương binh xã hội
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghèo đói là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính lịch sử và phổ biến đối với mỗi địa phương, quốc gia, dân tộc Nó đang là vấn đề xã hội bức xúc và nóng bỏng của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Do vậy ngay từ khi Việt Nam giành được độc lập (năm 1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ đói nghèo như là một thứ “giặc”, nên đã đưa ra mục tiêu phấn đấu để nhân dân lao động ta thoát được nạn bần cùng, làm cho mọi người đều có công ăn, việc làm, cuộc sống ấm no hạnh phúc Xoá đói giảm nghèo không chỉ là một trong những chính sách xã hội cơ bản được Đảng và Nhà nước
ta đặc biệt quan tâm, mà đó còn là một bộ phận quan trọng của mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác xóa đói giảm nghèo, trong những năm qua nhờ thực hiện tốt các cơ chế, chính sách có hiệu quả, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng đẩy mạnh hơn nữa công tác XĐGN, đặc biệt là ở các xã vùng sâu, vùng xa đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Do vậy, Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những nước đạt tỷ lệ giảm nghèo tốt nhất
Xã An Phú là một trong 22 xã, thị trấn của huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội Được hình thành từ năm 1945 sau khi Bác Hồ đọc Bản tuyên ngôn độc lập, địa giới hành chính của xã được chia thành 13 thôn, nằm cách trung tâm huyện Mỹ Đức 12 km về phía tây nam An Phú là một xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, đời sống chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp là chính Theo báo cáo nhanh công tác giảm nghèo
xã An Phú năm 2015, vào ngày 03 tháng 02 năm 2016 của UBND xã An Phú thì toàn xã hiện nay có diện tích tự nhiên 2227 ha, dân số là 8875 người và 75% dân số của xã là người dân tộc thiểu số (chủ yếu là dân tộc Mường) sống dựa vào nông nghiệp là chủ yếu[46, tr 1]
Góp phần vào mục tiêu chung của chương trình xóa đói giảm nghèo của Thành phố Hà Nội nói riêng và của cả nước nói chung, trong những năm qua huyện
Mỹ Đức, xã An Phú đã thực hiện tốt công tác XĐGN và đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, tỷ lệ hộ nghèo giảm theo từng năm, năm 2012 tỷ lệ hộ nghèo của xã
Trang 11là 24,5% đến năm 2015 tỷ lệ này đã giảm xuống còn 12%, nhưng đến năm 2016 theo tiêu chí nghèo đa chiều chiều tỷ lệ hộ nghèo của Xã đã tăng lên 710 hộ chiếm 38,4% so với tổng số dân[46, tr 3]
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được, thì vẫn còn những thách thức đặt ra, theo cuộc khảo sát đặc điểm hộ nghèo, hộ cận nghèo (điều tra theo mẫu phiếu C) và nguyện vọng của các hộ nghèo, cận nghèo (điều tra theo mẫu phiếu D)
xã An Phú năm 2016 cho thấy các hộ nghèo ở đây còn gặp nhiều khó khăn trong việc thoát nghèo, ổn định cuộc sống Nguyên nhân là do thiếu việc làm, thiếu vốn,
do ốm đau, do trình độ dân trí còn thấp, do có người mắc TNXH đặc biệt là hiện tượng tái nghèo đã làm ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa của toàn xã Mặt khác, ở xã An Phú hiện nay thì vấn đề việc làm, thu nhập cũng như điều kiện sinh hoạt, và vấn đề sức khoẻ suy giảm đã và đang là những vấn đề hết sức bức xúc đối với các gia đình ở xã nói chung và các gia đình nghèo, cận nghèo nói riêng Đây cũng là những nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng tái nghèo của một bộ phận không nhỏ các gia đình trên địa bàn xã
Trước bối cảnh đó, thì việc đánh giá thực trạng đời sống vật chất cũng như tinh thần của các hộ gia đình nghèo trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là một vấn đề cấp bách hiện nay trên địa bàn xã, để từ đó vạch ra những nguyên nhân của thực trạng đói nghèo, cũng như những trợ giúp, những dự
án, những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của cộng đồng dân cư, trong đó có vai trò của Nhân viên CTXH để nhằm giúp đỡ cũng như đề xuất các giải pháp, đưa ra được mô hình nhằm giúp cho người dân nghèo có thể phát huy được những năng lực vốn có của mình, để từ đó có thể tự mình phấn đấu vươn lên thoát khỏi cảnh đói nghèo, cải thiện được đời sống vật chất và tinh thần cho chính bản thân và gia đình
Vì những lý do trên mà tôi lựa chọn đề tài: “Liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ người dân giảm nghèo” (Nghiên cứu trường hợp tại Xã An Phú – Huyện Mỹ Đức – Thành phố Hà Nội)” với mong muốn sẽ mang đến góc nhìn
mới về XĐGN với vai trò kết nối nguồn lực trong cộng đồng dưới góc nhìn của CTXH và góp phần thúc đẩy giảm nghèo một cách bền vững tại địa phương
Trang 122 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1.Các nghiên cứu trên thế giới
Xoá đói giảm nghèo và vai trò của nhân viên công tác xã hội: Trong thực tế
tất cả các nơi trên thế giới, những người làm công tác xã hội lo ngại về đói nghèo đã tăng lên, những nguồn lực thiếu, nguyên nhân của việc đẩy con người vào đói nghèo Ở cấp vi mô của thực hành hàng ngày, các nhân viên xã hội làm việc để đối phó với đói nghèo cùng với việc đánh giá rủi ro, làm việc một cách sáng tạo và sáng tạo để giúp người dân (cá nhân và cộng đồng) hiểu tình hình của họ và thay đổi hành vi và môi trường của họ Một vai trò quan trọng là phát triển cộng đồng, đòi hỏi kỹ năng phân tích cộng đồng, lập kế hoạch xã hội, tổ chức cộng đồng và hoạt động xã hội Phát triển cộng đồng đòi hỏi khả năng để thúc đẩy các cơ hội kinh tế cho người dân khu vực thông qua việc duy trì công nghiệp, phát triển doanh nghiệp địa phươngng, đào tạo việc làm Vai trò khác là cộng đồng thực hành giúp mọi người khám phá nguồn tài nguyên riêng của họ và khả năng của mình để tạo ra ảnh hưởng và thay đổi tích cực Tầm quan trọng của điều này đã được nhấn mạnh bằng cách nhận ra rằng nghèo đói liên quan đến một tập hợp phức tạp của các tương tác giữa các đặc điểm cá nhân và một nguồn lực của cộng đồng và các cơ hội Vào những khó khăn, nhân viên xã hội đánh giá về rủi ro của các cá nhân và họ phải sử dụng khả năng và ảnh hưởng của họ để bảo vệ các nạn nhân của đói nghèo từ bản thân hoặc từ những người khác Ví dụ như tình trạng bạo lực gia đình, lạm dụng trẻ
em hoặc sức khỏe tâm thần Nhân viên xã hội làm việc với những người nghèo đói
và chứng kiến hành vi của họ thay đổi tầm quan trọng của việc tích hợp lý thuyết về các giá trị chuyên nghiệp mà mọi người tôn trọng, sự lựa chọn và quyết định của mình Trong phương pháp này, cộng đồng thực hành kết hợp làm việc với các cá nhân và gia đình có công việc cộng đồng, tập trung vào nguồn lực và cơ hội tăng cường cùng với năng lực cá nhân và cá nhân phát triển ra các nguyên nhân nghèo đói của họ Đó là điều cần thiết cho xóa đói giảm nghèo hiệu quả [59]
Công tác xã hội và xóa đói giảm nghèo: Được nghiên cứu tại Umuebu –
Nigeria: Các quan điểm và tiếng nói của các nhân viên xã hội ít khi tìm thấy trong việc lập kế hoạch và thực hiện chương trình xoá đói chứng minh các quan điểm và
Trang 13tiếng nói của các nhân viên xã hội có thể đóng góp cho các chương trình giảm nghèo thành công ở Nigeria Xóa đói giảm nghèo là một trong những thách thức của Ngân hàng Thế giới và một trong những mục tiêu của các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Nghiên cứu này là một nguồn kiến thức cho các nhà hoạch định chính sách
ở Nigeria, Ngân hàng Thế giới và cộng đồng quốc tế về những lợi ích của việc kết hợp các quan điểm và tiếng nói của các nhân viên xã hội trong việc lập kế hoạch và thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo
Christian Morrisson (2003), Bức tranh nghèo khổ trên thế giới: Trong phần
đầu bài viết, tác giả phân tích sự nhầm lẫn trong sử dụng thuật ngữ nghèo “tương đối” (thuật ngữ dùng ở các nước phát triển) và nghèo “tuyệt đối” (thuật ngữ được áp dụng cho các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và các nước đang phát triển) Khái niệm nghèo tuyệt đối chỉ tình trạng không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở và khám chữa bệnh Trong khi đó, tình trạng nghèo tương đối lại là một chỉ số về bất bình đẳng: một số người sẽ bị coi là nghèo khi người đó không có được những vật dụng mà đại đa số các thành viên khác của cộng đồng có Như vậy ở một nước giàu, khi một người nào đó không mua được cả ô tô lẫn máy thu hình thì sẽ bị coi là bị thua thiệt, thế nhưng những vật dụng này lại không phải
là thiết yếu để đảm bảo sự sống, và theo định nghĩa nghèo tuyệt đối thì con người
đó không hề nghèo Để tránh tình trạng lẫn lộn này, theo tác giả, nên dùng khái niệm thua thiệt thay cho khái niệm nghèo tương đối và dùng khái niệm đói nghèo thay cho khái niệm nghèo tuyệt đối ở một nước giàu Khi một cá nhân không có nhiều tài sản có giá trị như 80% hoặc 90% hộ gia đình khác, thì anh ta sẽ cảm thấy
bị thua thiệt Nhưng cá nhân này không hề “nghèo”, vì chỉ cần 15% của mức thu nhập trung bình ở nơi đó đã đủ để chi cho những nhu cầu thiết yếu của con người Ngược lại, một số người lang thang cơ nhỡ hoặc một gia đình có con suy dinh dưỡng thì sẽ thuộc diện nghèo Trong nghiên cứu tác giả cũng chỉ ra sự khác nhau
về bức tranh nghèo khổ giữa những nước đang phát triển, những nước có nền kinh
tế đang chuyển đổi, và những nước phát triển, đồng thời cũng phân tích rõ những nguyên nhân và chính sách xóa đói giảm nghèo ở 3 nhóm nước này Từ đó để các
Trang 14quốc gia cần nhận thức rõ được về thực trạng đói nghèo và các yếu tố gây ra nghèo đói của nước mình để từ đó hoạch định những chính sách cho phù hợp [4]
Mục tiêu và phổ quát trong việc giảm nghèo: Trong phần lớn lịch sử của
nó, chính sách xã hội có liên quan đến việc liệu các nguyên tắc cốt lõi đằng sau cung cấp xã hội sẽ được "phổ quát", hoặc chọn lọc thông qua "mục tiêu" Theo phổ quát, toàn bộ dân là người thụ hưởng các lợi ích xã hội như là một quyền cơ bản, trong khi đang nhắm mục tiêu, đủ điều kiện cho lợi ích xã hội liên quan đến một số loại phương tiện thử nghiệm để xác định "thật sự xứng đáng" Các chính sách là hầu như không bao giờ hoàn toàn phổ quát hay hoàn toàn dựa trên mục tiêu Tuy nhiên, nó có xu hướng nằm đâu đó giữa hai khía cạnh trên Nó có thể được quyết định trong chính cơ hội trong cuộc sống của cá nhân và trong việc
mô tả trật tự xã hội (T Mkandawire, 2005) Bài viết này được chia thành hai phần Trong phần đầu tiên, Thandika Mkandawire thảo luận về các lực lượng đằng sau sự chuyển đổi từ phổ quát đối với chọn lọc trong việc sử dụng chính sách xã hội để chống lại đói nghèo ở các nước đang phát triển Trong phần thứ hai, một đánh giá của các bài học từ chính sách như vậy, ông cho rằng những khó khăn hành chính nhắm mục tiêu vào các nước nghèo, các cơ sở kinh tế chính trị của các lựa chọn chính sách, và các hậu quả của việc lựa chọn chính sách khuyến khích cá nhân Mkandawire đặc biệt chú trọng hiệu quả chi phí, bởi vì những người ủng hộ của chọn lọc trong cuộc chiến chống đói nghèo nâng cao nó như là đối số chính trong lợi của mình [62]
Vai trò của quỹ tín dụng trong xóa đói giảm nghèo: Nghiên cứu của RemenyiJoe, Benjamin Quinones đã chứng minh được mức tăng thu nhập từ những
hộ được nhận được tín dụng nhỏ cao hơn những nhóm hộ đối chứng (nhóm không vay) Ở Indonesia, mức tăng thu nhập trung bình hàng năm của những hộ có vay tăng lên 12,9% so với mức tăng 3% của nhóm đối chứng Tương tự như vậy, ở Bangladesh mức tăng thu nhập trung bình năm của nhóm vay là 29,3% trong khi nhóm đối chứng là 22%, ở Sri Lanka là 15,6% so với nhóm đối chứng là 9% Kết quả nghiên cứu ở Ấn Độ cũng cho kết quả tương tự mức tăng thu nhập trung bình
Trang 15năm của nhóm vay là 46% trong khi nhóm không vay mức tăng thu nhập trung bình năm chỉ tăng 24% [63]
Đói nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam: Trong bài viết này đánh giá dựa trên các yếu tố về khí hậu, nông nghiệp và không gian để đánh giá tình hình nghèo đói và sự bất bình đẳng ở Việt Nam [59]
Vấn đề nghèo ở Việt Nam: Trong tác phẩm này đã đưa ra những vấn đề chung nhất về tình hình nghèo đói ở Việt Nam, những tác động của nghèo đói lên đời sống dân cư và an sinh của xã hội Những khía cạnh, những vấn đề của nghèo đói [1]
Nhìn chung những nghiên cứu trên đã đạt được những kết quả góp phần đáng kể cho lĩnh vực nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo và vai trò của công tác xã hội trong xóa đói giảm nghèo Thứ nhất, các nghiên cứu này phần lớn là nghiên cứu ứng dụng, nhằm mục đích tìm hiểu để đề xuất những can thiệp, hỗ trợ tốt hơn trong công tác xóa đói giảm nghèo Thứ hai, các nghiên cứu này đã đưa ra những phát hiện và những khó khăn trong thực hiện Thứ ba, các nghiên cứu này cũng đưa ra những đề xuất cho việc giải quyết và tăng cường hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo
2.2 Các nghiên cứu trong nước
Báo cáo “Giảm nghèo ở Việt Nam: Thành tựu và thách thức” (2011) do
nhóm nghiên cứu thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam bao gồm Nguyễn Thắng (trưởng nhóm) cùng các đồng sự Nguyễn Thị Thu Phương, Trần Ngô Minh Tâm,
Lê Đặng Trung, và Nguyễn Thị Thu Hằng thực hiện Thứ nhất, báo cáo đã chỉ ra
những thành tựu ấn tượng trong giảm nghèo của Việt Nam trong hai thập kỷ qua song tiến độ không đồng đều và chưa bền vững giữa các nhóm dân cư và vùng miền Từ đó, tác giả nhận định cần có các chính sách tinh tế hơn, trong đó tính đến đặc thù của từng nhóm dân cư để đạt hiệu quả cao trong giảm nghèo và giúp
đất nước tránh được “bẫy bất bình đẳng” Thứ hai, nghiên cứu đã phân tích
những cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đánh giá những tác động của nó đến nghèo đói và bất bình đẳng
Thứ ba, các tác giả đã chỉ ra những thách thức trong công tác giảm nghèo đối với
Trang 16nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, tình trạng nghèo ở đô thị, xu hướng gia tăng tình trạng bất bình đẳng trong xã hội và vấn đề biến đổi khí hậu mà con người phải đối mặt nếu vấn đề nghèo đói chưa được giải quyết hoặc giải quyết không hiệu quả, bền vững[58]
Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam: Công trình của Ts Lê Xuân
Bá và các đồng nghiệp đã được viết thành sách Vấn đề xóa đói giảm nghèo luôn gắn bó và chịu ảnh hưởng của quan hệ giai cấp và các chế độ xã hội khác nhau Trong tác phẩm này tác giả đã đưa ra được những cái nhìn chung nhất, tổng quát nhất về tình hình nghèo đói và công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam Nghèo đói được nhìn nhận và đánh giá ở nhiều mức độ khác nhau Cũng trong tác phẩm này, công tác xóa đói giảm nghèo cũng được nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau Bên cạnh việc đánh giá tình hình chung, tác phẩm còn đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả giảm nghèo bền vững [14]
Vấn đề xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay: Tác phẩm đánh
giá được tình hình nghèo đói của nông thôn Việt Nam sau 3 năm dỡ bỏ cấm vận, nền kinh tế có bước chuyển động đầu tiên nhưng tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn Việt Nam vẫn còn cao Qua đi sâu nghiên cứu tình hình nghèo đói ở nông thôn, tác giả
đã chỉ ra những khó khăn cũng như những biện pháp thực hiện xóa đói giảm nghèo trong điều kiện hiện tại[18]
Phạm Quý Thọ với bài “ Thực trạng giảm nghèo ở Việt Nam ” đăng trên Tạp
chí kinh tế và phát triển số 95 tháng 5/2005 Nội dung của bài viết xoay quanh vấn
đề ở Việt Nam hộ nghèo còn nhiều và tập trung chủ yếu ở nông thân, số hộ cận kề chuẩn nghèo còn đông và mức độ nghèo còn khá nghiêm trọng, để giảm nghèo là một quá trình thường xuyên, liên tục, cần khắc phục những tồn tại, yếu kém chủ quan, đồng thời xác định và giải quyết những khó khăn, thách thức, trước mắt và lâu dài Các giải pháp giảm nghèo cần hướng tới giảm nghèo bền vững trên cơ sở sự vận động của chính các hộ nghèo và trách nhiệm của cộng đồng[17]
Hà Quế Lâm với đề tài cấp nhà nước KHXH – 04-05 “ Xoá đói giảm nghèo
ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay – thực trạng và giải pháp” Nội dung đề
tài cho chúng ta thấy kết quả của công tác xoá đói giảm nghèo ở nước ta trong
Trang 17những năm qua đã bước đầu có những thành tích quan trọng Đồng thời đưa ra một
số các biện pháp xoá đói, giảm nghèo cho các dân tộc thiểu số nước ta hiện nay[19]
Nghiên cứu “ An sinh xã hội và nghèo đói đối với sự phát triển, phát triển bền vững của các tộc người thiểu số” (trường hợp người Khmer Nam Bộ) của tác
giả Ngô Văn Lệ (2012) Đề tài nghiên cứu tập trung vào mối liên hệ tương tác giữa những đặc điểm lịch sử xã hội và đói nghèo đối với phát triển và phát triển bền vững ở các tộc người thiểu số Nguyên nhân nghèo đói của người dân tộc Khmer Nam Bộ là do quá trình di cư diễn ra lâu dài và sống chủ yếu bằng nông nghiệp có điều kiện khó khăn về kinh tế Do trình độ học vấn thấp, trình độ sản xuất thấp còn mang tính tự cung tự cấp, thiếu diện tích đất canh tác.Vấn đề giải quyết nghèo đói ở đồng bào dân tộc thiểu số là một quá trình,lâu dài và khó khăn, không chỉ đối với những nước đang phát triển, mà
cả những nước phát triển Xóa đói giảm nghèo cần phát triển về giáo dục trong đó học vấn là một biến độc lập tương quan với vấn đề nghèo đói vì vậy cần nâng cao dân trí góp phần phát triển nguồn nhân lực Trình độ học vấn thấp ảnh hưởng đến khả năng di động xã hội, tiếp cận khoa học kỹ thuật, tiếp cận thông tin, trí thức [23, tr19-25]
Phát triển Cộng đồng – Lý thuyết và vận dụng( 2000): Là điểm nhấn quan
trọng về lý luận phát triển cộng đồng ở Việt Nam của hai tác giả Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang Đã tổng kết các lý thuyết về cộng đồng và phát triển cộng đồng , đồng thời đưa ra quan điểm mới về phát triển cộng đồng trên cơ sở tổng kết các thành tựu nghiên cứu trong nước và quốc tế Hai tác giả cũng đã vận dụng lý thuyết phát triển cộng đồng vào điều kiện thực tế của Việt Nam Qua cuốn sách này, các phương pháp phát triển cộng đồng, huy động sự tham gia của người dân cũng được thiết lập trên cơ sở gắn trực tiếp với các dự án cụ thể, qua đó cộng đồng được nhìn nhận với một nhãn quan tích cực và thân thiện hơn trên cơ sở họ là trung tâm của sự phát triển[40]
Bài viết Phát triển cộng đồng: Phương pháp quan trọng của CTXH trong xoá đói giảm nghèo, của tác giả Phan Huy Đường( 2010) Bài viết nói về phát triển cộng đồng là một phương pháp của công tác xã hội được xây dựng trên những
Trang 18nguyên lý, nguyên tắc và giả định của nhiều ngành khoa học xã hội khác như: Tâm
lý xã hội, xã hội học, chính trị học, nhân chủng học…, được áp dụng ở nhiều nước
và đã phát huy vai trò trong việc giải quyết các vấn đề của các nhóm cộng đồng nghèo, các nhóm yếu thế trong thời gian qua Đó là phương pháp giải quyết một số vấn đề khó khăn, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hướng tới sự phát triển không ngừng về đời sống vật chất và tinh thần của người dân thông qua việc nâng cao năng lực, tăng cường sự tham gia, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa người dân với nhau, giữa người dân với các tổ chức và giữa các tổ chức với nhau trong phạm vi một cộng đồng [3]
Như vậy, vấn đề XĐGN là một trong những vấn đề được quan tâm đặc biệt không chỉ đối với các nhà nghiên cứu, các nhà xã hội học trong những đề tài, bài viết, mà chủ đề này luôn được đông đảo người dân quan tâm, là sợi chỉ xuyên suốt trong quá trình phát triển của xã hội cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống của chính người dân, nhất là người nghèo Những công trình nghiên cứu kể trên đã làm
rõ những vấn đề lý luận về phát triển kinh tế - xã hội, nghèo đói và XĐGN; bản chất
và nguyên nhân những hạn chế, chỉ ra những giải pháp XĐGN; vai trò của nguồn lực, cách thức để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó Liên kết nguồn lực có rất nhiều nghiên cứu như trong kinh tế học, tâm lý học xã hội và xã hội học Đó là những nghiên cứu về lồng ghép giới trong xóa đói giảm nghèo, nghiên cứu xã hội học về giới; Phụ nữ nghèo v.v Những kết qủa này là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để tôi có thể lĩnh hội được kinh nghiệm, một số kết quả thực tiễn có liên quan đến vấn đề nghèo đói và XĐGN Thế nhưng nghiên cứu để dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ người dân giảm nghèo, tạo việc làm thì chưa phải là nhiều Do đó, với
đề tài: “Liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ người dân giảm nghèo (Nghiên cứu tại Xã An Phú – Mỹ Đức – Hà Nội)” tôi mong muốn chỉ ra thực trạng
sử dụng các nguồn lực, thực trạng nghèo khổ tại xã An Phú, nguyên nhân nghèo, nguyện vọng trong quá trình giảm nghèo của các hộ nghèo tại xã An Phú và đưa ra giải pháp phù hợp nhằm đưa công tác XĐGN trên địa bàn xã đạt được hiệu quả bền vững
Trang 193 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu giúp cho việc ứng dụng một số lý thuyết của xã hội học, tâm lý học và đặc biệt là công tác xã hội vào quá trình nghiên cứu và thực hành Cụ thể đề tài vận dụng những kiến thức chuyên ngành về công tác xã hội như hệ thống các lý thuyết, các phương pháp, kỹ năng, đặc biệt là lý thuyết về phát triển cộng
đồng nhằm đề xuất các hoạt động “ liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ người dân giảm nghèo” góp phần thực hiện vai trò của công tác xã hội trong
công tác xóa đói giảm nghèo
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu giúp cho chính quyền, gia đình, cộng đồng biết được thực trạng đói nghèo, cũng như nhu cầu của những hộ nghèo trên địa bàn Xã An Phú – Huyện Mỹ Đức – Tp Hà Nội
Đối với những hộ gia đình nghèo: Kết quả nghiên cứu giúp cho các gia đình nghèo ở Xã An Phú nhận được nhiều sự quan tâm hơn nữa của cộng đồng, các cấp chính quyền, các doanh nghiệp, tổ chức cả về vật chất lẫn tinh thần để họ có đủ điều kiện để có thể tự vươn lên, ổn định cuộc sống Góp phần vào công cuộc XĐGN chung của đất nước
Đối với chính quyền địa phương xã An Phú nói riêng, và toàn huyện Mỹ Đức nói chung: đề xuất thêm một số nhóm biện pháp nhằm hỗ trợ người dân giảm nghèo, có công ăn việc làm, ổn định cuộc sống
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tìm ra cách thức để liên kết các hệ thống nguồn lực trong cộng đồng nhằm hỗ trợ các hộ gia đình nghèo tại Xã An Phú – Mỹ Đức – Hà Nội giảm nghèo, góp phần vào công tác XĐGN tại xã
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Mô tả thực trạng nghèo đói của người dân tại Xã An Phú – Mỹ Đức – Hà Nội
Xác định nhu cầu của các hộ nghèo trong quá trình giảm nghèo
Trang 20Nhận diện các hệ thống nguồn lực hiện có trong cộng đồng có khả năng hỗ
trợ cho các hộ gia đình giảm nghèo
Đề xuất hoạt động liên kết các hệ thống nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm
hỗ trợ người dân giảm nghèo
5 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Liên kết hệ thống nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ người dân giảm nghèo tại xã An Phú – Mỹ Đức – Tp Hà Nội
Địa điểm: Địa bàn xã An Phú – Mỹ Đức – Tp Hà Nội
Giới hạn nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng là nghiên cứu rộng hàm chứa rất nhiều nội dung khác nhau Song do điều kiện khách quan, trong nghiên cứu này sẽ tập trung vào sự hỗ trợ của các nguồn lực địa phương trong việc vay vốn, sử dụng vốn vay và hỗ trợ đào tạo nghề, giới thiệu việc làm cho thành viên các hộ nghèo
6 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng đói nghèo ở xã An Phú đang diễn ra như thế nào ?
Những nhu cầu cơ bản nào cần được đáp ứng nhằm trợ giúp cho những hộ nghèo có thể giảm nghèo, ổn định cuộc sống ?
Có những hệ thống nguồn lực nào trong cộng đồng có thể tham gia vào quá trình trợ giúp người dân giảm nghèo ?
Hoạt động liên kết các hệ thống nguồn lực nhằm trợ giúp các hộ nghèo tại
Xã An Phú giảm nghèo ?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 21Trong những năm gần đây, công tác XĐGN trên địa bàn xã An Phú đã đạt được nhiều thành tích đáng kể, tỷ lệ giảm nghèo nhanh Tuy nhiên tỷ lệ tái nghèo còn cao, chưa mang lại hiệu quả bền vững
Trong công tác XĐGN tại địa phương, các nguồn lực về con người, vật chất, tài chính, xã hội và tự nhiên đã được huy động và phát huy vai trò của mình nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nghèo Bên cạnh đó vẫn còn nhiều hạn chế trong việc người nghèo ở An Phú tiếp cận với các nguồn lực này
Nhờ có hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước cùng với sự chỉ đạo sát sao của chính quyền địa phương đã giúp người nghèo cải thiện cuộc sống thông qua tiếp cận với các nguồn lực Song, do còn nhiều hạn chế trong trình độ nhận thức, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, các chính sách còn nhiều thủ tục rườm rà, là một trong những yếu tố cản trở người nghèo ở xã An Phú vươn lên thoát nghèo
Các khó khăn này có thể được khắc phục tại cộng đồng nhờ sự tham gia của các hệ thống nguồn lực trong quá trình hỗ trợ người dân giảm nghèo như chính quyền địa phương, hàng xóm láng giềng, nhân viên CTXH, Hội nông dân, Hội phụ
nữ
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Các phương pháp thu thập thông tin
8.1.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi đã đọc, nghiên cứu tài liệu liên quan đến: báo cáo tình hình việc làm cho lao động nông thôn nói chung và hỗ trợ lao động nghèo nông thôn để tạo dựng việc làm nói riêng; báo cáo phương hướng giải quyết việc làm và tạo việc làm cho người dân nghèo nông thôn; Các báo cáo
và kết quả công tác xóa đói giảm nghèo; Nghiên cứu tâm lý học, xã hội học, công tác xã hội về hỗ trợ người dân nghèo nông thôn tạo việc làm
Đồng thời, thu thập thông tin thứ cấp từ các nguồn tài liệu, các công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung đề tài, các dữ liệu từ báo cáo của địa phương, nguồn thông tin khai thác từ sách báo, internet, phối hợp tổng quan các tài liệu sẵn có với các kết quả khảo sát, các số liệu thống kê từ UBND xã An Phú, huyện
và các cơ quan chức năng
Trang 22Khai thác nguồn dữ liệu thứ cấp từ cuộc khảo sát đặc điểm và nguyện vọng của hộ nghèo do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội chủ trì năm 2016,
cụ thể đề tài sử dụng loại phiếu điều tra C: Thu thập đặc điểm hộ nghèo và hộ cận nghèo năm 2016, và phiếu D: Nhu cầu cần hỗ trợ thoát nghèo bền vững năm
2016 tại xã An Phú
Dựa trên kết quả thu thập được từ cuộc khảo sát Bộ LĐ TB-XH tại xã An Phú, với tư cách là người chịu trách nhiệm xử lý các số liệu điều tra, tổng hợp báo cáo về tình trạng nghèo khổ ở xã, tôi đã khai thác nguồn dữ liệu này để phục
vụ đề tài nghiên cứu
8.1.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Đề tài đã thực hiện 20 cuộc phỏng vấn sâu, trong đó có 10 cuộc phỏng vấn các người dân thuộc hộ nghèo, 5 người dân trong các hộ đã thoát nghèo, cán bộ lãnh đạo xã và các đoàn thể xã hội ở địa phương 5 người
Nội dung phỏng vấn tập trung vào những vấn đề sau: (1) Đánh giá tình hình hỗ trợ và giải quyết việc làm cho người dân nghèo ở xã Những yếu tố ảnh hưởng đến việc làm; Địa phương đã có những mô hình tạo việc làm gì; (2) Nhu cầu để tạo việc làm dựa vào cộng đồng của người dân nghèo; (3) Nhu cầu của cộng đồng trong việc tham gia đóng góp nguồn lực vào hỗ trợ cho người nghèo
xã An Phú tạo việc làm vươn lên giảm nghèo bền vững; (4) Đánh giá nguồn lực của cộng đồng, xây dựng các biện pháp hỗ trợ cho người nghèo tạo việc làm; (5) Nghiên cứu xây dựng mô hình liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng thử nghiệm
8.1.3 Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được thực hiện tại nơi ở của những hộ nghèo tại 13 thôn/ xóm của xã An Phú, nhằm mục đích giúp người nghiên cứu có cái nhìn chân thực về khung cảnh đời sống của những người dân nghèo Thông qua việc
mô tả lại những đặc điểm của hộ nghèo tại đây về đời sống, về cơ sở hạ tầng, về sản xuất, về các dịch vụ xã hội
8.2 Phương pháp thảo luận nhóm
Mục đích sử dụng phương pháp thảo luận nhóm :
Trang 23Phương pháp này dựa trên sự tương tác của các thành viên trong một nhóm, mối tương tác này ảnh hưởng đến sự thay đổi hành vi theo hướng tích cực được nhân viên xã hội sự kiến trong kế hoạch hoạt động Trong phương pháp này công cụ chủ yếu là sự tương tác, ảnh hưởng qua lại giữa các thành viên trong nhóm Vai trò cuả nhân viên xã hội là xây dựng nhóm, giúp điều hoà các vai trò,
sự tham gia tích cực của các nhóm viên trong các hoạt động của nhóm, đánh giá
sự biến chuyển hành vi của từng cá nhân trong nhóm cũng như quá trình phát triển của nhóm
Chọn 07 người trong tổng số 20 người đã tham gia phỏng vấn sâu sẽ tham gia thảo luận nhóm với mục tiêu thảo luận về nhu cầu của những người nghèo trong quá trình làm kinh tế vươn lên thoát nghèo và biện pháp làm ăn cho họ ở
xã An Phú Đối tượng tham gia thảo luận nhóm gồm: 02 người dân thuộc hộ nghèo của Xã, 02 người dân làm kinh tế tốt tiêu biểu trong nhóm nòng cốt, 01 cán bộ Hội phụ nữ; 01 chủ doanh nghiệp địa phương; 01 cán bộ là công tác giảm nghèo của xã
Trang 24
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm công cụ
1.1.1 Liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng
Để làm rõ được khái niệm liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng, cần làm rõ các khái niệm: liên kết, nguồn lực và cộng đồng
Theo từ điển Tiếng Việt: “Liên kết là kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ, có thể là nhà nước này liên kết với nhà nước khác về mặt chính trị, quân sự, kinh tế, tỉnh này liên kết với tỉnh khác để cùng tổ chức các hoạt động sự kiện, tổ chức này liên kết với tổ chức khác, người này liên kết với người khác để cùng làm ăn”[10]
Liên kết được hiểu theo cách vận dụng và sử dụng trong công tác phát triển
cộng đồng là: “Sự tương quan kết nối giữa người với người, có tính kết hợp hay những phản ứng tương hỗ, theo đó con người được gần nhau và phối hợp chặt chẽ với nhau hơn Sự tương quan và kết hợp giữa các thành viên trong cộng đồng được biểu hiện qua các hoạt động thực tiễn hằng ngày và củng cố thêm sự đoàn kết trong cộng đồng”[51, tr 48]
Trang 25*Nguồn lực:
Theo định nghĩa chung nhất, nguồn lực là một hệ thống các nhân tố mà mỗi nhân tố đó có vai trò riêng nhưng có mối quan hệ với nhau tạo nên sự phát triển của
sự vật hiện tượng nào đó Tuy nhiên có một số cách hiểu về nguồn lực như sau:
Trước hết tham khảo theo quan niệm của Ngân hàng thế giới nguồn lực của
con người gồm có:
- Nguồn lực tự nhiên: Tài nguyên thiên nhiên (khoảng sản, đất đai, rừng,
nước, khí hậu…); vị trí địa lý (đường bộ, đường thủy, đường không) [59]
- Nguồn lực vốn: Nội lực (ngân sách nhà nước, đóng góp của nhân dân); ngoại lực (đầu tư thông qua con đường hợp tác chính phủ) [59]
Nguồn lực là: “Toàn bộ những yếu tố trong và ngoài nước đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình thúc đẩy, phát triển, cải biến xã hội của một quốc gia” [59]
Theo từ điển Tiếng Việt: “Nguồn lực được hiểu là nguồn sức mạnh vật chất, tinh thần phải bỏ ra để tiến hành một hoạt động nào đó chẳng hạn như nguồn sức mạnh tài chính, thu hút nguồn lực đầu tư” [10]
* Liên kết nguồn lực:
Từ hai khái niệm “Liên kết” và “Nguồn lực” chúng ta có thể hiểu khái niệm
“Liên kết nguồn lực” như sau: “ Liên kết nguồn lực đó là hành động của nhân viên công tác xã hội thể hiện vai trò của mình trong việc kết nối lại các nguồn lực đã được phát hiện trong cộng đồng và công tác tổ chức các nguồn lực đó để huy động chúng thực hiện kế hoạch cho hoạt động xây dựng cộng đồng một cách có lợi nhất cho cộng đồng địa phương và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực”[59]
Vậy trước hết, muốn liên kết nguồn lực thì nhân viên công tác xã hội phải
mô tả được các loại nguồn lực trong cộng đồng Ai đang nắm giữ loại nguồn lực gì? Mức độ và điều kiện sẵn sàng tham gia hành động của các tiểu hệ thống trong việc thực hiện một nghĩa vụ và trách nhiệm chung Đồng thời liên kết nguồn lực phải thể hiện được cách thức, xác định được bối cảnh hành động, ai làm gì? Làm như thế nào? Cách thực thực hiện ra sao?
Tại xã An Phú để trợ giúp cho người dân giảm nghèo có rất nhiều các nguồn lực trong cộng đồng như: Hệ thống hộ gia đình, họ hàng, làng xóm; Hệ thống chính
Trang 26quyền địa phương; Hệ thống hội phụ nữ, hội nông dân; Hệ thống gân hàng chính sách; Hệ thống tài nguyên môi trường; Hệ thống các doanh nghiệp tổ chức xã hội địa phương Vì vậy điều quan trọng ở đây là liên kết các nguồn lực để hỗ trợ người dân giảm nghèo một cách hiệu quả
*Cộng đồng:
Khái niệm cộng đồng rất mở và phong phú, ít khi bị giới hạn bởi địa lý Đây
là một khái niệm rất quan trọng, cần được hiểu rõ trước khi sử dụng cách thức tiếp cận dựa vào cộng đồng để xây dựng kế hoạch hỗ trợ cho nhóm đối tượng Có một
số định nghĩa khác nhau về cộng đồng như sau:
Theo tác giả Tô Duy Hợp “Cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu rằng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên”[40, tr 25]
Theo Từ điển tiếng Anh của trường đại học OXFORD, cộng đồng là: 1) Tập
thể người sống trong cùng một khu vực, một tỉnh hoặc một quốc gia và được xem như
một khối tương đối đồng nhất; 2) Một nhóm người có cùng tín ngưỡng, cùng chủng tộc, cùng loại hình nghề nghiệp…hoặc cùng các mối quan tâm; 3) Là một tập thể cùng chia
sẻ, hoặc có tài nguyên chung, hoặc có tình trạng tương tự nhau về một khía cạnh nào đó;
4) (từ kỹ thuật) Là một nhóm động vật hoặc thực vật sống mọc lên trong cùng một
khu vực[54]
Theo tác giả Trịnh Văn Tùng thì “Cộng đồng là một nhóm người có sự liên
hệ chặt chẽ với nhau, có nhiều thuộc tính giống nhau tạo thành bản sắc Cộng đồng
ấy không nhất thiết cùng sống trong một đơn vị hành chính lãnh thổ Họ cùng nhau chia sẻ những mối quan tâm về những vấn đề cụ thể (thiếu hụt chức năng xã hội, bị
kì thị, bị loại trừ xã hội, khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực đồng thời có nghĩa vụ và trách nhiệm chung” [38]
Do đề tài chỉ tập trung trong phạm vi một Xã An Phú nên khái niệm cộng đồng được giới hạn ở nghĩa cộng đồng Xã Cộng đồng ở đây nó bao hàm các quan
hệ xã hội, các tính chất xã hội như quan hệ hàng xóm láng giềng, tình cảm khối phố, dãy phố, khu tập thể
Trang 27*Dựa vào cộng đồng
Từ khái niệm cộng đồng, chúng ta đi tìm hiểu khái niệm dựa vào cộng đồng Vậy dựa vào cộng đồng là gì? Nhân viên công tác xã hội lấy cộng đồng làm trung tâm, tức là áp dụng triệt để nguyên tắc trao quyền cho cộng đồng, giúp cộng đồng nhìn nhận và sử dụng nguồn lực của chính mình một cách hiệu quả nhất để giải quyết một vấn đề chung Dựa vào các nguyên tắc của phát triển cộng đồng để nhấn mạnh các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, Dựa vào cộng đồng tức là phát triển cộng đồng phải là phát triển tổng thể, tức là không loại bỏ bất kỳ khía cạnh nào: Kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị…
Thứ hai, Dựa vào cộng đồng tức là sự huy động nguồn lực của chính cộng đồng đó, sự tham gia của cộng đồng thì càng đông càng tốt Cộng đồng phải là những người chủ động nắm lấy quyền hành động của mình Trong trường hợp này, dựa vào cộng đồng là trao quyền cho cộng đồng Nhân viên công tác xã hội chỉ có vai trò hỗ trợ, xúc tác
Như vậy trong nghiên cứu này, dựa vào cộng đồng được hiểu là sự huy động
nguồn lực của chính cộng đồng đó, sự tham gia của cộng đồng trong việc hỗ trợ người dân giảm nghèo, trợ giúp người nghèo tạo dựng việc làm, ổn định cuộc sống vươn lên thoát nghèo…
Từ những khái niệm như “Liên kết nguồn lực”, “Dựa vào cộng đồng”, chúng tôi xin đưa ra khái niệm “Liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng” trong khuôn khổ luận văn này như sau: “Liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng là những hành động kết nối các loại nguồn lực vốn đang rời rạc tại cộng đồng thành một thể thống nhất có sự tương tác, và hỗ trợ lẫn nhau như xây dựng các mô hình hoạt động cụ thể trong những trường hợp cụ thể nhằm một mục tiêu nhất định, cụ thể
trong khuôn khổ luận văn này là nhằm mục tiêu hỗ trợ người dân giảm nghèo[38] 1.1.2 Khái niệm nghèo
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới thì “Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định Thước đo các tiêu chuẩn này và nguyên nhân dẫn đến nghèo đói thay đổi theo địa
Trang 28phương và theo thời gian”[28] Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm
ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (PCI) của quốc gia
Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), năm 1999: “Nghèo là tình trạng thiếu những tài sản cơ bản và cơ hội mà mỗi con người có quyền được hưởng”[33]
Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo của Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái
Lan tháng 9 năm 1993:“Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng
và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”[2, tr 1]
Để có được một cái nhìn tổng quan hơn về các vấn đề nghèo đói, Robert McNamara khi còn là giám đốc của Ngân hàng Thế giới đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối và nghèo trương đối:
- “Nghèo tuyệt đối: Là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ
và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt qua sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn”[50, tr 2]
- “Nghèo tương đối có thể xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp nhất định so với sự sung túc của xã hội đó”[50, tr 2]
Với cách định nghĩa như trên có thể nhận thấy khái niệm nghèo đói tương đối phát triển theo thời gian và không gian tuỳ theo sự phát triển của xã hội Nghèo đói thường xuất hiện do tình trạng kém phát triển hoặc phát triển không đồng đều giữa các thành phần kinh tế, các vùng miền, đồng thời do chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước không chú ý đến nguyên nhân gây ra nghèo đói Do đó nghèo đói thường liên quan mật thiết với quá trình tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội
Như vậy trong luận văn này tác giả sử dụng quan niệm nghèo của Việt Nam vào trong nghiên cứu của mình Tóm lại, nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều
Trang 29phương diện như: thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định
1.1.3.Khái niệm hộ nghèo
Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thỏa mãn một phần tối thiểu nhu cầu của cuộc sống với mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện
Đối với Việt Nam hiện nay, vấn đề nghèo đói đang là một trong những vấn
đề cấp bách cần được giải quyết Chính phủ Việt Nam đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo trong thời gian từ 1993 đến cuối năm 2005, tuỳ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể của đất nươc:
- Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
27 tháng 9 năm 2001, trong đó phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN giai đoạn 2001 - 2005” thì những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/ người/ tháng (tương đương 960.000 đồng/ người/năm) trở xuống được xác định là hộ nghèo; ở khu vực nông thôn - đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/ người/ tháng (tương đương 1.200.000 đồng/ người/ năm) trở xuống được xác định là hộ nghèo; ở khu vực thành thị những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 150.000 đồng/ người/ tháng (tương đương 1.800.000 đồng/ người/ năm) trở xuống được xác định là hộ nghèo
- Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
08 tháng 07 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006
- 2010thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/ người/ tháng (tương đương 2.400.000 đồng/ người/ năm) trở xuống được xác định là hộ nghèo; ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/ người/ tháng (dưới 3.120.000 đồng/ người/ năm) trở xuống là hộ nghèo
Trang 30Tiêu chuẩn nghèo tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 là thu nhập bình quân đầu người dưới 330.000 đồng/ tháng hoặc 4.000.000 đồng/ năm (tương ứng với 284 USD/ năm) thấp hơn tiêu chuẩn của thế giới là 360 USD/ năm
Theo Quyết định số 2446/QĐ-UBND ngày 05 tháng 12 năm 2009 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội về việc điều tra, khảo sát xác định hộ nghèo, cận nghèo Thành phố theo chuẩn dự kiến giai đoạn 2009 - 2013 thì ở khu vực thành thị chuẩn nghèo từ 500.000 đồng/ người/ tháng trở xuống, chuẩn cận nghèo trên 500.000 đồng đến 650.000 đồng/ người/ tháng; ở khu vực nông thôn chuẩn nghèo từ 330.000 đồng/ người/ tháng trở xuống, và chuẩn cận nghèo trên 330.000 đồng đến 430.000 đồng/ người/ tháng
Theo quyết định số 09/ 2011/ QĐ-TTG ngày 30 tháng 1 năm 2011 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/ người/ tháng ( tương đương với 4.800.000 đồng/ người/ năm) trở xuống là hộ nghèo; khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/ người/ tháng ( tương đương với 6.000.000 đồng / người / năm) trở xuống là hộ nghèo
Theo quyết đinh 59/ 2015/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 19 tháng 11 năm 2015 có hiệu lực từ ngày 05 tháng 01 năm 2016 về chuẩn nghèo áp dụng đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 thì ở khu vực nông thôn chuẩn nghèo nâng từ 400.000 đồng/ người/ tháng lên 700.000 đồng/ người / tháng trở xuống; Khu vực thành thị chuẩn nghèo nâng từ 500.000 đồng / người / tháng lên 900.000 đồng/ người/ tháng trở xuống Ngoài tiêu chí về thu nhập để đánh giá chuẩn nghèo còn tiêu chí về mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản gồm: Y
tế , giáo dục, nhà ở, nước sạch, vệ sinh và thông tin Và các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm: tiếp cận dịch vụ y tế, bảo hiểm y tế, trình
độ giáo dục người lớn, tình trạng đi học trẻ em
Ngày 15 tháng 9 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1614/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận
đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020”
Theo đó, các tiêu chí đo lường nghèo giai đoạn 2016-2020 được xây dựng như sau:
Trang 31- Tiêu chí về thu nhập: Chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập là mức thu
nhập đảm bảo chi trả được những nhu cầu tối thiểu nhất mà mỗi người cần phải có
để sinh sống, bao gồm nhu cầu về tiêu dùng lương thực, thực phẩm và tiêu dùng phi lương thực, thực phầm Chuẩn nghèo về thu nhập là mức thu nhập mà nếu hộ gia đình có thu nhập dưới mức đó sẽ được coi là hộ nghèo về thu nhập (gọi là chuẩn nghèo chính sách) Chuẩn mức sống trung bình về thu nhập là mức thu nhập mà ở mức đó người dân đã đạt được mức sống trung bình của xã hội, bao gồm nhu cầu về tiêu dùng lương thực, thực phẩm và tiêu dùng phi lương thực, thực phẩm
- Mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản: Các dịch vụ xã hội cơ
bản bao gồm 5 dịch vụ: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin; Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt gồm 10 chỉ số: (1) trình độ giáo dục của người lớn; (2) tình trạng đi học của trẻ em; (3) tiếp cận các dịch vụ y tế; (4) bảo hiểm y tế; (5) chất lượng nhà ở; (6) diện tích nhà ở bình quân đầu người; (7) nguồn nước sinh hoạt; (8) loại hố xí / nhà tiêu; (9) sử dụng dịch vụ viễn thông; (10) tài sản phục vụ tiếp cận thông tin Ngưỡng thiếu hụt đa chiều: là mức độ thiết hụt
mà nếu hộ gia đình thiếu nhiều hơn mức độ này thì bị coi là thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt trở lên [56]
Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Theo đó, các
tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 gồm tiêu chí về thu nhập, mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản
Với tiêu chí về thu nhập: Quyết định chuẩn nghèo ở khu vực nông thôn là
700.000 đồng/ người/ tháng; ở khu vực thành thị 900.000 đồng/ người/ tháng Chuẩn cận nghèo ở khu vực nông thôn là 1.000.000 đồng/ người/ tháng; ở khu vực thành thị 1.300.000 đồng/ người / tháng
Về tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: Quyết định nêu
rõ, các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 5 dịch vụ và 10 chỉ số Tiêu chí xác định chuẩn nghèo: Quyết định rõ chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 Cụ thể, hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: 1- Có thu nhập bình quân đầu người/ tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; 2- Có thu nhập bình quân đầu người/ tháng trên 700.000
Trang 32đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: 1- Có thu nhập bình quân đầu người/ tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; 2- Có thu nhập bình quân đầu người/ tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên Hộ cận nghèo khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/ tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Hộ cận nghèo khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/ tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Hộ có mức sống trung bình ở khu vực nông thôn là
hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng
Hộ có mức sống trung bình ở khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/ tháng trên 1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng Mức chuẩn nghèo trên là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch
vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội; hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác trong giai đoạn 2016 - 2020[56]
Trong nghiên cứu này 710 hộ nghèo tại xã An Phú năm 2016 được xác định theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đó các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 gồm tiêu chí về thu nhập, mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản
1.1.4 Khái niệm giảm nghèo
Xóa đói giảm nghèo là chiến lược của mỗi nước nhằm giải quyết vấn đề đói nghèo và phát triển kinh tế, cải thiện và nâng cao đời sống cho người dân trong nhóm nghèo đói qua các chương trình phát triển kinh tế và hỗ trợ kinh tế, nhằm đưa người dân thoát khỏi nghèo đói hướng tới mục tiêu phát triển bền vững
Theo tác giả Nguyễn Hữu Lợi: Giảm nghèo trong đó luôn bao hàm xóa đói
và cũng giống như khái niệm nghèo, khái niệm giảm nghèo chỉ là tương đối Bởi
Trang 33nghèo có thể tái sinh, hoặc khi khái niệm nghèo và chuẩn nghèo thay đổi Do đó, việc đánh giá mức độ giảm nghèo phải được đánh giá trong một thời gian, không gian nhất định Giảm nghèo là một phạm trù cũng chỉ mang tính lịch sử, do đó chỉ có thể từng bước giảm nghèo, chứ chưa thể xóa sạch được nghèo Hiểu một cách chung nhất, giảm nghèo hay xóa đói giảm nghèo chính là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống Nói một cách khác, giảm nghèo là quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn Ở khía cạnh khác, giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có nhiều hơn, hướng đến sự đầy đủ hơn các điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người Chất lượng giảm nghèo
là khái niệm để chỉ thực chất của kết quả giảm nghèo, mà vấn đề cần đạt được là đời sống người nghèo được nâng lên sau khi có tác động hỗ trợ, khoảng cách thu nhập với các nhóm dân cư khác được rút ngắn về mặt tốc độ, khi gặp rủi ro hay bất trắc sẽ không bị rơi lại vào tình trạng nghèo đói, hay nói cách khác, chất lượng giảm nghèo suy cho cùng là phản ảnh tính bền vững của quá trình giảm nghèo[22, tr 2]
Quá trình giảm nghèo bền vững (GNBV) được đánh giá thông qua các tiêu chí cơ bản sau:
- Giảm nghèo bền vững thông qua cải thiê ̣n về thu nhập
Để giảm nghèo, trước hết cần phải cải thiện thu nhập cho người nghèo Việc cải thiện thu nhập cần phải hướng đến ngang bằng và cao hơn mức chuẩn nghèo GNBV thông qua thu nhập được đánh giá qua các chỉ tiêu như: chỉ số khoảng cách nghèo giảm, chỉ số khoảng cách nghèo đói bình phương giảm, tỷ lệ
hộ cận nghèo và tái nghèo giảm
- Giảm nghèo bền vững thông qua mức độ thụ hưởng các di ̣ch vụ x ã hội
cơ bản (về giáo dục, y tế )
Văn hóa thấp Bệnh tật NGHÈO Lười lao động Đông con Nhìn vào “Vòng luẩn quẩn của nghèo” chúng ta có thể thấy: Vòng luẩn quẩn nghèo đói được mô tả: Nghèo đói → thất học, văn hóa thấp → lao động giản đơn hoặc lười lao động
Trang 34→ thu nhập thấp hoặc không có thu nhập → không có cơ hội tiếp cận các dịch
vụ kinh tế, xã hội cơ bản → nghèo đói Vì vậy đánh giá GNBV thông qua tiêu chí mức độ hưởng thụ về y tế và giáo dục là một trong những phương pháp kiểm chứng xác thực về mức độ giảm nghèo ở một quốc gia [22,tr 3]
- Giảm thiểu nguy cơ bị tổn thương và rủi ro đối với các đối tượng nghèo
Các hộ gia đình nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn hàng ngày
và những biến động bất thường xảy ra đối với cá nhân, gia đình hay cộng đồng
Do nguồn thu nhập của họ rất thấp, bấp bênh, khả năng tích lũy kém nên họ khó
có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất mùa, mất việc làm, mất sức khỏe, mất nguồn lao động ) Với khả năng kinh tế mong manh của các hộ nghèo, những đột biến này sẽ tạo ra những biến cố lớn trong cuộc sống của họ
- Tăng cường tiếng nói và quyền tự chủ cho người nghèo
Người nghèo, đồng bào dân tộc ít người và các đối tượng đặc biệt thường
có trình độ học vấn thấp nên không có khả năng tự giải quyết các vấn đề vướng mắc có liên quan đến pháp luật Nhiều văn bản pháp luật có cơ chế thực hiện phức tạp khiến người nghèo khó nắm bắt, mạng lưới các dịch vụ pháp lý, số lượng các luật gia, luật sư hạn chế, phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung tại các thành phố, thị xã, phí dịch vụ pháp lý còn cao Vì vậy cải cách các thể chế liên quan đến người nghèo là vấn đề cốt yếu đối với việc đảm bảo quyền pháp lý của họ Chỉ có thông qua những thay đổi có tính chất hệ thống như vậy thì những người nghèo nhất mới có khả năng tận dụng những cơ hội mới và được thu hút tham gia vào nền kinh tế [22, tr.4]
Như vậy trong khuôn khổ nghiên cứu này chúng ta có thể hiểu được: Giảm nghèo là quá trình giúp người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của cộng đồng, trên cơ sở đó để họ có nhiều lựa chọn hơn giúp họ từng bước thoát ra khỏi tình trạng nghèo đói
Trang 351.2.Các lý thuyết áp dụng trong đề tài
1.2.1 Lý thuyết hệ thống
Đây là một thuyết quan trọng được vận dụng trong công tác xã hội nhằm chỉ cho thân chủ, nhóm thân chủ và cộng đồng những gì họ thiếu và những hệ thống nguồn lực nào họ có thể tiếp cận và tham gia, hội nhập Bởi trọng tâm của hệ thống là hướng đến cái tổng thể và mang tính hoà nhập Nguyên tắc về cách tiếp cận này chính là các cá nhân phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội trung gian của họ nhằm thoả mãn được cuộc sống riêng Do đó, công tác xã hội phải nhấn mạnh đến các hệ thống như vậy trong quá trình trợ giúp cho nhóm đối tượng
Theo từ điển Tiếng Việt thì “Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố đối với cùng
loại hoặc cùng chức năng có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ làm thành một thể thống nhất”[10]
Còn theo định nghĩa của Lý thuyết công tác xã hội hiện đại: “Hệ thống là
một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất” [27]
Theo lý thuyết này, con người phụ thuộc vào những hệ thống trong môi trường xã hội trực tiếp của họ Có rất nhiều cách phân loại hệ thống, theo tính chất thì công tác xã hội chú ý đến 3 hệ thống:
- Các hệ thống phi chính thức hay còn gọi là các hệ thống thân tình hay tự nhiên như gia đình, bạn bè, người thân hay đồng nghiệp
- Các hệ thống chính thức như các cơ quan, tổ chức của nhà nước, hay các tổ chức công đoàn…
- Các hệ thống tập trung như của các tổ chức xã hội như bệnh viện, trường học…
Hay phân loại theo cấp độ thì hệ thống cũng được chia làm ba cấp độ:
- Vĩ mô: Cá nhân
- Trung mô: Gia đình, cộng đồng, cơ quan nhà nước tại cộng đồng
- Vĩ mô: Các hệ thống xã hội, chính sách, các cơ quan nhà nước…
Đối với khách thể là nhóm các hộ nghèo tại Xã cần lưu ý đến các hệ thống như: Gia đình, hàng xóm láng giềng, chính quyền địa phương Đây là những hệ
Trang 36thống gần gũi và tiếp xúc thường xuyên nhất với nhóm này Cần thu thập thông tin
và khai thác nguồn lực từ chính các hệ thống này để nhận diện rõ vấn đề và có thể trợ giúp cho đối tượng Bên cạnh đó cũng cần chú ý đến các chức năng của hệ thống như: tính thích ứng, hội nhập của các tiểu hệ thống trong một hệ thống lớn để có thể phát huy, sử dụng tối đa các hệ thống nguồn lực trong cộng đồng Cụ thể là trong nghiên cứu này có thể liên kết tối đa các hệ thống để hỗ trợ người dân giảm nghèo tại xã An Phú – Mỹ Đức – Hà Nội [27]
1.2.2 Lý thuyết nhu cầu
Nhà tâm lý học A.Maslow (1908 -1970) được xem như là một trong những người đi tiên phong trong trường phái “Tâm lý học nhân văn”, trường phái này được xem như là thế lực thứ ba khi thế giới lúc ấy chia thành hai trường phái tâm lý chính là Phâm tâm học và Chủ nghĩa hành vi Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có cả lĩnh vực giáo dục Đó là lý thuyết về “Thang bậc nhu cầu cuả con người” Trong lý thuyết này, ông đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thoả mãn trước tiên [25]
Trong thời gian đầu tiên của lý thuyết này, A.Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc, đó là:- Nhu cầu cơ bản; - Nhu cầu an toàn; - Nhu cầu về xã hội; - Nhu cầu về được quý trọng; - Và nhu cầu được thể hiện mình
Sau đó, vào những năm 1970 -1990 của thế kỷ XX thì sự phân cấp này đã được chính ông điều chỉnh thành 7 bậc và 8 bậc, đó là:- Nhu cầu cơ bản; - Nhu cầu an toàn; - Nhu cầu về xã hội; - Nhu cầu về được quý trọng; - Nhu cầu về nhận thức; - Nhu cầu về thẩm mỹ; - Nhu cầu được thể hiện mình; - Và sự siêu nghiệm [25, tr.12]
Hệ thống các cấp bậc nhu cầu của A.Maslow thường được thể hiện dưới dạng một hình kim tự tháp, các nhu cầu ở cấp bậc thấp thì càng xềp phía dưới
Trang 37Trong khuôn khổ luận văn, tác giả sử dụng 5 cấp bậc thang nhu cầu của con người theo giai đoạn đầu của lý thuyết Maslow để phân tích và giải thích cho các hành động trong cuộc sống về vấn đề nghiên cứu Đó là: Nhu cầu cơ bản - Nhu cầu an toàn - Nhu cầu về xã hội - Nhu cầu về được quý trọng - Và nhu cầu được thể hiện mình
- Nhu cầu cơ bản: Nhu cầu này được coi là nhu cầu của cơ thể hay nhu cầu
về sinh lý, bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí
để thở, các nhu cầu làm cho con người cảm thấy thoải mái Đây là những nhu cầu
cơ bản nhất và mạnh mẽ nhất của con người Theo A.Maslow thì những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, thúc giục một người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được Ông cha ta cũng đã sớm nhận ra điều này khi cho rằng “có thực mới vực được đạo”, vì vậy cần phải được ăn uống, được đáp ứng các nhu cầu cơ bản để có thể hoạt động, vươn tới nhu cầu cao hơn[25]
- Nhu cầu an sinh, an toàn: Khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ
bản, khi đó các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiển trong cả thể chất lẫn tinh thần Con người mong muốn
có được sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm, các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai Nhu cầu này được thể hiện qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở Nhiều người tìm đến sự che chở bởi các niềm tin tôn giáo, đây chính là việc tìm kiếm sự an toàn về mặt tinh thần [25]
- Nhu cầu về xã hội: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn
thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó, hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia các hoạt động xã hội Mặc dù A.Maslow xếp nhu cầu này sau hai nhu cầu trên, nhưng ông nhấn mạnh rằng nếu nhu cầu này không được thoả mãn, đáp ứng thì nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần [25]
- Nhu cầu về được quý trọng: Nhu cầu này thể hiện ở hai cấp độ: nhu cầu
được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân Và nhu
Trang 38cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự
tự tin vào khẳ năng của bản thân mình [25]
- Nhu cầu được thể hiện mình: Theo A.Maslow, sự thể hiện mình được thể
hiện như sau: nhu cầu của một cá nhân mong muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh ra để làm” Nói một cách khác thì đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khẳ năng, tiềm năng của mình nhằm tự khẳng định mình, đạt được các thành quả trong xã hội Việc A.Maslow đã nói “sinh ra để làm” chính là việc đi tìm kiếm các cách thức mà năng lực, trí tuệ, khả năng cuả mình được phát huy và mình cảm thấy hài lòng về nó[25]
Việc vận dụng lý thuyết về Thang bậc nhu cầu của A.Maslow vào đề tài nghiên cứu, chính là nhằm để xem xét và rút ra những điều cần thiết về những nhu cầu, giá trị trong cuộc sống, tìm hiểu những khó khăn cuả các hộ gia đình nghèo ở
Xã, cũng như các phương thức cần thiết để công tác xoá đói giảm nghèo có hiệu quả cao và thiết thực trên địa Xã An Phú nói riêng và cả nước nói chung
1.2.3 Lý thuyết Phát triển cộng đồng
Lý thuyết Phát triển cộng đồng chú trọng tới sự nỗ lực cuả người dân, của cộng đồng kết hợp với sự nỗ lực của chính quyền địa phương nhằm cải thiện điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá cuả cộng đồng, giúp cộng đồng đó đóng góp và hoà nhập vào đời sống của quốc gia, dân tộc Có rất nhiều quan điểm khác nhau về Phát triển cộng đồng Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc năm 1956: Phát triển cộng đồng là những tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá của các cộng đồng và giúp các cộng đồng này hội nhập, đồng thời đóng góp vào đời sống quốc gia”[40]
Theo Murray và Ross: “Tổ chức cộng đồng là một diễn tiến qua đó một cộng đồng nhận rõ nhu cầu hay mục tiêu của mình, sắp xếp các nhu cầu và mục tiêu này, phát huy sự tự tin và muốn thực hiện chúng, tìm kiếm tài nguyên (bên trong và bên ngoài) để giải quyết nhu cầu hay mục tiêu ấy Thông qua đó sẽ phát huy những thái
độ và kỹ năng hợp tác với nhau trong cộng đồng”[40]
Trang 39Mục tiêu bao trùm của phát triển cộng đồng là góp phần mở rộng và phát triển các nhận thức và hành động có tính chất hợp tác trong cộng đồn , phát triển năng lực tự quản của cộng đồng [ 40, tr 50]
Xây dựng năng lực và tạo quyền được coi là 2 trọng tâm của phát triển cộng
đồng “Phát triển cộng đồng là một quá trình mà luôn luôn tiếp diễn để đạt tới mục đích cuối cùng là giúp cho cộng đồng đi từ 1 tình trạng kém phát triển, không tự mình giải quyết được vấn đề của riêng mình tiến tới tự lực” [ 40, tr 50]
Nguyên lý Phát triển cộng đồng dựa trên nguyên lý phát triển xã hội Phát triển cộng đồng dựa trên nguyên lý tin vào dân, phát huy sức mạnh trong dân vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội cuả đất nước Phát triển cộng đồng được áp dụng nhiều trong công tác xoá đói giảm nghèo, nhấn mạnh tới sự tham gia, sự tự quyết của người dân nghèo trong quá trình chuyển giao kỹ thuật, công nghệ của Đảng và Nhà nước, giúp cho người dân nghèo cũng như cộng đồng phát huy được những khả năng cũng như năng lực của bản thân nhằm mục đích có kinh nghiệm sản xuất, có trình độ, có vốn, nắm vững khoa học kỹ thuật hiện đại để
từ đó có thể tự vươn lên thoát nghèo, cùng với cộng đồng hướng tới một xã hội công bằng, ấm no, tự do, hạnh phúc và phát triển phồn vinh
1.4 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác xoá đói giảm nghèo
Do xuất phát điểm của nền kinh tế, cùng trình độ tổ chức, quản lý xã hội của đất nước khi bước vào giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn thấp, nên vấn đề bảo đảm an sinh xã hội trong đó có xóa đói, giảm nghèo, giảm nghèo bền vững đã được Đảng, Nhà nước xác định là mục tiêu, biện pháp cần tiến hành kiên trì, bề bỉ trong một thời gian dài Xóa đói, giảm nghèo vừa nâng cao chất lượng nguồn lực cho sự nghiêp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc; vừa góp phần giữ vững ổn địn chính trị xã hội, giảm bớt chênh lệch thu nhập giữa các nhóm dân cư, vừa thể hiện rõ bản chất tốt đẹp của xã hội chủ nghĩa mà ta đang hướng tới, dù mới chỉ ở thời kỳ quá độ
Qua các kỳ đại hội, quan điểm của Đảng về xóa đói, giảm nghèo, giảm nghèo bền vững từng bước được xác lập, làm rõ và hiện thực hóa trên thực tế qua
sự quản lý, điều hành của Nhà nước Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này được
Trang 40thực hiện thông qua việc ban hành các chính sách hướng tới các đối tượng bị thua thiệt, áp dụng cho những vùng, miền chịu nhiều khó khăn, không thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội do thiên tai, xa các trung tâm kinh tế xã hội, bằng các biện pháp đầu tư đặc biệt, các chủ trương, chính sách ưu đãi Các nguồn lực cho xoá đói, giảm nghèo từ ngân sách nhà nước từ các nguồn tài trợ trong nước
và quốc tế
Kể từ Đại hội VI đến Đại hội XIV, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, nhiều văn bản đề cập tới vấn đề công bằng xã hội Chúng ta xác định công bằng xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triển Công bằng xã hội không bó hẹp trong lĩnh vực kinh tế mà liên quan tới tất cả các lĩnh vực kinh tế - chính trị - pháp luật - văn hóa - xã hội Công bằng xã hội đòi hỏi phải huy động mọi nguồn lực trong nhân dân, xã hội hóa nhiệm vụ đền ơn đáp nghĩa, xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở vừa tăng nhanh tốc độ phát triển, vừa giảm dần sự mất cân đối giữa các vùng; giảm dần khoảng cách về thu nhập, mức sống, hưởng thụ giáo dục, văn hóa, bảo vệ sức khỏe của các tầng lớp dân cư ở các vùng khác nhau Đặc biệt, công bằng xã hội đòi hỏi phải thực hiện tốt chương trình xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội
Từ thực tế đất nước, bắt đầu từ Đại hôi ̣VI (1986) trong nhận thức của Đảng chấp nhận sự phân hóa nhất định trong một số lĩnh vực giữa các tầng lớp nhân dân, đồng thời coi việc từng bước hạn chế sự phân hóa đó là nhiệm vụ quan trọng cần phải thực hiện, bởi đó chính là mục tiêu của Đảng, lo cho mọi người dân đều có cơ hội, có điều kiện để phát triển và đều được hưởng những thành quả do sự nghiệp xây dựng đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng mang lại
Tại Đại hội VII, Đảng ta khẳng định bước đầu thực hiện “Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” [56, tr 231]
Đại hội VIII, Đảng “thừa nhận trên thực tế cón có bóc lột và sự phân hoá giàu nghèo nhất định trong xã hội”, nhưng khẳng định “luôn quan tâm bảo vệ lợi ích của người lao động coi trọng xoá đói, giảm nghèo, từng bước thực hiện công bằng xã hội” [56, tr 459-460], đồng thời, nhấn mạnh “ Kết hợp hài hòa giữa tăng