1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Khảo sát phương thức sử dụng ẩn dụ ngữ pháp trong các văn bản khoa học tiếng việt

251 234 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 251
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi ngôn ngữ học chức năng hệ thống đề xuất khái niệm “ẩn dụ ngữ pháp”, Halliday cho rằng: “Có một thành phần ngữ pháp mạnh mẽ trong chuyển nghĩa tu từ; và một khi chúng ta đã nhận ra đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN THU THỦY

KHẢO SÁT PHƯƠNG THỨC

SỬ DỤNG ẨN DỤ NGỮ PHÁP TRONG CÁC VĂN BẢN KHOA HỌC TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN THU THỦY

KHẢO SÁT PHƯƠNG THỨC

SỬ DỤNG ẨN DỤ NGỮ PHÁP TRONG CÁC VĂN BẢN KHOA HỌC TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC Chuyên ngành: Lí luận ngôn ngữ

Mã ngành : 62.22.01.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS HOÀNG VĂN VÂN

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các vấn

đề được nghiên cứu, phân tích, mô tả và tổng kết trong luận án này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Nguyễn Thu Thủy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trải qua thời gian dài học tập và nghiên cứu miệt mài, tôi đã hoàn thành xong luận án Tiến sĩ ngôn ngữ học Trong quá trình học tập, nghiên cứu tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên nhiệt tình của Thầy, Cô, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè

Với lòng kính trọng, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể cán bộ, giảng viên ,viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã luôn động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành chương trình đào tạo Tiến sĩ và hoàn thành luận án

Đặc biệt, với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến GS TS Hoàng Văn Vân - người Thầy, người hướng dẫn khoa học đã thường xuyên chỉ bảo, tận tình giúp đỡ tôi nghiên cứu hoàn thành luận án

Tôi chân thành cảm ơn các Thầy, Cô, đồng nghiệp và bạn bè đã hướng dẫn giúp đỡ, cộng tác, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án

Tôi xin tri ân sự khích lệ, giúp đỡ của gia đình, người thân đã dành cho tôi trong suốt quá trình công tác, học tập và nghiên cứu

Chắc chắn trong luận án còn nhiều thiếu sót, tôi kính mong nhận được

sự chỉ dẫn, góp ý, giúp đỡ của quý Thầy, Cô để hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Nguyễn Thu Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 11

1 Lí do chọn đề tài 11

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13

3 Đối tượng nghiên cứu 13

4 Phương pháp nghiên cứu 14

5 Nguồn ngữ liệu 14

6 Đóng góp của luận án 15

7 Bố cục của luận án 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 17

1.1 Cơ sở lí luận 17

1.2 Sơ lược về sự dẫn nhập và nghiên cứu bước đầu về ẩn dụ ngữ pháp 19

1.2.1 Halliday (1985/1994) 19

1.2.2 Ẩn dụ ngữ pháp theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học chức năng hệ thống khác 32

1.3 Tình hình nghiên cứu ẩn dụ ngữ pháp ở Việt Nam 44

1.4 Quan điểm nghiên cứu của luận án 46

1.5 Tiểu kết 49

CHƯƠNG 2 ẨN DỤ TƯ TƯỞNG TRONG CÁC VĂN BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI TIẾNG VIỆT 52

2.1 Khái niệm ẩn dụ tư tưởng 52

2.2 Cách lập ngôn của các loại ẩn dụ tư tưởng trong văn bản khoa học xã hội tiếng Việt 54

2.3 Phương thức sử dụng các loại ẩn dụ tư tưởng trong văn bản khoa học xã

hội tiếng Việt 56

2.3.1 Hiện tượng danh hóa cụm động từ 57

2.3.2 Hình thức danh hóa mệnh đề/cú bằng các danh từ có ý nghĩa khái quát giữ vai trò Chủ ngữ/Đề ngữ 65

Trang 6

2.3.3 Cú bị bao được danh hóa, giữ vai trò như cụm danh từ làm Đề ngữ/Chủ

ngữ trong các cú quá trình không tương thích 70

2.3.4 Cú bị bao được danh hóa, giữ vai trò như cụm danh từ làm Bổ ngữ trong các cú quá trình không tương thích 75

2.3.5 Cú bị bao được danh hóa, giữ vai trò như cụm danh từ làm Chu cảnh trong các cú quá trình không tương thích 89

2.3.6 Trường hợp đặc biệt - thành phần của Chu cảnh được hiện thực hóa không tương thích giữ vai trò làm Đề ngữ/Chủ ngữ trong các cú quá trình 91

2.4 Tiểu kết chương 2 94

CHƯƠNG 3 ẨN DỤ LIÊN NHÂN TRONG CÁC VĂN BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI TIẾNG VIỆT 97

3.1 Tình thái và thức - những phạm trù diễn đạt nghĩa liên nhân 97

3.1.1 Nghĩa tình thái 97

3.1.2 Nghĩa mục đích phát ngôn và lực ngôn trung của cú 101

3.2 Ẩn dụ tình thái của cú trong các văn bản khoa học xã hội tiếng Việt 105

3.2.1 Cú có phần đầu đứng thể hiện tình thái chủ quan của người viết …….106

3.2.2 Các cú có phần đứng đầu thể hiện tình thái chủ quan của người viết (chủ thể vắng mặt/ ẩn) 110

3.2.3 Các cú có phần đứng đầu thể hiện tình thái đồng quan điểm với người đọc 111

3.2.4 Các cú có phần đứng đầu thể hiện tình thái che giấu tính chủ quan trong phát ngôn của người viết 113

3.3 Ẩn dụ thức của cú trong các văn bản khoa học xã hội 115

3.3.1 Ẩn dụ liên nhân của thức 115

3.3.2 Khảo sát cú nghi vấn trong văn bản khoa học xã hội 118

3.3.3 Cú trần thuật với các giá trị ngôn trung khác trong văn bản khoa học xã hội 130

3.4 Tiểu kết chương 3 142

KẾT LUẬN 145

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤC BẢNG TƯ LIỆU 1

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Hai bình diện về ẩn dụ (Halliday 1998: 342) 20 Bảng 1.2: Hai bình diện của sự biến đổi ẩn dụ 22 Bảng 1.3: Hệ thống các đơn vị ngữ nghĩa-ngữ pháp trong mối liên hệ với các đơn vị siêu chức năng 36 Bảng 1.4: Bảng thể hiện kết cấu tương thích trong tiếng Anh của Halliday 37

Trang 9

DANH MỤC CÁC DẤU QUY ƢỚC

/ ranh giới cụm từ/ nhóm từ

// ranh giới cú

/// ranh giới cú phức

[ ] ranh giới cụm từ bị bao

[[ ]] ranh giới cú bị bao

* chỉ cú không có tính ngữ pháp hay không được chấp nhận + chỉ sự xuất hiện của một đơn vị là bắt buộc

± chỉ sự xuất hiện của một đơn vị có thể hoặc không thể bắt buộc

 được hiện thực hóa bằng

^ chỉ trình tự cấu trúc, ví dụ, Hành thể ^ Quá trình ^ Đích thể

? chỉ ra rằng một hình thức hay một ví dụ vẫn còn chưa chắc chắn

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DTH : Tạp chí Dân tộc học

NCLS : Tạp chí Nghiên cứu lịch sử

NCVH : Tạp chí Nghiên cứu văn học

NN&PL : Tạp chí Nhà nước và Pháp luật

TĐH&BKT : Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư

KHXHVN : Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam

Trang 11

1.1 Bảng phân loại các kiểu danh hóa cụm động từ

STT Kiểu danh hóa cụm động

trong cú quá trình tinh thần

Những gì được thể hiện ở trên

1.2 Bảng phân loại các kiểu danh hóa mệnh đề/cú

đề/cú

1 Danh hóa bằng cách danh

từ có ý nghĩa khái quát,

giữ vai trò Chủ ngữ/đề

ngữ

Điều họ muốn cải thiện nhất trong đời sống hiện nay chủ yếu vẫn thuộc về mức sống tối thiểu.

71/386 18,4%

Trang 12

2 Cú bị bao được danh hóa

96/386 25,0%

3 Cú bị bao được danh hóa

giữ vai trò Bổ ngữ trong

cú quá trình không tương

thích

Họ mong ước đấng siêu nhiên

sẽ phù hộ cho họ, biến điều ước

2.1 Bảng phân loại các kiểu Ẩn dụ tình thái

trúc)

Số lƣợng Tần số

1 Tình thái chủ quan của

người viết (chủ thể hiện)

Tôi (chúng tôi) cho rằng, nghĩ,

e rằng, xem, nhận thấy, thấy, thiết tưởng, thiết nghĩ,…

79/210 37,6%

Trang 13

2 Tình thái chủ quan của

Chúng ta đều biết rằng, đều

thừa nhận rằng, đều nhận thấy,

như chúng ta đã biết,…

58/210 27,6%

4 Tình thái che giấu tính chủ

quan trong phát ngôn

Ai cũng thừa nhận rằng, ai đó

nói rằng, mọi điều đã rõ, không

ai lại không biết rằng, …

38/210 18,1%

2.2 Bảng phân loại các kiểu Ẩn dụ Thức

trị ngôn trung khác

Tôi muốn tập trung vào hai ý kiến tranh luận đã từng được nêu lên trong các nghiên cứu về lịch sử dân tộc học Việt Nam

132/160 82,5%

Cú trần thuật có giá trị

ngôn trung hứa hẹn

- Sử dụng phụ từ sẽ ( Về từng tiêu chuẩn trên của chữ “đạt” trong dịch thuật, tôi sẽ bàn kỹ hơn trong một dịp khác.)

15/160 9,4%

Cú trần thuật có giá trị

cảm thán

- Sử dụng cụm thật đáng tiếc, không may thay (Đáng tiếc là chúng tôi chưa tìm thấy bản thư mục của thư tịch tại thư viện Bảo Đại.)

Trang 14

trong phần kết thúc văn bản (vậy…

là thế nào, như vậy .là từ đâu;

nếu… thì thế nào; Vậy tại sao…;

Lẽ nào…; … hay chăng)

25/90 27,8%

Cú nghi vấn có các giá

trị ngôn trung khác

- Biểu thị sự khẳng định

- Biểu thị thái độ phân vân, ngờ

vực (phải chăng, liệu…hay không,

Trang 15

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Theo lý thuyết tu từ truyền thống, khái niệm khái quát dùng để chỉ một số

“nét của lời nói” hay “mỹ từ” có liên quan đến việc chuyển nghĩa ngôn từ thuộc nhiều kiểu khác nhau gọi là ẩn dụ (metaphor) Trong một số nét nghĩa cụ thể hơn,

ẩn dụ là một kiểu chuyển nghĩa được dùng phân biệt với hoán dụ (metonymy) và cải dung (synecdoche) Cả ba thuật ngữ này đều bao hàm cách sử dụng không theo

“nghĩa đen” của từ Từ thời kỳ tu từ cổ Hy-La, thuật ngữ “ẩn dụ” đã được người ta biết đến là dùng để chỉ sự chuyển nghĩa từ từ này sang từ khác Nó vẫn được dùng một cách rộng rãi để chỉ quá trình trong đó một từ nào đó được thu nạp một ý nghĩa phái sinh Trong tu từ học truyển thống, ẩn dụ được khái quát hóa như là sự chuyển nghĩa từ vựng, là một phép tu từ ngữ nghĩa

Trong khoảng vài chục năm gần đây, nhất là khi tác phẩm Metaphors we live

by (Chúng ta sống bằng ẩn dụ) của Lakoff và Johnson xuất bản năm 1980, giới

ngôn ngữ học đã bùng lên một xu hướng nghiên cứu ẩn dụ ở nhiều khía cạnh Cho đến nay, một số vấn đề lớn của ẩn dụ đã từng bước được làm sáng tỏ Chẳng hạn vấn đề vai trò của ẩn dụ trong giao tiếp ngôn ngữ và trong sự phát triển ngôn ngữ,

về cơ bản đã được khẳng định Ẩn dụ không phải là cách dùng ngôn từ đặc biệt để trang sức như là những mỹ từ trống rỗng, mà ẩn dụ trở thành hương vị và cảm xúc chân thật của đời sống ngôn ngữ ở nhiều thể loại ngôn bản Ẩn dụ cũng không còn giới hạn ở phép dùng từ hình ảnh, so sánh mà xa hơn thế nữa, ẩn dụ đi vào thế giới lập ngôn đầy màu sắc của ý niệm Ẩn dụ không chỉ là một phương thức hoạt động hiệu quả của ngôn ngữ mà còn là đặc trưng quan trọng nhất của tư duy con người,

vì tuyệt đại đa số các khái niệm cơ bản của loài người đều được thể hiện bằng ẩn dụ

- ẩn dụ khái niệm Nhiều nghiên cứu đã chứng minh ẩn dụ thuộc lĩnh vực tri nhận,

ẩn dụ tham gia vào quá trình sáng tạo và phát triển ngôn ngữ, ẩn dụ là một trong những phương thức sử dụng ngôn từ hiệu quả

Quá trình nghiên cứu ẩn dụ đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử Trong quá trình đó có những cách nhìn ẩn dụ từ những góc độ khác nhau Các nhà từ vựng học cho rằng ẩn dụ là phép dùng từ so sánh đặc biệt, là sự chuyển đổi ý nghĩa thuộc cấp

độ từ vựng-ngữ nghĩa Các nhà ngôn ngữ học tri nhận khẳng định ẩn dụ thuộc lĩnh vực tri nhận, là phương tiện để con người tri nhận thế giới và cũng là một phương

Trang 16

thức tư duy sáng tạo của loài người Các nhà dụng học ngôn ngữ đề nghị lý giải ẩn

dụ trên cơ sở dụng học, vì ẩn dụ được phân định không phải bám vào ngữ nghĩa mà

là cách sử dụng ý nghĩa ấy trong hoàn cảnh cụ thể của các tình huống cụ thể Nhìn chung, ẩn dụ thường được mô tả như là một sự thay đổi trong cách sử dụng của từ

và được gắn bởi thuật ngữ “ẩn dụ từ vựng”

Khi ngôn ngữ học chức năng hệ thống đề xuất khái niệm “ẩn dụ ngữ pháp”,

Halliday cho rằng: “Có một thành phần ngữ pháp mạnh mẽ trong chuyển nghĩa tu

từ; và một khi chúng ta đã nhận ra điều này thì chúng ta thấy rằng cũng có một sự vật như là ẩn dụ ngữ pháp, ở đó sự thay đổi về cơ bản là trong các hình thức ngữ pháp mặc dù nó cũng thường bao hàm sự thay đổi về từ vựng” [18,541] Từ góc độ

này, ẩn dụ được xem xét là sự thay đổi về cách diễn đạt các ý nghĩa trong ngữ pháp ngôn bản Ẩn dụ ngữ pháp có vai trò quan trọng trong việc tạo dựng và hiểu ngôn bản, nhất là các ngôn bản khoa học Ẩn dụ ngữ pháp là vấn đề rất lý thú Nghiên cứu ẩn dụ ngữ pháp không những nghiên cứu được vấn đề từ vựng theo truyền thống mà còn nghiên cứu được các vấn đề ngữ pháp xuất hiện trong các cách hành văn thế nào Nghiên cứu ẩn dụ ngữ pháp còn để xem các nhà văn và các nhà khoa học kết cấu và sử dụng văn bản ra sao

Văn bản khoa học là văn bản ứng dụng trong giao tiếp khoa học gắn với vai trò người giao tiếp trong khoa học, nhằm chuyển tải tri thức khoa học Văn bản khoa học tồn tại dưới hai dạng: dạng viết và dạng nói Dạng viết là dạng tồn tại phổ biến của ngôn ngữ văn bản gồm có: các công trình nghiên cứu, khảo cứu, dịch thuật

về khoa học tự nhiên và xã hội, các hình thức giới thiệu, nhận xét, phê bình khoa học, các bài làm của sinh viên, khóa luận, luận văn, luận án tốt nghiệp, đồ án khoa học, các loại sách giáo khoa và giáo trình học tập các loại Dạng nói là lời bài giảng, lời phát biểu trong các buổi sinh hoạt khoa học Lời hỏi và đáp trong các kỳ thi, kiểm tra vấn đáp…

Văn bản khoa học gắn liền với thế giới quan, đời sống, xã hội con người Văn bản khoa học xã hội chuyển tải các nội dung nghiên cứu về khoa học xã hội bao gồm: nhân học, truyền tin học, văn hóa, kinh tế, giáo dục, địa lý học nhân văn, sử học, ngôn ngữ học, khoa học chính trị, tâm lý học, chính sách xã hội, xã hội học…

Đối tượng tham gia văn bản khoa học chủ yếu là các nhà khoa học, các giáo

sư, tiến sĩ, người làm công tác giảng dạy, cán bộ nghiên cứu, giáo viên, sinh viên và

Trang 17

học sinh Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản khoa học và văn bản khoa học xã hội chủ yếu là ngôn ngữ viết Nhiệm vụ của người viết phải dùng ngôn ngữ để giải thích, chứng minh, diễn giải để làm sáng tỏ các lý luận, chứng cớ rõ ràng Chức năng chính của ngôn ngữ trong văn bản khoa học là chức năng diễn giải và tác động, nó gợi mở cho người đọc những suy nghĩ, tìm tòi, tiến tới hiểu và nắm bắt được những vấn đề khoa học đặt ra Trong văn bản khoa học xã hội ngôn từ phải được sử dụng chính xác, lôgic… đảm bảo chuyển tải thông tin chính xác đến người đọc để người đọc có thể lĩnh hội thông tin

Ngữ pháp chức năng hệ thống đã được áp dụng vào việc nghiên cứu tiếng Việt với các chuyên khảo của Hoàng Văn Vân [63], Diệp Quang Ban [2], Nguyễn Hòa [25] và một vài tác giả khác Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu theo đường hướng ngữ pháp chức năng hệ thống, vấn đề “ẩn dụ ngữ pháp” vẫn chưa được nghiên cứu một cách chi tiết và cụ thể, đặc biệt là hiện tượng ẩn dụ ngữ pháp trong các văn bản khoa học tiếng Việt Đây chính là lý do để tác giả chọn đề tài

“Khảo sát phương thức sử dụng ẩn dụ ngữ pháp trong các văn bản khoa học tiếng Việt” làm đề tài nghiên cứu cho luận án của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là áp dụng ngôn ngữ học chức năng hệ thống để nghiên cứu bản chất của ẩn dụ ngữ pháp, khảo sát các phương thức sử dụng ẩn dụ ngữ pháp trong các văn bản khoa học, tìm hiểu một cách có hệ thống về ẩn dụ ngữ pháp và cách thức sử dụng chúng trong một thể loại ngôn bản cụ thể là các văn bản khoa học

xã hội tiếng Việt

Để đạt được mục đích nói trên, luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

 Nghiên cứu những vấn đề lý thuyết đặc trưng về ẩn dụ ngữ pháp trong tiếng Anh, tìm hiểu hiện tượng này trong nghiên cứu tiếng Việt và xây dựng khung

lý thuyết về ẩn dụ ngữ pháp trong tiếng Việt

 Khảo sát các cách diễn đạt sử dụng ẩn dụ ngữ pháp trong các văn bản khoa học xã hội tiếng Việt

3 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các hiện tượng ẩn dụ ngữ pháp xuất hiện trong các văn bản khoa học, mà cụ thể ở đây là trong các văn bản khoa học xã

Trang 18

hội tiếng Việt Việc nghiên cứu các hiện tượng ẩn dụ ngữ pháp hoạt động như thế nào trong các văn bản khoa học xã hội tiếng Việt sẽ rút ra được quy luật hoạt động của hiện tượng ẩn dụ ngữ pháp trong tiếng Việt

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu đặc thù của luận án là phương pháp phân tích ngôn ngữ học theo tinh thần của ngữ pháp chức năng hệ thống Cụ thể là:

- Thống kê: Phương pháp này dùng để thống kê và phân loại các loại ẩn dụ ngữ pháp xuất hiện trong các ngôn bản đích thực thuộc thể loại văn bản khoa học xã hội (cụ thể là các tạp chí: Dân tộc học (DTH), Nghiên cứu lịch sử (NCLS), Nghiên cứu văn học (NCVH), Ngôn ngữ (NN), Nhà nước và Pháp luật (NN&PL), Tâm lý học (TLH), Triết học (TH), Văn hóa dân gian (VHDG), Xã hội học (XHH), Từ điển học và Bách khoa thư (TĐH&BKT), Khoa học xã hội Việt Nam (KHXHVN)…)

- Mô tả: Dựa trên cơ sở quan điểm của Halliday về ẩn dụ ngữ pháp, tiến hành phân tích nội dung, ý nghĩa các yếu tố, các mặt tham gia vào việc tạo nên các loại ẩn dụ ngữ pháp xuất hiện trong các văn bản khoa học xã hội tiếng Việt Đồng thời, mô tả những luận điểm, luận cứ nhằm làm sáng tỏ vấn đề đang bàn luận

5 Nguồn ngữ liệu

Phạm vi văn bản khoa học xã hội rất rộng trong khi nội dung của luận án có hạn, chính vì vậy, tác giả chỉ giới hạn thu thập nguồn ngữ liệu được lựa chọn trong một số văn bản khoa học xã hội tiếng Việt (số tạp chí và năm xuất bản không đầy đủ tùy từng loại tạp chí, nhìn chung thời gian khoảng từ 2003 đến 2016), cụ thể như sau: Dân tộc học (DTH – 7 số), Nghiên cứu lịch sử (NCLS – 6 số), Nghiên cứu văn học (NCVH – 16 số), Ngôn ngữ học (NN – 19 số), Nhà nước và Pháp luật (NN&PL – 4 số), Tâm lý học (TLH – 8 số), Triết học (TH – 5 số), Văn học dân gian (VHDG – 8 số),

Xã hội học (XHH – 5 số),Từ điển học và Bách khoa thư (TĐH&BKT – 4 số), Khoa học xã hội Việt Nam (KHXHVN – 5 số), …

Ngoài ra, một số ngữ liệu tìm thấy trong các văn bản khoa học xã hội khác cũng được sử dụng để phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu

Từ các tài liệu này, tác giả thu thập được hơn 1089 ví dụ, tập hợp lại thành 1 bảng tư liệu, sau đó phân loại các ví dụ thành các kiểu ẩn dụ ngữ pháp để làm tư liệu cho việc phân tích trong phần chính văn của luận án

Trang 19

6 Đóng góp của luận án

Về lí luận, luận án là công trình đầu tiên lấy ẩn dụ ngữ pháp của ngữ pháp chức năng hệ thống làm đối tượng nghiên cứu để khảo sát hiện tượng này trong các văn bản khoa học xã hội tiếng Việt Những kết quả nghiên cứu của luận án sẽ ít nhiều góp phần ủng hộ việc áp dụng ngữ pháp chức năng hệ thống vào trong nghiên cứu tiếng Việt

Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu còn tiếp tục làm rõ thêm bản chất của ẩn dụ ngữ pháp, khẳng định ẩn dụ ngữ pháp không phải là một vấn đề của hệ thống ngôn ngữ

mà là một quá trình hay một cơ chế nảy sinh ra trong sự tác động của các siêu chức năng và các loại ngôn cảnh, nhằm chuyển tải ý niệm trong tư duy hay nghĩa trong tâm thức con người, đúng với sở nguyện của chủ thể lập ngôn

Về thực tiễn, việc hiểu rõ ẩn dụ ngữ pháp được sử dụng và có tác dụng như thế nào trong các văn bản khoa học tiếng Việt, cùng với việc nắm được cách thức vận dụng

ẩn dụ ngữ pháp sẽ giúp các nhà nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ hiểu rõ hơn về bản chất, kết cấu của các ngôn bản khoa học Trên cơ sở đó, có thể xây dựng nên một môn học dạy về phương pháp soạn thảo văn bản khoa học một cách hiệu quả, giúp cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh nâng cao khả năng viết báo cáo khoa học, luận văn, luận án của mình

Ngoài ra, hiểu rõ cấu trúc ẩn dụ ngữ pháp còn có thể giúp những người làm công tác phiên dịch, biên dịch thực hiện công việc dịch thuật một cách dễ dàng hơn, nhờ việc nắm vững các cấu trúc ngữ pháp, các cách diễn đạt nghĩa của từng thể loại ngôn bản giúp việc chuyển mã ngôn ngữ nhanh chóng, chính xác và đạt hiệu quả cao

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Trong chương 1, luận án trình bày tổng quan những vấn đề lý thuyết, đưa ra quan điểm nghiên cứu của những nhà ngôn ngữ học chức năng về vấn đề ẩn dụ ngữ

Trang 20

pháp cụ thể là Halliday Tiếp theo đó là những nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học chức năng hệ thống khác bàn về vấn đề ẩn dụ ngữ pháp trên tinh thần kế thừa kết quả nghiên cứu của Halliday Luận án đưa ra những khái niệm liên quan là hiện thực hóa và sự tương thích Khái quát tình hình hình nghiên cứu ẩn dụ ngữ pháp ở Việt Nam từ trước đến nay Trình bày quan điểm nghiên cứu của luận án và tiểu kết

Chương 2: Ẩn dụ ngữ pháp tư tưởng trong các văn bản khoa học xã hội tiếng Việt

Trong chương 2 luận án nghiên cứu các vấn đề cụ thể của ẩn dụ ngữ pháp tư tưởng trong các văn bản khoa học xã hội Luận án đưa ra các khái niệm ẩn dụ tư tưởng, cách lập ngôn của các loại ẩn dụ tư tưởng trong văn bản khoa học xã hội Việt Nam Khảo sát các trường hợp ẩn dụ tư tưởng xuất hiện trong văn bản khoa học xã hội Qua quá trình khảo sát các trường hợp ẩn dụ tư tưởng trong văn bản khoa học xã hội, nhận thấy hiện tượng danh hóa được xem như là một công cụ thay thế để biểu đạt ý nghĩa trong văn bản Thực trạng sử dụng các loại ẩn dụ tư tưởng trong văn bản khoa học xã hội tiếng Việt và tiểu kết

Chương 3: Ẩn dụ ngữ pháp liên nhân trong các bản khoa học xã hội

Chương 3 luận án nghiên cứu các vấn đề ẩn dụ liên nhân trong các văn bản khoa học xã hội tiếng Việt Khái quát vấn đề thức và tình thái trong tiếng Việt bao gồm: nghĩa tình thái, nghĩa mục đích phát ngôn và lực ngôn trung của cú Khảo sát các trường hợp ẩn dụ tình thái, ẩn dụ thức của cú trong các văn bản khoa học xã hội tiếng Việt và tiểu kết

Kết luận

Phần kết luận tổng kết những kết quả đã nghiên cứu, nêu những hạn chế của luận án và đề xuất một số hướng nghiên cứu trong tương lai

Trang 21

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Cơ sở lí luận

Ngôn ngữ học chức năng hệ thống đã được biết đến ở rất nhiều nơi trên thế giới và được sử dụng làm khung lí thuyết cho rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau Ngôn ngữ học có tính chức năng thể hiện ở ba điểm khu biệt có quan hệ rất gần gũi với nhau trong cách lí giải của nó về (1) các ngôn bản, (2) về hệ thống, và (3) về các thành phần của cấu trúc ngôn ngữ Ngôn ngữ có tính chức năng là ngôn ngữ được thiết kế ra để giải thích cho việc ngôn ngữ được sử dụng như thế nào Chính việc sử dụng ngôn ngữ qua hàng ngàn thế hệ đã hình thành nên hệ thống ngôn ngữ, với mục đích phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người Ngữ pháp chức năng, về cơ bản là ngữ pháp tự nhiên, với ý nghĩa là mọi hiện tượng ngôn ngữ cuối cùng đều có thể giải thích được trong mối quan hệ với việc ngôn ngữ được sử dụng như thế nào

Ngôn ngữ là một quá trình xã hội, bởi vì “xã hội và kí hiệu là không thể tách rời” Dựa vào tiền đề này, ngôn ngữ học chức năng hệ thống xem xã hội như là một

bộ phận cấu thành của một mô hính lí thuyết gồm bốn cấp độ: ngôn cảnh (complex), ngữ nghĩa (semantics), ngữ pháp-từ vựng (lexicogrammar), và âm vị học

(phonology) Ở cấp độ ngôn cảnh, ngôn ngữ học chức năng hệ thống thu hút sự chú

ý vào ba khía cạnh của tình huống lời nói, lần lượt gọi là trường của ngôn bản (field

of discourse), không khí của ngôn bản (tenor of discourse), và phương thức của

ngôn bản (mode of discourse) Trường của ngôn bản liên quan đến những gì đang

diễn ra trong các tình huống lời nói, quyết định sự lựa chọn các ý nghĩa được hiện thực hóa trong các mẫu thức ngữ pháp và từ vựng để thể hiện (lấy cú hành động làm

đại diện) ai, làm gì ai, cái gì, ở đâu Không khí của ngôn bản biểu thị các mối quan

hệ vai diễn của những người tham gia vào tình huống lời nói (chẳng hạn mối quan

hệ giữa giáo viên-học sinh), tác động đến kiểu quan hệ giữa những người tham gia

và những gì người nói thực hiện để đạt được kiểu quan hệ đó Phương thức của ngôn bản cho biết kênh giao tiếp (văn viết hay văn nói hay sự kết hợp cả hai) và các hình thức hùng biện như thuyết phục, mô tả, trình bày, nhân-quả, vấn đề-giải pháp,… Nó liên quan đến các đặc điểm như liên kết và mạch lạc của ngôn bản –

Trang 22

việc các cú được “treo” cùng nhau như thế nào để làm cho ngôn bản thành một thể thống nhất Trường của ngôn bản, không khí của ngôn bản, và phương thức của ngôn bản hình thành nên khái niệm “ngữ vực” của Halliday

Ở cấp độ ngữ nghĩa, ngôn ngữ học chức năng hệ thống thừa nhận rằng ngôn

ngữ được tổ chức theo ba siêu chức năng: siêu chức năng tư tưởng (ideational metafunction), siêu chức năng liên nhân (interpersonal metafunction), và siêu chức

năng ngôn bản (textual metafunction) Siêu chức năng tư tưởng, được kích hoạt bởi trường của ngôn bản ở tầng ngôn cảnh, liên quan đến việc thể hiện các ý tưởng hay

kinh nghiệm (ví dụ sự thể hiện kiến thức ngôn ngữ học trong sách giáo khoa phổ

thông) Siêu chức năng liên nhân, được kích hoạt bởi không khí của ngôn bản, thể

hiện mối quan hệ xã hội giữa các cá nhân (ví dụ, mối quan hệ giữa các nhà ngôn ngữ học với tư cách là tác giả sách giáo khoa và học sinh) Siêu chức năng ngôn

bản, được kích hoạt bởi phương thức của ngôn bản, liên quan đến việc tạo sự quan

yếu giữa các phần đang được nói/viết trong một thông điệp, giữa ngôn bản và ngôn cảnh (ngôn cảnh ngôn ngữ và ngôn cảnh tình huống), đem lại cho ngôn bản cảm giác thực, sự liên kết và mạch lạc

Siêu chức năng tư tưởng, siêu chức năng liên nhân và siêu chức năng ngôn bản kích hoạt ba hệ thống tạo lời ở cấp độ ngữ pháp-từ vựng (mỗi hệ thống lại bao

gồm một số tiểu hệ thống): hệ thống chuyển tác (transitivity system), hệ thống thức (mood system), và hệ thống ngôn bản (textual system) Hệ thống chuyển tác liên

quan đến các kiểu quá trình, các tham thể tham gia vào quá trình và các chu cảnh kèm theo Ở một khía cạnh khác của hệ thống chuyển tác, ẩn dụ ngữ pháp được định nghĩa như là “sự thay thế lớp ngữ pháp này, hay cấu trúc ngữ pháp này bằng lớp ngữ pháp kia hay cấu trúc ngữ pháp kia”

Ẩn dụ ngữ pháp (grammatical metaphor) là một khái niệm được dẫn nhập

vào lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống do Halliday giới thiệu đầu tiên

trong công trình An Introduction to Functional Grammar (Dẫn luận ngữ pháp chức

năng) [82], xuất bản lần thứ nhất năm 1985 Từ sau đó, lý thuyết về ẩn dụ ngữ pháp được phát triển bởi các nhà ngôn ngữ học chức năng hệ thống, bao gồm cả Halliday

và nhiều nhà nghiên cứu khác như Martin, Mathiessen, Ravelli, Eggins, Goatly, … Mặc dù có những cách giải thích khác nhau, song trong ngôn ngữ học chức năng hệ

Trang 23

thống đã đạt được đồng thuận lớn đối với sự chú ý đến ẩn dụ ngữ pháp và một ít đến ẩn dụ từ vựng khi nghiên cứu về quan hệ giữa chúng Có thể thấy rằng, tuy khái

niệm ẩn dụ ngữ pháp không được đề cập đến trong các lý thuyết ngôn ngữ học

khác, nhưng cách nó được xử lý trong ngôn ngữ học chức năng hệ thống đã giúp chúng ta hiểu thêm về mối quan hệ giữa các cấu trúc ngữ pháp-từ vựng đồng ngôn liệu Việc “tìm ra” ẩn dụ ngữ pháp đã kích thích sự phát triển của các nghiên cứu

mô tả lý thuyết cũng như nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực này Chẳng hạn như, những thuộc tính của ẩn dụ ngữ pháp trong tiếng Anh đã thúc đẩy việc nghiên cứu

sự phát triển ngôn ngữ trẻ em và được đưa vào chương trình giáo dục ngôn ngữ trong một số trường đại học Hiện nay, nội dung về ẩn dụ ngữ pháp của Halliday vẫn đang là kim chỉ nam cho việc nghiên cứu của rất nhiều các nhà ngôn ngữ học [115]

Trong chương này, luận án tóm lược những nội dung nghiên cứu bước đầu về

ẩn dụ ngữ pháp trong công trình của Halliday [82], và của một số nhà ngôn ngữ học chức năng khác đã kế thừa và phát triển thêm lý thuyết của Halliday Những nghiên cứu có tính chất mở rộng, phát triển nội dung vấn đề do chính Halliday hoặc Halliday

và các đồng sự, hay do các nhà ngôn ngữ học chức năng hệ thống khác thực hiện, sẽ là phần khái quát tiếp theo Tiếp đó luận án sẽ tìm hiểu hai khái niệm cơ bản có liên quan

đến nội dung của ẩn dụ ngữ pháp là hiện thực hóa (realization) và tương thích

(congruent) Cách trình bày này sẽ thay cho việc trình bày lịch sử một vấn đề nghiên cứu vẫn đang diễn ra và đã có những mâu thuẫn, những tranh luận phản bác trong việc nghiên cứu tiếng Anh cũng như mới bước đầu được áp dụng vào nghiên cứu tiếng Việt,

và đây cũng là cơ sở lý thuyết để tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài của luận án

1.2 Sơ lược về sự dẫn nhập và nghiên cứu bước đầu về ẩn dụ ngữ pháp

1.2.1 Halliday (1985/1994)

Trong công trình Dẫn luận ngữ pháp chức năng, Halliday [18], [82] đã dành

hẳn chương cuối cùng - chương 10 để trình bày về ẩn dụ ngữ pháp, mặc dù ngay ở phần Dẫn nhập và ở các chương 3, chương 4 ông cũng đã vài lần nhắc đến hiện tượng này khi nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến ẩn dụ ngữ pháp Trong

chương này, thuật ngữ ẩn dụ ngữ pháp được Halliday giới thiệu như là một kiểu ẩn

dụ bổ sung cho ẩn dụ từ vựng vốn đã được biết đến một cách rộng rãi, bao gồm hai kiểu ẩn dụ khác nhau là ẩn dụ ở bình diện tư tưởng và ẩn dụ ở bình diện liên nhân

Trang 24

1.2.1.1 Ẩn dụ ngữ pháp và phổ ngữ pháp-từ vựng

Với việc tìm ra ẩn dụ ngữ pháp, Halliday đã giới thiệu khái quát hai kiểu

“chuyển nghĩa tu từ” và “các mĩ từ pháp” như: ẩn dụ, hoán dụ và phép cải dung, trong đó, đặc biệt chú ý tới ẩn dụ, ông mở rộng thêm từ định nghĩa truyền thống về

ẩn dụ và tạo nên một khái niệm mới là ẩn dụ ngữ pháp

Theo truyền thống, ẩn dụ được xem là một biến thể trong cách sử dụng ngôn

từ, nghĩa là, biến thể về nghĩa: “một từ được nói là được sử dụng trong nghĩa

chuyển hóa” (Halliday 1985: 321) Có nghĩa là, một từ vị với một nghĩa đen nào đó

có thể có những cách sử dụng được chuyển hóa hay những ý nghĩa ẩn dụ Tính theo

ba kiểu bình diện được phân biệt trong ngôn ngữ học chức năng (Haliiday 1996: 16), đây chính là quan điểm nhìn từ “dưới lên”, lấy từ làm xuất phát điểm, và sau đó nói một điều gì đó về những ý nghĩa mà những từ này hiện thực hóa

Tuy nhiên, theo Halliday, quan điểm này có thể được bổ sung theo bình diện

từ “trên xuống” Xuất phát điểm ở đây là một ý nghĩa cụ thể, và câu hỏi phù hợp là: các cách khác nhau trong đó ý nghĩa này có thể được diễn đạt hay được hiện thực hóa là gì? Nhìn từ góc độ này, ẩn dụ được định nghĩa như là “sự khác nhau trong

cách diễn đạt các ý nghĩa” Ta có thể thấy rõ sự thay thế của hai bình diện trong

Bảng 1 dưới đây

Ý nghĩa

Nhìn “từ dưới lên” nghĩa đen

Nghĩa ẩn dụ Nhìn “từ trên xuống”

Xuất phát điểm: một

nghĩa“many people protested”

“a moving mass

a flood of protests

Hình thức tương thích Hình thức ẩn dụ

Bảng 1.1: Hai bình diện về ẩn dụ (Halliday 1998: 342)

Với quan điểm “từ trên xuống”, có thể thấy, lựa chọn từ vựng chỉ là một khía cạnh của sự lựa chọn ngữ pháp từ vựng (“tạo lời”) và sự biến đổi ẩn dụ chỉ có tính ngữ pháp từ vựng chứ không phải thuần túy có tính từ vựng Ở bình diện này, đó là

Trang 25

các cách diễn đạt khác nhau của một ý nghĩa được so sánh và nói chung, khó có thể tìm thấy những cách diễn đạt thay thế cho một ý nghĩa đã cho chỉ khác nhau trong

một từ vị Halliday đưa ra ví dụ dưới đây: cách diễn đạt protest flooded có thể được liên hệ với protests came in in large quantities (cuộc biểu tình trở nên đông đảo) hay protests are received in large quantities (cuộc biểu tình càng thêm đông) hoặc

very many people protested (có rất đông người biểu tình) Không một cách diễn đạt

nào trong những cách diễn đạt này hoàn toàn có tính từ vựng, mặc dù cũng có một

sự khác biệt về mô hình ngữ pháp, như trong protests came in in large numbers đã được thêm vào một tiểu cú giới từ (in); trong very many protested, danh từ protests

đã được thể hiện bằng một động từ Điều này đưa đến khái niệm ẩn dụ ngữ pháp

của Halliday như sau:

Có một thành phần ngữ pháp mạnh mẽ trong chuyển nghĩa tu từ; và một khi nhận ra điều này, chúng ta cũng hiểu rằng có một sự vật là ẩn dụ ngữ pháp, trong

đó, sự biến đổi về cơ bản thể hiện ở các hình thức ngữ pháp, mặc dù cũng hay kéo theo sự biến đổi từ vựng nào đó

Halliday cho rằng, trong phạm trù ẩn dụ ngữ pháp, thuật ngữ “nghĩa đen” không còn phù hợp nữa Sự biến đổi giữa các cách điễn đạt khác nhau của cùng một

nghĩa được xác định theo tính đánh dấu - những hình thức nào đó có thể được xem như là những cách diễn đạt không đánh dấu của nghĩa đã cho, phù hợp với “các

cách diễn đạt sự vật điển hình” cho những hình thức này – là những biến thể phi ẩn

dụ, được gọi là những hình thức hiện thực hóa “tương thích”

Việc công nhận phạm trù ẩn dụ ngữ pháp là kết quả của “quan điểm nhìn từ

trên xuống”, được xem như sự thay thế cho quan điểm truyền thống về ẩn dụ, mà trên thực tế, bản chất của bình diện này đã xác định những khía cạnh quan trọng trong việc Halliday sẽ mô tả ẩn dụ ngữ pháp sâu hơn nữa Cụ thể là, quan điểm

“bình diện từ trên xuống” chính là tiền đề cho những nghiên cứu trọng tâm có liên quan đến những cách sử dụng ẩn dụ ngữ pháp khác nhau được giải thích tường minh trong công trình của ông sau này”

Halliday cho thấy, đặc điểm chính của quan điểm nhìn “từ trên xuống” đã

xác định ẩn dụ là sự thay đổi về cách diễn đạt một ý nghĩa đã cho, chứ không phải

Trang 26

sự thay đổi về ý nghĩa của cách diễn đạt Điều này có những hệ quả quan trọng

nhưng chưa được Halliday chỉ ra một cách tường minh Đó là:

- Đối với cái được so sánh - những mô hình ngữ pháp - trong bình diện

truyền thống, trọng tâm được đặt vào ý nghĩa của một từ vị đơn lẻ Chính đặc điểm này mang tới sự thay đổi về ngữ pháp, mà sau đó có thể được giải thích theo ẩn dụ

- Các kiểu mô hình khác nhau có thể được so sánh như là những cách diễn

đạt cùng ý nghĩa Điều này có nghĩa là, ngoài sự đối lập đơn giản giữa nghĩa đen và

nghĩa ẩn dụ như truyền thống, còn có thêm một thang độ của sự tương thích: một số

cách diễn đạt là những sự hiện thực hóa điển hình của một ý nghĩa đã cho, và được xác định là tương thích; một số cách diễn đạt khác ít nhiều không tương thích, so

với những cách diễn đạt tương thích Đặc điểm này rất quan trọng trong việc mô tả

các kiểu ẩn dụ khác nhau trong công trình sau này

- Khái niệm hiện thực hóa có một vai trò quan trọng, bởi theo quan điểm này,

cái được so sánh là những sự hiện thực hóa của cùng ý nghĩa Đây cũng là một đặc

điểm rất quan trọng trong việc mô tả về mặt lí thuyết của ẩn dụ ngữ pháp

Quan điểm truyền thống: “từ dưới lên” Quan điểm mới: “từ trên xuống”

Tập trung vào ẩn dụ từ vựng Tập trung vào ẩn dụ ngữ pháp

Ẩn dụ như là sự thay đổi về ý nghĩa của một

Các ý nghĩa đen đối lập với các ý nghĩa ẩn dụ

(được chuyển) của một từ vị đã cho

Những cấp độ (không) tương thích: những cách diễn đạt tương thích và ít tương thích hơn của một ý nghĩa đã cho

Hiện thực hóa về cố hữu có vai trò trong ẩn

dụ từ vựng, những khái niệm không được

dùng trong quan điểm truyền thống về ẩn dụ

Đặc điểm tương thích áp dụng cho những

sự hiện thực hóa của cùng một ý nghĩa

Bảng 1.2: Hai bình diện của sự biến đổi ẩn dụ

Theo lý thuyết của ngôn ngữ học chức năng hệ thống, những mô tả ban đầu

về ẩn dụ trong những công trình nghiên cứu ban đầu cho thấy sự phân biệt giữa hai

Trang 27

kiểu ẩn dụ ngữ pháp có liên quan đến siêu chức năng tư tưởng và siêu chức năng liên nhân Trong đó, Halliday đã phân loại ẩn dụ liên nhân thành hai kiểu, theo những hệ thống liên nhân ban đầu ở cấp độ ngữ pháp từ vựng, gồm có thức và tình thái; còn Ravelli đề xuất một cách phân loại ẩn dụ tư tưởng thành một số kiểu lớn hơn, được phân biệt theo phạm trù ngữ pháp và chức năng

1.2.1.2 Hiện thực hóa

Nguyên tắc “hiện thực hóa” là trọng tâm của sự giải thích có hệ thống việc

hệ thống ngôn ngữ giữ chức năng như thế nào và là khái niệm cơ bản để tìm hiểu quá trình ẩn dụ ngữ pháp

Quá trình ẩn dụ ngữ pháp có thể được truy nguyên một cách chi tiết qua hệ thống ngôn ngữ, bắt đầu từ ngôn cảnh văn hóa (context of culture) và ngôn cảnh tình huống (context of situation) Nó thu hút tất cả các thành phần của ngôn ngữ, bao gồm: hệ thống-tầng (system-strata), các cấp độ (ranks) và các siêu chức năng (metafunctions) của ngôn ngữ (về nội dung các khái niệm này xin xem Halliday [18], [82], Halliday & Hasan [88], Hoàng Văn Vân [63])

Lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống là một mô hình nghiên cứu ngôn ngữ trong ngôn cảnh – tức là ngôn ngữ được giải thích như một thực thể bao gồm bốn tầng từ trên xuống:

(1) Ngôn cảnh: các phạm trù của tình huống xã hội

(2) Ngữ nghĩa học: các hệ thống tạo nghĩa

(3) Ngữ pháp-từ vựng: các hệ thống tạo ngôn từ

(4) Âm vị học: các hệ thống tạo âm

Đây là một sự khác biệt so với các mô hình nghiên cứu khác và có vai trò quan trọng không chỉ cho việc mô tả ngôn ngữ mà còn cho cả việc giải thích và phân tích ngôn ngữ Các tầng trong mô hình ngôn ngữ học chức năng hệ thống có quan hệ hiện thực hóa, trong đó, tầng thấp hơn hiện thực hóa tầng cao hơn ngay trên nó, như: Âm

vị hiện thực hóa ngữ pháp-từ vựng, ngữ pháp-từ vựng hiện thực hóa ngữ nghĩa, ngữ nghĩa hiện thực hóa ngôn cảnh Ở đây, hiện thực hóa chứa đựng hai khái niệm quan trọng khác là “kích hoạt” và “giải thích” Theo Hasan [92], kích hoạt và giải thích phản ánh hai khía cạnh của mối quan hệ hiện thực hóa: tầng ngôn ngữ trên kích thích

sự hoạt động của tầng ngôn ngữ dưới và tầng ngôn ngữ dưới giải thích cho các đặc

Trang 28

điểm của tầng ngôn ngữ trên Do đó, tầng ngữ pháp-từ vựng giải thích cho tầng ngữ nghĩa và tầng ngữ nghĩa lại kích thích sự hoạt động của tầng ngữ pháp-từ vựng Ẩn

dụ ngữ pháp có mối liên hệ trực tiếp đên sự hiện thực hóa và đặc biệt là sự mã hiệu hóa liên tầng giữa ngữ nghĩa và ngữ pháp-từ vựng

Như chúng ta đã biết, theo ngôn ngữ học chức năng hệ thống, ngôn ngữ có

ba hệ thống nội tại là ngữ nghĩa, ngữ pháp-từ vựng và âm vị, trong đó, ngữ nghĩa giao diện trực tiếp với các yếu tố ngoài ngôn ngữ (tức là đời sống xã hội), thể hiện nội dung kinh nghiệm của thế giới bên ngoài và gắn kết với các biểu đạt là ngữ pháp-từ vựng Ngữ pháp-từ vựng là nguồn tạo ra các ý nghĩa bằng ngôn từ, là nguồn để hiện thực hóa các ý nghĩa thông qua các cấu trúc và từ ngữ (nói chính xác

là thông qua các đơn vị ngữ pháp và đơn vị từ vựng) Ngữ pháp-từ vựng gồm có khối từ vựng và các đơn vị, cấu trúc ngữ pháp

Tầng ngữ nghĩa được tổ chức thành ba thành phần siêu chức năng (metafunction) gồm có (1) siêu chức năng tư tưởng; (2) siêu chức năng liên nhân; (3) siêu chức năng văn bản

Mỗi một siêu chức năng sẽ cụ thể hóa một tập hợp các hệ thống của những

sự lựa chọn được thực hiện hóa ở đầu ra trong tầng ngữ pháp-từ vựng Còn mỗi một tập hợp các sự lựa chọn trong các siêu chức năng khác nhau (ý nghĩa) lại được hiện thực hóa qua các cấu trúc riêng biệt, liên kết với nhau, tạo ra một ngôn từ đơn nhất

Để hiện thực hóa các ý nghĩa này thành ngôn từ, những sự lựa chọn tương ứng sẽ được thực hiện ngay trong các hệ thống của ngữ pháp-từ vựng Tầng ngữ pháp-từ vựng hoạt động như là một hệ thống thống nhất, sắp xếp các cấu trúc lại với nhau để hình thành nên một cấu trúc đơn nhất đa tầng là cấu trúc ngữ pháp

Trong khi tạo ra một cấu trúc ngữ pháp, mạng lưới hệ thống ngữ pháp-từ vựng trải dài từ trái qua phải tính theo độ tinh tế (delicacy) Khi một hệ thống điều kiện đi vào (entry condition) của nó đã được thỏa mãn thì một trong những đặc điểm của nó được lựa chọn Và khi một đặc điểm nào đó được lựa chọn thì một sự trình bày hiện thực hóa (realisition statement) được ghi lại Sự hiện thực hóa này sẽ chỉ ra những thành phần cấu trúc nào đã được sự lựa chọn đó chi tiết hóa Trong ngôn ngữ học chức năng hệ thống, các thành phần của cấu trúc được mô tả theo

chức năng Các tên gọi hay nhãn hiệu chức năng như Hành thể, Quá trình, Đích thể,

Trang 29

Đề ngữ, Thuyết ngữ, Chủ ngữ, Vị ngữ,… dùng để phân tích, giải thích ngôn bản

bằng cách chỉ ra chức năng hay vai diễn mà đơn vị đó có trong việc tạo dựng ý nghĩa và chúng có quan hệ với các thành phần cấu trúc khác như thế nào tính theo các mối quan hệ ngữ pháp trừu tượng

Tiếp theo, các thành phần chức năng của một cấu trúc lại được hiện thực hóa bằng một đơn vị thuộc phạm trù ngữ pháp như: cụm động từ, cụm danh từ, cụm giới

từ Chẳng hạn như, chức năng Hành thể trong hình thức không đánh dấu thường được hiện thực hóa bằng cụm danh từ; chức năng Quá trình thường được hiện thực hóa bằng cụm động từ; v.v Sự cụ thể hóa chi tiết hơn có thể quan sát thấy được ngay trong thang cấp độ Mỗi một đơn vị trong thang cấp độ mang một cấu trúc cụ thể giới hạn trong đơn vị ấy Ví dụ cụm danh từ hiện thực hóa chức năng Hành thể

và chính nó lại được hiện thực hóa bằng một hình thể của các chức năng như Định

tố, Tính ngữ tố, Chính tố…, và những chức năng này đến lượt chúng lại được hiện thực hóa bằng các từ ngữ như đại từ chỉ định, đại từ sở hữu, tính từ, danh từ

Như vậy mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và ngữ pháp-từ vựng là mối quan hệ hiện thực hóa, hay còn được gọi là quan hệ cộng sinh, theo cách gọi của Martin [98] Trong một số công trình nghiên cứu về mối quan hệ cộng sinh giữa ngữ nghĩa và ngữ pháp-từ vựng, Halliday cho phép khả năng của cấp độ “biến thể tự do” trong hệ thống ngữ pháp: một khái niệm ngữ nghĩa tương đối khái quát có thể có nhiều hơn một hình thức hiện thực hóa trong tầng ngữ pháp-từ vựng Ngoài việc công nhận rằng có thể có một

số hình thức hiện thực hóa khác nhau, ông còn tìm cách để chỉ ra các biến thể ấy có quan hệ với nhau như thế nào bằng cách đưa vào ngôn ngữ học hiện đại khái niệm “ẩn dụ ngữ pháp” Đặc trưng hóa cơ bản của ẩn dụ ngữ pháp “là những sự hiện thực hóa thay thế” (alternative realizations) một cách tự nhiên đã dẫn đến khái niệm “sự tương thích”

1.2.1.3 Khái niệm tương thích - không tương thích trong ẩn dụ ngữ pháp theo Ngữ pháp Chức năng Hệ thống

Theo Tavernies [116, 13], mặc dù thuật ngữ “ẩn dụ ngữ pháp” xuất hiện lần đầu năm 1985, nhưng khái niệm “tương thích” (congruence) và “không tương thích” (incongruence) đã từng xuất hiện sớm hơn trong những công trình của Halliday và Fawcett Về cơ bản, khi có một sự khác nhau giữa các cách biểu đạt thì

Trang 30

một vài sự kiện hiện thực hóa khác là tương thích, trong khi đó một vài sự hiện thực hóa khác là không tương thích

Theo Halliday, tương thích là mẫu thức trong đó một biến thể ngôn ngữ được

sử dụng trong ngôn cảnh mà qua đó nó được xác định là chuẩn Khái niệm tương

thích được mô tả theo nhiều cách khác nhau, nhưng nhìn chung, còn thường có liên

hệ tới khái niệm đánh dấu (Halliday 1976/1956, 1984, 1985), trong đó, các cách

diễn đạt tương thích là những cách hiện thực hóa một đặc điểm không đánh dấu, điển hình: “sự hiện thực hóa tương thích là sự hiện thực hóa có thể được xem là điển hình … - một sự hiện thực hóa “không đánh dấu” (Halliday 1984: 14)

Còn khái niệm không tương thích, theo Halliday có nghĩa là “không được

diễn đạt thông qua hình thức thể hiện điển hình nhất (hình thức thể hiện được mã hiệu hóa cao nhất)” (Halliday 1978c: 180)

Các nhà ngôn ngữ học chức năng hệ thống đều thừa nhận sự tồn tại của các tập hợp những mối liên hệ giữa thông tin ngữ nghĩa và các đặc điểm ngữ pháp Khi các mối quan hệ này là tự nhiên (tức là mối quan hệ trong đó cả ngữ nghĩa và ngữ pháp-từ vựng cùng tiến hóa trong hệ thống ngôn ngữ) thì sự hiện thực hóa được cho là hiện thực hóa tương thích Chẳng hạn như hành động được hiện thực hóa bằng động từ, sự vật được hiện thực hóa bằng danh từ, phẩm chất được hiện thực hóa bằng tính từ, một nhận định hay một sự tình được hiện thực hóa bằng một cú… Còn khi sự tương ứng giữa ngữ nghĩa và ngữ pháp-từ vựng không bình thường, có “tính đánh dấu” (markedness) thì đó là sự hiện thực hóa không tương thích, có tính ẩn dụ ngữ pháp

Dưới đây là một số quan điểm của Halliday về đặc điểm của sự tương thích và không tương thích (trong các công trình xuất bản trước năm 1985) như sau:

- Hình thức tương thích chính là hình thức không đánh dấu (1976)

- Một cấu trúc ngữ pháp phản ánh cấu trúc ngôn bản (1976)

- Các khuôn mẫu chủ yếu của sự hiện thực hoá (1978)

- Sự hiện thực hóa tương thích chính là sự hiện thực hóa điển hình (1984)

- Sự không tương thích không được diễn đạt (và được mã hóa cao) qua hình thức thể hiện điển hình nhất (1978)

(Dẫn theo Taverniers [116, 28])

Trang 31

Năm 1985, khi bắt đầu sử dụng thuật ngữ “ẩn dụ ngữ pháp”, Halliday cũng

đã chỉ rõ việc đưa khái niệm tương thích vào ngữ pháp, trong đó, ông giải thích rằng

cách diễn đạt tương thích là cách mà tuyến tính trực tiếp từ hình thức đến ý nghĩa và

cả kinh nghiệm đều được giữ nguyên vẹn; còn cách diễn đạt ẩn dụ chính là cách diễn đạt trong đó tuyến tính không phải là trực tiếp [18, 31]

Theo đó, Halliday khẳng định: “Chúng tôi sẽ gọi biến thể có ít tính ẩn dụ là biến thể có tính tương thích Nói theo cách khác, bất kỳ một hình thể ngữ nghĩa nào cũng đều có một hình thức hiện thực hóa ở bình diện ngữ pháp-từ vựng, một cách tạo lời hay chứa lời nào đó có thể được coi là tương thích Cũng có thể có nhiều cách tạo lời khác mà ở khía cạnh nào đó được “chuyển nghĩa” hay “có tính ẩn dụ” [18, 542]

Trong những nghiên cứu sau này về các vấn đề xung quanh hiện tượng ẩn dụ ngữ pháp, Halliday và một số nhà ngôn ngữ học chức năng hệ thống còn sử dụng một vài khái niệm khác nữa có liên quan đến việc hiểu bản chất của ẩn dụ ngữ pháp, tuy nhiên, bao giờ họ cũng nhắc đến thuật ngữ “hiện thực hóa” và “tương thích” trong các cách diễn giải của mình

Từ những điều trên, luận án có thể đưa ra được hai tiêu chí nhận diện về sự tương

thích chính là tính điển hình và tính không đánh dấu; và tiêu chí nhận diện sự không tương thích chính là tính không điển hình, và tính được đánh dấu Hay nói cách khác, sự

tương thích có tính điển hình, sự không tương thích là có tính đánh dấu

Như vậy, có thể thấy, khái niệm về sự tương thích là một khái niệm cơ bản

đối với việc hiểu bản chất và nhận diện Ẩn dụ ngữ pháp, bởi ẩn dụ ngữ pháp có đặc

trưng cơ bản thể hiện ở tính đánh dấu và tính không điển hình – tức là những hình

thức không tương thích, không đáp ứng với hình thức thể hiện điển hình

1.2.1.4 Ẩn dụ ngữ pháp ở bình diện tư tưởng

Trong lí thuyết chức năng hệ thống, ẩn dụ ở bình diện tư tưởng còn được gọi

là ẩn dụ chuyển tác, trong đó, sự thay đổi về ngữ pháp giữa những hình thức tương

thích và những hình thức không tương thích được áp dụng cho những mô hình chuyển tác, và có thể được phân tích theo cấu trúc chức năng của những mô hình này

Để làm rõ bản chất ẩn dụ của một cách diễn đạt không tương thích, nó được so sánh với một sự hiện thực hóa tương thích tương đương

Trang 32

Những phân tích chức năng của hai cách diễn đạt này được kết hợp lại thành một sơ đồ với một tầng tương thích và một tầng không tương thích, vì vậy những sự tương phản ngữ pháp giữa các thành tố được chỉ ra theo phương thẳng đứng: “thủ pháp ở đây là khớp nối các thành phần theo phương thẳng đứng càng gần càng tốt (Halliday 1998: 346) Theo cách này, những sự thay đổi có liên hệ với ẩn dụ từ vựng cũng trở nên rõ ràng, và những gợi ý có thể được đưa ra liên quan đến những lí do (ví

dụ, về phân bố Đề ngữ-Thuyết ngữ) tại sao một sự giải thích ẩn dụ lại được lựa chọn

Như vậy, có thể thấy, hai tác dụng khái quát của ẩn dụ tư tưởng có liên quan đến siêu chức năng văn bản – tức là ẩn dụ ngữ pháp tư tưởng có thể được dùng để tổ chức văn bản thành cấu trúc thông tin và cấu trúc đề ngữ cụ thể, chẳng hạn nó làm cho “quá trình” có thể đảm nhiệm chức năng Đề ngữ, hoặc có thể nhận tiêu điểm thông tin không đánh dấu (dẫn theo Ravelli) Chúng ta có thể xem những cách lí giải

về các biến thể ẩn dụ chuyển tác trong các ví dụ của Halliday dưới đây

Hai ví dụ thường được Halliday dẫn là Mary came upon a wonderful sight và

A wonderful sight met Mary’s eyes là những biến thể ẩn dụ của Mary saw something wonderful Trong hình dưới, những biến thể này được phân tích theo các kiểu biến

Quá trình:

tinh thần:

tri nhận

Tham thể: hiện tượng

Tham thể:

hành thể

Tham thể: hành thể

Quá trình: vật chất

Chu cảnh:

vị trí

Theo Halliday, còn có những kiểu ẩn dụ chuyển tác phức tạp hơn nữa, nên ông đã

chỉ ra một “chuỗi các cách giải thích ẩn dụ” và minh họa chuỗi ấy bằng ví dụ dưới đây:

Trang 33

(1) a Advances in technology are speeding up the writing of business programs

b Advances in technology are making the writing of business programs faster

c Advances in technology are enabling people to write business programs faster

d Because technology is advancing, people are (becoming) able to write business programs faster

e Because technology is getting better, people are able to write business programs faster

Halliday cho rằng, ẩn dụ ở bình diện tư tưởng được tìm thấy trong tất cả các kiểu ngôn bản của người lớn tuổi, trong đó, ngôn ngữ viết có nhiều ẩn dụ tư tưởng hơn là ngôn bản nói Điều này được quy cho một sự khác biệt khát quát hơn trong các kiểu phức tạp, đó là ngôn ngữ viết có sự đậm đặc về mật độ từ vựng, trong khi ngôn ngữ nói lại “phức tạp về ngữ pháp” Trong ngôn ngữ viết, các kiểu ý nghĩa từ vựng khác nhau thường được dồn vào một cụm danh từ đơn lẻ - chính là ngôn cảnh

mà trong đó ẩn dụ tư tưởng xuất hiện

Trong suốt lịch sử phát triển ngôn ngữ, ẩn dụ ngữ pháp dần dần mất đi bản chất ẩn dụ của nó và trở nên “thuần hóa” khi việc phi ẩn dụ hóa xuất hiện Dưới đây

là ba kiểu ẩn dụ chuyển tác được thuần hóa trong tiếng Anh của Halliday:

(i) Với các cách diễn đạt kiểu have a bath, do a dance, make a mistake,

trong những hình thức này, ý nghĩa của quá trình được diễn đạt trong cương vực chứ không phải trong động từ;

(ii) Những ví dụ kiểu she has brown eyes sẽ có hình thức tương thích là her

eyes are brown; hay ví dụ he has a broken wrist sẽ có hình thức tương

thích là his wrist is broken;

(iii) Những cách diễn đạt kiểu he write good books sẽ có hình thức tương thích là he write books which are good; hay ví dụ we sell bargain sẽ có hình thức tương thích là the things we sell are cheap

1.2.1.5 Ẩn dụ ngữ pháp liên nhân

Ngữ pháp liên nhân được tổ chức bởi hai hệ thống: hệ thống Thức và hệ thống Tình thái, từ đó phân biệt ẩn dụ ngữ pháp liên nhân thành hai kiểu là ẩn dụ thức và ẩn dụ tình thái

Trang 34

Theo Halliday, trong ẩn dụ tình thái, sự thay đổi về ngữ pháp xảy ra dựa vào mối quan hệ logic-ngữ nghĩa của phóng chiếu Trong khi các ý nghĩa tình thái được hiện thực hóa một cách tương thích bằng những thành phần tình thái trong cú (nghĩa

là, các tác tử tình thái, các phụ ngữ tình thái hay các phụ ngữ thức) thì ẩn dụ liên nhân là cách diễn đạt các ý nghĩa tình thái ở bên ngoài cú, chẳng hạn bằng phương tiện của một cú phóng chiếu bổ sung, như được minh họa trong ví dụ 2 và một số minh họa khác trong ví dụ 3 dưới đây Theo cách này, ẩn dụ tình thái là những sự hiện

thực hóa tường minh của các ý nghĩa tình thái, trong đó, người nói diễn đạt quan điểm của

mình bằng các cú riêng biệt theo những cách khác nhau

(2) a I think it’s going to rain

b Tương thích: it’s probably going to rain

(3) it’s obvious that…

everyone admits that…

the conclusion can hardly be avoided that…

no sane person wold pretend that … not…

common sense determines that…

you can’t seriously doubt that…

Theo Halliday, ví dụ điển hình về ẩn dụ ngữ pháp (bao hàm sự phóng chiếu) được đặc trưng bởi hai đặc điểm (chính hai đặc điểm này gợi ra rằng những cách diễn đạt này có tính ẩn dụ):

(i) Phán đoán được diễn đạt trong cú bị phóng chiếu, chứ không phải trong cú

phóng chiếu Có thể thấy rõ điều này trong ví dụ I think it’s going to rain,

isn’t it? bởi phần đính kèm thể hiện cú bị phóng chiếu (không phải don’t I)

(ii) Khi phán đoán là phủ định, thì sự phủ định có thể được thể hiện ngay trong chính phán đoán, hay trong cú phóng chiếu Điều này được minh họa trong (4), ở đó (a) và (b) với đặc điểm phân cực được chuyển hóa, được cho là có cùng “ý nghĩa”

(4) a I think Jane doesn’t know

b I don’t think Jane knows

Halliday mô tả ẩn dụ thức theo đó, ý nghĩa thức không được diễn tả trong cú,

mà là một thành phần tường minh ở bên ngoài cú Dưới đây là những ví dụ điển hình

về ẩn dụ thức được coi là “những công thức chức năng lời nói” (1998: 365)

Trang 35

(5) “Mệnh lệnh” có chức năng “cảnh báo”:

a I wouldn’t…if were you

b Tương thích: don’t…

(6) “Mời” được tình thái hóa, có chức năng điển hình là một “sự đe dọa”

a I’ve a good mind to…

b Tương thích: May be I will…

(7) “Mệnh lệnh” được điều biến, có chức năng điển hình là một “lời khuyên”:

a She’d better

b Tương thích: She should…

Những cách diễn đạt tường minh về các ý nghĩa thức có thể rất đa dạng, vì vậy, không dễ dàng để xác định cách diễn đạt là ẩn dụ thức hay không

1.2.1.6 Ẩn dụ ngữ pháp liên nhân và ẩn dụ ngữ pháp tư tưởng - những đặc điểm chung

Trong phần cuối cùng của chương viết về ẩn dụ ngữ pháp, Halliday đã chỉ ra

sự tương tác giữa ẩn dụ liên nhân và ẩn dụ tư tưởng, và đề cập đến một số đặc điểm chung mang tính đặc trưng hóa cho cả hai kiểu ẩn dụ Theo ông, một số cách diễn đạt chứa đựng cả ẩn dụ ngữ pháp tư tưởng lẫn ẩn dụ ngữ pháp liên nhân, và ví dụ

look at the way they cheated before chính là một minh họa cho quan điểm này, cụ

thể là, - với cách diễn đạt của một “đề nghị” với ý nghĩa consider the fact that they

cheated before, hình thức này chỉ là hình thức ẩn dụ tư tưởng; tuy nhiên, khi được

xem như là một sự thể hiện không tương thích của ý nghĩa the evidence is (the fact)

that they cheated before, có thể thấy tồn tại cả ẩn dụ tư tưởng và ẩn dụ liên nhân (look at the way they cheated before)

Cuối cùng, Halliday gợi ý rằng khái niệm ẩn dụ ngữ pháp “giúp một số đặc điểm của ngôn bản thoạt nhìn có vẻ rất khác nhau có thể kết hợp lại với nhau”(1998: 366) Với quan điểm này, có thể thấy, ẩn dụ liên nhân và ẩn dụ tư tưởng là “những trường hợp cụ thể của cùng một hiện tượng xuất hiện trong hai ngôn cảnh khác nhau (tư tưởng và liên nhân) Tất cả những trường hợp cụ thể của ẩn dụ ngữ pháp khi được phân tích đều có thể được liên hệ với cùng những đặc điểm khái quát sau:

“In all the instances that we are treating as grammatical metaphor, some aspects of the structural configuration of the clause, whether in its ideational or in its interpersonal function or in both, is in some way different from that which would

Trang 36

be arrived at by the shortest route – it is not, or was not originally, the most straightforward coding of the meanings selected” (Halliday 1998: 366)

(Trong tất cả các trường hợp được chúng tôi coi như là ẩn dụ ngữ pháp, một vài đặc điểm nào đó của mô hình cấu trúc của cú, hoặc trong chức năng tư tưởng, hoặc trong chức năng liên nhân, hoặc trong cả hai chức năng, ít nhiều có thể khác với mô hình cấu trúc - vốn không phải là việc mã hóa trực tiếp nhất các ý nghĩa được lựa chọn)

Trên đây là tóm tắt những nghiên cứu bước đầu về ẩn dụ ngữ pháp được

Halliday trình bày trong Dẫn luận ngữ pháp chức năng [18], [82] Những gợi ý của

ông đã mở đường cho các nghiên cứu tiếp theo về ẩn dụ ngữ pháp - một hiện tượng quan trọng trong ngữ pháp ngôn bản tiếng Anh

1.2.2 Ẩn dụ ngữ pháp theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học chức năng hệ thống khác

Sau nghiên cứu ban đầu về ẩn dụ ngữ pháp của Halliday, vấn đề nghiên cứu về

ẩn dụ ngữ pháp trong tiếng Anh đã tiếp tục trở thành một khuynh hướng nghiên cứu phát triển của các nhà ngôn ngữ học, bản thân Halliday cũng tiếp tục nghiên cứu sâu và

kỹ lưỡng về hiện tượng này, xem [82], [83], [84], [85], [86], [88], [89],…

Trong các công trình nghiên cứu ngôn ngữ theo chức năng hệ thống, ẩn dụ ngữ pháp luôn giữ một vị trí thường xuyên nổi bật, như trong các công trình của Eggins [75], [76]; Fawcett[77], Goatly [79]; [80]; Hasan [90]; Martin [96], [97], [98], [99], [100], [101]; Matthiessen [102], [103]; Thompson [110]; v.v

Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến ẩn dụ ngữ pháp

từ những khía cạnh khác nhau trong lý thuyết và ứng dụng thực tiễn, do các nhà ngữ pháp chức năng, tri nhận, các nhà phân tích diễn ngôn, các nhà ngữ pháp lý thuyết

về ngữ pháp hóa, … thực hiện Một số trong các công trình nghiên cứu đó được Vandenbergen, Tavernniers, Ravelli tuyển chọn trong [115], theo đó, sự đa dạng của những vấn đề công bố và những ứng dụng của chúng đã thể hiện sự kế tiếp và làm mới lại một số vấn đề lý thuyết về ẩn dụ ngữ pháp Đặc biệt là những quan điểm tương phản trong vấn đề danh hóa ở ẩn dụ tư tưởng của Heyvaert; quan điểm

về sự không nên phân biệt ẩn dụ ngữ pháp và ẩn dụ từ vựng của Vandenbergen; các quan điểm cho rằng sự phân biệt ẩn dụ tư tưởng và ẩn dụ liên nhân là chưa thỏa đáng của Heyvaer, Taveniers, Lassen Nhìn chung, hầu hết các nghiên cứu này

Trang 37

thường đi sâu vào một trong những vấn đề khái quát đã được Halliday nêu ra trong các công trình của ông và các đồng sự [81], [83], [85], [86], [88], [89], với sự tranh luận có phê phán, hoặc ủng hộ và làm rõ hơn những vấn đề về ẩn dụ trong ngữ pháp tiếng Anh Một vài nghiên cứu đã tập trung vào nghiên cứu sự phát triển sử dụng ẩn

dụ ngữ pháp trong ngôn ngữ trẻ em với các bài của Paiter, Derewianka, Tors và Simpson; hoặc nghiên cứu ẩn dụ ngữ pháp trong mối quan hệ với ẩn dụ ngữ âm học chức năng của Velman; hay nghiên cứu sự tương tác ký hiệu học trong toán học qua

ẩn dụ ngữ pháp và ẩn dụ ký hiệu toán học của O’Halloran

Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu những đặc trưng lý thuyết của hiện tượng

ẩn dụ ngữ pháp trong tiếng Anh để áp dụng vào nghiên cứu ẩn dụ ngữ pháp trong tiếng Việt, dưới đây, luận án sẽ tiếp tục tập trung tìm hiểu những luận giải của Halliday và các đồng sự đồng quan điểm về ẩn dụ ngữ pháp trong các công trình được công bố sau công trình khởi đầu xuất hiện khái niệm “ẩn dụ ngữ pháp” của Halliday [82]

Trong các công trình sau đó, Halliday và các đồng sự đã nghiên cứu sâu và kỹ lưỡng hơn về ẩn dụ ngữ pháp ở hai bình diện:(1) Xác định và giải thích ẩn dụ ngữ pháp; (2) Phân loại ẩn dụ ngữ pháp

1.2.2.1 Việc xác định và giải thích ẩn dụ ngữ pháp

Theo Vandenbergen và các cộng sự [115, 38], sự chuyển đổi (transfer) từ động từ thành danh từ là dạng thức điển hình nhất của ẩn dụ ngữ pháp, và trong tiếng Anh có một phạm vi các kiểu khác nhau về sự chuyển đổi này Những nghiên cứu của Halliday và các đồng sự coi danh hóa như là ẩn dụ ngữ pháp là một bước tiến quan trọng trong ngôn ngữ học chức năng hệ thống, đòi hỏi một khung miêu tả, xác định và luận giải về mặt lý thuyết hiện tượng này Trong công trình “Sự vật và quan hệ” [86], Halliday đã đề xuất rằng ẩn dụ ngữ pháp là một quá trình riêng biệt, cần phải xác định nó Đề cập đến ngôn ngữ như một hệ thống phân tầng, Halliday tranh luận: “Tất nhiên, những phạm trù bước đầu của sự biểu đạt đã là một loại của quá trình ẩn dụ, từ lúc nó bao hàm một sự chuyển đổi từ quá trình vật chất thành quá trình ký hiệu học Nhưng có thể nói rằng, tôi sẽ tiếp tục sử dụng thuật ngữ “ẩn dụ” đúng theo nghĩa chuẩn của nó, là sự cải biến bên trong phương thức ký hiệu học” [82,90-191] Ông cho rằng các quá trình ẩn dụ dựa trên một loại tác động giữa hai tầng ngữ nghĩa và ngữ pháp-từ vựng, ở đó một nghĩa về hai sự vật diễn ra đồng thời và có một độ căng giữa hình thức và nghĩa của sự vật Đây là bản chất phân

Trang 38

tầng của ngôn ngữ với tư cách một hệ thống ký hiệu - cái dẫn tới sự nảy sinh tiềm năng cho các quá trình ẩn dụ Ông xác định ẩn dụ ngữ pháp “là sự sắp xếp lại giữa một cặp của hai tầng bậc: một sự đồ chiếu của ngữ nghĩa lên ngữ pháp-từ vựng, ở

đó có thể không có ẩn dụ, thiếu cả sự phân tầng, và một bình diện nội dung trở nên được phân tầng, một sự cải biến tự động như thế trở thành có thể” [82, 192] Một định nghĩa khác có thể là giải thích rõ hơn được thể hiện trong công trình [90] của Halliday viết chung với Matthiessen, trong đó, ẩn dụ ngữ pháp được coi là “một hiện tượng mà nhờ đó một tập hợp các hình thức có quan hệ đồng ngôn liệu được thể hiện bằng ngôn ngữ có những sự đồ chiếu khác nhau giữa phạm trù ngữ nghĩa

và phạm trù ngữ pháp” [90, 7] Đây là một định nghĩa khái quát về ẩn dụ ngữ pháp

tư tưởng ở bình diện lý thuyết Cũng ngay trong công trình này, khi phân tích ẩn dụ

tư tưởng có quan hệ với sự danh hóa, mà cụ thể là nhóm danh hóa engine failure (đầu máy bị hỏng), nhóm này có hình thức tương thích là whenever an engines

failed (bất kỳ lúc nào đầu máy bị hỏng) được diễn đạt bằng một cú phụ thuộc Các

tác giả đã xác định “Ẩn dụ ngữ pháp là một phương cách để có các vật bằng cả hai cách Một thành phần được ẩn dụ hóa không mất đi cái vị thế gốc của nó Kết cấu của nó được tạo ra không bởi sự liên kết với bất kỳ đặc trưng ngữ nghĩa mới nào

Nên failure là cả quá trình và sự vật” [90, 271]

Sự xác định này thường vẫn tập trung ở sự danh hóa một cú thành một danh ngữ trong ẩn dụ ngữ pháp về tư tưởng, như Matthiessen đã khẳng định: “Nhóm danh từ có thể đáp ứng là sự hiện thực hóa ẩn dụ của các hình thể quá trình ngữ nghĩa trong sự lựa chọn với cú tương thích” [103, 678] Có thể nói, trung tâm của việc nghiên cứu ẩn dụ ngữ pháp đặt ở ẩn dụ tư tưởng, và, trong ẩn dụ tư tưởng, danh hóa là nguồn lực cơ bản, mạnh mẽ nhất để tạo nên ẩn dụ ngữ pháp Trong hầu hết các trường hợp của ngôn bản hiện đại, chỉ khi bắt đầu phân tích chúng ta mới ý thức được trong đó có ẩn dụ ngữ pháp Có nhiều cách khác nhau để khám phá những ẩn

dụ này nhờ việc tạo ra các hình thức đồng ngôn liệu tương thích bằng các bước khác nhau, song, bất kỳ cách tạo lời tương thích nào được thiết lập nhằm mục đích tạo lời lại hình thức ẩn dụ khởi đầu của nó, thì nó cũng sẽ chủ yếu bao gồm việc biến các

cú thành các cụm danh từ Cụm danh từ tạo nguồn cho cách diễn đạt khôi phục những liên kết diễn đạt và liên kết logic trước đó

Trang 39

Matthiessen giải thích “quá trình ngữ nghĩa được thể hiện tương thích là quá trình trong cấu trúc chuyển tác của cú, nhưng qua ẩn dụ ngữ pháp nó được danh hóa

và được thể hiện như là tham thể, hay chu cảnh cùng với các thành tố khác của cấu trúc cú” [103, 356] Do đó việc phân tích và giải thích các cấu trúc ẩn dụ ngữ pháp

là việc đi tìm các cú tương thích chính xác về mặt ngữ pháp Ví dụ, nhóm ẩn dụ

danh từ (a) the development of our understanding (sự phát triển việc hiểu biết của

chúng ta) có thể có các cú đồng ngôn liệu tương thích là:

(1) Our understanding develops (Sự hiểu biết của chúng ta phát triển)

(2) The way we understand develops (Cách chúng ta hiểu phát triển)

Các ví dụ tương tự khác như:

(b) the Government’s dicision (quyết định của chính phủ), có cú đồng ngôn liệu tương thích là the Government decided (chính phủ quyết định); (c) his arrest by

the police (Sự bắt đuổi anh ấy của cảnh sát) [86, 251] và cú đồng ngôn liệu tương

thích được gợi ý là he was arrested by the police (Anh ấy bị cảnh sát bắt đuổi)

Trong các cú đồng ngôn liệu tương thích trên, cú the way we understand

developes có cú quan hệ phụ thuộc we understand đã bị giáng cấp thuộc cụm danh

từ làm Đề ngữ the way we understand, trở thành phụ ngữ (tính ngữ hay định ngữ - thuật ngữ tiếng Việt) sau danh từ trung tâm way Cú đó không thể nói là bị danh hóa

mà chỉ có thể được coi là một sự diễn đạt không tương thích hoặc có thể coi là một cách thức hiện thực hóa ẩn dụ một cấu trúc cú

Ở lần xuất bản thứ ba năm 2004 của cuốn Dẫn luận ngữ pháp chức năng nổi

tiếng, Halliday vẫn dành chương 10 với tiêu đề như cũ “Bên ngoài cú: các phương thức thể hiện ẩn dụ” [87, 586], nhưng nội dung chương này đã được sửa đổi và bổ sung rất nhiều tư liệu lấy từ các ngôn bản khoa học kỹ thuật Sự sửa đổi và bổ sung này là kết quả của việc tiếp tục nghiên cứu ẩn dụ ngữ pháp sau công trình đầu tiên năm 1985 của ông Trong chương này, Halliday không còn xác định hay định nghĩa khái niệm ẩn dụ ngữ pháp mà coi đó là một hiện tượng ngữ pháp thực tế, đặc trưng của ngôn bản kỹ thuật Do đó, ở lần xuất bản này, Halliday chú trọng phân tích, giải thích mối quan hệ giữa hai tầng ngữ nghĩa và ngữ pháp-từ vựng trong quá trình hiện thực hóa ngôn từ theo các phương thức thể hiện tương thích và thể hiện ẩn dụ Halliday khẳng định đơn vị chìa khóa của ngữ pháp là cú, ở đó mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và ngữ pháp là cơ bản: các đơn vị ngữ nghĩa được thể hiện bằng các đơn vị ngữ

Trang 40

pháp-từ vựng, gắn với quy luật siêu chức năng giống nhau; và cú là một kết cấu đa chức năng trong ngữ pháp Một kết cấu cú thể hiện ba đơn vị ngữ nghĩa khác nhau, mỗi đơn vị cho một siêu chức năng: siêu chức năng văn bản – cú là thông điệp với hệ thống Đề ngữ; siêu chức năng liên nhân – cú là phán đoán hoặc khiến nghị với hệ thống Thức; siêu chức năng thể hiện với hệ thống các mô hình chuyển tác [87, 588-589] Halliday đã trình bày hệ thống các đơn vị ngữ nghĩa và đơn vị ngữ pháp-từ vựng trong mối liên hệ với các đơn vị siêu chức năng ở Bảng 1.3 dưới đây [87, 592]

Ngữ nghĩa

Ngôn bản (các mô hình đoản tính) (Các mô hình

chuyển đổi)

(các mô hình cung ứng thông tin) Chuỗi nối tiếp

Hình thể

Phán đoán hoặc khiến nghị

tin (đơn vị thông tin)

Bảng 1.3: Hệ thống các đơn vị ngữ nghĩa-ngữ pháp trong mối liên hệ với các đơn vị

siêu chức năng

Bảng 1.3 (với ký hiệu “↓” ý nghĩa là: đồ chiếu lên) chỉ ra các đơn vị ngữ nghĩa được đồ chiếu lên các đơn vị ngữ pháp như thế nào Quy luật ở đây là hệ thành tố cấp bậc cơ sở - đơn vị ngữ nghĩa đồ chiếu lên đơn vị ngữ pháp m (tức là từng đơn vị riêng lẻ được đồ chiếu lên nhau) Bảng này cũng cho thấy cú là đơn vị chìa khóa của ngữ pháp: các đơn vị ngữ nghĩa bắt nguồn từ các siêu chức năng đều

đồ chiếu tất cả lên cú (hoặc phức hợp cú), vì thế cú là một đơn vị hợp nhất các đường dây ngữ nghĩa siêu chức năng

Để giải thích cho sự hiện thực hóa ẩn dụ, Halliday cho rằng mặc dù mối quan

hệ hiện thực hóa tương thích giữa ngữ nghĩa và ngữ pháp-từ vựng là cơ bản, nhưng còn có hai quy luật khác tác động đến sự hiện thực hóa Một mặt, có một phạm vi ngữ nghĩa mà cấp bậc vượt qua hơn một đơn vị ngữ pháp riêng lẻ - phạm vi ngữ nghĩa của tình thái Tình thái được kiến tạo ở nhiều đơn vị trong ngữ pháp Ví dụ nó

Ngày đăng: 29/10/2017, 17:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w