Tình hình nghiên cứu tại phương Tây Nhóm các công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận ngoại giao văn hóa Vào thập niên 40 của thế kỷ XX, Ruth Emily McCurry và Muna Lee, nguyên là các cán
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ NGỌC LIÊN
HỌC VIỆN KHỔNG TỬ TRONG CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA TRUNG QUỐC
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Châu Á học
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ NGỌC LIÊN
HỌC VIỆN KHỔNG TỬ TRONG CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA TRUNG QUỐC
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Châu Á học
Mã số: 60 31 06 08
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thu Phương
Hà Nội – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ Luận văn thạc sĩ tốt nghiệp chuyên ngành Châu Á
học với đề tài “Học viện Khổng Tử trong chính sách ngoại giao văn hóa của
Trung Quốc” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng
dẫn của TS Nguyễn Thị Thu Phương
Mọi trích dẫn trong Luận văn này đều được ghi nguồn đầy đủ, cụ thể Luận văn này không trùng lặp với bất cứ nội dung luận văn nào đã công bố
TÁC GIẢ
Lê Ngọc Liên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình của Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Phương – Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam, người đã tận tình chỉ dạy tôi từ quá trình lập đề cương cho đến khi luận văn được hoàn tất Dưới sự dẫn dắt của cô, luận văn của tôi đã được hoàn thiện hơn rất nhiều
Xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô đã giảng dạy các bộ môn trong khoá học tại trường Đại học KHXH&Nhân văn Nhờ có sự chỉ bảo của các thầy cô, tôi đã tích lũy được thêm nhiều kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực mình nghiên cứu Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn các thầy cô, cán bộ khoa Đông phương học đã tham gia góp ý, hướng dẫn và động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Bên cạnh đó, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, cơ quan và các bạn đồng môn đã luôn ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt khóa đào tạo Thạc sĩ tại Đại học KHXH&Nhân văn
Mặc dù đã cố gắng tập hợp tư liệu và nghiên cứu một cách nghiêm túc nhưng trong luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp
ý của các thầy cô và bạn đọc để tôi có thể hoàn thiện hơn nữa luận văn của mình
Xin chân thành cảm ơn!
HỌC VIÊN
Lê Ngọc Liên
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
MỞ ĐẦU 5
Chương 1: VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA HỌC VIỆN KHỔNG TỬ TRONG CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA TRUNG QUỐC 19
1.1 Cơ sở lý luận về ngoại giao văn hóa 19
1.1.1 Khái niệm ngoại giao, văn hóa và ngoại giao văn hóa 19
1.1.2 Chủ thể, đối tượng, mục đích và phương thức của ngoại giao văn hóa 25
1.1.3 Vai trò của ngoại giao văn hóa trong chính sách ngoại giao 27
1.2 Khái quát chính sách ngoại giao văn hóa Trung Quốc từ năm 2004 đến nay 29
1.2.1 Mục tiêu của chính sách ngoại giao văn hóa Trung Quốc 29
1.2.2 Các chính sách ngoại giao văn hóa Trung Quốc từ năm 2004 đến nay 31
1.3 Lịch sử hình thành, vị trí, vai trò của Học viện Khổng Tử trong chính sách ngoại giao văn hóa của Trung Quốc 35
1.3.1 Lịch sử hình thành Học viện Khổng Tử 35
1.3.2 Vị trí, vai trò của Học viện Khổng Tử trong chính sách ngoại giao
văn hóa của Trung Quốc 38
TIỂU KẾT 43
Chương 2: CƠ CẤU TỔ CHỨC, PHƯƠNG THỨC TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO VĂN HÓA TRUNG QUỐC CỦA HỌC VIỆN KHỔNG TỬ Ở NƯỚC NGOÀI 44
2.1 Cơ cấu, tổ chức của Học viện Khổng Tử 44
2.1.1 Cơ chế quản lý Học viện Khổng Tử 44
2.1.2 Bộ máy tổ chức của Học viện Khổng Tử 49
2.1.3 Mô hình hợp tác thành lập Học viện Khổng Tử của Trung Quốc tại
nước ngoài 54
2.1.4 Cơ chế tài chính của Học viện Khổng Tử 56
Trang 62.2 Phương thức triển khai chính sách ngoại giao văn hóa Trung Quốc của các
Học viện Khổng Tử ở nước ngoài 59
2.2.1 Dạy tiếng Trung và nâng cao vị thế của tiếng Trung 59
2.2.2 Cung ứng các chương trình hỗ trợ giáo dục, thúc đẩy nghiên cứu khoa học 62
2.2.3 Tổ chức các hoạt động văn hóa, quảng bá hình ảnh Trung Quốc ra thế giới 63
2.2.4 Tăng cường các hoạt động giao lưu tại nước sở tại và trong khu vực 65
2.3 Khảo sát trường hợp Học viện Khổng Tử tại Australia và CHLB Đức 68
2.3.1 Học viện Khổng Tử tại Australia 69
3.2.2 Học viện Khổng Tử tại Cộng hòa liên bang Đức 71
TIỂU KẾT 75
Chương 3: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC VIỆN KHỔNG TỬ TRÊN THẾ GIỚI VÀ MỘT SỐ GỢI MỞ CHO VIỆT NAM 77
3.1 Một số đánh giá về Học viện Khổng Tử trong việc triển khai chính sách ngoại giao văn hóa của Trung Quốc 77
3.1.1 Một số thành công 77
3.1.2 Một số hạn chế 82
3.2 Một số gợi mở về đối sách của Việt Nam đối với hoạt động của Học viện Khổng Tử 86
3.2.1 Những cơ sở và thực tế cho việc thành lập Học viện Khổng Tử tại Việt Nam 86
3.2.2 Một số gợi mở về đối sách của Việt Nam đối với hoạt động của Học viện Khổng Tử 91
TIỂU KẾT 95
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chứng chỉ năng lực tiếng Trung thương mại
CHLB Cộng hòa liên bang
CHND Cộng hòa nhân dân
Chứng chỉ năng lực tiếng Trung cho học sinh trung, tiểu học
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 2.1: Cơ chế quản lý Học viện Khổng Tử
Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức Hán Biện
Hình 2.3: Sơ đồ tổ chức Tổng bộ Học viện Khổng Tử
Hình 2.4: Sơ đồ tổ chức bộ máy Học viện Khổng Tử
Bảng 2.5: Danh sách Học viện Khổng Tử tại Australia
Bảng 2.6: Danh sách Học viện Khổng Tử tại CHLB Đức Bảng 3.1: Đánh giá của đối tác hợp tác về Học viện Khổng Tử
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
1 Cộng hòa nhân dân Trung Hoa từ lâu đã được biết đến là một quốc gia có diện tích rộng lớn, dân số đông với nền văn minh 5.000 năm phát triển rực rỡ Từ cuối thế kỷ XX đến nay, Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ như một cường quốc phát triển toàn diện trên tất cả các mặt kinh tế, xã hội, chính trị, ngoại giao, quân sự… Vai trò và tiếng nói của Trung Quốc trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, bên cạnh những kỳ vọng vào một Trung Quốc ―trỗi dậy hòa bình‖ và
―xây dựng xã hội hài hòa‖ thì cũng có không ít quốc gia xem sự lớn mạnh nhanh chóng của Trung Quốc là một mối nguy cơ tiềm ẩn đối với hòa bình thế giới Để xoa dịu dư luận quốc tế về ―mối đe dọa Trung Quốc‖, Chính phủ Trung Quốc ngày càng chú trọng đến việc gia tăng sức mạnh mềm văn hóa, tạo dựng một hình ảnh quốc gia tốt đẹp, thân thiện và có trách nhiệm, trong đó, NGVH được xem như một thành tố quan trọng, vừa có khả năng lan tỏa rộng rãi, vừa có tác dụng thẩm thấu lâu dài Chính sách NGVH của Trung Quốc bao gồm nhiều nội dung và nổi bật hơn cả là việc thành lập hệ thống HVKT khắp toàn cầu
2 Học viện Khổng Tử là tổ chức giáo dục phi lợi nhuận trực thuộc Bộ Giáo dục Trung Quốc, có chức năng giảng dạy ngôn ngữ Hán và quảng bá văn hóa Trung Hoa ở nước ngoài Năm 2004, cơ sở đầu tiên của HVKT được thành lập tại Hàn Quốc và sau 12 năm đã có hơn 1.000 cơ sở được lập ra tại 140 quốc gia và vùng lãnh thổ trên phạm vi toàn cầu Ngoài việc quảng bá hình ảnh đất nước và con người Trung Hoa với bạn bè quốc tế, các HVKT còn là nơi tập trung sự nỗ lực của Trung Quốc nhằm thúc đẩy nền văn hóa nhiều thế mạnh ra nước ngoài, qua đó gia tăng ảnh hưởng sức mạnh mềm của Trung Quốc trên thế giới Các hoạt động của HVKT vừa mang mục đích phổ biến văn hóa thuần túy đồng thời còn đóng vai trò như một chính sách ngoại giao ―mềm dẻo‖, từng bước nâng cao tầm ảnh hưởng của Trung Quốc tại quốc gia chủ nhà
3 Việt Nam là một nước láng giềng vốn chịu khá nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc nói chung và Khổng giáo nói riêng Tuy vậy, mối quan hệ Việt
Trang 10Nam – Trung Quốc cũng đồng thời lại là một mối quan hệ còn tồn tại rất nhiều vấn
đề nhạy cảm đặc biệt là vấn đề chủ quyền lãnh thổ Bởi vậy, mặc dù đã tăng rất nhanh số lượng ở các nước phương Tây, song phải 10 năm sau khi ra đời, HVKT mới có cơ sở đầu tiên tại Việt Nam Nghiên cứu về HVKT cũng như đánh giá thực chất hiệu quả của tổ chức này tại các quốc gia khác sẽ giúp đưa ra những gợi mở về đối sách của Việt Nam đối với những hoạt động mà HVKT sẽ triển khai trong thời gian tới
Những trình bày nói trên cho thấy, đề tài “Học viện Khổng Tử trong chính
sách ngoại giao văn hóa của Trung Quốc” không chỉ có tính cấp thiết về mặt lý
luận và khoa học mà còn có giá trị thực tiễn đối với nước ta Kết quả của đề tài sẽ cung cấp những nhận thức đầy đủ hơn về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của HVKT với vai trò là một bộ phận của chính sách NGVH Trung Quốc từ đó đóng góp một số đề xuất trong việc quản lý, giám sát các hoạt động của HVKT tại Việt Nam, đảm bảo phù hợp với phong tục, tập quán và các quy định của pháp luật
Trang 1118 tài liệu tiếng Trung, 11 tài liệu tiếng Anh bao gồm các sách chuyên khảo, tham khảo, giáo trình, các bài viết, bài nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí khoa học, các luận án, luận văn cùng hệ thống tài liệu mạng, chúng tôi xin được tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề như sau:
2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
2.1.1 Tình hình nghiên cứu tại phương Tây
Nhóm các công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận ngoại giao văn hóa
Vào thập niên 40 của thế kỷ XX, Ruth Emily McCurry và Muna Lee, nguyên
là các cán bộ ngoại giao Mỹ, trong Biện pháp văn hóa: một con đường khác của
quan hệ quốc tế (The Cultural Approach: Another way in international, 1947) đã
tổng kết những hoạt động giao lưu văn hóa song phương, dài hạn của hơn 10 nước như Pháp, Đức, Liên Xô, Mỹ, Nhật… từ năm 1900 trở lại đây Tác giả cho rằng NGVH có thể làm tăng độ tin cậy giữa các quốc gia khác nhau và tạo ra bầu không
khí tốt đẹp trong quan hệ hợp tác cùng có lợi giữa các quốc gia Tác phẩm Ngoại
giao văn hóa và Chính phủ Hoa Kỳ: một cuộc khảo sát (Cultural Diplomacy and the
United States Government: A Survey, 2003) của Milton Cummings lại định nghĩa
―NGVH là sự trao đổi ý tưởng, thông tin, nghệ thuật và các khía cạnh khác của văn hóa giữa các dân tộc và con người để thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau‖ [43, tr 1] Nhìn chung, các công trình này đã đưa ra hệ thống các khái niệm về NGVH đồng thời thông qua khảo sát thực tiễn để khái quát lên vai trò của NGVH đối với sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như các mối quan hệ quốc tế
Nhóm các công trình nghiên cứu về ngoại giao văn hóa Trung Quốc
Trong giai đoạn đầu thế kỷ XXI, NGVH Trung Quốc thường được nghiên cứu trong tổng thể chiến lược của nước này về nâng cao sức mạnh mềm Năm 2008,
tổ chức Thư viện dịch vụ nghiên cứu thuộc Quốc hội Mỹ đã công bố công trình
nghiên cứu mang tên Chính sách ngoại giao của Trung Quốc và “sức mạnh mềm”
tại Nam Mỹ, châu Á và châu Phi (China’s foreign Policy and ―soft power‖ in South
America, Asia and Africa) Trong đó, các tác giả đã phân tích khá chi tiết về chính sách NGVH của Trung Quốc đối với các khu vực châu Mỹ - Latinh, châu Phi, Đông
Trang 12Á và Trung Đông, từ đó nêu lên tình hình gia tăng sức mạnh mềm văn hóa của Trung Quốc tại các khu vực này và tập trung vào một số quốc gia
Ngoài ra, còn một số nghiên cứu khác cũng nhấn mạnh vị trí và vai trò của yếu tố văn hóa cũng như NGVH Trung Quốc trong việc gia tăng sức mạnh mềm có
thể kể đến như: Nguồn và giới hạn của “sức mạnh mềm” của Trung Quốc (Sources
and Limits of China Soft Power, 2006) của tác giả Bates Gill và Yanzhong Huang;
Sức mạnh mềm: Trung Quốc trên vũ đài toàn cầu (Soft Power: China on the Global
Stage, 2009) của Alan Hunter; Sự thúc đẩy học tiếng Trung và sức mạnh mềm của
Trung Quốc (The Promotion of Chinese Language Learning and China’s Soft
Power, 2008) của Jeffrey Gil…
Bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, khi mà bản thân Trung Quốc đã
và đang cố gắng hướng sự tập trung của dư luận quốc tế vào cái gọi là ―xã hội hài hòa‖ hay ―trỗi dậy hòa bình‖ của mình song lại đồng thời gây ra những căng thẳng với các quốc gia trong khu vực đặc biệt về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, các nghiên cứu chuyển dần theo hướng nhìn nhận NGVH như là một biện pháp để Trung Quốc
xoa dịu dư luận thế giới Tiêu biểu có thể kể đến công trình Khái quát về ba chiến
pháp của Trung Quốc (Brief on China’s three warfares) của Timothy A Walton,
xác định truyền thông là một kênh NGVH để tạo dựng dư luận nhằm xây dựng hình ảnh quốc gia và bảo vệ lợi ích quốc gia
Nhóm các công trình nghiên cứu về cơ cấu, chức năng, vai trò, tác động của Học viện Khổng Tử trên phạm vi toàn cầu và các nghiên cứu đối với một số trường hợp cụ thể tại Đức, Australia, châu Phi
Học viện Khổng Tử đầu tiên được Trung Quốc thành lập tại Seoul, Hàn Quốc năm 2004, do vậy những nghiên cứu liên quan đến tổ chức này cũng được bắt đầu khá muộn Trong số những tài liệu công bố bằng tiếng Anh đã thu thập được,
nghiên cứu đầu tiên có nhắc đến HVKT là công trình Sự trỗi dạy của ngoại giao
công cộng Trung Quốc (The Rise of China’s Public Diplomacy (2007)) của học giả
Hà Lan Ingrid d’Hooghe, trong đó chỉ giới thiệu về HVKT như một dự án thuộc chiến lược ngoại giao công cộng của Trung Quốc
Trang 13Việc HVKT có mặt tại các trường đại học nước sở tại theo mô hình đại học tự chủ thuộc nhóm nước Anglo-Saxon (Mỹ, Australia, New Zealand và Canada) đã nảy sinh xung đột về thể chế giáo dục do sự chi phối của hai thể chế chính trị khác nhau Điều này đã thu hút sự quan tâm của các học giả phương Tây, đặc biệt là Mỹ, Canada,
Australia Trong công trình China U (2013) của Marshall Sahlins, tác giả cho rằng,
việc Học viện Khổng Tử dưới sự kiểm soát của Nhà nước Trung Quốc thông qua Ban Hán ngữ Quốc gia đã tự cho mình các quyền liên quan đến tổ chức và hoạt động của Học viện là phủ nhận quyền lãnh đạo cao nhất của trường đại học sở tại
Bên cạnh các nghiên cứu về những xung đột liên quan đến thể chế của các HVKT với các trường đại học nước sở tại ở phương Tây, các học giả còn quan tâm tới tác động của HVKT trên quy mô toàn cầu Tháng 9/2014, tại Trung tâm nghiên cứu Ngoại giao công chúng của trường Đại học Southern California đã công bố một
báo cáo nghiên cứu với tên gọi Học viện Khổng Tử với sự toàn cầu hóa của sức
mạnh mềm Trung Quốc (Confucius Institutes and the Globalization of China’s Soft Power), trong đó bao gồm 03 bài báo cáo nghiên cứu riêng biệt Nội dung các báo
cáo cung cấp một cái nhìn tổng quan chiến lược của sáng kiến thành lập HVKT; thực tế việc quảng bá sức mạnh mềm của HVKT và báo cáo khảo sát về vai trò của HVKT ở châu Phi nói chung và việc triển khai HVKT tại Nam Phi nói riêng Nội dung các báo cáo tuy tập trung vào các vấn đề khác nhau nhưng nhìn một cách tổng thể đều đánh giá về vai trò của HVKT trong chiến lược quảng bá hình ảnh và sức mạnh mềm Trung Quốc
Năm 2016, tác giả Falk Hartig, Tiến sĩ Truyền thông và thông tin tại Đại học
Công nghệ Queensland, Australia đã công bố một nghiên cứu với nhan đề Ngoại
giao công cộng Trung Quốc: Sự gia tăng của các Học viện Khổng Tử (Chinese
Public Diplomacy: The rise of the Confucius Institute) Trong nghiên cứu này, tác giả
đã dành một phần lớn nội dung để giới thiệu về HVKT với vai trò là ―ngôi sao trong chính sách ngoại giao công cộng của Trung Quốc‖ [45, tr 98] Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu một số trường hợp điển hình tại Đức và Australia, ông đã nhấn mạnh sự đóng góp quan trọng của HVKT vào nền ngoại giao tổng thể của Trung Quốc song
Trang 14cũng coi sự gia tăng nhanh chóng của các HVKT như một cuộc ―tấn công quyến rũ‖ [45, tr 3] của nước này và đặt vấn đề rằng tổ chức này là công cụ để Trung Quốc tăng cường ảnh hưởng địa chính trị của mình trên thế giới Đây là công trình có giá trị
cả về mặt lý luận và thực tiễn, tác giả đã áp dụng khung lý thuyết về ngoại giao công cộng để nghiên cứu các trường hợp HVKT cụ thể, từ đó đưa ra những kiến thức chuyên sâu về tổ chức và hoạt động của tổ chức này Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi sẽ tham khảo cách tiếp cận này để làm rõ cơ cấu, chức năng của HVKT cũng như áp dụng để xem xét, đánh giá trường hợp HVKT tại Việt Nam
Tóm lại, các nghiên cứu của các học giả phương Tây chủ yếu là xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về NGVH bao gồm hình thành hệ thống khái niệm, xác định vai trò, vị trí của NGVH trong chiến lược tổng thể phát triển quốc gia Các công trình liên quan đến NGVH Trung Quốc kế thừa khung lý luận về NGVH, đi sâu làm rõ những đặc điểm cũng như các biện pháp NGVH mà Trung Quốc triển khai nhằm gia tăng sức mạnh mềm trên thế giới
Đối với các công trình nghiên cứu HVKT, các tác giả đã chỉ ra cách thức tổ chức và hoạt động của tổ chức này đồng thời phân tích vị trí, chức năng của nó trong chiến lược tổng thể của Trung Quốc Về cơ bản, các nghiên cứu chủ yếu đặt HVKT trong mối quan hệ là bộ phận cấu thành của NGVH, là một kênh quan trọng của NGVH trong việc gia tăng sức mạnh mềm quốc gia Mặt khác, xuất phát từ những xung đột trong thực tiễn triển khai HVKT tại nhiều quốc gia phương Tây, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra điểm mấu chốt tạo nên những xung đột này nằm ở sự khác biệt về thể chế chính trị, thể chế giáo dục giữa Trung Quốc và nước sở tại Đây
sẽ là những cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để chúng tôi kế thừa trong quá trình triển khai luận văn
Tuy vậy, hầu hết các nghiên cứu chỉ đánh giá tác động của HVKT tại phương Tây thông qua nghiên cứu các trường hợp cụ thể ở Đức, Australia, Canada, Mỹ… mà chưa khảo sát đến tác động tại châu Á, nhất là các nước láng giềng với Trung Quốc, chính vì vậy, chúng tôi coi đây là một ―khoảng trống‖ trong khoa học mà luận văn có thể bước đầu tìm hiểu, đánh giá thông qua những gợi mở đối với trường hợp HVKT tại Việt Nam trong chương cuối của công trình
Trang 152.1.2 Tình hình nghiên cứu tại châu Á
Các nghiên cứu của các học giả khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á mà
luận văn đã tham khảo đều nghiên cứu về HVKT của Trung Quốc trong mối tương
quan với chiến lược gia tăng sức mạnh mềm của nước này Nghiên cứu China
debates soft power (2008) của tác giả Lý Minh Giang (Li Mingjiang) – Đại học
Công nghệ Nanyang, Singapore – cho rằng Trung Quốc có tất cả những yếu tố của sức mạnh mềm, bao gồm sức mạnh văn hoá, ngôn ngữ, nền văn minh, trí tuệ và HVKT cùng sự gia tăng nhanh chóng của nó chính là minh chứng cho quyết tâm
mở rộng sức mạnh mềm của nước này Tác giả Hàn Quốc Koo Sung Il trong công
trình Nghiên cứu về chính sách thúc đẩy sức mạnh mềm của Trung Quốc thông qua
Học viện Khổng Tử (2010) lại xem xét một cách tổng hợp chiến lược và cách thức
thực hiện việc truyền bá ra nước ngoài về ngôn ngữ và văn hóa của Trung Quốc mà trong đó tập trung trọng tâm vào HVKT để từ đó đưa ra các vấn đề hiện thực và phương hướng cải tiến liên quan đến việc mở rộng việc phổ cập tiếng Hàn Quốc ra nước ngoài mà Ủy ban Thương hiệu quốc gia nước này đang tiến hành
Các công trình nghiên cứu của Trung Quốc về NGVH Trung Quốc và
HVKT tương đối đa dạng, phong phú Có thể phân theo các nhóm sau:
Nhóm các công trình nghiên cứu về nhận thức, mục tiêu, vai trò của NGVH Trung Quốc đối với việc nâng cao sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc
Ngoại giao văn hóa Trung Quốc ngày càng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các học giả nước này Năm 2006, Luận án tiến sĩ của Mậu Khai Kim (缪开金),
đề tài Nghiên cứu về ngoại giao văn hóa Trung Quốc (中国文化外交研究) tại
Trường Đảng Trung ương Trung Quốc đã cung cấp cái nhìn toàn cảnh về NGVH Trung Quốc, từ lịch sử phát triển, hệ thống tổ chức, cách thức tiến hành đến thành tựu đạt được và những vấn đề còn tồn tại Tác giả Bành Tân Lương (彭新良) trong
tác phẩm Ngoại giao văn hóa và sức mạnh mềm Trung Quốc: Một góc nhìn toàn cầu
hóa (文化外交与中国软实力:一种全球化视角) phân tích khá chi tiết về NGVH
Theo ông, ―NGVH về cơ bản bao gồm tất cả các hoạt động ngoại giao hòa bình của nhà nước có chủ quyền trong đó có văn hóa với mục tiêu bảo vệ lợi ích văn hóa và
Trang 16thực hiện mục tiêu chiến lược văn hóa đối ngoại của nước đó dưới sự chỉ đạo của chính sách đối ngoại nhất định‖ [12, tr 76]
Bước sang thập niên thứ hai của thế XXI, các công trình nghiên cứu về NGVH Trung Quốc đi sâu hơn vào thực tiễn triển khai NGVH và chỉ ra những thách thức
cũng như hướng đi mới cho công tác này Bài viết Ngoại giao văn hóa với việc xây
dựng hình tượng quốc gia Trung Quốc (文化外交与中国国家形象塑造) của tác giả
Khang Phủ (康甫) đăng trên Tạp chí 文化论苑 số 2/2014 đã điểm lại lịch sử phát triển NGVH Trung Quốc, chỉ ra những thành quả và hạn chế của công tác này, trên
cơ sở đó chỉ ra những hướng đi mới cho NGVH Trung Quốc Trong công trình
nghiên cứu Vài suy nghĩ về cơ hội, thách thức và chiến lược của ngoại giao văn hóa
Trung Quốc (中国文化外交的机遇、挑战与战略思考), tác giả Lỗ Thế Nguy (鲁世
巍) nhận định rằng ―NGVH đã trở thành một điểm tăng trưởng ngoại giao mới, một
bộ phận quan trọng trong ngoại giao tổng thể của Trung Quốc‖ [62]
Nhóm các công trình nghiên cứu về mục tiêu, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Học viện Khổng Tử
Nghiên cứu của các học giả Trung Quốc về HVKT được bắt đầu từ khoảng năm 2006, tức là hai năm sau khi HVKT chính thức được thành lập Trước đó, HVKT chỉ được nhắc đến trong một số bài báo ngắn, chủ yếu thông tin về việc thành lập tại các quốc gia hợp tác Năm 2006, tác giả Ninh Kế Minh (宁继鸣) là người đầu tiên chọn HVKT làm đề tài nghiên cứu tiến sĩ Luận án của tác giả với đề
tài Quảng bá tiếng Trung – Những phân tích kinh tế học và kiến nghị liên quan đến
Học viện Khổng Tử (汉语国际推广 -关于孔子学院的经济学分析与建议) đã phân
tích một cách khá tỉ mỉ về sự thành lập, vận hành và cách thức quản lý của HVKT từ góc độ kinh tế học, từ đó đưa ra một số kiến nghị đối với việc nâng cao vị thế quốc tế của tiếng Trung
Năm 2014 đánh dấu chặng đường 10 năm hoạt động đầu tiên của HVKT, cũng là năm mà số lượng những nghiên cứu về tổ chức này tăng lên nhanh chóng Các nghiên cứu của các học giả, nghiên cứu sinh về HVKT chủ yếu là những
Trang 17nghiên cứu về chức năng, hoạt động của HVKT trên cơ sở phân tích, đánh giá một HVKT cụ thể tại một quốc gia nhất định Ngoài ra, cũng có một số hướng tiếp cận khác như nghiên cứu một đặc điểm, chức năng cụ thể của HVKT, nghiên cứu về HVKT trong mối tương quan so sánh với các tổ chức tương tự của phương Tây hoặc nghiên cứu về HVKT trong mối liên hệ với chiến lược sức mạnh mềm Trung Quốc, với lĩnh vực truyền thông, quảng bá ngôn ngữ hay với công cuộc xây dựng hình tượng quốc gia Trung Quốc Có thể kể đến một số nghiên cứu như Luận văn
thạc sĩ đề tài So sánh Học viện Khổng Tử với bốn tổ chức xúc tiến văn hóa và ngôn
ngữ lớn (孔子学院与四大语言文化推广机构对比研究), tác giả Ngô Kiến Nghĩa
(吴建义); Luận văn thạc sĩ Biện pháp hữu hiệu để xây dựng hình tượng quốc gia
Trung Quốc – Trường hợp Học viện Khổng Tử (中国国家形象建设的有效途径 —
—以孔子学院为例), tác giả Y Phàm (伊凡); Phân tích cơ chế mở rộng của Học
viện Khổng Tử (孔子学院的创新扩散机制分析) của Chu Văn Phi (周汶霏) và
Ninh Kế Minh (宁继鸣)…
Những nghiên cứu này về cơ bản đều khái quát được những đặc điểm của HVKT cũng như đều nhìn nhận HVKT là một bộ phận cấu thành trong chiến lược quảng bá hình ảnh của Trung Quốc ra thế giới Tuy nhiên, những đánh giá, nhìn nhận trong các nghiên cứu này còn tương đối chủ quan, dựa trên lập trường xây dựng và phát triển của Trung Quốc, chưa có được những đánh giá khách quan, chính xác về những vấn đề còn tồn tại, hạn chế của các HVKT trên thế giới
2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Nhóm các công trình nghiên cứu về ngoại giao văn hóa Trung Quốc
Giới học giả Việt Nam cũng đóng góp một số lượng không nhỏ các nghiên
cứu về NGVH Trung Quốc Cuốn Ngoại giao Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 30
năm cải cách mở cửa (1978-2008) (2009), Ngoại giao Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 20 năm đầu thế kỷ XXI (2011) và Ngoại giao Trung Quốc trong quá trình trỗi dậy và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam, (2013) do Lê Văn Mỹ chủ biên đã trình
bày các nội dung của chính sách NGVH Trung Quốc trong mỗi giai đoạn cụ thể
Trang 18cũng như nêu rõ vai trò của NGVH trong chính sách đối ngoại và tăng cường sức
mạnh mềm của Trung Quốc Trong cuốn Sự trỗi dậy về sức mạnh mềm của Trung
Quốc và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam (2013) do Nguyễn Thị Thu Phương chủ
biên, các tác giả đã phân tích những mặt tích cực và hạn chế của công tác NGVH Trung Quốc trong quá trình trỗi dậy về sức mạnh mềm của quốc gia này Trong bài
nghiên cứu Các kênh tác động của sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc ở một số
nước Đông Á của Phạm Hồng Thái và Nguyễn Thị Thu Phương, NGVH Trung
Quốc được đề cập với tư cách là một kênh tác động của sức mạnh mềm Trung Quốc trên cơ sở phân tích những biện pháp triển khai cụ thể của chính sách NGVH tại một số quốc gia tiêu biểu như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam và khu vực ASEAN
Ngoài ra, những nghiên cứu, bài viết trực tiếp về NGVH Trung Quốc có thể
kể đến Ngoại giao văn hóa Trung Quốc và vai trò của nó trong quá trình hội nhập
quốc tế của tác giả Phạm Hồng Yến (2009); Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quan hệ
quốc tế tại Học viện Ngoại giao năm 2013 của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thủy, đề
tài Ngoại giao văn hóa Trung Quốc từ 2007 đến 2012; Ngoại giao văn hóa Trung
Quốc: hiệu ứng hai mặt của Nguyễn Thị Thu Phương (2016)…
Nhóm các công trình nghiên cứu về Học viện Khổng Tử từ góc nhìn sức mạnh mềm
Có thể tìm thấy nội dung về HVKT trong nhiều nghiên cứu về sức mạnh
mềm Trung Quốc như “Sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc - Tác động với Việt
Nam và một số nước Đông Á” (2015) hay “Trung Quốc gia tăng sức mạnh mềm văn hoá ở khu vực Đông Nam Á” của tác giả Nguyễn Thị Thu Phương…
Cũng từ góc độ này nhưng tập trung vào HVKT hơn, TS Nguyễn Thị Thu
Phương trong bài viết Học viện Khổng Tử - Thế công mê hoặc của sức mạnh mềm
Trung Hoa (2010) đã giải thích lý do vì sao HVKT lại trở thành hạt nhân của chiến
lược sức mạnh mềm văn hóa của Trung Quốc Với lựa chọn này, Trung Quốc có thể gia tăng sức hấp dẫn văn hóa thông qua sự ―trỗi dậy hòa bình‖, ―hài hòa‖ của các HVKT, từng bước tạo dựng được những tiền đề cơ bản nhằm nâng các chính sách ngoại giao, chính trị quốc gia lên tầm cao mới Bên cạnh đó, bài viết cũng chỉ ra
Trang 19những quan ngại đến từ các quốc gia khác trước sự gia tăng quá nhanh cũng như một
số bất cập trong quá trình triển khai của các HVKT trên thế giới
Nhóm các công trình nghiên cứu về Học viện Khổng Tử từ góc độ thể chế
Bài viết với nhan đề “Học viện Khổng Tử dưới góc nhìn thể chế”, tác giả
Nguyễn Thị Thu Phương đã nhìn nhận HVKT với tư cách là một tổ chức sư phạm quốc tế theo thể chế giáo dục Nhà nước kiểm soát, từ đó luận giải về sự tương đồng cũng như mâu thuẫn giữa HVKT với các trường đại học hợp tác tại nước sở tại dựa trên ―sự tương đồng hay xung đột thể chế giáo dục do sự chi phối mạnh mẽ của các
yếu tố liên quan tới thể chế chính trị mỗi nước‖ [17]
Nhóm các nghiên cứu về Học viện Khổng Tử từ góc nhìn của bên hợp tác
“Học viện Khổng Tử và ngoại giao văn hóa Trung Quốc nhìn từ góc độ bên tiếp nhận – Lấy ví dụ khu vực Đông Nam Á” (从接受方的视角看孔子学院与中国文
化外交 -以东南亚地区为例) là đề tài luận văn thạc sĩ quan hệ quốc tế năm 2009 tại Đại học Phúc Đán của tác giả Đỗ Thanh Vân Trong luận văn của mình, tác giả đã đưa
ra những phân tích về ý nghĩa của HVKT đối với NGVH Trung Quốc trên cơ sở khảo sát, đánh giá thực trạng triển khai hoạt động của HVKT tại Đông Nam Á đồng thời cũng đưa ra một số nhận định về nguyên nhân HVKT không được đón nhận tại Việt Nam Sau khi HVKT được thành lập tại Đại học Hà Nội tháng 12/2014, với tư cách là Viện trưởng HVKT tại Đại học Hà Nội, tác giả Đỗ Thanh Vân tiếp tục có những
nghiên cứu về HVKT Bài viết Học viện Khổng Tử và ngoại giao văn hóa Trung Quốc:
nhìn từ góc độ bên tiếp nhận của tác giả tiếp nối mạch nghiên cứu của luận văn đồng
thời cung cấp thêm một số thông tin về HVKT tại Đại học Hà Nội Song, do thời gian triển khai chính thức của HVKT tại đây chưa lâu, hoạt động mới ở giai đoạn đầu nên tư liệu thực tế còn hạn chế, chủ yếu là những suy nghĩ của tác giả về việc các cơ quan quản lý Trung Quốc cần áp dụng nhiều biện pháp để giải quyết những vướng mắc của
các HVKT trong quá trình triển khai
Qua tổng quan lịch sử vấn đề đã nêu trên, có thể thấy rằng các nghiên cứu đi trước đã xây dựng được hệ thống cơ sở lý luận khá đầy đủ về NGVH trong đó đều khẳng định vai trò quan trọng của NGVH trong chính sách đối ngoại của mỗi quốc
Trang 20gia cũng như trong quan hệ quốc tế Các nghiên cứu về NGVH Trung Quốc trên
cơ sở những lý luận chung về NGVH đã cung cấp cái nhìn tổng thể về chính sách NGVH mà Nhà nước Trung Quốc đã và đang thực hiện nhằm hướng tới mục tiêu gia tăng sức mạnh mềm cũng như mở rộng tầm ảnh hưởng của mình ra thế giới Đối với HVKT, đây là tổ chức giáo dục, văn hóa mới được Trung Quốc thành lập
và đưa vào hoạt động từ năm 2004 nhưng đã nhanh chóng trở thành một phương thức triển khai NGVH hiệu quả và được các nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước đánh giá là công cụ đắc lực trong chiến lược quảng bá hình ảnh của Trung Quốc Những công trình nghiên cứu đã điểm luận cũng như hệ thống tài liệu mà chúng tôi thu thập được chính là cơ sở lý luận, là khung kiến thức để luận văn tiếp tục nghiên cứu, làm rõ vị trí, vai trò của HVKT với tư cách là một bộ phận của NGVH Trung Quốc Mặt khác, cũng thông qua tổng quan lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy rằng các nghiên cứu của phương Tây chủ yếu chỉ khảo sát các trường hợp HVKT tại châu Âu, châu Mỹ, châu Đại Dương, chưa đề cập đến HVKT tại khu vực châu Á; các nhà nghiên cứu Trung Quốc lại tập trung vào những đóng góp tích cực của tổ chức này đối với việc quảng bá hình tượng quốc gia Trung Quốc mà chưa đề cập nhiều đến những bất cập trong quá trình triển khai của HVKT Trên cơ sở đó, luận văn sẽ cố gắng đưa ra những đánh giá khách quan hơn đồng thời đề xuất một số gợi mở về đối sách của Việt Nam đối với hoạt động của HVKT
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là HVKT trong chính sách NGVH của Trung Quốc
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các hoạt động của
HVKT trên toàn thế giới; khảo sát trường hợp các HVKT tại CHLB Đức, Australia và Việt Nam
- Về thời gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu từ thời gian thành lập
HVKT (năm 2004) đến nay
Trang 214 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung làm rõ cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của HVKT với vai trò là một bộ phận của chính sách NGVH Trung Quốc từ đó chỉ ra một số vấn đề đặt ra cho Việt Nam
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Phân tích, làm rõ vị trí, chức năng của HVKT trong chính sách NGVH của Trung Quốc
- Nhận diện cơ cấu tổ chức, phương thức triển khai chính sách NGVH Trung Quốc của các HVKT trên thế giới
- Đánh giá những thành công và hạn chế của HVKT tại các nước trên thế giới từ đó đưa ra những gợi mở đối với Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành chủ yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu hệ thống: qua đó đem lại sự hiểu biết có hệ thống
về chính sách NGVH chung của Trung Quốc, từ đó xác định vị trí của HVKT trong tổng thể chính sách này
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: làm rõ chức năng, tổ chức và phương
thức hoạt động của HVKT với tư cách là một bộ phận của chính sách NGVH Trung Quốc và phục vụ cho chính sách NGVH trong giai đoạn mới
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: xem xét cơ cấu tổ chức và cách thức triển
khai các hoạt động của HVKT trong mối tương quan so sánh với các tổ chức tương ứng của một số quốc gia khác, từ đó lý giải nguyên nhân những thành công hoặc hạn chế của HVKT trong quá trình triển khai chính sách NGVH Trung Quốc
- Phương pháp dự báo: căn cứ vào những đánh giá về HVKT và tình hình
mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc hiện nay để dự báo những tác động, ảnh hưởng đối với Việt Nam sau khi HVKT chính thức triển khai các hoạt động ở nước
ta, từ đó đưa ra những gợi mở, đề xuất về mặt đối sách và biện pháp ứng phó
Trang 22- Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn một số đối tượng có liên quan đến
Học viện Khổng Tử như Viện trưởng Viện Khổng Tử, cán bộ công tác tại Viện Khổng Tử tại Đại học Hà Nội để thu thập nhưng tư liệu về tổ chức, bộ máy của Học viện Khổng Tử cũng như thực tế hoạt động của Viện Khổng Tử tại Đại học Hà Nội
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn có cấu trúc gồm 03 chương:
Chương 1: Vị trí, vai trò của Học viện Khổng Tử trong chính sách ngoại giao văn hóa của Trung Quốc
Nội dung chương 1 sẽ giới thiệu về chính sách NGVH của Trung Quốc và tập trung làm rõ vị trí, vai trò của HVKT trong chính sách này
Chương 2: Cơ cấu, tổ chức, phương thức triển khai chính sách ngoại giao văn hóa Trung Quốc của Học viện Khổng Tử ở nước ngoài
Nội dung chương 2 sẽ đi sâu vào nhận diện cơ cấu tổ chức của HVKT; phân tích phương thức triển khai các hoạt động của HVKT trong việc tăng cường hiệu quả của chính sách NGVH thông qua phổ biến ngôn ngữ, thúc đẩy giao lưu văn hóa
và quảng bá hình ảnh của Trung Quốc tại các nước sở tại Lấy ví dụ một số trường hợp cụ thể ở Đức, Australia
Chương 3: Đánh giá hiệu quả hoạt động của Học viện Khổng Tử trên thế giới và một số gợi mở cho Việt Nam
Nội dung chương 3 gồm có những đánh giá về thành công và hạn chế của HVKT trong việc triển khai chính sách NGVH của Trung Quốc trên thế giới, những căn cứ thực tế để thành lập HVKT tại Việt Nam và đề xuất một số gợi mở về đối sách của Việt Nam đối với hoạt động của HVKT
Trang 23Chương 1
VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA HỌC VIỆN KHỔNG TỬ TRONG CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA TRUNG QUỐC
1.1 Cơ sở lý luận về ngoại giao văn hóa
1.1.1 Khái niệm ngoại giao, văn hóa và ngoại giao văn hóa
1.1.1.1 Khái niệm ngoại giao
Ngoại giao là một lĩnh vực rộng lớn và khái niệm ngoại giao cũng được định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau Trên thế giới có nhiều khái niệm về ngoại giao, nhưng tựu chung lại có thể phân thành 3 dạng cơ bản:
- Thứ nhất, dạng định nghĩa thiên về hình thức ngoại giao và chủ yếu coi trọng
vai trò của các nhà ngoại giao, các chính khách Dạng định nghĩa này xác định, ngoại giao là việc là thông qua đàm phán để xử lý các vấn đề quan hệ đối ngoại Cụ thể:
Trong Từ điển Anh ngữ Oxford chỉ ra ngoại giao là ―(1) Thông qua đàm phán xử lý quan hệ quốc tế; (2) Phương pháp mà đại sứ hoặc các nhân viên ngoại giao điều chỉnh và xử lý những quan hệ này; (3) Nghiệp vụ hoặc kỹ thuật của nhà ngoại giao; (4) Kỹ năng hoặc cách ăn nói trong xử lý quan hệ giao lưu và đàm phán quốc tế‖ [12, tr 57]
Trong Đại từ điển tiếng Việt: ―ngoại giao có nghĩa là công việc giao thiệp giữa quốc gia với các quốc gia nước ngoài và giải quyết các vấn đề quốc tế‖ [41, tr 1021]
- Thứ hai, dạng định nghĩa nhấn mạnh về chức năng của ngoại giao, cho rằng
ngoại giao có chức năng xử lý quan hệ quốc gia và công việc quốc tế
Từ điển Ngoại giao của Liên Xô do A Gromyko chủ biên định nghĩa:
―Ngoại giao là công cụ thực hiện chính sách đối ngoại của quốc gia, là tổng thể những biện pháp phi quân sự, những phương pháp, thủ thuật được sử dụng có tính đến điều kiện cụ thể và đặc điểm của yêu cầu nhiệm vụ; hoạt động chính thức của người đứng đầu nhà nước, chính phủ, bộ trưởng bộ ngoại giao, các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài, các đoàn đại biểu tại các hội nghị quốc tế nhằm thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ chính sách đối ngoại của quốc gia, bảo vệ quyền và lợi ích
Trang 24quốc gia, pháp nhân và công dân mình ở nước ngoài Đồng thời, ngoại giao là nghệ thuật đàm phán nhằm ngăn chặn hoặc dàn xếp những xung đột quốc tế, tìm cách thỏa hiệp và đưa ra những giải pháp có thể được các bên chấp nhận, cũng như việc
mở rộng và củng cố hợp tác quốc tế‖ [32, tr 8]
Trong ―Khái luận ngoại giao học‖ của học giả Trung Quốc Lỗ Dịch Đẳng, ngoại giao được định nghĩa như sau: ―Ngoại giao là lấy chủ quyền quốc gia làm chủ thể, thông qua cơ cấu chính thức giao thiệp, đàm phán và các phương thức hoà bình khác để thi hành chủ quyền đối ngoại, lấy việc xử lý quan hệ quốc gia cùng việc tham gia công việc quốc tế, thủ đoạn quan trọng của một nước nhằm bảo vệ lợi ích của nước mình và thực thi chính sách đối ngoại của mình… Nói đơn giản, ngoại giao là chỉ bất kỳ cái gì lấy chủ quyền quốc gia làm chủ thể, thông qua phương thức hoà bình, xử lý quan hệ quốc gia và quan hệ quốc tế‖ [4, tr 20]
- Thứ ba, định nghĩa ngoại giao với tư cách là một hành vi đối ngoại của
quốc gia có chủ quyền
Trong từ điển Hán ngữ hiện đại, ngoại giao được giải thích ―là hoạt động của một nước trong phương diện quan hệ quốc tế như tham gia tổ chức và hội nghị quốc
tế, cử đại sứ lẫn nhau với nước khác, tiến hành đàm phán, ký kết điều ước và hiệp định‖ [71, tr 1202]
Trong ―Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc‖, ngoại giao là ―loại hoạt động mà nhà nước dùng thủ đoạn hoà bình thi hành chủ quyền; thông thường là chỉ hoạt động qua lại đối ngoại của nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu chính phủ, bộ trưởng Bộ Ngoại giao và đại diện cơ quan ngoại giao nhà nước tiến hành [68, tr 715]
Như vậy, mỗi cách định nghĩa về ngoại giao lại chú trọng nêu bật lên những khía cạnh mà nó cho là chủ yếu nhất của khái niệm Từ việc xem xét các định nghĩa nêu trên, chúng tôi xác định, ngoại giao là hoạt động của nhà nước, thông qua các
cơ quan chuyên trách về đối ngoại để thực hiện chính sách đối ngoại của quốc gia nhằm bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ và lợi ích quốc gia; là một khoa học tổng hợp của các yếu tố chính trị, xã hội; là nghệ thuật đàm phán nhằm mở rộng các quan hệ quốc
tế, giải quyết các vấn đề quốc tế bằng hình thức hòa bình, giảm thiểu xung đột
Trang 251.1.1.2 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một khái niệm trừu tượng, có liên quan mật thiết đến mọi mặt của đời sống xã hội Chính vì thế, định nghĩa về văn hóa cũng vô cùng đa dạng, với mỗi góc nhìn khác nhau lại có những cách hiểu về văn hóa khác nhau
Từ góc độ ngôn ngữ học, tại châu Âu, ―người ta dùng từ ―culture‖ có gốc Latinh là chữ ―cultus animi‖ nghĩa là trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên‖ [8, tr 307] Sau đó, từ này dần chuyển nghĩa thành sự giáo dục về tâm hồn
và trí tuệ - và nội hàm này giống như quan niệm văn trị giáo hóa - dùng văn đức rồi mới dùng vũ lực của Lưu Hướng thời Tây Hán, Trung Quốc (năm 77-76 TCN)
Từ góc độ xã hội học và nhân loại học, văn hóa được coi là mọi thứ vốn có trong đời sống con người Theo nhà nhân chủng học người Anh Edward B.Tylor,
―văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm kiến thức, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng, những tập quán mà con người có được với tư cách là thành viên của xã hội‖ [40, tr 18] Nhà truyền bá học người Mỹ Jim Rogers thì cho rằng, ―văn hóa là tổng hòa hội tụ phương thức sống, trong đó bao gồm các quy tắc sống, niềm tin, quan niệm giá trị, thế giới quan và các sản phẩm mang ý nghĩa tượng trưng và mang hàm nghĩa văn hóa‖ [12, tr 69] Như vậy, mọi thứ sản sinh trong đời sống con người, kể cả yếu tố vật chất và tinh thần, đều có thể được xem là văn hóa Cũng với góc nhìn này, Tổ chức Văn hóa – Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) định nghĩa về văn hóa như sau: ―Theo nghĩa rộng nhất, ngày nay văn hóa có thể được coi là toàn bộ các tính chất đặc biệt về tâm hồn, thể chất, trí tuệ và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội Nó không chỉ bao gồm nghệ thuật và văn hóa mà cả lối sống, các quyền cơ bản của nhân loại, các hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng‖
Từ góc độ quan hệ quốc tế, David Winters định nghĩa: ―Văn hóa chính là tri thức chung của xã hội Tri thức chung của xã hội là tri thức chung giữa các cá thể
và cùng liên hệ với nhau Cái chung ở đây là cái chung về mặt ý nghĩa xã hội Cái chung đó có thể là tính chất hợp tác, cũng có thể là tính chất xung đột Cùng là kẻ thù của nhau và cùng là bạn bè của nhau đều là sự thực văn hóa‖ [72, tr 181] Học
Trang 26giả người Mỹ Huntington lại nói về khái niệm văn hóa thông qua quan hệ giữa văn hóa và văn minh khi bàn về sự xung đột giữa các nền văn minh trên thế giới Theo ông, ―văn minh và văn hóa đều liên quan tới toàn bộ phương thức sống của một dân tộc, văn minh là sự phóng đại của văn hóa Chúng đều bao gồm mô hình tư duy của giá trị, quy tắc, thể chế và tính quan trọng hàng đầu được trao qua nhiều thế hệ trong một xã hội đã định‖ [7, tr 252]
Thông qua việc nghiên cứu một số định nghĩa về văn hóa nêu trên, có thể thấy văn hóa là một khái niệm tổng hợp, bao gồm trong đó cả yếu tố vật chất và tinh thần Khái niệm văn hóa được khởi nguồn từ hoạt động sống của con người, vì con người và lại tác động ngược lại đời sống con người Dù xem xét dưới góc độ nào thì văn hóa vẫn có khả năng ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực khác trong đời sống như kinh tế, quân sự, chính trị, ngoại giao Tuy có nội hàm rất rộng và khó có thể xác định được đầy đủ, song về cơ bản, văn hóa luôn gắn liền với một dân tộc cụ thể
―Văn hóa là linh hồn của một dân tộc, sức mạnh văn hóa được hun đúc từ cuộc sống, khả năng sáng tạo và sức hội tụ của dân tộc, đan xen với các yếu tố chính trị, kinh tế, đời sống xã hội‖ [8, tr 309] Trong lĩnh vực NGVH, văn hóa được nhìn nhận như là một biện pháp ngoại giao mà một quốc gia sử dụng để thiết lập và mở rộng tầm ảnh hưởng của mình đối với quốc gia khác Nói cách khác, văn hóa chính là những giá trị vật chất và tinh thần riêng có của mỗi dân tộc, là ―tài nguyên‖ để mỗi quốc gia thực hiện đường lối đối ngoại của mình một cách ôn hòa
1.1.1.3 Khái niệm ngoại giao văn hóa
Giữa văn hóa và ngoại giao có mối liên hệ mật thiết ―Ngoại giao mang nội hàm văn hóa sâu sắc Hoạt động ngoại giao là sự giao lưu và cọ xát về các giá trị văn hóa Hoạt động ngoại giao là diễn đàn hoạt động văn hóa phục vụ lợi ích dân tộc Bởi lẽ đó, truyền thống lịch sử và bản sắc văn hóa dân tộc là chỗ dựa và thế mạnh của ngoại giao Đồng thời, văn hóa cũng là động lực và mục tiêu của hoạt động ngoại giao‖ [15] Tương tự như khái niệm Ngoại giao và khái niệm Văn hóa, NGVH là khái niệm có nội hàm rất rộng và ở mỗi quốc gia khác nhau, với mỗi góc nhìn khác nhau lại có những cách định nghĩa khác nhau
Trang 27- Xem xét về NGVH với tư cách là một bộ phận của ngoại giao nói chung,
Bộ Ngoại giao Mỹ định nghĩa ―NGVH là nội dung cốt lõi của ngoại giao công chúng, bởi vì các hoạt động văn hóa thể hiện rõ nét nhất hình ảnh của một đất nước NGVH có thể góp phần tăng cường an ninh quốc gia theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu một cách bền vững‖ [29]
Tạp chí ―Công tác ngoại giao‖ của Đại học Quan hệ quốc tế Matxcơva nêu định nghĩa: ―NGVH là lĩnh vực đặc biệt của hoạt động ngoại giao, liên quan đến sử dụng văn hóa như là đối tượng và phương tiện nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản của chính sách đối ngoại của quốc gia, tạo hình ảnh tốt đẹp của đất nước, quảng
bá văn hóa và ngôn ngữ quốc gia trên thế giới‖ [33, tr 123]
Theo tác giả Hoàng Vĩnh Thành, Nguyên Vụ trưởng, Chánh văn phòng Bộ Ngoại giao: ―NGVH có thể được xem như một trong ba trụ cột của ngoại giao, là công
cụ thực hiện các mục tiêu của chính sách đối ngoại nhất là các mục tiêu xây dựng hình ảnh quốc gia, tăng cường hiểu biết và quan hệ hữu nghị với bên ngoài, từ đó giúp nâng cao vai trò, vị thế và sức hấp dẫn của quốc gia, dân tộc và những sản phẩm của quốc gia đó trên trường quốc tế… NGVH cũng là cầu nối để quốc gia chủ thể tiếp thu văn hóa, văn minh quốc tế, làm giàu và bổ sung cho văn hóa dân tộc‖ [29]
- Nhấn mạnh đến cách thức, mục tiêu của NGVH, nhà ngoại giao P.S.Sahai, nguyên đại sứ Ấn Độ tại Malaysia, Nga và Thụy Điển khẳng định ―NGVH hàm ý việc sử dụng nghệ thuật ngoại giao trong việc quảng bá văn hóa – phương thức sinh hoạt của một nhóm người – với một nhóm khác, tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau… NGVH là một biện pháp gồm hai bước: Bước thứ nhất là xác lập sự hiện diện văn hóa và bước thứ hai là bảo đảm rằng một cá nhân, nhóm người hoặc dân tộc có thể hiểu và chia sẻ được sự hiện diện đó‖
Theo Emil Constantinescu, Chủ tịch Học viện NGVH, Viện NGVH, nguyên Tổng thống Rumani từ 1996-2000, ―NGVH là tổng thể các hoạt động được triển khai bằng và trên cơ sở trao đổi, giao lưu các giá trị, tư tưởng, truyền thống, phong tục, bản sắc và các loại hình khác của văn hóa, nhằm mục tiêu tăng cường mối quan
hệ, đẩy mạnh hợp tác văn hóa - xã hội hoặc thúc đẩy các lợi ích quốc gia; NGVH có thể được triển khai bởi khu vực nhà nước, khu vực tư nhân và xã hội dân sự‖
Trang 28Ở Việt Nam, theo nguyên Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Gia Khiêm, ―NGVH có thể hiểu là việc vận dụng văn hóa để làm tốt công tác ngoại giao và sử dụng ngoại giao để tôn vinh văn hóa‖ [11]
- Xem xét NGVH với tư cách là sự trao đổi qua lại hai chiều, NGVH được nhà nghiên cứu Milton Cummings định nghĩa là ―sự trao đổi quan điểm, thông tin, nghệ thuật và những khía cạnh khác của văn hóa giữa các quốc gia và nhân dân của những quốc gia đó nhằm thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau‖ [43] Cũng với quan điểm này, nhà nghiên cứu Zhulite Antonius Sarborosi, Đại học Georgetown, Mỹ cho rằng NGVH là ―sự đầu tư mang tính lâu dài được tiến hành nhằm thúc đẩy quan hệ giữa chúng ta với nhân dân các nước khác để thúc đẩy hiểu biết hai bên, để nhân dân các nước hiểu hơn về lợi ích và chính sách quốc gia của chúng ta‖ [29, tr 23]
Song NGVH cũng có thể chỉ là mối quan hệ một chiều khi nó là ―những nỗ lực của một chủ thể nhằm tác động tới môi trường quốc tế thông qua việc tận dụng những nguồn lực về văn hóa và những thành tựu được bên ngoài biết tới và/hoặc thúc đẩy phổ biến văn hóa ở nước ngoài‖ [44, tr 33] Điều này được thể hiện ở định nghĩa của tác giả Bành Tân Lương: ―Hàm nghĩa cụ thể của NGVH là hoạt động ngoại giao của quốc gia có chủ quyền, lấy việc duy trì lợi ích văn hóa của nước mình và thực thi chiến lược văn hóa đối ngoại quốc gia làm mục đích, dưới sự chỉ đạo của một chính sách văn hóa đối ngoại nhất định, triển khai dựa vào mọi thủ đoạn hòa bình bao gồm cả thủ đoạn văn hóa‖ [12, tr 79]
Đánh giá một cách tổng quát, những định nghĩa nêu trên đều gặp nhau ở một điểm: bản chất của NGVH là sự trao đổi về văn hóa giữa các dân tộc nhằm đạt được trước hết là sự hiểu biết lẫn nhau và tiếp sau đó là những mục đích chính trị khác Xét một cách tổng thế, luận văn lựa chọn sử dụng định nghĩa của Bộ Ngoại giao:
―NGVH là một hoạt động đối ngoại, được nhà nước tổ chức, ủng hộ hoặc bảo trợ Hoạt động này được triển khai trong một thời gian nhất định nhằm đạt được những mục tiêu chính trị, đối ngoại xác định, bằng các hình thức văn hóa như: nghệ thuật, lịch sử, tư tưởng, truyền thống, ẩm thực, phim, ấn phẩm, văn học‖ [2] Định nghĩa
Trang 29này về cơ bản cũng nhất quán với các định nghĩa đã nêu trên đồng thời đã nêu được
ba thành tố cơ bản, quan trọng nhất của NGVH, gồm: chủ thể của NGVH, phương thức NGVH, và mục tiêu của NGVH
1.1.2 Chủ thể, đối tượng, mục đích và phương thức của ngoại giao văn hóa
Chủ thể
Chủ thể là ―đối tượng gây ra hành động, trong quan hệ đối lập với đối tượng
bị sự chi phối của hành động‖ [37, tr 173] Chủ thể của NGVH là đối tượng chủ trì, tiến hành, tham gia vào các hoạt động NGVH
Căn cứ theo định nghĩa đã nêu trên, có thể thấy rằng chủ thể của NGVH là quốc gia có chủ quyển, nói cách khác, chủ thể của NGVH là nhà nước với tư cách là chủ thể hoạch định và triển khai các chính sách NGVH Đồng thời, NGVH với hình thức chủ yếu là giao lưu văn hóa, giáo dục, là những hoạt động cần sự tham gia của không chỉ các cơ quan quản lý mà cả các tầng lớp nhân dân Chính vì thế, chủ thể của NGVH ngoài nhà nước còn bao gồm nhiều thành phần khác như các cơ quan, ban, ngành có liên quan, các tổ chức xã hội và đông đảo quần chúng nhân dân Tuy nhiên, bản chất của hoạt động ngoại giao là quan hệ qua lại giữa quốc gia này với quốc gia khác nên dù chủ thể tham gia vào hoạt động NGVH là rất đa dạng song đều phải chịu sự chỉ đạo, chi phối của một chủ thể lớn là nhà nước
Đối tượng
Đối tượng là ―người, vật, hiện tượng mà con người nhằm vào trong suy nghĩ, hành động‖ [37, tr 328] Đối tượng của NGVH là những khách thể chịu sự tác động của các hoạt động NGVH
Hoạt động ngoại giao nói chung và NGVH nói riêng bao giờ cũng là những hoạt động qua lại giữa các quốc gia hoặc là hoạt động của quốc gia này tiến hành hướng tới một quốc gia khác Vì vậy chủ thể và đối tượng của NGVH luôn không cùng thuộc một quốc gia Đối tượng hướng tới của NGVH thường là chính phủ, tổ chức xã hội, nhân dân… của các quốc gia khác Nói cách khác là tất cả những cá nhân, tổ chức được hưởng lợi ích hoặc chịu sự tác động của các hoạt động NGVH
Trang 30đó, qua đó góp phần củng cố vị thế quốc tế của quốc gia tiến hành hoạt động NGVH Đổi lại, NGVH cũng có thể giúp một quốc gia hiểu rõ hơn về nước ngoài mà nó có liên hệ và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau
Phương thức
―Phương thức của NGVH gắn kết chặt chẽ với các hoạt động phổ quát, truyền
bá, quảng bá văn hóa, giá trị văn hóa của quốc gia (nước gửi đi) ra thế giới, có thể đến một hoặc nhiều nước khác (nước tiếp nhận)‖ [1, tr 38] nhằm duy trì lợi ích quốc gia trên phương diện văn hóa nói riêng và lợi ích quốc gia tổng thể nói chung
Giao lưu văn hoá đối ngoại do chính phủ đóng vai trò chủ đạo là phương thức truyền thống nhất, trong đó, giao lưu văn học, nghệ thuật là nội dung hạt nhân của giao lưu văn hoá đối ngoại Ngoài ra, các hoạt động hợp tác giáo dục, giao lưu khoa học và kỹ thuật, giao lưu lý luận học thuật, dạy ngôn ngữ, triển lãm… đều là nội dung chủ yếu của quan hệ văn hoá đối ngoại
Truyền bá văn hóa đối ngoại còn có thể tiến hành thông qua phương thức xuất khẩu sản phẩm văn hoá ra nước ngoài hoặc khuyến khích công dân nước mình
ở nước ngoài làm công tác tuyên truyền, truyền bá tôn giáo, tư tưởng và các giá trị
Trang 31văn hóa khác Phương thức này thiên về những tác động một chiều từ quốc gia tiến hành hướng đến một quốc gia khác chứ không phải là tác động qua lại như hoạt động giao lưu văn hóa
Báo chí hay truyền thông đại chúng nói chung cũng là một phương thức ngày càng phát huy được hiệu quả trong việc triển khai NGVH Xu thế này là kết quả tất yếu của những tiến bộ vượt bậc về khoa học kỹ thuật cũng như quá trình toàn cầu hóa đã và đang diễn ra rộng khắp trên thế giới [12]
1.1.3 Vai trò của ngoại giao văn hóa trong chính sách ngoại giao
Ngoại giao văn hóa là bộ phận, cũng là công cụ của chính sách đối ngoại Mọi hoạt động NGVH đều phục vụ cho các mục tiêu của chính sách đối ngoại của đất nước Ở mỗi quốc gia khác nhau, tùy thuộc trình độ phát triển và mục tiêu hướng tới mà NGVH có những vai trò khác nhau Có thể khái quát một số vai trò của NGVH như sau [1]:
Ngoại giao văn hóa góp phần củng cố và làm sâu sắc mối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia, đặc biệt là tăng cường hiểu biết, gia tăng sự gắn kết và củng cố lòng tin Sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau là cơ sở đầu tiên cho bất kỳ mối quan hệ nào
và NGVH là biện pháp hiệu quả nhất để xây dựng nền tảng đó Các hoạt động giao lưu văn hóa, thể thao, biểu diễn nghệ thuật, tổ chức ―tuần văn hóa‖, ―năm văn hóa‖, các chương trình trao đổi học sinh, sinh viên, gặp gỡ thanh niên… chính là những cơ hội để các quốc gia xích lại gần nhau, thu hẹp hoặc xóa nhòa những bất đồng, tạo môi trường hòa bình và động lực để thúc đẩy hợp tác cùng có lợi
Ngoại giao văn hóa góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Trong bối cảnh quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ cùng sự phát triển như
vũ bão của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đối với mỗi quốc gia không chỉ là yêu cầu cấp thiết, mà còn là sự đảm bảo cho tương lai của đất nước Vì vậy, đẩy mạnh NGVH, quảng bá các giá trị văn hóa ra thế giới chính là góp phần khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc trên trường quốc tế, qua đó khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc và ý thức bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống trong quần chúng nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ
Trang 32Ngoại giao văn hóa hỗ trợ cho ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế
Giữa NGVH, ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế luôn có mối quan hệ tác động qua lại, bổ trợ lẫn nhau Trong các sự kiện chính trị quốc tế lớn hay trong các chuyến thăm viếng ngoại giao chính thức luôn có một chương trình văn hóa, nghệ thuật do nước chủ nhà bố trí Những chi tiết NGVH là những điểm nhấn hết sức có
ý nghĩa, góp phần đáng kể vào thành công của các hoạt động ngoại giao chính trị Đối với ngoại giao kinh tế, NGVH có tác động trực tiếp nhất trong hỗ trợ thúc đẩy,
mở rộng thị trường xuất nhập khẩu các sản phẩm của công nghiệp văn hóa Ngoài ra, cũng thông qua các hoạt động NGVH, các nhà đầu tư, tập đoàn kinh tế sẽ nắm bắt được phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt… của quốc gia muốn đầu tư, từ đó hoạch định chiến lược kinh doanh, hợp tác phù hợp, hiệu quả
Ngoại giao văn hóa góp phần nâng cao và củng cố sức mạnh mềm của quốc gia Sức mạnh mềm của quốc gia chỉ phát huy được hiệu quả khi nó được truyền bá
ra thế giới bên ngoài NGVH với phương thức hoạt động cơ bản nhất là phổ quát, truyền bá các giá trị của quốc gia ra thế giới thông qua các hoạt động biểu diễn, giới thiệu, trưng bày, triển lãm hình ảnh đất nước, con người, các loại hình, các lĩnh vực văn hóa…, chính là góp phần đưa sức mạnh mềm quốc gia ra thế giới Nói cách khác, thông qua các hoạt động NGVH, các giá trị văn hóa sẽ trở thành nguồn lực làm nên sức mạnh của quốc gia trên trường quốc tế
Trong thời đại toàn cầu hóa, NGVH đang ngày càng khẳng định thế mạnh của mình bên cạnh các kênh ngoại giao truyền thống Với tư cách là một bộ phận của chính sách ngoại giao tổng thể, mục tiêu tổng quát nhất của NGVH là góp phần thực hiện các mục tiêu của chính sách đối ngoại Nhưng khác với ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế có thể tác động nhanh và mang lại kết quả trong một thời gian ngắn, NGVH lại cần một khoảng thời gian tương đối dài trước khi những ảnh hưởng của nó có thể tác động một cách sâu sắc, đầy đủ đến chính giới và người dân của quốc gia tiếp nhận Mặt khác, NGVH cũng là quá trình tương tác hai chiều, thông qua
đó, các quốc gia có thể tăng cường hiểu biết lẫn nhau, tìm ra những điểm chung có thể hợp tác, chia sẻ
Trang 331.2 Khái quát chính sách ngoại giao văn hóa Trung Quốc từ năm 2004 đến nay
Ngoại giao văn hóa của Trung Quốc có lịch sử lâu đời, các triều đình cổ đại đều khá coi trọng các mối quan hệ qua lại với các nước láng giềng thậm chí cả các nước phương Tây ở cuối thời kỳ phong kiến Sự trao đổi qua lại về văn hóa lúc này chủ yếu là kèm theo các hoạt động buôn bán thương mại Sau khi nước Trung Quốc mới thành lập, Chính phủ Trung Quốc hết sức coi trọng vai trò của giao lưu văn hóa trong quan hệ đối ngoại Đặc biệt từ sau cải cách mở cửa, hoạt động giao lưu văn hóa đối ngoại của Trung Quốc không ngừng phát triển cả chiều rộng và chiều sâu Hiện nay, ―NGVH đã trở thành một điểm tăng trưởng ngoại giao mới, một bộ phận quan trọng trong ngoại giao tổng thể của Trung Quốc, trở thành phương thức quan trọng để Trung Quốc tạo dựng môi trường thuận lợi bên ngoài, giới thiệu hình tượng quốc gia tốt đẹp, tăng cường sức mạnh mềm và sức mạnh tổng hợp quốc gia‖ [62]
1.2.1 Mục tiêu của chính sách ngoại giao văn hóa Trung Quốc
Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XVII (Hội nghị Trung ương 6 khóa XVII) đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề cải cách thể chế văn hóa, kiến tạo nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng xã hội khá giả toàn diện và sự nghiệp phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa Hội nghị này đã chỉ ra rằng, trong bối cảnh thế giới đang có nhiều biến động, ―vị trí và vai trò của văn hóa trong sức mạnh tổng hợp quốc gia ngày càng nổi bật, nhiệm vụ giữ gìn an ninh văn hóa quốc gia ngày càng khó khăn, vì thế, yêu cầu
về việc tăng cường sức mạnh mềm văn hóa quốc gia và mở rộng tầm ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa cũng được đặt ra vô cùng cấp bách‖ [70] Nội dung này tiếp tục được Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XVIII (Đại hội XVIII) nhấn mạnh, ―phải kiên trì theo phương hướng văn hóa tiên tiến xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy văn hóa xã hội chủ nghĩa phát triển phồn vinh, khơi dậy phong trào xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, nâng cao sức mạnh mềm văn hóa quốc gia, phát huy vai trò dẫn đầu, giáo dục nhân dân, phục vụ xã hội và thúc đẩy phát triển của văn hóa‖ [69]
Trang 34Trên cơ sở tinh thần chỉ đạo của Hội nghị Trung ương 6 khóa XVII và Đại hội XVIII, chính sách NGVH Trung Quốc được đề ra và thực hiện nhằm hướng tới các mục tiêu chiến lược sau:
Một là, thúc đẩy kinh tế - xã hội đất nước phát triển, hóa giải những ảnh
hưởng tiêu cực của các luận điệu mà nước ngoài áp đặt cho Trung Quốc bằng việc tuyên truyền tư tưởng văn hóa ―hòa vi quý‖ (和为贵) và ―hòa nhi bất đồng‖ (和而不同) (hòa nhập nhưng không hòa tan) cũng như quan điểm và nội hàm văn hóa phát triển hòa bình, thế giới hài hòa, đạt được những hiệu quả ngoại giao mà ―sức mạnh cứng‖ không thể đạt được, tạo dựng môi trường dư luận quốc tế thân thiện khách quan cho sự phát triển kinh tế xã hội của Trung Quốc
Hai là, tạo dựng hình tượng quốc gia văn minh, tiến bộ, hòa bình, hợp tác và
có trách nhiệm, nâng cao vị thế quốc tế của Trung Quốc
Ba là, tăng cường sức mạnh mềm quốc gia, bao gồm nâng cao sức mạnh
mềm văn hóa và sức hội tụ tinh thần dân tộc, phát huy văn hóa có vai trò quan trọng trong việc cải cách hệ thống quốc tế, nâng cao quyền phát ngôn quốc tế
Bốn là, bảo vệ an ninh văn hóa và chủ quyền quốc gia [62]
Có thể thấy rằng, Trung Quốc đã nhận thức rất rõ ràng về những thế mạnh và hạn chế của mình trên con đường vươn lên trở thành một nước lớn Thế mạnh của Trung Quốc chính là nền văn minh Trung Hoa xán lạn với các giá trị văn hóa truyền thống đắc sặc Song bên cạnh đó, với sự phát triển kinh tế quá nóng trong nhiều năm cùng thái độ cứng rắn của nước này trong các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ, Trung Quốc cũng đang tự làm xấu đi hình ảnh của mình trong mắt bạn bè quốc tế Chính bởi lẽ đó, Trung Quốc kỳ vọng bằng việc đẩy mạnh thực hiện chính sách NGVH sẽ giúp họ hóa giải những ảnh hưởng tiêu cực, xây dựng hình tượng một Trung Quốc vừa truyền thống vừa hiện đại, một nước lớn thân thiện và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, qua đó tăng cường sức mạnh mềm, đóng góp tích cực vào sức mạnh tổng hợp quốc gia trên con đường chinh phục những mục tiêu chiến lược của đất nước
Trang 351.2.2 Các chính sách ngoại giao văn hóa Trung Quốc từ năm 2004 đến nay
1.2.2.1 Thúc đẩy các hoạt động giao lưu văn hóa giữa các nước
Ngoại giao văn hóa ngay từ khái niệm đã chỉ ra rằng đó là sự trao đổi trên lĩnh vực văn hóa giữa các quốc gia Vì thế, một trong những phương thức chính để triển khai chính sách NGVH chính là thúc đẩy các hoạt động giao lưu văn hóa với nước ngoài
Quan hệ giao lưu văn hóa của Trung Quốc với các nước trên thế giới ngày càng được mở rộng, từ các nước láng giềng, các nước trong khu vực đến các quốc gia ở châu Âu, châu Mỹ, châu Phi hay các tổ chức văn hóa quốc tế Hiện nay, thông qua con đường chính thức, Bộ Văn hóa Trung Quốc đại diện cho Chính phủ Trung Quốc đã ký thỏa thuận hợp tác văn hóa với 148 quốc gia với gần 800 kế hoạch giao lưu văn hóa hàng năm, mỗi năm có hơn 2.000 dự án giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc với nước ngoài được Bộ Văn hóa Trung Quốc phê duyệt [80]
―Năm văn hóa‖ là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chiến lược
―hướng ra ngoài‖ (走出去) của văn hóa Trung Quốc Trong những năm đầu thế kỷ XXI, Trung Quốc đã tổ chức thành công nhiều ―năm văn hóa Trung Quốc‖ tại các nước như Nga, Pháp, Phần Lan, Mỹ, Ai Cập, Ấn Độ… Đây đều là những hoạt động có tầm ảnh hưởng sâu rộng và ý nghĩa to lớn trong việc truyền bá phong tục tập quán, tôn giáo, văn hóa của Trung Quốc đến với các quốc gia này ―Năm văn hóa Trung Quốc‖ được đánh giá là một trong những hoạt động quảng bá văn hóa hiệu quả nhất vì nó được tổ chức quy mô, diễn ra trong một thời gian dài với phạm
vi nội dung trải rộng, hình thức đa dạng, phong phú, tạo điều kiện cho người dân nước sở tại tiếp cận các giá trị Trung Hoa theo các lĩnh vực mà họ quan tâm như nghệ thuật dân gian, hội họa, nhiếp ảnh… Ở chiều ngược lại, Trung Quốc cũng kết hợp với các nước tổ chức các hoạt động giới thiệu văn hóa nước ngoài tại các thành phố lớn của mình như ―Hội tụ văn hóa châu Phi‖ tại Thâm Quyến năm 2008, ―Tuần văn hóa ASEAN‖ tại Trùng Khánh năm 2011, ―Tuần lễ văn hóa ẩm thực Việt Nam‖ tại Bắc Kinh năm 2016… Các hoạt động này một mặt tạo cơ hội để người dân Trung Quốc giao lưu, tìm hiểu văn hóa nước ngoài, mặt khác cũng góp phần giới thiệu với bạn bè quốc tế một Trung Quốc hiếu khách và giàu bản sắc
Trang 361.2.2.2 Tăng cường các hoạt động truyền thông
Để đạt được những mục tiêu trong công tác ngoại giao của mình, Chính phủ Trung Quốc đặc biệt chú trọng đến vai trò của truyền thông, nhất là truyền thông đối ngoại Lý Trường Xuân – Nguyên Ủy viên thường vụ Bộ chính trị Đảng Cộng sản
Trung Quốc đã khẳng định: “Trong thế giới hiện nay, ai là người có thủ đoạn truyền
thông sẽ đi trước, năng lực truyền thông sẽ ngày càng mạnh; ai giành được quyền ngôn luận quốc tế sẽ tạo ra được sức ảnh hưởng mạnh đối với quốc tế Như vậy, một quốc gia mà quyền ngôn luận yếu trên trường quốc tế thì sẽ khó bảo toàn hình tượng quốc gia của mình‖ [59] Với phương châm đó, dưới sự chỉ đạo của Đảng và Chính phủ Trung Quốc, truyền thông Trung Quốc đã phát huy tính ưu việt của mình, chống lại những luận điệu thiên lệch của truyền thông phương Tây khi đưa tin về Trung Quốc đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh, đất nước Trung Hoa với nền văn hóa đậm đà bản sắc, đem lại cho thế giới những nhận thức đa chiều về Trung Quốc, cải thiện và thúc đẩy mỗi quan hệ giữa Trung Quốc và các quốc gia trên thế giới
Tháng 6/2011, mạng truyền thông văn hóa do Bộ Văn hóa Trung Quốc chủ trì đã được triển khai nhằm mục đích tăng cường tuyên truyền, quảng bá về văn hóa Trung Quốc thông qua hệ thống mạng trực tuyến Ngày 01/7/2011, kênh truyền hình tiếng Anh của Tân Hoa xã – CNC World chính thức ra mắt, phát chương trình tới châu Á – Thái Bình Dương, châu Âu, Bắc Mỹ và châu Phi Đặc biệt ở châu Phi, bên cạnh các hoạt động đầu tư kinh tế, Trung Quốc cũng gia tăng mạnh mẽ các hoạt động truyền thông nhằm củng cố và mở rộng ảnh hưởng của mình tại châu lục này Tại châu Á, một số kênh truyền hình như Metro TV của Indonesia hay Channel News Asia của Singapore cũng đã xây dựng các bản tin phát hoàn toàn bằng tiếng Trung Quốc phổ thông, phủ sóng toàn khu vực
Bên cạnh việc mở rộng các kênh phát thanh, truyền hình quốc tế, Trung Quốc cũng chú trọng đến việc xây dựng các chương trình phát sóng bằng tiếng nước ngoài, hướng tới đối tượng khán thính giả là người ngoại quốc Năm 2009, Đài Phát thanh quốc tế Trung Quốc và Đài Phát thanh đối ngoại Quảng Tây đã phối hợp thành lập Đài Tiếng nói Vịnh Bắc Bộ (BBR), trực thuộc Đài Phát thanh nhân
Trang 37dân Quảng Tây, phát thanh bằng 05 thứ tiếng: tiếng Anh, tiếng Thái Lan, tiếng Việt Nam, tiếng Quảng Đông và tiếng phổ thông Trung Quốc với thời lượng 17 giờ/ngày Đồng thời, hiện nay, Đài Phát thanh quốc tế Trung Quốc (China Radio International) cũng đang tăng thời lượng phát sóng bằng tiếng Anh lên 24 giờ/ngày [81]
1.2.2.3 Thành lập các Học viện Khổng Tử và hợp tác giáo dục
Khổng Tử với tư tưởng Nho gia của ông luôn được xem là biểu trưng của nền văn hóa truyền thống Trung Quốc Bởi lẽ đó, những học viện mang tên Khổng Tử của Trung Quốc đã nhanh chóng lan rộng trên toàn thế giới, tạo ra một làn sóng học tiếng Trung và tìm hiểu văn hóa Trung Hoa Mô hình HVKT được Trung Quốc tham khảo từ Hội đồng Anh, Viện Goethe của Đức, Viện Cervanter của Tây Ban Nha Năm 2004, Bộ Giáo dục Trung Quốc công bố việc thành lập HVKT trong kế hoạch chấn hưng giáo dục 2003-2007 Cũng trong năm này, Trung Quốc chính thức thiết lập HVKT đầu tiên tại Seoul, Hàn Quốc
Mục đích chính của HVKT là phổ biến tiếng Trung, giữ gìn và bảo vệ vị thế quốc tế của tiếng Trung và truyền bá văn hóa Trung Hoa Hiện nay, chức năng của HVKT bao gồm các nội dung như dạy học tiếng Trung, đào tạo nâng cao chất lượng giáo viên dạy tiếng Trung, luyện thi tiếng Trung, tổ chức thi và cấp bằng Hán ngữ, tư vấn du học Trung Quốc, giới thiệu Trung Quốc đương đại, văn hóa Trung Hoa… Với những mục tiêu và chức năng như đã công bố là phổ biến tiếng Trung và quảng bá văn hóa Trung Hoa, Trung Quốc đã đẩy mạnh việc thành lập các HVKT tại nhiều quốc gia trên thế giới Tính đến 31/12/2016 đã có 511 HVKT và 1.074 lớp học Khổng Tử được lập ra tại 140 quốc gia và vùng lãnh thổ trên phạm vi toàn cầu [74]
Với số lượng đông đảo và quy mô rộng lớn, HVKT đã nhanh chóng tạo ra
―cơn sốt‖ học tiếng Trung và tìm hiểu văn hóa Trung Hoa trên khắp các châu lục Bản thân đất nước Trung Quốc với lịch sử 5.000 năm cùng nền văn hóa truyền thống độc đáo, xán lạn đã luôn là một kho tàng bí ẩn mà thế giới muốn tìm hiểu, khám phá Việc ra đời các HVKT như là chiếc cầu nối đưa văn hóa Hán đến gần hơn với các quốc gia đương nhiên sẽ được đón nhận và hưởng ứng Các hoạt động của HVKT, bên cạnh mục đích phổ biến văn hóa thuần túy còn đóng vai trò như
Trang 38một chính sách ngoại giao ―mềm dẻo‖, từng bước nâng cao tầm ảnh hưởng của Trung Quốc tại quốc gia chủ nhà Những tác động kiểu này giống như ―mưa dầm thấm lâu‖, tạo ra làn sóng không chỉ tìm hiểu về Trung Quốc, học tập Trung Quốc
mà còn nói như người Trung Quốc và thậm chí nghĩ như người Trung Quốc
Bên cạnh việc mở rộng hệ thống HVKT, Trung Quốc cũng tăng cường các hoạt động trao đổi giáo dục Theo báo cáo tại Hội nghị toàn quốc Trung Quốc về công tác lưu học sinh (tháng 12/2014), đến năm 2013, lưu học sinh Trung Quốc đã phân bố tại hơn 100 quốc gia trên toàn thế giới Hiện nay, có 41 quốc gia và vùng lãnh thổ đã ký kết hiệp ước với Trung Quốc về công nhận học vị của nhau, xuất xứ của lưu học sinh nước ngoài từ chỗ chỉ gồm 3 quốc gia Đông Âu trong những năm
1950 đến nay lên đến hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ Học sinh nước ngoài ở Trung Quốc thời kỳ đầu chỉ đến học ngôn ngữ, đến nay hầu hết các ngành đều có sinh viên nước ngoài [35] Lưu học sinh nước ngoại hấp thụ kiến thức và các giá trị văn hóa Trung Hoa cùng lưu học sinh Trung Quốc ở nước ngoài chính là lực lượng quan trọng trong việc truyền bá văn hóa Trung Hoa ra thế giới
1.2.2.4 Tăng cường xuất khẩu các sản phẩm văn hóa
Trong chiến lược NGVH của mình, bên cạnh việc thúc đẩy giao lưu văn hóa, truyền thông đối ngoại, thiết lập các tổ chức truyền bá văn hóa ở nước ngoài thì Trung Quốc cũng rất chú trọng đến việc đưa các sản phẩm văn hóa của nước mình
ra thế giới Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, so với các nước phát triển, nền công nghiệp văn hóa của Trung Quốc còn nhỏ bé, năng lực sáng tạo yếu Trên thị trường văn hóa thế giới, Mỹ, Liên minh châu Âu và Nhật Bản chiếm tỷ lệ lần lượt là 43%, 34% và 10% còn Trung Quốc chỉ chiếm 4%, thậm chí còn chưa bằng Hàn Quốc (5%) Xuất nhập khẩu các sản phẩm văn hóa của Trung Quốc đang ở vào tình trạng ―nhập siêu‖ Trong khi đó, thực tế đã cho thấy, sức cạnh tranh văn hóa giữa các quốc gia chính nằm ở sức cạnh tranh của công nghiệp văn hóa ―Sản phẩm văn hóa của nước nào chiếm lĩnh được thị trường thế giới đồng nghĩa với việc nước đó
có năng lực cạnh tranh cao‖ [31, tr 51] Nhận thức rõ điều này, Hội nghị trung ương 6 khóa XVII (tháng 10/2011) đã thông qua ―Nghị quyết một số vấn đề quan
Trang 39trọng về cải cách sâu sắc thể chế văn hóa thúc đẩy CNXH phát triển phồn vinh‖, đề
ra mục tiêu xây dựng cường quốc văn hóa, nhấn mạnh cần phải thúc đẩy văn hóa Trung Hoa tiến ra thế giới, trong đó dành sự ưu tiên hàng đầu cho sự phát triển công nghiệp văn hóa
Sự đột phá trong chủ trương phát triển văn hóa của Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngành công nghiệp văn hóa của Trung Quốc phát triển mạnh mẽ Các sản phẩm văn hóa Trung Quốc được xuất khẩu ra nước ngoài rất đa dạng, chủ yếu là các sản phẩm và dịch vụ văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc như các loại hình nghệ thuật dân gian, điện ảnh, âm nhạc, vũ đạo, xiếc… Năm 2015, Bộ Tài chính Trung Quốc đã phê duyệt ngân sách 5 tỷ RMB cho Quỹ Phát triển công nghiệp văn hoá, tổng hạng mục hỗ trợ gồm có 850 hạng mục, tăng 6,25% so với năm 2014 Đến nay, ngân sách của Quỹ đã lên tới 24,2 tỷ RMB,
hỗ trợ cho hơn 4.100 hạng mục văn hoá Sự hỗ trợ mạnh mẽ đối với các ngành công nghiệp trọng điểm, đặc biệt là các doanh nghiệp có tiềm lực cạnh tranh quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho công nghiệp văn hóa Trung Quốc xâm nhập thị trường văn hóa của các nước có nhu cầu tiêu dùng văn hóa cao‖ [16] Kết quả là ―từ một quốc gia chưa có tên trên bản đồ ngành công nghiệp văn hóa thế giới vào những năm 1990, bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, Trung Quốc đã đứng trong nhóm 5 quốc gia xuất khẩu văn hóa lớn nhất thế giới…
1.3 Lịch sử hình thành, vị trí, vai trò của Học viện Khổng Tử trong chính sách ngoại giao văn hóa của Trung Quốc
1.3.1 Lịch sử hình thành Học viện Khổng Tử
Học viện Khổng Tử đầu tiên được thành lập vào năm 2004 tại Seoul, Hàn Quốc Về nguồn gốc hay nói cách khác là ý tưởng sáng lập ra tổ chức này, đến nay vẫn còn nhiều ý kiến không thống nhất Trong khi một số quốc gia nhận định đây là chủ trương của Đảng Cộng sản Trung Quốc từ năm 2003 thì nhiều học giả Trung Quốc lại cho rằng việc thành lập một cơ quan quảng bá ngôn ngữ và văn hóa ở nước ngoài là ý tưởng của Bộ Giáo dục Trung Quốc và Văn phòng Tiểu tổ lãnh đạo công tác dạy Hán ngữ đối ngoại nhà nước (Hanban) từ năm 2002 Cũng về vấn đề này,
Trang 40nhà nghiên cứu người Đức Falk Hartig đã cung cấp một giả thiết cụ thể hơn, theo đó
ý tưởng hình thành HVKT xuất phát từ cựu đại sứ Trung Quốc tại Đức – Lỗ Thu Điền Lỗ Thu Điền trước khi làm Đại sứ Trung Quốc tại Đức (nhiệm kỳ 1997 – 2001) từng là Đại sứ tại Luxembourg và Romania Trong suốt cuộc đời làm ngoại giao của mình, ông có sự am hiểu sâu sắc về sự khác biệt văn hóa giữa phương Đông và phương Tây Ông nhận ra rằng thất bại trong việc tìm hiểu sự khác biệt luôn luôn dẫn đến những hiểu lầm không cần thiết Từ đó, ông đi đến kết luận rằng Trung Quốc cũng nên thành lập các trung tâm văn hóa ở nước ngoài như Viện Goethe của Đức hoặc Hội đồng Anh Ý tưởng này sau đó được Bộ Ngoại giao Trung Quốc chấp nhận và hiện thực hóa lần đầu tiên vào ngày 21/11/2004 bằng HVKT tại Seoul, Hàn Quốc [45]
Như vậy có thể thấy, dù có nhiều ý kiến không thống nhất về tác giả của ý tưởng thành lập HVKT song các mốc thời gian lại không có sự chênh lệch lớn và đều rất gần thời điểm thành lập HVKT đầu tiên Điều này cho thấy HVKT thực sự là một biện pháp, một hướng đi được Chính phủ Trung Quốc kỳ vọng trong việc quảng bá ngôn ngữ, hình ảnh quốc gia ra thế giới
Cách lựa chọn tên gọi cho tổ chức này cũng cho thấy sự khôn khéo của Chính phủ Trung Quốc trong việc hiện thực hóa tham vọng của mình Khổng Tử – người khai sáng ra học thuyết Nho gia – chính là biểu trưng của nền văn hóa Trung Hoa, và dù tồn tại sự khác biệt về văn hóa giữa các quốc gia thì Khổng Tử với những triết lý của ông vẫn luôn có sức ảnh hưởng rộng lớn trên phạm vi toàn thế giới Việc chọn tên Khổng Tử để đặt cho tổ chức quảng bá văn hóa của Trung Quốc xuất phát từ việc tham khảo các mô hình tổ chức văn hóa trên thế giới như Viện Goethe – Đức, Viện Cervanter – Tây Ban Nha , tức là dùng tên tuổi của danh nhân đặt cho các tổ chức văn hóa, song nó cũng cho thấy sự tính toán kỹ lưỡng bởi chưa cần bàn đến mục tiêu hay hoạt động của các HVKT thì bản thân cái tên Khổng Tử
đã có sức hấp dẫn đặc biệt, thu hút sự chú ý và quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới Bằng cách lựa chọn tên gọi như vậy, Trung Quốc đã giúp cho tổ chức văn hóa