Tuy nhiên, sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế đất nước, cùng với sự biến động phức tạp, mạnh mẽ của tình hình quốc tế, khu vực từ sau khi kết thúc thời kỳ Chiến tranh Lạnh đến nay, n
Trang 1Hà Nội - 2017
Trang 33
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3 Mục tiêu nghiên cứu 7
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Đối tượng nghiên cứu 8
6 Phạm vi nghiên cứu 8
7 Phương pháp nghiên cứu 8
8 Đóng góp của đề tài và hướng ứng dụng, sử dụng kết quả nghiên cứu8 9 Cấu trúc của đề tài 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐIỀU CHỈNH CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ CỦA NHẬT BẢN 10
1.1 Khái niệm về chiến lược quân sự và quan điểm về điều chỉnh chiến lược quân sự 10
1.1.1 Khái niệm về chiến lược quân sự : 10
1.1.2 Quan điểm về điều chỉnh chiến lược quân sự 13
1.2 Khái quát về chiến lược quân sự của Nhật Bản từ năm 1945 đến năm 1991 15
1.2.1 Giai đoạn 1945 - 1956 15
1.2.2 Giai đoạn 1957 - 1976 17
1.2.3 Giai đoạn 1977 - 1991 21
1.3 Bối cảnh điều chỉnh chiến lược quân sự của Nhật Bản 23
1.3.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực 23
Trang 44
1.3.2 Bối cảnh trong nước 34
CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐIỀU CHỈNH CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ CỦA NHẬT BẢN 42
2.1 Chủ trương, mục tiêu chiến lược quân sự mới của Nhật Bản 42
2.1.1 Chủ trương 42
2.1.2 Mục tiêu 42
2.2 Một số điều chỉnh chiến lược quân sự của Nhật Bản 43
2.2.1 Xây dựng cơ sở pháp lý 43
2.2.2 Thay đổi hướng phòng thủ và thế bố trí chiến lược 53
2.2.3 Tăng ngân sách quốc phòng và hiện đại hoá LLPV 56
2.2.4 Nới lỏng quy định cấm xuất khẩu vũ khí 66
2.2.5 Thắt chặt quan hệ đồng minh Nhật - Mỹ 69
CHƯƠNG 3 DỰ BÁO, TÁC ĐỘNG TỪ SỰ ĐIỀU CHỈNH CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ CỦA NHẬT BẢN VÀ GIẢI PHÁP CỦA VIỆT NAM 78
3.1 Dự báo điều chỉnh chiến lược quân sự của Nhật Bản 78
3.3.1 Nhật Bản thực hiện mục tiêu điều chỉnh chiến lược quân sự với nhiều thuận lợi nhưng cũng gắn với không ít khó khăn 78
3.3.2 Nhật Bản sẽ đạt được những kết quả đáng kể trong điều chỉnh chiến lược quân sự của mình 82
3.2 Tác động từ sự điều chỉnh chiến lược quân sự của Nhật Bản 85
3.2.1 Tác động đến khu vực 85
3.2.2 Tác động đến Việt Nam 93
3.3 Một số giải pháp của Việt Nam 98
KẾT LUẬN 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 55
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
CA - TBD Châu Á - Thái Bình Dương
Trang 66
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, Nhật Bản là quốc gia bại trận, bị buộc phải từ bỏ quyền phát triển các tiềm lực quân sự Trong suốt thời kỳ
Chiến tranh Lạnh, Nhật Bản thực hiện chính sách quốc phòng theo “Hiến
pháp Hòa bình 1946” do Mỹ áp đặt, với quy định phải từ bỏ quyền xây dựng
quân đội và không được sử dụng vũ lực giải quyết các tranh chấp quốc tế, chỉ được xây dựng LLPV với chức năng phòng thủ đất nước và bảo đảm ổn định
xã hội, việc đảm bảo an ninh chủ yếu dựa vào Mỹ và LHQ Tuy nhiên, sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế đất nước, cùng với sự biến động phức tạp, mạnh mẽ của tình hình quốc tế, khu vực từ sau khi kết thúc thời kỳ Chiến tranh Lạnh đến nay, nhất là sự sụp đổ của hệ thống các nước XHCN ở Đông
Âu, đặc biệt là Liên Xô; sự gia tăng và suy giảm sức mạnh của Mỹ; sự trỗi
dậy của Trung Quốc với mục tiêu trở thành “cường quốc thế giới” và đặc biệt
là tham vọng mở rộng lãnh thổ của nước này… không chỉ tác động mạnh mẽ tới yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh, mà còn thôi thúc mạnh mẽ nhu cầu
phát triển trở thành “cường quốc toàn diện” của Nhật Bản Để thực hiện mục
tiêu đó, những năm vừa qua, Nhật Bản không ngừng thúc đẩy điều chỉnh CLQS theo hướng xây dựng một quân đội quốc gia hùng mạnh với đầy đủ các chức năng như quân đội của các cường quốc khác trên thế giới
Là nước lớn và có tiềm lực mạnh, nên sự điều chỉnh CLQS của Nhật Bản
đã tác động không nhỏ tới môi trường an ninh của khu vực nói riêng và hệ thống quan hệ quốc tế của khu vực nói chung, trong đó có Việt Nam Nhật Bản và Việt Nam là đối tác chiến lược của nhau, Việt Nam là một đối tác quan trọng trong chiến lược quốc gia tổng thể, nhất là trong chiến lược đối với khu vực Đông Á của Nhật Bản Quan hệ hợp tác Việt - Nhật trong những năm qua không ngừng phát triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực Trong bối cảnh
Trang 77
các nước lớn ngày càng coi trọng khu vực CA - TBD, trong đó Đông Nam Á
là một trọng điểm, nhất là trong bối cảnh quan hệ Nhật - Trung còn tồn tại một loạt mâu thuẫn, bất đồng khó giải quyết, quan hệ Việt - Trung, Việt - Mỹ
có những điểm tồn tại nhạy cảm, việc Nhật Bản điều chỉnh CLQS nhằm trở thành một cường quốc toàn diện sẽ tác động trực tiếp, không nhỏ cả tích cực
và tiêu cực đối với khu vực và Việt Nam trên nhiều lĩnh vực Vì vậy, nắm chắc những động thái điều chỉnh CLQS của Nhật Bản có ý nghĩa hết sức quan trọng, để Việt Nam có giải pháp ứng xử phù hợp trong quan hệ với Nhật Bản, nhằm thu được lợi ích lớn nhất, hạn chế những ảnh hưởng bất lợi từ sự điều chỉnh này của Nhật Bản
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ đầu những năm 1990 trở lại đây, sự điều chỉnh CLQS của Nhật Bản
là vấn đề được các nhà khoa học, dư luận hết sức quan tâm theo dõi, nghiên cứu Mặc dù giới nghiên cứu trong ngoài nước đã có nhiều chuyên đề, bài viết
về vấn đề này, nhưng chưa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện, cụ thể và có hệ thống liên quan đến việc Nhật Bản điều chỉnh CLQS Vì
vậy, nghiên cứu đề tài “Điều chỉnh CLQS của Nhật Bản từ năm 1992 đến
nay” để đánh giá một cách toàn diện và dự báo chính xác CLQS của Nhật Bản
trong những thập kỷ tới là vấn đề có ý nghĩa hết sức cấp thiết và thực tiễn cao, góp phần thiết thực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
3 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu, làm rõ sự điều chỉnh CLQS của Nhật Bản, những tác động của nó đối với an ninh khu vực, Việt Nam trong những năm tới Trên cơ sở đó
đề xuất một số đối sách của Việt Nam nhằm tận dụng các tác động tích cực, hạn chế các tác động tiêu cực từ sự điều chính này của Nhật Bản
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 88
- Nghiên cứu CLQS của Nhật Bản giai đoạn 1945 - 1991 và những nhân
tố tác động đến sự điều chỉnh CLQS của Nhật Bản từ năm 1992 đến nay
- Nghiên cứu sự điều chỉnh CLQS của Nhật Bản từ năm 1992 đến nay, những tác động đối với khu vực, Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp của Việt Nam để tăng cường lợi ích và hạn chế tác động tiêu cực từ sự điều chỉnh CLQS của Nhật Bản trong những năm tới
5 Đối tượng nghiên cứu
Chiến lược quân sự của Nhật Bản, tác động của nó đối với khu vực, Việt Nam và giải pháp của Việt Nam
6 Phạm vi nghiên cứu
Chiến lược quân sự của Nhật Bản từ năm 1945 đến nay
7 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng các phương pháp lịch sử - logic, phân tích - tổng hợp, so sánh - đối chiếu, hệ thống - cấu trúc, tác động - dự báo
8 Đóng góp của đề tài và hướng ứng dụng, sử dụng kết quả nghiên cứu
- Đánh giá chủ trương, mục tiêu, biện pháp, tác động của việc Nhật Bản điều chỉnh CLQS những năm qua làm cơ sở đề xuất các giải pháp để Đảng, Nhà nước, Quân đội có những giải pháp ứng xử phù hợp, tận dụng tốt những tác động tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực từ sự điều chỉnh CLQS của Nhật Bản, phục vụ thiết thực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
mà trực tiếp là góp phần thực hiện Nghi quyết số 28 của Ban Chấp hành
Trung ương khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”
- Làm tài liệu phục vụ nghiên cứu tham khảo cho các cơ quan, đơn vị, nhất là cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học
9 Cấu trúc của đề tài
Trang 9Chương 2 Những điều chỉnh CLQS của Nhật Bản
Chương 3 Dự báo, tác động từ sự điều chỉnh CLQS của Nhật Bản đối với khu vực và Việt Nam
Trang 1010
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA VIỆC ĐIỀU CHỈNH CHIẾN
LƯỢC QUÂN SỰ CỦA NHẬT BẢN 1.1 Khái niệm về chiến lược quân sự và quan điểm về điều chỉnh chiến lược quân sự
1.1.1 Khái niệm về Chiến lược quân sự :
Trong quá khứ cũng như hiện tại, ở cả phương Đông cũng như phương Tây có rất nhiều quan niệm và tư tưởng khác nhau về CLQS Tuy nhiên, do ở phương Đông, điển hình là Trung Quốc, các tư tưởng quân sự hoặc là không được tổng kết một cách hệ thống, hoặc mang nhiều đặc điểm của chính trị, vì vậy, khái niệm CLQS chủ yếu được hình thành và phát triển ở phương Tây
Thuật ngữ “Chiến lược quân sự (Military Strategy)” có nguồn gốc từ
thời kỳ Hy Lạp Trong giai đoạn chiếm hữu nô lệ, nhiệm vụ của CLQS thường chỉ là chuẩn bị quân lính, tổ chức các cuộc hành quân, xác định phương pháp thực hành các trận hội chiến quyết định cục diện của chiến tranh Giai đoạn phong kiến, do các nhà nước phong kiến ở Tây Âu thường xuyên tiến hành các cuộc chiến tranh giữa các phe phái, nên nghệ thuật quân
sự nói chung và CLQS nói riêng không phát triển Từ thế kỷ XIX, việc xây dựng đường sắt, phát minh ra điện thoại và điện báo, thay thế các hạm đội thuyền buồm bằng hạm đội tàu hơi nước, trang bị cho quân đội các hỏa khí nòng rãnh xoắn đã làm tăng nhanh nhịp độ tập trung chiến lược, di chuyển nhanh các đội quân đông người, dẫn đến mở rộng quy mô tác chiến chiến lược, nâng cao vai trò của lực lượng dự bị và các thiết bị công trình trong giải quyết các nhiệm vụ chiến lược Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, tính chất chiến tranh và phương thức tiến hành chiến tranh có sự thay đổi lớn Việc huy động tiềm lực mọi mặt của đất nước đã ảnh hưởng quyết định đối với sự phát triển của CLQS Chiến tranh Thế giới lần thứ Nhất (1914 - 1918) và Chiến
Trang 1111
tranh Thế giới lần thứ II (1939 - 1945) là những mốc lớn của sự phát triển lực lượng quân sự quy mô lớn và đấu tranh vũ trang cường độ cao, đòi hỏi CLQS giải quyết nhiều vấn đề mới: Tổ chức và chỉ huy những đội quân đông người,
sự xuất hiện của các đơn vị quân đội lớn như tập đoàn quân, phương diện quân xuất hiện, hoạt động quân sự diễn ra trên các chiến trường bao gồm nhiều lục địa và đại dương CLQS đã giải quyết thành công nhiều vấn đề của chiến tranh lớn: xây dựng và huy động sức mạnh của hậu phương phục vụ chiến tranh, cơ động lực lượng chiến lược trên các chiến trường, xây dựng và
sử dụng các lực lượng dự bị chiến lược, tạo bất ngờ chiến lược và đối phó với tiến công bất ngờ của kẻ xâm lược, kết hợp hoạt động tác chiến của quân đội chính quy với tác chiến của quân du kích ở vùng đối phương tạm chiếm, việc chỉ đạo chiến lược các lực lượng vũ trang nhiều triệu người tác chiến trên các mặt trận rộng lớn Thời kì sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, trang bị kỹ thuật quân sự phát triển vượt bậc Vũ khí tên lửa hạt nhân ra đời, các loại vũ khí, kĩ thuật khác được cải tiến làm cho sức mạnh chiến đấu của lực lượng
vũ trang tăng lên vượt bậc, dẫn đến những thay đổi căn bản trong quan niệm
về tính chất của chiến tranh, về các phương thức tiến hành chiến tranh và hoạt động tác chiến CLQS nhiều nước đã định hướng phát triển trên cơ sở quan niệm tiến hành chiến tranh hạt nhân, đồng thời thừa nhận khả năng tiến hành chiến tranh chỉ bằng vũ khí thông thường; quan niệm rằng, chiến tranh tương lai sẽ là chiến tranh lớn gồm nhiều nước tham gia, mà nội dung chiến lược của nó là cả một hệ thống phức tạp các chiến dịch, chiến dịch chiến lược diễn
ra đồng thời và kế tiếp nhau trên nhiều lục địa và đại dương với lực lượng vũ trang nhiều triệu người tham gia; đồng thời vẫn có khả năng xảy ra các cuộc chiến tranh cục bộ hạn chế cả về mục đích chính trị, quân sự, cả tính chất và quy mô đấu tranh vũ trang
Nhìn chung, theo quan niệm của phương Tây, CLQS là “tập hợp những
Trang 1212
quan điểm, tư tưởng, kế hoạch của các tổ chức quân sự nhằm theo đuổi những mục tiêu chiến lược” CLQS có quan hệ mật thiết với việc lập kế hoạch
và quản lý chiến dịch, sự điều động, bố trí và sắp xếp các lực lượng cũng như
âm mưu của kẻ địch Cha đẻ của việc nghiên cứu chiến lược của phương Tây
Carl von Clausewitz định nghĩa CLQS là “việc của các trận chiến nhằm kết
thúc chiến tranh” Nhà sử học quân sự người Anh B.H Liddell Hart trong
khi ít nhấn mạnh hơn tới các trận chiến đã định nghĩa, CLQS là “nghệ thuật
của sự phân phối và sử dụng các tiềm lực quân sự nhằm hoàn thành chính sách”
Theo Từ điển Thuật ngữ Quân sự Việt Nam, CLQS được định nghĩa là:
“Lý luận và thực tiễn chuẩn bị đất nước, lực lượng vũ trang nhằm ngăn ngừa
và sẵn sàng tiến hành chiến tranh (xung đột) thắng lợi; bộ phận hợp thành (quan trọng nhất), có tác dụng chủ đạo trong nghệ thuật quân sự Về lý luận, CLQS nghiên cứu tính chất, quy luật của chiến tranh, phương thức tiến hành chiến tranh; nghiên cứu cơ sở lý luận chuẩn bị, tiến hành chiến tranh và tác chiến chiến lược Về thực tiễn, CLQS xác định mục tiêu nhiệm vụ chiến lược, xác định và tiến hành các biện pháp chuẩn bị chuyển đất nước, lực lượng vũ trang sang thời chiến, chiến trường, kinh tế và nhân dân cho chiến tranh; lập
kế hoạch hoạt động tác chiến chiến lược; tổ chức xây dựng, triển khai, chỉ đạo lực lượng vũ trang trong quá trình chiến tranh; nghiên cứu khả năng tiến hành chiến tranh và tác chiến chiến lược của đối phương”
Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, CLQS là “Tổng thể phương
châm, chính sách và mưu lược được hoạch định nhằm ngăn ngừa và sẵn sàng tiến hành chiến tranh (xung đột) thắng lợi; bộ phận hợp thành (quan trọng nhất), có tác dụng chủ đạo trong nghệ thuật quân sự” với những nội hàm giống
như được nói ở trên CLQS xuất phát từ đường lối chính trị, đường lối quân sự
và có tác động trở lại các đường lối đó CLQS liên hệ chặt chẽ với kinh tế, phụ
Trang 1313
thuộc vào trình độ phát triển sản xuất, khoa học và công nghệ, khả năng bảo đảm vật chất kĩ thuật cho lực lượng vũ trang và toàn bộ xã hội trong chiến tranh, đồng thời CLQS có ảnh hưởng trở lại đối với nền kinh tế Những kết luận của CLQS về tính chất chiến tranh, về những yêu cầu của chiến tranh được xem xét khi lập các kế hoạch phát triển kinh tế quốc phòng - an ninh của đất nước CLQS chỉ đạo nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật, đồng thời dựa vào những nguyên lí của nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật để xem xét các vấn đề chiến lược Trong quá trình đấu tranh vũ trang CLQS tính toán và sử dụng các khả năng chiến đấu của bộ đội, các kết quả tác chiến chiến dịch và chiến đấu để giải quyết các nhiệm vụ chiến lược
Như vậy, tựu trung lại, nếu hiểu theo nghĩa rộng, CLQS là bộ phận chủ đạo của nghệ thuật quân sự, nghiên cứu các quy luật, phương pháp chuẩn bị
và tiến hành các hoạt động quân sự có tính chất toàn cục trong chiến tranh và trong khởi nghĩa Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, đó là những phương châm và biện pháp quân sự có tính chất toàn cục, được vận dụng trong suốt quá trình xây dựng tiềm lực và tiến hành các cuộc chiến tranh nhằm thực hiện mục đích quân sự, chính trị, kinh tế nhất định Hiểu theo nghĩa này, CLQS có thể chia thành chiến lược phòng thủ và chiến lược tấn công
1.1.2 Quan điểm của Nhật Bản về điều chỉnh chiến lược quân sự
Về mặt pháp lý, Nhật Bản là nước bại trận trong Chiến tranh Thế giới lần thứ II, bị cấm phát triển các tiềm lực quân sự cũng như phát động chiến tranh Do đó, quan niệm về sự điều chỉnh CLQS của Nhật Bản có những đặc điểm riêng, khác biệt nhiều so với sự điều chỉnh CLQS của Mỹ, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ cũng như hầu hết các quốc gia khác Trên cơ sở lập luận trên, có
thể quan niệm “sự điều chỉnh CLQS của Nhật Bản là sự điều chỉnh về chủ
trương, chính sách, biện pháp nhằm từng bước nâng cao sức mạnh quân sự, xây dựng LLPV Nhật Bản trở thành quân đội có vai trò, chức năng như quân
Trang 1414
đội của các quốc gia khác, phục vụ mục tiêu đưa Nhật Bản trở thành cường quốc toàn diện” Quan điểm trên chỉ rõ:
Mục tiêu điều chỉnh CLQS: Nâng cao vai trò, vị thế của LLPV Nhật Bản;
khôi phục các quyền “cơ bản” của Nhật Bản, chuyển từ “chiến lược phòng
thủ bị động” sang “chiến lược phòng thủ chủ động”, hướng tới xây dựng
“chiến lược tấn công”, trong đó, Nhật Bản có quyền tham gia hoặc phát động
chiến tranh Về chính trị, điều chỉnh CLQS nhằm đưa Nhật Bản trở thành một
“quốc gia bình thường”, xa hơn là trở thành một cường quốc toàn diện ở khu
vực cũng như trên thế giới
Chủ thể thực hiện điều chỉnh CLQS: Chính phủ Nhật Bản lãnh đạo, quản
lý, các cơ quan như Hội đồng An ninh Quốc gia, Bộ Quốc phòng Nhật Bản cụ thể hóa và tổ chức thực hiện
Về đối tượng điều chỉnh CLQS: Chủ trương, chính sách quân sự, nguyên
tắc và phương châm chỉ đạo, tổ chức lực lượng, phương pháp và đối tượng tác chiến, ngân sách quốc phòng… Bên cạnh đó, do chính sách quốc phòng - an ninh nói chung và chính sách quân sự nói riêng của Nhật Bản có sự gắn bó chặt chẽ với quan hệ đồng minh Nhật - Mỹ Vì vậy, quan hệ đồng minh Nhật -
Mỹ cũng là một đối tượng trong quá trình điều chỉnh CLQS của Nhật Bản
Phạm vi điều chỉnh CLQS: Được tiến hành cả ở cấp độ vĩ mô cũng như
vi mô, ở cả cấp hoạch định chính sách cũng như cấp thực hiện và ở cả 3 quân chủng Hải - Lục - Không quân
Nội dung điều chỉnh CLQS: Tạo dựng cơ sở pháp lý cho việc phát triển
sức mạnh và mở rộng hoạt động của LLPV thông qua việc điều chỉnh hành lang pháp lý (sửa đổi Hiến pháp và thông qua các đạo luật); nâng cao sức mạnh của LLPV thông qua các biện pháp như tăng ngân sách quốc phòng, hiện đại hóa vũ khí trang bị, điều chỉnh cơ cấu tổ chức và biên chế lực lượng,
xây dựng LLPV theo hướng hiện đại hóa…; mở rộng phạm vi hoạt động của
Trang 1515
LLPV ra ngoài lãnh thổ và đẩy mạnh quan hệ hợp tác quân sự với các nước; định vị lại quan hệ liên minh Nhật - Mỹ; điều chỉnh phạm vi phòng vệ và đối tượng tác chiến
Phương pháp điều chỉnh CLQS: Tiến hành dần dần, từng bước Tuy
nhiên, căn cứ vào nhiều yếu tố như: Ưu tiên chính sách của Chính phủ cầm quyền, tình hình trong nước, môi trường quốc tế xung quanh, quan hệ đồng minh Nhật - Mỹ… quá trình điều chỉnh CLQS của Nhật Bản được tiến hành nhanh hay chậm tùy thuộc vào khách quan và chủ quan trong mỗi giai đoạn
Từ ngày 30/8/1945 bắt đầu thời kỳ chiếm đóng của Mỹ trên đất Nhật Bản Trong thời gian chiếm đóng, Mỹ đã nhanh chóng triệt thoái hệ thống điều hành chiến tranh, đồng thời hạn chế Nhật Bản phát triển quân sự
Tuy chế độ quân chủ của Nhật Bản được giữ lại, nhưng Thiên hoàng mất tất cả quyền lực về chính trị, quân sự và chỉ là biểu tượng của quốc gia Chính quyền Nhật Bản sau chiến tranh phải thừa nhận một hiến pháp do Mỹ áp đặt
với tên gọi “Hiến pháp Hoà bình 1946” Điều 9 của bản Hiến pháp này quy định: “Thành thật mong muốn có một nền hòa bình quốc tế dựa trên sự công
bằng và trật tự, nhân dân Nhật Bản không thừa nhận chiến tranh là một quyền tối cao của quốc gia và việc đe dọa hoặc sử dụng sức mạnh để giải quyết các tranh chấp quốc tế” “Để đạt được mục đích nêu trên, sẽ không bao giờ duy trì các lực lượng Bộ binh, Hải quân, Không quân và các tiềm lực chiến tranh
Trang 1616
khác Quyền tham chiến của Nhà nước sẽ không được công nhận”1
Như vậy, bản Hiến pháp đã quy định Nhật Bản phải từ bỏ quyền xây dựng quân đội và không được sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế, chỉ có LLPV với chức năng phòng thủ đất nước và bảo đảm sự ổn định xã hội, việc đảm bảo an ninh chủ yếu dựa vào Mỹ
Đây là giai đoạn chưa có các kế hoạch dài hạn và quy mô phát triển, vì sự hạn chế của Hiến pháp cũng như sự phản đối của dư luận quốc tế và khả năng của nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh Quốc phòng của Nhật Bản giai đoạn này chủ yếu là khẩn trương xây dựng một lực lượng để tạm đối phó với tình hình trong nước Việc biên chế, trang bị của các đơn vị vũ trang Nhật Bản đều
do Mỹ chi phối
Thắng lợi của Cách mạng Trung Quốc (1949) đã tăng cường hệ thống xã hội chủ nghĩa và giáng một đòn nặng nề vào chiến lược toàn cầu của Mỹ, buộc Mỹ phải tính toán sắp xếp lại đồng minh ở khu vực Đông Á, đặc biệt là Đông Bắc Á Một mặt Mỹ tìm cách cô lập Trung Quốc, mặt khác gấp rút phục hồi kinh tế cho Nhật Bản, biến Nhật Bản thành đồng minh chủ yếu ở khu vực
này Được Mỹ “bật đèn xanh”, Nhật Bản từng bước xây dựng lực lượng vũ
trang
Năm 1950, Nhật Bản thành lập Lực lượng Dự bị Cảnh sát Quốc gia khoảng 75.000 người, với nhiệm vụ duy trì an ninh trật tự, đặt dưới quyền kiểm soát của các quan chức dân sự
Năm 1952, Nhật Bản tiếp tục thành lập Lực lượng Bảo vệ Hàng hải khoảng 8.000 người thuộc Cục An toàn Hàng hải Cũng trong năm 1952, Lực lượng Dự bị Cảnh sát Quốc gia và Lực lượng Bảo vệ Hàng hải được điều chuyển sang Cục An toàn Quốc gia
1 Nội dung của Điều 9, Chương 2 hiến pháp Nhật Bản là gì mà luôn gây ra tranh cãi như thế? webslie: http://www.vysajp.org/news/hi%E1%BA%BFn-phap-nh%E1%BA%ADt-b%E1%BA%A3n/
Trang 1717
Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, thúc đẩy sự ra đời sớm của lực lượng vũ trang Nhật Bản Mỹ quyết định sớm cho Nhật xây dựng lại lực lượng vũ trang, mặc dù Điều 9 của Hiến pháp Nhật Bản do chính Mỹ biên soạn đã cấm Nhật Bản có lực lượng vũ trang và cấm quyền gây hấn
Ngày 01/7/1954, Nhật Bản thành lập Cục Phòng vệ và xây dựng LLPV
(Self-Defense Force), hình thành và phát triển ba quân chủng Lục quân, Không quân, Hải quân với chức năng phòng thủ, chống xâm lược, bảo đảm an ninh trật tự xã hội, hoạt động trong lãnh thổ Nhật Bản
1.2.2 Giai đoạn 1957 - 1976
Nhật Bản thực hiện chủ trương dựa vào Mỹ và LHQ là chính trong bảo đảm quốc phòng, an ninh Để đáp ứng yêu cầu phối hợp với Mỹ, Nhật Bản bắt đầu quá trình xây dựng quân đội theo kế hoạch và từng bước hiện đại nhưng chỉ giữ vai trò hạn chế, đặt dưới sự chi phối, chỉ đạo của Mỹ
Thực hiện chủ trương trên, Nhật Bản từng bước phát triển về cơ cấu tổ chức, biên chế của LLPV, đẩy mạnh công tác huấn luyện chiến đấu, đảm bảo hậu cần, thông tin… phù hợp với tính chất của quân đội hiện đại dựa trên cơ
sở của một nền kinh tế phát triển cao
Thời gian đầu (1957 - 1965), khi mâu thuẫn Trung - Xô chưa nảy sinh, Nhật Bản xác định đối tượng tác chiến gồm cả Liên Xô và Trung Quốc Nhật Bản cho rằng, không thể coi nhẹ đối tượng nào, vì Liên Xô là lực lượng mạnh nhất và Trung Quốc là đối tượng của Mỹ ở nhiều nơi tại châu Á như Triều Tiên, Việt Nam Từ khi mâu thuẫn Trung - Xô bùng nổ và phát triển gay gắt (1969), đối tượng tác chiến của LLPV Nhật Bản có sự thay đổi Sau khi Nixon thực hiện ý đồ lôi kéo Trung Quốc và Trung Quốc bộc lộ khá rõ chủ trương ngả theo Mỹ để chống Liên Xô, tuy vẫn cảnh giác, nhưng Nhật Bản không còn xác định Trung Quốc là đối tượng tác chiến trực tiếp nữa, mà theo
Mỹ chĩa mũi nhọn vào Liên Xô, nhưng vì sự gần gũi về địa lý, nên có sắc thái
Trang 18Các kế hoạch quốc phòng của Nhật Bản giai đoạn này từng bước đặt cơ
sở cho sự phát triển của 3 quân chủng theo mô hình của quân đội và hiện đại hóa không ngừng, trong đó, nhấn mạnh phát triển lực lượng phòng không và chống ngầm Ngân sách quân sự có sự khống chế, nhưng liên tục tăng theo sự phát triển của kinh tế, khả năng tự trang tự chế ngày càng cao, đầu tư nghiên cứu phát triển binh khí kỹ thuật mới ngày càng được chú trọng, biên chế tổ chức hàng năm đều được mở rộng, trang bị hiện đại hơn Cụ thể:
Kế hoạch quốc phòng 1957 - 1961: Được coi là kế hoạch quốc phòng lần
thứ nhất, thời gian tính từ ngày 01/4/1957 - 31/3/1962 Đây là kế hoạch tập trung xây dựng lực lượng Lục quân để đảm bảo cho Quân đội Mỹ rút bớt khỏi Nhật Đồng thời, kế hoạch này còn từng bước hình thành về cơ cấu các quân chủng Không quân và Hải quân
Mục tiêu của kế hoạch này là chỉnh đốn lực lượng vũ trang, nâng quân
số lên 242.000 quân, chuyển từ thực nghiệm sản xuất vũ khí sang sản xuất thực sự, đẩy mạnh sản xuất quân trang và thiết bị quân sự Ngân sách chi cho
kế hoạch này là 453 tỉ yên (1,8 tỉ USD)
Kết quả thực hiện kế hoạch này, LLPV Nhật Bản đã phát triển lực lượng Lục quân lên tới 170.000 người, biên chế thành 06 sư đoàn bộ binh và 04 lữ đoàn hỗn hợp; Hải quân đạt 112.000 tấn tàu (02 tàu ngầm, 57 tàu khu trục và
Trang 1919
hộ vệ), tổ chức thành 03 cụm tàu nổi, 01 cụm tàu quét mìn,0 9 liên đội máy bay chống ngầm; Không quân tổ chức thành 12 liên đội máy bay chiến đấu,
02 liên đội không quân vận tải với 1.342 máy bay các loại
Thời kỳ này, lực lượng Hải quân và Không quân Nhật Bản phát triển nhanh là do Mỹ đã chuyển giao số lượng lớn vũ khí trang bị, tuy vậy, phần lớn vũ khí trang bị đã cũ, lạc hậu, chất lượng kém
Kế hoạch quốc phòng 1962 - 1966: Là Kế hoạch quốc phòng lần thứ hai,
thời gian tính từ 01/4/1962 - 31/3/1967 Kế hoạch này có 02 điểm đáng chú ý:
Thứ nhất, lần đầu tiên Nhật Bản xác định mục tiêu xây dựng LLPV để đối
phó với cuộc chiến tranh cục bộ bằng vũ khí thông thường; Thứ hai, bắt đầu
định hình biên chế LLPV thành 05 quân khu, tổ chức thêm các sư đoàn, đã có lực lượng dự bị (sĩ quan), mở đầu cho một thời kỳ mới - thời kỳ LLPV Nhật
tự đảm nhiệm phòng thủ đất nước tuy vẫn gắn với cơ chế Hiệp ước An ninh Nhật - Mỹ Ngân sách chi cho kế hoạch này là 1.166 tỉ yên (6,2 tỉ USD)
Hoàn thành kế hoạch này, Nhật Bản đã xây dựng LLPV đạt 246.000 quân, trong đó Lục quân: 171.500 người, tổ chức thành 12 sư đoàn bộ binh, 01 sư đoàn bộ binh cơ giới; Không quân: 24 liên đội (15 liên đội máy bay tiêm kích,
04 liên đội cường kích, 01 liên đội trinh sát, 03 liên đội vận tải, 01 liên đội huấn luyện); thành lập Binh chủng Ra-đa phòng không với 24 trạm cảnh giới; Hải quân đạt 140.000 tấn tàu (07 tàu ngầm, 59 tàu khu trục và hộ vệ) tổ chức thành
02 đội tàu ngầm, thêm 01 cụm tàu quét mìn Vũ khí của Lục quân đã có tên lửa HAWK, tổ chức thành 04 cụm
Kế hoạch quốc phòng 1967 - 1971: Kế hoạch quốc phòng lần thứ ba từ
01/4/1967 - 31/3/1972 Kế hoạch này về cơ bản tiếp tục khuynh hướng xây dựng quốc phòng của kế hoạch trước, nhưng có chú ý tới sức mạnh kinh tế đang tăng nhanh, vị trí quốc tế của Nhật Bản đang ngày càng được đề cao,
nên nhấn mạnh: Do tiềm lực kinh tế phát triển, chú ý thúc đẩy nghiên cứu chế
Trang 2020
tạo vũ khí trang bị để hiện đại hóa, xúc tiến tự chế tự trang Ngoài ra, chú trọng nâng cao chất lượng chiến đấu của quân đội, chú trọng phòng vệ vùng biển kế cận, phòng không, cơ động hiệp đồng 3 quân chủng, hậu phương, quan hệ quần chúng, chế độ chính sách cho binh lính Ngân sách chi cho kế
hoạch này là 2.340 tỉ yên (7,5 tỉ USD)
Khi hoàn thành kế hoạch này, LLPV Nhật Bản đã đạt tổng quân số 259.000 quân (Lục quân: 179.000, Không quân: 41.600, Hải quân: 38.400) Thành lập Trung đoàn Máy bay trực thăng đầu tiên Hải quân tăng 05 tàu ngầm (tổng số 12 tàu), tàu nổi được trang bị tên lửa, tàu chở trực thăng, lực lượng máy bay chống ngầm tăng lên 14 liên đội Không quân được trang bị tên lửa Nike Hercules tổ chức thành 04 cụm nhưng giảm số liên đội máy bay chiến đấu xuống còn 10 liên đội trang bị bằng máy bay F-4EJ, nghiên cứu và sản xuất thành công máy bay huấn luyện T-2 (thực chất đây là loại máy bay cường kích đầu tiên của LLPV Nhật Bản)
Kế hoạch quốc phòng 1972 - 1976: Là Kế hoạch quốc phòng lần thứ tư
được tính từ 01/4/1972 - 31/3/1977, tiếp tục xác định mục tiêu xây dựng LLPV có khả năng đối phó với chiến tranh từ quy mô cục bộ trở xuống, xúc tiến mạnh mẽ hiện đại hóa quân đội, nhấn mạnh trọng điểm nghiên cứu phát triển kỹ thuật và vũ khí tên lửa, điện tử, chống ngầm và cảnh giới trên không Đặc điểm của việc thực hiện kế hoạch này là gặp nhiều khó khăn do kinh
tế Nhật Bản lâm vào lạm phát gắn liền với suy thoái trầm trọng, khiến cho việc mua sắm trang bị kỹ thuật mới gặp trở ngại, không đạt được mục tiêu Tổng kết
kế hoạch này, Nhật Bản đã chi 5.668,4 tỉ yên (18,6 tỉ USD) vượt 22,4% so với 4.630 tỉ yên (khoảng 15,78 tỉ USD) theo dự kiến ban đầu Về quân số, khi kết thúc kế hoạch này, lực lượng vũ trang Nhật Bản là 268.500 quân (Lục quân: 180.000, Không quân: 45.200, Hải quân: 43.300) Đơn vị chiến đấu có 12 sư đoàn bộ binh, 01 sư đoàn bộ binh cơ giới, 01 lữ đoàn hỗn hợp, 01 lữ ĐBĐK,
Trang 2121
thêm 04 cụm tên lửa Hawk, nâng tổng số lên 08 cụm Không quân tổ chức thêm 04 trạm ra-đa nâng tổng số lên 28 trạm, tổ chức thêm 01 cụm tên lửa phòng không Nike nâng tổng số lên 05 cụm Hải quân biên chế thêm 02 tàu ngầm, nâng tổng số lên 14 chiếc, thêm 03 tàu khu trục nâng tổng số lên 61 chiếc
1.2.3 Giai đoạn 1977 - 1991
Về chủ trương xây dựng quốc phòng giai đoạn này được Đại cương Phòng vệ năm 1976 xác định: Nâng cao chất lượng LLPV Nhật Bản một cách toàn diện và đặt vấn đề quốc phòng trong bối cảnh thế giới có những biến chuyển lớn và sâu sắc về so sánh tương quan lực lượng cũng như trong quan
hệ với các nước lớn và các khối độc lập
Giai đoạn này, Nhật Bản xác định 03 trụ cột của công cuộc phòng thủ
đất nước là dựa vào dân; xây dựng một lực lượng phòng thủ vừa phải theo
Hiến pháp; duy trì liên minh với Mỹ Đồng thời, Nhật Bản vẫn xác định
phương châm “tiến tới tự phòng thủ trên cơ sở liên minh với Mỹ”
Mục tiêu chủ yếu trước mắt là nhằm đủ sức đáp ứng yêu cầu của cuộc chiến tranh thông thường quy mô hạn chế trên cơ sở có sự phối hợp chi viện của Quân đội Mỹ, nhất là trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh và tập trung đối phó từ hướng Bắc (phía Liên Xô tới)
Các kế hoạch quốc phòng, từ năm 1977, Nhật Bản bắt đầu áp dụng phương pháp mới về lập kế hoạch quốc phòng Nếu trước đây Nhật Bản áp dụng kế hoạch 05 năm, quy định rõ số lượng và loại vũ khí trang bị cần phải đạt được trong mỗi kế hoạch 05 năm đó, nay áp dụng từng năm tài khóa, quy định chỉ tiêu xây dựng lực lượng từng năm và vạch phương hướng chung cho
kế hoạch dài hạn Về ngân sách, trước đây ngân sách của kế hoạch 05 năm được quy định bằng con số cụ thể, nay ngân sách chỉ có tính định hướng cơ bản, nhằm giảm bớt tác động của lạm phát đối với việc hoàn thành kế hoạch
Trang 2222
quân sự
Kế hoạch quốc phòng các năm từ năm 1977 - 1980: Về ngân sách quốc
phòng, tháng 11/1976, Nội các Nhật Bản quy định ngân sách quốc phòng hàng năm không được vượt quá 01% tổng sản phẩm quốc dân (GDP) Trong các kế hoạch quốc phòng năm 1977 - 1980, Nhật Bản chi trung bình hàng năm 08 - 10
tỉ USD
Ngày 28/11/1978, Nội các Nhật Bản thông qua Phương châm Chỉ đạo mới về hành động quân sự chung Nhật - Mỹ nhằm củng cố vai trò của Mỹ ở khu vực, trong đó Nhật Bản đóng vai trò phòng thủ, Mỹ đóng vai trò tấn công Trước đó, ngày 12/8/1978, Nhật Bản đã ký Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị với Trung Quốc
Tính đến năm 1980, tổng lực lượng thường trực là 241.900 quân (Lục quân: 155.200 quân, Không quân: 44.600 quân, Hải quân: 42.100 quân) Các đơn vị chiến đấu có 12 sư đoàn bộ binh, 01 sư đoàn bộ binh cơ giới, 01 lữ tăng, 01 lữ đoàn hỗn hợp, 01 lữ đoàn ĐBĐK
Kế hoạch quốc phòng 1981 - 1985: Từ năm 1981, Nhật Bản trở lại việc
thực hiện kế hoạch 05 năm có điều chỉnh hàng năm Trong Kế hoạch quốc phòng 1981 - 1985 (Kế hoạch lần thứ 6), Nhật Bản đề ra mục tiêu nâng cao chất lượng LLPV, từng bước chia sẻ trách nhiệm phòng thủ với Mỹ Chi phí quốc phòng dự kiến từ 62 - 65 tỉ USD, trong đó mua một số vũ khí chính là: Lục quân: 373 xe tăng kiểu 74, tăng 34% cơ số đạn; Không quân: 75 máy bay tiêm kích F-15, đưa vào hoạt động 23 chiếc F-15, loại bỏ dần loại máy bay F-104J và F-86; Hải quân đưa vào hoạt động liên đội P-3C đầu tiên (09 chiếc) thành lập Bộ Tư lệnh Tàu ngầm trực thuộc Bộ Tư lệnh Hạm đội Tự vệ
Tính đến hết kế hoạch này, lực lượng thường trực theo biên chế là 254.000 quân (Lục quân: 156.300 quân, Không quân 45.700 quân, Hải quân 43.600 quân) Các đơn vị chiến đấu có 12 sư đoàn bộ binh, 01 sư đoàn thiết
Trang 2323
giáp, 02 lữ đoàn hỗn hợp, 01 lữ đoàn ĐBĐK
Kế hoạch quốc phòng 1986 - 1990: Là Kế hoạch quốc phòng lần thứ bảy
với chi phí quốc phòng 18.400 tỉ yên (76,6 tỉ USD) Kế hoạch này đã mua 246
xe tăng nâng tổng số xe tăng lên 1.205 chiếc, 310 xe thiết giáp nâng tổng số lên 949 chiếc, 277 khẩu pháo mặt đất các loại, mua tên lửa phòng không Hawk cải tiến lần 02 để thay thế 04 cụm Hawk thường, 43 máy bay lên thẳng chống tăng AH-1S để nâng từ 02 liên đội với 32 máy bay lên 04 liên đội chiến đấu và 01 liên đội dự bị với 74 máy bay, mua 24 máy bay lên thẳng CH - 47, mua 54 tên lửa SSM để thành lập 03 cụm tên lửa đất đối biển Về Không quân, mua 63 máy bay F-15 nâng từ 5 liên đội F-15 với 115 máy bay lên 07 liên đội F-15 với 163 máy bay và nâng tổng số máy bay chiến đấu lên 320 chiếc, mua 05 máy bay E-2C, mua 120 bệ phóng tên lửa Patriot thay thế cho
05 cụm Nike-J Hải quân mua 05 tàu ngầm nâng tổng số lên 16 tàu, 09 tàu khu trục tên lửa nâng tổng số tàu khu trục và hộ vệ lên 62 chiếc (trong đó có
43 tàu tên lửa), mua 50 máy bay P-3C nâng tổng số máy bay tuần tiễu chống ngầm lên 100 chiếc và 12 máy bay lên thẳng săn mìn
1.3 Bối cảnh điều chỉnh chiến lược quân sự của Nhật Bản
1.3.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực
+ Sự vận động biến đổi của cục diện thế giới, cùng với xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng tạo môi trường thuận lợi cho Nhật Bản vươn lên trở thành cường quốc toàn diện
Chiến tranh Lạnh kết thúc, trật tự “hai cực” do Mỹ và Liên Xô đóng vai trò chủ đạo sụp đổ đã tạo ra “cú sốc” địa - chính trị lớn nhất trong thế kỷ XX,
tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống quốc tế suốt nhiều năm sau đó nói chung cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến sự điều chỉnh CLQS của Nhật Bản nói riêng, cụ thể trên một số mặt sau:
Thứ nhất, sự sụp đổ của Liên Xô đã khiến Nhật Bản buộc phải điều
Trang 2424
chỉnh đối tượng tác chiến Từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, Nhật Bản chính là đồng minh quan trọng nhất của Mỹ ở khu vực CA - TBD, là tiền đồn
ngăn chặn sự “lan tràn và bành trướng” của Chủ nghĩa Cộng sản xuống phía
Nam Với tư cách này, dù không công khai nhưng trong suốt thời gian Chiến tranh Lạnh, Liên Xô chính là đối tượng tác chiến chủ yếu của Nhật Bản, đặc biệt là sau khi Trung Quốc tăng cường cải thiện quan hệ với Mỹ, Liên Xô trở thành đối tượng tác chiến duy nhất của LLPV Nhật Bản Chính vì vậy, sự sụp
đổ của Liên Xô tất yếu đã khiến cả hệ thống quân sự của Nhật Bản mất đi mục tiêu và phương hướng, từ đó, tất yếu phải tiến hành điều chỉnh
Thứ hai, sự sụp đổ của Liên Xô đã khiến Mỹ trở thành siêu cường duy
nhất CA - TBD vốn dĩ ngay trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh cũng chỉ được
coi là “ngoại duyên” của sự tranh giành quyền lực Mỹ - Xô, nay càng nhận
được ít sự quan tâm từ Mỹ, thể hiện ở việc nước này đã rút quân khỏi các căn
cứ quân sự ở Philippines Trong hơn một thập kỷ sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Mỹ tập trung chủ yếu vào Trung Đông - khu vực vốn được coi là
trung tâm của “bàn cờ địa - chính trị quốc tế” với việc phát động hàng loạt các
cuộc chiến tranh ở Vùng Vịnh (1991), Nam Tư (1999), Afghanistan (2001),
Iraq (2003)… Sự thiếu vắng của Liên Xô và sự “thờ ơ” của Mỹ đối với khu vực đã để lại “khoảng trống quyền lực” Các cường quốc “hạng trung” như Nhật Bản và “mới nổi” như Trung Quốc, Ấn Độ hoàn toàn có thể “lấp chỗ
trống” đó do những nước này đều có quyết tâm trở thành một cực trong thế
giới đa cực mới và đã thực hiện những chính sách khôn ngoan nhằm tăng cường tiềm lực quốc gia, tránh bị lôi kéo vào cuộc đấu tranh giữa hai siêu cường Xô - Mỹ
Thứ ba, Chiến tranh Lạnh kết thúc đã thúc đẩy mạnh mẽ xu thế hội nhập
quốc tế Trên thực tế, hội nhập quốc tế mà thực chất là toàn cầu hóa ra đời từ
trước khi Chiến tranh Lạnh kết thúc và công bằng mà nói, nó chính là một
Trang 2525
trong những nguyên nhân đẩy nhanh sự cáo chung của thế giới hai cực Tuy nhiên, phải đến khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, toàn cầu hóa mới thực sự phát
triển mạnh mẽ và trở thành xu thế tất yếu của thời đại, mà “muốn tiến lên thì
các dân tộc không được để nhỡ con tàu lịch sử này dù nó tốt hay là xấu”
Toàn cầu hóa, đặc biệt là toàn cầu hóa về kinh tế đã làm tăng tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, nâng cao vai trò của các quốc gia, bao gồm cả những nước nhỏ, nước vừa và các cường quốc hạng hai Khác với toàn cầu hóa, khu vực hóa là sự hội nhập quốc tế ở quy mô nhỏ hơn Xu thế xích lại gần nhau giữa các quốc gia gần gũi về mặt địa lý đã dẫn đến sự ra đời và phát triển nở rộ của các tổ chức khu vực, trong đó, CA - TBD là một trong những khu vực có nhiều tổ chức khu vực hoạt động thành công nhất, nổi bật như Khu vực Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), APEC, SAARC và đặc biệt là ASEAN không ngừng phát triển mạnh mẽ, ngày càng phát huy vai trò trung tâm trong các cơ chế an ninh khu vực Chính những diễn đàn và tổ chức này
đã tạo cơ hội để Nhật Bản tham dự nhiều hơn vào những vấn đề quốc tế và khu vực
+ Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, đặc biệt là xu hướng ưu tiên phát triển hải quân, đẩy mạnh thực hiện tham vọng trở thành cường quốc biển làm cơ sở để trở thành cường quốc thế giới
Sau gần 40 năm tiến hành cải cách mở cửa, Trung Quốc đã có những bước tiến mạnh mẽ vững chắc Với nền kinh tế phát triển với tốc độ cao (xấp
xỉ 10%), đến cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 thế giới, sau đó vượt Pháp, Đức, Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới vào năm 2010 Trong khi Trung Quốc ngày càng tăng cường ảnh hưởng của mình trên tất cả các mặt thì Nhật Bản chủ yếu vẫn
thực hiện chính sách “ngoại giao ký séc”, trong khi Trung Quốc đang ngày
càng nỗ lực xưng bá ở khu vực và vươn lên tầm toàn cầu thì Nhật Bản vẫn là
Trang 26Quốc của Trường Hành chính công Lý Quang Diệu/Singapore: “Nếu không
tính Mỹ và Nga thì không nước nào có thể vượt Trung Quốc về sức mạnh quân sự trong khu vực” 2 Bên cạnh lực lượng lục quân đông nhất thế giới
đang từng bước được cơ giới hóa, Trung Quốc ngày càng chú trọng phát triển các lực lượng chiến lược như Không quân, Pháo binh II và đặc biệt là Hải quân Trên cơ sở nhận thức rằng, các quốc gia trong lịch sử muốn trở thành cường quốc thế giới đều phải vươn ra biển như Bồ Đào Nha, Anh và Mỹ, năm
2003, Trung Quốc đã đề ra “Chiến lược kiểm soát biển ba bước”, theo đó:
Đến năm 2010, khống chế trực tiếp vành đai đảo số một (trong phạm vi 500 -
600 hải lý), gồm Hoàng Hải, biển Hoa Đông, Biển Đông … mà Trung Quốc
tuyên bố thuộc “chủ quyền”; đến năm 2020, mở rộng ra phạm vi 1.500 hải lý;
đến năm 2050, mở rộng ra toàn bộ các vùng biển của thế giới Chiến lược đối
với Hải quân Trung Quốc điều chỉnh theo hướng từ “phòng ngự bảo vệ lãnh
thổ, lãnh hải” sang “phòng ngự tích cực bảo vệ quyền lợi đại dương” (hay
còn gọi là “phòng ngự tích cực biển khơi”), từ thế “phòng thủ” sang thế “tấn
công”, từ tác chiến biển gần tới tác chiến biển xa (chuyển từ “Hải quân xanh lục” sang “Hải quân xanh lam”) Tại Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần
thứ XVIII, lãnh đạo Trung Quốc đã lần đầu tiên công khai mục tiêu trở thành
2 “China‟s growing military may spur arms race in Asia”, website: http://www.japantoday.com/category/commentary/view/chinas-growing-military-may-spur-arms-race-in-asia
Trang 2727
“cường quốc biển” và thời gian gần đây lại khởi xướng việc khôi phục “Con
đường Tơ lụa trên Biển” Thực hiện chủ trương trên, Trung Quốc đã xây dựng
một lực lượng tàu ngầm và tàu nổi lớn bậc nhất thế giới, thường xuyên tiến hành các cuộc diễn tập xa bờ Đáng chú ý, năm 2012, Trung Quốc đã đưa vào biên chế tàu sân bay đầu tiên, đánh dấu bước phát triển mới của Hải quân nước này
Sức mạnh và tham vọng của Trung Quốc ngày càng tăng lên hoàn toàn không có lợi cho Nhật Bản, bởi khách quan mà nói, Trung Quốc chính là đối thủ chiến lược lớn nhất của Nhật Bản ở cấp độ khu vực cũng như toàn cầu Trong bối cảnh hai nước chưa xây dựng được lòng tin chiến lược do còn tồn tại hàng loạt mâu thuẫn, chủ yếu xung quanh các vấn đề lịch sử và tranh chấp lãnh thổ ở khu vực Quần đảo Senkacu (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư), việc Trung Quốc không ngừng tăng cường sức mạnh quân sự, thường xuyên đưa tàu và máy bay xâm phạm vùng biển, vùng trời do Nhật Bản quản lý thực sự
đã đặt ra những thách thức không nhỏ đối với an ninh của Nhật Bản, thúc đẩy nước này điều chỉnh CLQS nói riêng cũng như quốc phòng - an ninh nói chung
+ Châu Á - Thái Bình Dương tiềm ẩn nhiều điểm nóng, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh của Nhật Bản, bao gồm tranh chấp ở biển Hoa Đông, Biển Đông, vấn đề Triều Tiên, Eo biển Đài Loan
Sau Chiến tranh Lạnh, CA - TBD từng bước thay thế châu Âu để trở
thành vũ đài chính trị - kinh tế chủ đạo của thế giới Sự sụp đổ của “cục diện
hai cực” không chỉ tạo cơ hội cho những nền kinh tế mới nổi mà còn khiến cho
nhiều vấn đề an ninh tiềm ẩn có cơ hội nổi lên trở thành những điểm nóng của khu vực Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc và sự thay đổi đường biên giới giữa các quốc gia là những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng này Tuy so sánh với những điểm nóng khác ở Trung Đông, Balkan hay châu Phi, những
Trang 2828
điểm nóng ở CA - TBD không “nóng” bằng, tuy nhiên, lại tiềm ẩn những nguy
cơ an ninh nghiêm trọng hơn nhiều Các vấn đề như: Vấn đề hạt nhân của Triều Tiên, vấn đề Eo biển Đài Loan, vấn đề tranh chấp Quần đảo Senkacu/Điếu Ngư giữa Nhật Bản và Trung Quốc, tranh chấp Quần đảo Takeshima (Hàn Quốc gọi
là Dokdo) giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp Vùng Lãnh thổ phương Bắc (Nga gọi là Nam Kuril) giữa Nhật Bản và Nga, tranh chấp ở Biển Đông, tranh chấp biên giới Trung - Ấn mỗi vấn đề đều có thể gây ra một cuộc chiến tranh lớn tầm cỡ thế giới Mặc dù đã thiết lập được một số cơ chế an ninh đa phương như: Đàm phán 6 bên về vấn đề hạt nhân của Triều Tiên, Diễn đàn Khu vực Đông Nam Á (ARF), Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO)… tuy nhiên, các cơ chế này chưa thực sự phát huy được hiệu quả và nhìn tổng thể, CA - TBD vẫn chưa có được một cơ chế đảm bảo an ninh hiệu quả và quan trọng nhất là chưa xây dựng được lòng tin chiến lược giữa các quốc gia trong khu vực Các nước lớn như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ mỗi nước đều theo đuổi những mục tiêu chiến lược riêng và đẩy mạnh tranh giành ảnh hưởng với các quốc gia khác, điều này càng khiến cho những điểm nóng của khu vực diễn biến phức tạp
Đối với Nhật Bản, các điểm nóng nói trên đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến an ninh của nước này Ngoài việc phải giải quyết các tranh chấp chủ quyền biển đảo với 3 quốc gia láng giềng là Nga, Hàn Quốc và Trung Quốc và thường xuyên phải đối mặt với những nguy cơ tiềm tàng đến
từ chương trình tên lửa và hạt nhân của Triều Tiên, các “điểm nóng” ở Biển
Đông và Eo biển Đài Loan một khi bùng phát sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tuyến đường vận chuyển dầu lửa từ Vùng Vịnh về Nhật Bản Trong bối cảnh
đó, chiến lược quốc phòng bị động thời Chiến tranh Lạnh đã tỏ ra không còn phù hợp với tình hình mới, do đó cần thiết phải được điều chỉnh
+ Quan hệ Trung - Mỹ diễn biến theo hướng bất lợi cho Nhật Bản Sau
Trang 2929
Chiến tranh Lạnh, do nhận thức được vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của nhau, nên bất chấp những ảnh hưởng từ sự kiện Thiên An Môn, quan hệ Trung - Mỹ vẫn có những dấu hiệu xích lại gần nhau Dưới thời Tổng thống Bill Clinton, mặc dù có phát sinh một số mâu thuẫn liên quan đến vấn
đề Đài Loan hay việc Mỹ ném bom Đại sứ quán Trung Quốc ở Nam Tư, nhưng quan hệ song phương, nhất là về kinh tế được thúc đẩy mạnh mẽ đến
mức quan hệ Trung - Mỹ đã được miêu tả như một quan hệ “đối tác chiến
lược”
Đến thời Tổng thống Bush (con), mặc dù lúc đầu cam kết theo đuổi chính sách cứng rắn với Trung Quốc, tuy nhiên, sau sự kiện khủng bố 11/9/2001, những tín hiệu tích cực từ phía Trung Quốc ủng hộ cuộc chiến chống khủng bố do Mỹ phát động đã khiến nước này thay đổi cách tiếp cận đối với Trung Quốc Hai nước tăng cường tần suất các cuộc gặp và tiếp xúc
cấp cao, quan chức hai nước công khai đánh giá, quan hệ Trung - Mỹ đang “ở
vào thời kỳ tốt nhất” Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell nhấn mạnh, Mỹ thấy cần
thiết hơn bao giờ hết phải tạo dựng mối quan hệ với Trung Quốc trên cơ sở những lợi ích riêng của mỗi nước chứ không phải bởi những vấn đề bất đồng,
Mỹ biết rằng Trung Quốc cũng có chung mục tiêu đó Trong khi đó, cựu
Tổng thống Mỹ Bush (cha) thì cho rằng, quan hệ Trung - Mỹ là quan trọng nhất của Mỹ trong việc tạo dựng một nền hoà bình và thịnh vượng trong tương lai và cho nhiều nước trên thế giới
Dưới thời Tổng thống Obama, việc cam kết và thực hiện chiến lược “tái
cân bằng” càng khiến cho Trung Quốc có vai trò quan trọng hơn trong chính
sách đối ngoại của Mỹ Thế giới ngày càng nhắc nhiều hơn tới cái gọi là “cơ
chế G-2”, trong đó Mỹ và Trung Quốc sẽ “chia nhau cai trị thế giới” Hiện
nay, hai nước đã trở thành những đối tác thương mại hàng đầu của nhau, thậm chí, Trung Quốc còn là chủ nợ lớn nhất của Mỹ Điều này khiến vai trò của
Trang 3030
Nhật Bản trong các vấn đề của khu vực ngày càng bị lu mờ Tuy nhiên, điều quan trọng khiến Nhật Bản quan ngại đó là, trong khi Trung Quốc ngày càng tỏ
ra “hung hăng”, “hiếu chiến” thì Mỹ dường như không có những động thái
quyết đoán nhằm bảo vệ đồng minh Trên thực tế, việc Trung Quốc và Mỹ
“thỏa thuận trên lưng” một quốc gia khác (như Philippines) đã từng xảy ra và
Nhật Bản hoàn toàn có lý do để lo ngại về một khả năng tương tự Chính vì vậy, Nhật Bản xác định cần phải tự tăng cường sức mạnh của bản thân để đủ sức đối phó với tham vọng của Trung Quốc Bên cạnh đó, Nhật Bản điều chỉnh CLQS cũng một phần xuất phát từ tâm lý muốn hạn chế sự phụ thuộc vào Mỹ
và tăng cường “tính độc lập” của bản thân Nhiều người Nhật Bản coi việc bị
Mỹ ném bom và chiếm đóng sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II là một sự sỉ nhục và ở một số địa phương như Okinawa, người dân không còn chào đón sự hiện diện của quân Mỹ Không chỉ tồn tại trong dư luận người dân, tinh thần
“thoát Mỹ” còn được thể hiện trong “Học thuyết Fukuda” (1978), trong đó chú
trọng xây dựng và thúc đẩy quan hệ với Đông Nam Á
+ Sự tính toán chiến lược của Mỹ
Sau Chiến tranh Lạnh, mặc dù “chiến thắng”, nhưng Mỹ đã suy yếu
tương đối và không thể duy trì được sự vượt trội so với các đồng minh truyền
thống như Tây Âu, Nhật Bản Việc đẩy mạnh thực hiện “chủ nghĩa đơn
phương” trên phạm vi toàn cầu sau Chiến tranh Lạnh đã khiến Mỹ ngày càng
tỏ ra “hụt hơi” Trong khi đó, theo chính sách của cựu Thủ tướng Shigeru Yoshida, nhờ dựa hoàn toàn vào “ô an ninh” của Mỹ mà Nhật Bản có thể tập trung mọi tiềm lực để thực hiện cái gọi là “thần kỳ Nhật Bản”, không những
giúp Nhật Bản nhanh chóng tái thiết đất nước sau Chiến tranh Thế giới mà còn đưa nước này trở thành cường quốc kinh tế thứ 2 thế giới trong suốt một
thời gian dài Tuy nhiên, việc Nhật Bản “đi nhờ” mãi trên “cỗ xe an ninh” của
Mỹ đã khiến Mỹ không cảm thấy thoải mái Chính vì vậy, Mỹ đã chuyển sang
Trang 3131
kêu gọi Nhật Bản đóng vai trò quan trọng hơn trong chính sách an ninh và đối
ngoại của Mỹ tại Đông Á; “bật đèn xanh” và kêu gọi Nhật chủ động hơn
trong các vấn đề quốc phòng và xây dựng Lực lượng vũ trang; yêu cầu Chính phủ Nhật Bản phải chia sẻ các chi phí quốc phòng cùng với Mỹ, cũng như cùng gánh vác các nhiệm vụ của Mỹ ở khu vực và trên thế giới Đề nghị của
Mỹ đối với sự hỗ trợ của Nhật Bản trong cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh là minh chứng rõ ràng cho điều này Đây cũng là lần đầu tiên Mỹ muốn Nhật Bản có đóng góp về nhân sự cho cuộc chiến, khác với trước đây Nhật Bản chỉ thực hiện các công tác hậu cần đơn thuần
Kể từ đầu thế kỷ XXI, sau sự kiện 11-9, quan hệ hợp tác an ninh Nhật -
Mỹ tiếp tục được thắt chặt và tăng cường mạnh mẽ Mỹ ngày càng nhấn mạnh vai trò chiến lược của Nhật Bản ở CA - TBD và khuyến khích Nhật Bản từ bỏ
“chính sách ngoại giao ký séc” để tham gia vào các vấn đề an ninh và chia sẻ
gánh nặng với Mỹ Năm 2004, Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell nói rõ, Nhật Bản muốn trở thành một thành viên thường trực của HĐBA LHQ thì trước hết phải từ bỏ Hiến pháp Hoà bình Từ khi Tổng thống Obama lên cầm quyền với
cam kết “quay trở lại châu Á”, Mỹ càng tích cực ủng hộ Nhật Bản điều chỉnh
CLQS bởi điều này hoàn toàn phù hợp với lợi ích chiến lược của Mỹ ở khu vực, thể hiện ở hai khía cạnh sau:
Thứ nhất, cùng kiềm chế sự lớn mạnh của Trung Quốc Hiện tại, Trung
Quốc chính là đối thủ chiến lược lớn nhất của Mỹ ở khu vực và trong tương lai có thể là cả trên cấp độ toàn cầu Tuy nhiên, do những ràng buộc về kinh
tế, không phải lúc nào Mỹ cũng trực tiếp đối đầu với Trung Quốc mà nhiều khi phải thông qua một quốc gia khác Ở châu Á, Nhật Bản là sự lựa chọn số một bởi ngoài Nhật Bản ra, không quốc gia nào có đủ sức mạnh và quyết tâm
để kiềm chế Trung Quốc Việc Nhật Bản điều chỉnh CLQS không chỉ giúp nâng cao sức mạnh của liên minh Nhật - Mỹ mà còn có thể phân tán các tiềm
Trang 3232
lực của Trung Quốc, buộc nước này phải dành một phần “sức lực” không nhỏ
để đối phó với Nhật Bản Thậm chí, có đánh giá cho rằng, đằng sau việc “tái
vũ trang” của Nhật Bản là động cơ của Mỹ và phương Tây nhằm đẩy Trung
Quốc vào một cuộc chạy đua vũ trang quá sức kiểu Liên Xô và những bước đi sai lầm tiếp theo sau đó trước khi trật tự chính trị hiện tại của Trung Quốc sụp
đổ3
Thứ hai, tranh thủ uy tín và ảnh hưởng của Nhật Bản Trong nhiều năm,
trong khi Mỹ tham gia vào các cuộc chiến tranh (trực tiếp hoặc gián tiếp) để xác lập và khẳng định vị thế, thì Nhật Bản lại âm thầm thông qua các biện pháp phi quân sự để tăng cường ảnh hưởng, mang lại những hệ quả trái ngược nhau Súng đạn, máy bay và tàu chiến của Mỹ không mua được thiện cảm của người dân các quốc gia bị can thiệp, thậm chí ở nhiều nơi, người ta coi Mỹ là
kẻ thù và phát động các phong trào “bài Mỹ”; trong khi đó, các gói viện trợ,
dự án đầu tư của Nhật Bản không những đã giúp xóa nhòa quá khứ phát xít xâm lược, mà còn giúp xây dựng hình ảnh Nhật Bản như là một đối tác đáng tin cậy hàng đầu Theo tính toán của Mỹ, sự điều chỉnh CLQS của Nhật Bản
sẽ nhận được sự chấp nhận và hoan nghênh của nhiều nước trong khu vực và thông qua Nhật Bản, Mỹ có thể gián tiếp đạt được những mục tiêu chiến lược
của mình Điều này sẽ kinh tế và hiệu quả hơn nhiều so với việc Mỹ tự “bỏ
tiền” và “bỏ công” đi “thuyết phục” từng quốc gia trong khu vực
Ngoài ra, mặc dù có những điểm trùng về lợi ích, tuy nhiên, không thể nói rằng Mỹ hoàn toàn ủng hộ Nhật Bản điều chỉnh CLQS bởi không thể chối
bỏ một thực tế rằng, Nhật Bản cũng chính là một đối thủ tiềm ẩn của Mỹ Cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ trước, trong chính giới
cũng như giới học giả của Mỹ đã cho rằng, thế kỷ XXI là “thế kỷ của Nhật
3 Kế hoạch tái vũ trang của NB và tác động đối với khu vực, Tài liệu tham khảo đặc biệt, TTXVN, số
210, ngày 14.08.14
Trang 3333
Bản” và nói nhiều về cái gọi là “mối đe dọa Nhật Bản” cho đến khi nền kinh
tế bong bóng của Nhật Bản sụp đổ và Trung Quốc nổi lên Với quan điểm
“Phải làm mọi việc trong quyền lực của mình để ngăn chặn sự phát triển của
các trung tâm quyền lực đối sánh, dù đó là bạn hay là thù”, trong thâm tâm
của mình, Mỹ luôn muốn khống chế Nhật Bản, không để Nhật Bản thoát ra khỏi vòng tay của Mỹ Trong trường hợp đó, khuyến khích Nhật Bản lao vào một cuộc xung đột thông qua việc ủng hộ nước này tăng cường tiềm lực quân
sự sẽ là một giải pháp “khả thi” nhằm “trói buộc” Nhật Bản lại gần hơn nữa
sự giao lưu giữa các quốc gia khác phe là rất hạn chế; nhưng trong thế giới toàn cầu hóa, sự giao lưu chặt chẽ và mật thiết đến mức quốc gia nào nằm ngoài xu thế trên sẽ bị đào thải Hệ quả tất yếu của quá trình này đó là sự xuất hiện của một loạt các vấn đề toàn cầu mà ngoài số ít vấn đề (như phổ biến vũ khí hạt nhân) xuất phát từ các nước lớn, đa số các vấn đề bắt nguồn từ các nước nghèo, kém phát triển và đang phát triển như: Bùng nổ dân số, đói nghèo, ô nhiễm môi trường, xung đột tôn giáo, sắc tộc… Thực tế đó đòi hỏi sự chung tay giải quyết của cả cộng đồng quốc tế, chứ không phải là trách nhiệm của một hoặc một vài quốc gia Là một quốc gia phát triển, dù bản thân Nhật Bản không có nhiều nguy cơ, nhưng nước này cũng phải bảo vệ những lợi ích kinh tế của mình ở hải ngoại cũng như đề phòng những nguy cơ đến từ bên ngoài Chẳng hạn, nạn cướp biển ở Somalia ảnh hưởng trực tiếp đến tuyến đường vận chuyển dầu mỏ từ Trung Đông về Nhật Bản, từ đó tác động đến an
Trang 3434
ninh năng lượng, an ninh kinh tế của nước này; hay việc bùng nổ dân cư có thể dẫn tới hậu quả là làm tăng lượng người nhập cư vào Nhật Bản, bao gồm cả nhập cư trái phép Ngược lại, các quốc gia khác cũng muốn Nhật Bản đóng góp nhiều hơn vào việc giải quyết các vấn đề toàn cầu Xuất phát từ nhu cầu của cả hai phía, từ thập niên 90 của thế kỷ XX, Nhật Bản bắt đầu triển khai lực lượng tham gia vào Lực lượng GGHB của LHQ; cứu trợ nhân đạo ở Rwanda; cung cấp nhân sự cho các văn phòng liên lạc ở Cao nguyên Golan; giám sát bầu cử ở Mozambique, Angola, Nam Phi, Palestine, Timor Leste… Theo thống kê của Bộ Ngoại giao Nhật Bản, trong vòng hai mươi năm qua, Nhật Bản đã cử hơn 8.400 nhân viên thuộc cả LLPV và cảnh sát tham gia vào các nhiệm vụ của LHQ ở các nước và là quốc gia có tỷ lệ đóng góp tài chính lớn thứ hai cho ngân sách GGHB của LHQ chiếm 10,83% trong tổng số 7,23 tỷ USD năm 2012 - 2013)4
Những nỗ lực nói trên của Nhật Bản đã đạt được một số kết quả tích cực
như: Thứ nhất, chứng tỏ Nhật Bản là quốc gia có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, từ đó, giúp nâng cao uy tín của Nhật Bản Thứ hai, giúp các lực
lượng của Nhật Bản bước đầu làm quen với việc mở rộng hoạt động ra nước ngoài thông qua các lĩnh vực vốn là sở trường của nước này như: Cứu trợ
thảm họa, hậu cần… Thứ ba, các lực lượng của Nhật Bản khi tham gia hoạt
động ở nước ngoài thường để lại ấn tượng hết sức tốt đẹp và gây được thiện cảm tốt với người dân bản địa Đây là tiền đề quan trọng để một khi Nhật Bản điều chỉnh CLQS có thể dễ dàng tìm kiếm sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế
1.3.2 Bối cảnh trong nước
+ Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc và tham vọng trở thành cường quốc toàn diện của Nhật Bản, nhất là vai trò của Thủ tướng Koizumi, Thủ tướng
4 Ministry of Foreign Affairs of Japan (MOFA), “Japan‟s contribution to United Nations peacekeeping operations”, website: http://wwwmofa.go.jp/policy/un/pko/index.html
Trang 3535
Abe
Trong hơn hai thập niên trở lại đây, chủ nghĩa dân tộc ở Nhật Bản bắt đầu trỗi dậy trở lại Người dân Nhật Bản có xu hướng ngày càng ủng hộ nước này tham gia nhiều hơn vào các vấn đề chính trị, an ninh quốc tế và khu vực Quan trọng hơn đó là sự chuyển giao quyền lực sang một thế hệ lãnh đạo mới,
có tư duy an ninh mới và đẩy quyết tâm trong việc đưa Nhật Bản trở thành
một “cường quốc bình thường” Trong “thập kỷ bị đánh mất” (thập niên 90
của thế kỷ XX), mặc dù phải tập trung vực dậy nền kinh tế, tuy nhiên, một số Thủ tướng Nhật Bản vẫn chú trọng khôi phục vị thế quốc tế của Nhật Bản
Sau cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh, Thủ tướng Nakasone đã nói: “Kinh nghiệm
của cuộc chiến tranh Vùng Vịnh cho thấy chiến lược Yoshida không còn được tín nhiệm trên thế giới nữa và cần phải giáo dục lại người Nhật để dứt họ khỏi chính trị của sự lảng tránh” 5 Quyết tâm của Nhật Bản còn được thể hiện
rõ trong mục tiêu tìm kiếm một ghế thường trực tại HĐBA LHQ Cuối năm
1991, Thủ tướng Nhật Bản Kiichi Miyazawa đã kêu gọi thay đổi các thành viên thường trực của Hội đồng và gợi ý về việc Nhật Bản đang tìm kiếm một
vị trí này Trong nhiệm kỳ sau đó của Thủ tướng Morihiro Hosokawa, Đại sứ Nhật Bản tại LHQ đã tuyên bố trước Đại hội đồng rằng, Nhật Bản nhấn mạnh lại quyết tâm tìm kiếm chiếc ghế thành viên thường trực Cũng trong thời gian này, Ngoại trưởng Nhật Bản Yohei Kono cũng có những phát biểu với nội
dung “Nhật Bản đã được chuẩn bị, với sự tán thành của nhiều nước, để gánh
các trách nhiệm như là một thành viên thường trực của HĐBA” 6 Bên cạnh
đó, Nhật Bản đã cùng một số nước như Đức, Ấn Độ, Brasil ủng hộ lẫn nhau cũng như tích cực vận động việc cải tổ, mở rộng số lượng thành viên thường trực của HĐBA
Trang 36Tuy nhiên, nhắc đến tiến trình điều chỉnh CLQS của Nhật Bản không thể không nhắc đến dấu ấn của Thủ tướng Koizumi và Thủ tướng Abe Nói tới nhiệm kỳ của Thủ tướng Koizumi là nhắc tới một nhiệm kỳ thành công trên nhiều phương diện Bên cạnh những cải cách giúp nền kinh tế Nhật Bản thoát khỏi vũng lầy khủng hoảng và những nỗ lực nhằm quốc hữu hóa ngành
bưu chính, ông Koizumi còn được biết đến như một người theo “chủ nghĩa
dân tộc” mạnh mẽ Trong suốt nhiệm kỳ của mình, ông đã đến thăm đền
Yasukuni 05 lần bất chấp sự phản đối từ các quốc gia láng giềng như Trung Quốc, Hàn Quốc Chính ông Koizumi cũng là Thủ tướng Nhật Bản đầu tiên tuyên bố rõ ràng rằng, LLPV là một tổ chức quân đội và coi đây là lực lượng
Trang 3737
bảo vệ quốc gia nên cần được xác định như là quân đội của một quốc gia7 Thủ tướng Abe có thể coi là một đại diện tiêu biểu cho giới chính khách của Nhật Bản sinh ra sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, trẻ trung, mạnh mẽ
và tràn đầy quyết tâm khôi phục vị thế cho nước Nhật Tự nhận là “người kế
thừa” Thủ tướng Koizumi, chính ông Abe là Thủ tướng thứ 2 của Nhật Bản
đến thăm đền Yasukuni kể từ sau chuyến thăm cuối cùng của ông Koizumi
năm 2005; đồng thời tuyên bố “Sửa đổi Hiến pháp là sứ mệnh lịch sử của
tôi”8 Trên thực tế, giai đoạn cầm quyền của Thủ tướng Abe chính là giai đoạn mà việc điều chỉnh CLQS của Nhật Bản được thúc đẩy mạnh mẽ, đồng
bộ nhất Trong nhiệm kỳ đầu tiên (2006 - 2007), chỉ trong khoảng một năm ngắn ngủi, ông Abe đã để lại dấu ấn đậm nét với việc nâng cấp Cục Phòng vệ thành Bộ Quốc phòng
+ Chính sách ngoại giao của Nhật Bản khiến nước này ngày càng nhận được nhiều sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế và khu vực
Sau Chiến tranh Lạnh, chính sách đối ngoại dựa trên trụ cột là ngoại giao kinh tế và tăng cường tham gia giải quyết các vấn đề an ninh (truyền thống và phi truyền thống) của quốc tế, khu vực đã đem lại cho Nhật Bản một hình ảnh mới trong mắt cộng đồng quốc tế
Kể từ sau Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, sự chậm trễ và chính sách
“ngoại giao ký séc” của Nhật Bản bị dư luận chỉ trích mạnh mẽ Cộng đồng
quốc tế cho rằng, với tiềm lực kinh tế, khoa học kỹ thuật và nguồn tài chính to lớn, Nhật Bản nên đảm nhận một vai trò lớn hơn trong các vấn đề quốc tế với việc tham gia đóng góp về nhân sự cũng như chủ động đưa ra các sáng kiến trên mọi lĩnh vực từ kinh tế đến chính trị, an ninh chứ không nên chỉ đóng
7 “Điều chỉnh chiến lược nhằm đẩy mạnh quá trình trở thành „quốc gia bình thường‟ của NB trong hai
thập niên sau Chiến tranh Lạnh”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, 8(150)
8 Thủ tướng NB Shinzo Abe: Sửa Hiến pháp là sứ mệnh lịch sử của tôi, www.thanhnien.com.vn/pages/20130813/thu-tuong-nhat-shinzo-abe-sua-hien-phap-la-su-menh-lich-su-cua- toi.aspx
Trang 3838
góp về mặt tài chính đơn thuần như trước đây Càng ngày càng có nhiều hơn những tiếng nói ủng hộ Nhật Bản tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ, thậm chí trở thành Ủy viên Thường trực của HĐBA LHQ Trên thực tế,
uy tín có được từ những đóng góp của Nhật Bản đã được khẳng định, tính đến năm 2015, Nhật Bản đã 10 lần được bầu vào HĐBA LHQ (cùng với Brasil, quốc gia được bầu vào cơ quan này nhiều nhất)
Trong phạm vi khu vực CA - TBD, suốt nhiều năm qua, bên cạnh những
dự án FDI và ODA hoạt động tương đối hiệu quả, Nhật Bản đã chủ động tăng cường và thắt chặt các mối quan hệ song phương cũng như đa phương Nhật Bản đã ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác với ASEAN và tham gia tích cực, hiệu quả vào những cơ chế do tổ chức này đóng vai trò chủ đạo; thiết lập
nhiều “quan hệ đối tác chiến lược” với các quốc gia trong khu vực, như Ấn
Độ, Philippines, Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Campuchia… Đặc biệt,
những năm trở lại đây, Nhật Bản đã “tận dụng” tốt sự lo ngại của các quốc gia
trong khu vực trước mối đe dọa từ tham vọng bành trướng chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc Thông qua những phát biểu mạnh mẽ, cứng rắn nhằm bênh vực các quốc gia có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc, như Việt Nam, Philippines, Nhật Bản đã thể hiện hình ảnh một đối tác tin cậy và có trách nhiệm Chính vì vậy, thái độ ủng hộ trực tiếp hay gián tiếp của các nước trong
khu vực đối với việc “tái vũ trang” của Nhật Bản càng trở nên mạnh mẽ hơn
bao giờ hết Nhiều nước Đông Nam Á chia sẻ sự đồng tình với việc Nhật Bản tăng cường sức mạnh quân sự, coi đây là động thái tích cực giúp đối trọng với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc Một ví dụ cho thấy điều này được thể hiện trong một bài trả lời phỏng vấn của Ngoại trưởng Philippines Albert
del Rosario (12/2012): “Chúng tôi (Philippines) đang tìm kiếm những nhân tố
cân bằng trong khu vực và Nhật Bản có thể là một nhân tố cân bằng quan
Trang 3939
trọng”9
+ Mặc dù kinh tế lâm vào tình trạng trì trệ, suy thoái kéo dài, nhưng Nhật Bản vẫn là quốc gia có nền kinh tế lớn, có nền khoa học công nghệ phát triển, có tiềm năng lớn trong lĩnh vực phát triển vũ khí trang bị quân sự
Là một quốc gia nghèo về tài nguyên, từ lâu Nhật Bản đã rất chú trọng phát triển khoa học công nghệ Sau Chiến tranh Lạnh, mặc dù gặp khó khăn
về kinh tế nhưng ngân sách dành cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của Nhật Bản vẫn ở mức cao (khoảng 3% GDP) Hiện nay, Nhật Bản là một trong những quốc gia đứng đầu thế giới về sản xuất các sản phẩm công nghệ cao và chính xác (chíp bán dẫn, quang điện, chất siêu dẫn…) Đây là một tiền đề quan trọng cho sự phát triển của ngành công nghiệp quốc phòng Nhật Bản Nguyên nhân là bởi Nhật Bản chủ trương phát triển ngành công nghiệp lưỡng dụng (vừa sử dụng cho mục đích quân sự, vừa sử dụng cho mục đích dân sự) Các doanh nghiệp lớn của Nhật Bản cũng đồng thời là những nhà sản xuất vũ khí, trang bị quốc phòng lớn, tiêu biểu như Mitsubishi, Hitachi, Toshiba, Mitsui… Theo đánh giá của nhà nghiên cứu Đỗ Văn Long/Viện Khoa học Quân sự Trung Quốc, một khi có nhu cầu, trong 01 năm Nhật Bản có thể sản xuất được 20.000 - 30.000 xe tăng, hơn 10.000 khẩu pháo, hơn 10.000 máy bay, tàu chiến các loại có tổng lượng giãn nước 09 triệu tấn, hơn 13 triệu súng ống10 Các cơ quan nghiên cứu của Nhật Bản cho rằng, một khi được phép xuất khẩu vũ khí, Nhật Bản sẽ khống chế tới 60% thị trường tàu thuyền của hải quân, 40% thị trường điện tử quân dụng, 46% thị trường xe quân dụng và
từ 25 - 30% thị trường hàng không vũ trụ thế giới Điều đáng nói là, nhiều loại vũ khí do Nhật Bản nghiên cứu, chế tạo hoặc cải tiến có những tính năng
9 David Pillin, “Philippines backs rearming of Japan”, website: 41ba-11e2-a8c3-00144feabdc0?mhq5j=e1, 09.12.2012
https://www.ft.com/content/250430bc-10 Tiềm lực khoa học của Nhật Bản khiến cả thế giới phải nể phục, Tiềm lực khoa học của NB khiến
cả thế giới phải nể phục; website: cua-Nhat-Ban-khien-ca-the-gioi-phai-ne-phuc-post93800.gd
Trang 40http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Giao-duc-Quoc-phong/Tiem-luc-khoa-hoc-40
vượt trội hơn hẳn so với các vũ khí cùng loại của Mỹ, chẳng hạn như Xe tăng Type 90 của Nhật Bản đã vượt xe tăng M1A1 của Mỹ, xe tăng Type 10 vượt
xe tăng M1A2, các loại tên lửa, trực thăng chiến đấu, pháo của Nhật Bản cũng
có nhiều đặc điểm ưu việt hàng đầu thế giới
Một “sức mạnh” khác không thể không nhắc đến đó là sức mạnh hạt nhân Do xác định “3 nguyên tắc phi hạt nhân” và chủ trương dựa vào “ô an
ninh” của Mỹ, nên hiện tại Nhật Bản không sở hữu vũ khí hạt nhân Tuy
nhiên, Nhật Bản vẫn đang dự trữ khoảng 09 tấn plutonium đã được phân tách
ở trong nước và 35 tấn ở Anh và Pháp Lượng nguyên liệu đó đủ để chế tạo hàng nghìn vũ khí hạt nhân Cùng với lượng nguyên liệu hạt nhân đã làm giàu tích trữ trong kho, nhà máy tái chế hạt nhân Rokkasho/phía Bắc đảo Honshu mỗi năm bổ sung vào kho nguyên liệu hạt nhân của Nhật Bản thêm khoảng 08 tấn plutonium, đủ để chế tạo khoảng 1.000 quả bom hạt nhân11 Nếu theo tốc
độ xử lý plutonium như hiện nay, đến năm 2020, lượng plutonium của Nhật Bản sẽ lên tới khoảng 145 tấn, vượt lượng plutonium hiện có trong kho vũ khí hạt nhân của Mỹ Với tiềm năng khoa học công nghệ như hiện nay, không khó để Nhật Bản có thể chuyển số nguyên liệu này thành bom hạt nhân Theo đánh giá, Nhật Bản có thể sản xuất được bom nguyên tử và bom khinh khí trong khoảng thời gian từ 03 - 06 tháng và trong một năm có thể sản xuất từ 1.000 - 2.000 tên lửa tầm trung và tầm xa Nhìn chung, với những cơ sở kỹ thuật và hạ tầng như hiện nay, Nhật Bản có đủ điều kiện để phát triển nền công nghiệp quốc phòng, không chỉ đủ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn
có khả năng xuất khẩu ra nước ngoài