1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Công tác quản lý điểm đến du lịch tại thủ đô viêng chăn, nước CHDCND lào

136 509 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 3,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng trên thực tế đã có nhiều vấn đề bất cập thể hiện qua một loạt các hiện tượng tiêu cực như tình trạng mua bán tại khu du lịch có giá cao hơn rất nhiều so với giá cả thị trường, nạn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-  -

Siviengxay SIDAVANH

Sỉ Viêng Xay SỈĐAVĂN

CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH TẠI THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN, NƯỚC CHDCND LÀO

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Công tác quản lý điểm đến du lịch

tại thủ đô Viêng Chăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” là

công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi Mọi tài liệu tham khảo, trích dẫn khoa học đều có nội dung chính xác Các kết luận khoa học chưa được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận văn

Siviengxay SIDAVANH

Trang 4

em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới giảng viên hướng dẫn PGS TS Trần Thị Minh Hòa Cô là người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Lời cảm ơn tiếp theo, em xin gửi tới các cán bộ của Tổng cục Du lịch

và Sở Du lịch thủ đô Viêng Chăn đã cung cấp tài liệu để luận văn có được những số liệu chính xác

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, sinh viên… đã chia sẻ, động viên em trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 30 tháng 04 năm 2017

Tác giả

Siviengxay SIDAVANH

Trang 5

MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của đề tài 5

7 Cấu trúc của luận văn 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 7

1.1 Cơ sở lý luận về điểm đến du lịch và công tác quản lý điểm đến du lịch 7 1.1.1 Cơ sở lý luận về điểm đến du lịch 7

1.1.2 Cơ sở lý luận về công tác quản lý điểm đến du lịch 11

1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý điểm đến du lịch 26

1.2.1 Kinh nghiệm nước ngoài 26

1.2.2 Kinh nghiệm trong nước 32

1.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho công tác quản lý điểm đến du lịch tại thủ đô Viêng Chăn 36

Tiểu kết chương 1 39

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH TẠI THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN, NƯỚC CHDCND LÀO 40

2.1 Giới thiệu chung về hoạt động du lịch tại thủ đô Viêng Chăn 40

2.1.1 Tài nguyên du lịch 40

2.1.2 Thực trạng hoạt động du lịch tại thủ đô Viêng Chăn 50

Trang 6

2.2 Công tác quản lý điểm đến du lịch tại thủ đô Viêng Chăn 56

2.2.1 Thực trạng bộ máy quản lý hoạt động du lịch thủ đô Viêng Chăn 56

2.2.2 Sự cam kết giữa lĩnh vực công và lĩnh vực tư nhân 63

2.2.3 Công tác quản lý nguồn nhân lực 64

2.2.4 Công tác quản lý môi trường 67

2.2.5 Sự hợp tác giữa các doanh nghiệp du lịch tại điểm đến du lịch thủ đô Viêng Chăn 73

2.2.6 Sự hợp tác với các nhà cung ứng 75

2.2.7 Phát triển sản phẩm du lịch 77

2.3 Khảo sát những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý điểm đến du lịch thủ đô Viêng Chăn 78

2.3.1 Khả năng quản lý 78

2.3.3 Phương pháp, mô hình quản lý 79

2.4 Đánh giá chung về công tác quản lý điểm đến du lịch thủ đô Viêng

Chăn 79

2.4.1 Những thành công 79

2.4.2 Những hạn chế 79

Tiểu kết chương 2 82

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN, NƯỚC CHDCND LÀO 83

3.1 Các căn cứ để đưa ra giải pháp 83

3.1.1 Mục tiêu và phương hướng phát triển du lịch thủ đô Viêng Chăn 83

3.1.2 Thực trạng phát triển du lịch và thực trạng công tác quản lý điểm đến du lịch tại thủ đô Viêng Chăn 85

3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý điểm đến du lịch tại thủ đô Viêng Chăn 87

Trang 7

3.2.1 Hoàn thiện bộ máy tổ chức và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước tại

điểm đến du lịch thủ đô Viêng Chăn 87

3.2.2 Tăng cường công tác quản lý nhân lực 90

3.2.3 Phát triển du lịch thủ đô Viêng Chăn theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường 92

3.2.4 Đẩy mạnh sự hợp tác giữa các doanh nghiệp du lịch 94

3.2.5 Đẩy mạnh sự hợp tác và phối hợp với các nhà cung ứng 95

3.3 Kiến nghị 97

3.3.1 Đối với Chính phủ 97

3.3.2 Đối với Bộ Thông tin Văn hóa và Du lịch 97

3.3.3 Đối với Bộ Tài nguyên và Môi trường 98

3.3.4 Đối với Sở Du lịch thủ đô Viêng Chăn 98

Tiểu kết chương 3 99

KẾT LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

PHỤ LỤC 105

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN Association of Southeast Asian Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á BQL Ban quản lý

EFQM European Foundation for Quality Management

Mô hình quản lý theo tieu chuẩn châu Âu GDP Gross Domestic Product

Tổng sản phẩm quốc nội TNHH Trách nhiệm Hữu hạn

UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural

Organization

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc UNWTO World Tourism Organization

Tổ chức Du lịch Thể giới của Liên Hợp quốc

UBND Ủy ban Nhân dân

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG

1 Danh mục các hình

Hình 2.1 biểu đồ lượng mưa trung bình các tháng trong năm 41

Hình 2.2 biểu đồ giờ chiếu nắng trung bình hàng tháng 42 Hình 2.3 biểu đồ số lượng khách du lịch đến thủ đô Viêng

Chăn giai đoạn 2010- 2015

53

Hình 2.4 Biểu đồ tổng thu từ du lịch của thủ đô Viêng Chăn

giai đoạn năm 2010 – 2015

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là một quốc gia đang phát triển ngành Du lịch, là một đất nước có nhiều tài nguyên du lịch và những điểm đến hấp dẫn Hiện nay CHDCND Lào đang được khách nước ngoài quan tâm đến sự phát triển kinh tế, đến các công trình được đầu tư, đến tiềm năng và thành tựu về du lịch… Vì vậy, ngành Du lịch cũng trở thành một ngành kinh

tế đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; tạo nhiều công ăn, việc làm, nâng cao đời sống cho nhân dân bản địa…

Cùng với sự phát triển của ngành Du lịch, cơ quan Du lịch Quốc gia Lào đã thực hiện theo chính sách của Chính phủ trong việc phát triển và xúc tiến du lịch, tạo điều kiện thuận lợi phục vụ cả khách du lịch nội địa và khách

du lịch quốc tế Năm 1999 – 2000 Chính phủ Lào đã công bố chính thức

“Năm du lịch Lào” (Visit Laos Year 1999-2000) Sau khi mở rộng ngành Du lịch, số lượng khách du lịch cũng tăng lên Năm 2008 số lượng khách quốc tế đến Lào là 1.736.787 lượt khách, đến năm 2009 tăng lên 2.008.363 lượt khách

và đến năm 2015 tăng tới 4.684.429 lượt khách (theo Tổ chức Du lịch Quốc gia Lào, 2013) Do sự tăng lên của số lượng khách du lịch nên nhiều đơn vị kinh doanh du lịch mới được xuất hiện

Trong bối cảnh chung, thủ đô Viêng Chăn nổi lên như một điểm sáng

về du lịch với nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng đã thu hút rất nhiều lượt khách trong và ngoài Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội mới thì cũng có không ít thách thức trong định hướng phát triển gắn liền với việc bảo tồn, giữ gìn cảnh quan thủ đô Viêng Chăn một cách bền vững Để du lịch thủ đô Viêng Chăn có thể phát triển lâu dài, bền vững cần có công tác

Trang 11

quản lý điểm đến hiệu quả Nhưng trên thực tế đã có nhiều vấn đề bất cập thể hiện qua một loạt các hiện tượng tiêu cực như tình trạng mua bán tại khu du lịch có giá cao hơn rất nhiều so với giá cả thị trường, nạn ăn xin còn bị gặp thường xuyên, doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển vẫn chưa đạt được tiêu chuẩn Bộ Giao thông vận tải, báo cáo từ các doanh nghiệp kinh doanh du lịch vẫn chưa đúng đắn cho Cơ quan Du lịch Quốc gia,… Tất cả đang ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch bền vững của thủ đô Viêng Chăn và cho thấy cần có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý điểm đến du lịch tại nơi này

Những hạn chế nêu trên là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc chưa tận dụng được hết lợi thế, tiềm năng sẵn có của điểm đến để phát triển

du lịch Đồng thời, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về công tác quản lý điểm đến du lịch thủ đô Viêng Chăn Chính vì vậy, Học

viên lựa chọn đề tài “Công tác quản lý điểm đến du lịch tại thủ đô Viêng

Chăn, nước CHDCND Lào” làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Trên thế giới

Trước hết, với công tác quản lý điểm đến du lịch tác giả nhận thấy đây

là một vấn đề đã được các nhà khoa học cũng như các tổ chức trên thế giới quan tâm Đã có nhiều công trình nghiên cứu, những ấn phẩm và tài liệu về quản lý điểm đến du lịch Trong hệ thống những kết quả nghiên cứu đó phải

kế đến một số tài liệu như sau:

Năm 2007, Tổ chức Du lịch Thế giới Liên Hợp quốc xuất bản cuốn Hướng dẫn thực hành Quản lý điểm đến Khái niệm về điểm đến đã được làm rõ: “Điểm đến du lịch là vùng không gian mà khách du lịch ở lại ít nhất một

đêm, bao gồm các sản phẩm du lịch, các dịch vụ cung cấp, các tài nguyên du

Trang 12

lịch thu hút khách, có ranh giới hành chính để quản lý và có sự nhận diện về hình ảnh để xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường” Trong tài liệu này

các tác giả đã tập trung vào những vấn đề về quản lý điểm đến như mô hình quản lý, nội dung quản lý, nguyên tắc quản lý điểm đến kèm theo các hướng dẫn thực hiện Đồng thời các tác giả cũng đã chỉ rõ muốn quản lý điểm đến một cách hiệu quả cần phải dựa trên mối quan hệ tương tác chặt chẽ giữa các

tổ chức với nhau, giữa các khu vực hành chính công và tư nhân, giữa các đối tác để hướng tới mục tiêu chung là cùng nhau cung cấp những sản phẩm, dịch

vụ du lịch cho khách một cách tốt nhất Tài liệu này được thiết kế như một cuốn sách hướng dẫn thiết thực, diễn tả việc làm thế nào để từ lý thuyết về khái niệm quản lý điểm đến có thể đi vào thực tiễn, với các mô hình, phương châm và nghiên cứu trường hợp cụ thể

Năm 2011, hai tác giả Mertin Kozak và Seyhmus Baloglu xuất bản

cuốn “Marketing và quản lý điểm đến du lịch” Lý thuyết về quản lý điểm đến

được trình bày, phân tích cụ thể, rõ ràng giúp người đọc có cái nhìn tổng quan nhất và logic nhất về hoạt động quản lý điểm đến du lịch

Năm 2012, Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) phát hành tài

liệu “Quản lý điểm đến du lịch” Tuy nhiên, tài liệu này lại tập trung vào

hướng phát triển du lịch bền vững và tăng khả năng cạnh tranh của điểm đến Các tác giả đã đưa ra những ví dụ rất điển hình, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm, xây dựng một số biểu mẫu nhằm mục đích đánh giá hiệu quả công tác quản lý điểm đến du lịch Đây cũng là bộ công cụ hướng dẫn hoạt động quản lý điểm đến

Luận văn thạc sỹ Du lịch của học viên Trần Kim Yến thực hiện năm 2014: “Nghiên cứu công tác quản lý điểm đến du lịch tại Cát Bà, Hải Phòng” Tác giả của luận văn này đã đề cập tới mô hình quản lý theo tiêu chuẩn chất

Trang 13

lượng châu Âu (EFQM), đánh giá chu kỳ sống của điểm đến và giải quyết được những vấn đề cơ bản trong công tác quản lý điểm đến du lịch Cát Bà đó

là “Ai quản lý?”, “Quản lý cái gì?” và “Quản lý như thế nào?”

Ngoài ra còn có một số luận văn, bài viết liên quan đến công tác quản

lý điểm đến du lịch Các công trình, bài bài viết đó là nguồn tài liệu quý để tác giả tham khảo và kế thừa

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về công tác quản lý điểm đến du lịch góp phần giúp cho công tác quản lý điểm đến du lịch thủ đô

Viêng Chăn được hoàn thiện và hiệu quả hơn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất: Hệ thống hóa những vấn đề về lý luận và kinh nghiệm trong

công tác quản lý điểm đến du lịch làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp đối với công tác quản lý điểm đến du lịch tại thủ đô

Viêng Chăn, nước CHDCND Lào

Thứ hai: Làm rõ tiềm năng, thực trạng khai thác du lịch, khách du lịch

đến với thủ đô Viêng Chăn và công tác quản lý điểm đến du lịch tại đây

Thứ ba: Đưa ra những giải pháp cơ bản và kiến nghị nhằm hoàn thiện

công tác quản lý điểm đến du lịch tại thủ đô Viêng Chăn

Trang 14

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu về vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý điểm đến du lịch đặt trong mối quan hệ thực tiễn tại điểm đến du lịch thủ đô Viêng Chăn nước CHDCND Lào

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung: Công tác quản lý hoạt động du lịch và các giải pháp góp

phần hoàn thiện công tác quản lý điểm đến du lịch thủ đô Viêng Chăn

Về không gian: Tác giả đã lựa chọn điểm đến du lịch tại thủ đô Viêng Chăn, nước CHDCND Lào làm nghiên cứu điển hình

Về thời gian: Số liệu thống kê và các vấn đề liên quan được sử dụng từ

năm 2010 – 2015 Giải pháp đến năm 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra, các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau được sử dụng:

Phương pháp thu thập thông tin:

- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Được thu thập từ các công trình nghiên cứu, giảng dạy như giáo trình, bài báo của các tác giả trong và ngoài nước

- Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: Được thu thập từ nghiên cứu thực địa, phân tích tổng hợp và lấy ý kiến chuyên gia, điều tra xã hội học

Phương pháp xử lý thông tin: Các phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp, phân tích,… được áp dụng nhằm xử lý các thông tin đã thu thập

6 Đóng góp của đề tài

- Về mặt lý luận: Đề tài góp phần hệ thống hóa lý thuyết trong lĩnh vực

quản lý điểm đến du lịch

Trang 15

- Về mặt thực tiễn: Giúp cho du lịch thủ đô Viêng Chăn có những định

hướng trong quá trình quản lý xây dựng và phát triển điểm đến của mình

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý điểm đến du lịch

Chương 2 Thực trạng công tác quản lý điểm đến du lịch thủ đô Viêng Chăn, nước CHDCND Lào

Chương 3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý điểm đến

du lịch thủ đô Viêng Chăn, nước CHDCND Lào

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ

ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 1.1 Cơ sở lý luận về điểm đến du lịch và quản lý điểm đến du lịch

1.1.1 Cơ sở lý luận về điểm đến du lịch

1.1.1.1 Một số khái niệm

Điểm đến du lịch là nơi có sức hấp dẫn và thu hút khách du lịch Điểm đến nào mang tính hấp dẫn và có sức thu hút càng cao thì lượng khách du lịch đến tham quan càng đông

Điểm đến du lịch chính là sự kết hợp các yếu tố vật chất và tinh thần, nhằm mang lại cho du khách sự thỏa mãn cao nhất khi dừng chân tham quan

và lưu trú tại một điểm du lịch Sự hài lòng của du khách chính là cơ sở để đánh giá sự phát triển du lịch của một điểm đến, tạo được bản sắc hấp dẫn riêng đủ để cạnh tranh và để chứng minh được khả năng đáp ứng các dịch vụ của điểm đến du lịch

Tổ chức Du lịch Thế giới Liên Hợp quốc năm 2007 đã đưa ra định

nghĩa sau: “Điểm đến du lịch là vùng không gian mà khách du lịch ở lại ít

nhất một đêm, bao gồm các sản phẩm du lịch, các dịch vụ cung cấp, các tài nguyên du lịch thu hút khách, có ranh giới hành chính dể quản lý và có dự nhận diện về hình ảnh để xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường”

Như vậy, với định nghĩa trên đã khái quát một cách cơ bản về điểm đến

du lịch trước hết phải là nơi mà du khách có thể lưu lại trong chuyến hành trình của mình Điểm đến du lịch đó phải đảm bảo tính hấp dẫn, đầy đủ các

sản phẩm, dịch vụ cung ứng cho khách như dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống

và các dịch vụ bổ sung khác Điểm đến du lịch phải có sự rõ ràng về ranh giới

hành chính để quản lý và nhận diện

Trang 17

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh và TS Nguyễn Đình Hòa trong giáo

trình Marketing du lịch (2009), Đại học Kinh tế Quốc dân, thì điểm đến du

lịch là “một địa điểm mà chúng ta có thể cảm nhận được bằng đường biên giới về địa lý, đường biên giới với chính trị hay đường biên giới với kinh tế,

có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút và đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch”

Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả lựa chọn và sử dụng định nghĩa của PGS.TS Trần Thị Minh Hòa trong tập bài giảng Marketing điểm đến du

lịch làm cơ sở lý luận về quản lý điểm đến: “Điểm đến du lịch là những điểm

có tài nguyên du lịch nổi trội, có khả năng hấp dẫn du khách, hoạt động kinh doanh du lịch có hiệu quả và đảm bảo phát triển bền vững”.

Trên cơ sở các khái niệm đã được đề cập, tác giả nhận thấy có những điểm chung về điểm đến du lịch như sau:

 Trước hết phải là điểm đến có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút khách du lịch

 Có ranh giới hành chính để quản lý và có sự nhận diện về hình ảnh

 Đảm bảo các điều kiện để du khách có thể lưu lại

 Phát triển ổn định và lâu dài

1.1.1.2 Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch

Điểm đến du lịch có thể là một nơi, một vùng hay một đất nước có sức hấp dẫn đặc biệt với người dân ngoài địa phương và có những thay đổi nhất định trong kinh tế do hoạt động du lịch gây nên Điểm du lịch có thể là bất cứ

điểm lớn hay nhỏ có hoạt động du lịch phát triển Tuy nhiên, điểm đến du lịch

muốn thu hút được khách du lịch và đáp ứng được các nhu cầu của du khách thì bản thân nó phải được hình thành từ những yếu tố cơ bản Những yếu tố

Trang 18

này sẽ tác động không nhỏ đến sự lựa chọn điểm đến du lịch của du khách

vậy, hầu hết các điểm đến bao gồm những hạt nhân cơ bản sau:

nguyên, ở khá năng đáp ứng được nhiều loại hình du lịch

- Giao thông đi lại

Giao thông đi lại cung cấp các liên kết cần thiết giữa khách du lịch và các khu vực điểm đến, tạo điều kiện cho việc di chuyển của du khách trở nên

thường xuyên, thoải mái, tiết kiệm và an toàn Sự sáng tạo và chuyên nghiệp

trong việc tổ chức giao thông du lịch sẽ là bàn đạp vững chắc, góp phần tăng thêm chất lượng điểm đến, duy trì nguồn khách hiệu quả và là một yếu tố quan trọng trong việc thu hút lượng khách tiềm năng

- Nơi ăn nghỉ

Đó là nơi du khách có thể tìm thấy một vị trí phù hợp để thư giãn, nghỉ ngơi và thưởng thức nét văn hóa đặc sản của nơi đến, thông qua kiến trúc, cách bày trí không gian lưu trú và quan trọng hơn hết là được hòa mình vào với những món ăn đặc sản của địa phương Tất cả những dịch vụ chất lượng

mà điểm đến cung cấp sẽ tạo nên một hiệu ứng tốt và khắc sâu hơn nữa trong lòng mỗi du khách theo thời gian

- Các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ

Nhu cầu của du khách là rất cao, nên các dịch vụ tại điểm đến được hình thành và phát triển mạnh mẽ thông qua các tổ chức du lịch địa phương

Trang 19

Đây là nhân tố kích thích sự hài lòng của khách du lịch và làm tăng thời gian lưu lại cuae khách

- Các hoạt động bổ sung

Hoạt động bổ sung đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh du lịch nhằm phục vụ cho những mong muốn đã dạng của du khách, kéo dài thời vụ trong du lịch, tăng doanh thu Các hoạt động bổ sung phổ biến như vui chơi

giải trí, hàng lưu niệm, chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp…

Các yếu tố như đã nêu ở trên chính là những tiêu chuẩn cho sự tồn tại của điểm đến du lịch Mỗi yếu tố đều có mức độ tác nhau khác đến từng du

khách và ngược lại mỗi du khách khác nhau lại cảm nhận khác nhau đối với tác động của các yếu tố cấu thành Tuy nhiên, đó chính là điều kiện cận thiết

để cấu thành điểm đến du lịch

1.1.1.3 Phân loại điểm đến du lịch

Có nhiều cách phân loại điểm đến khác nhau dựa vào những tiêu chí

cũng như mục đích nghiên cứu khác nhau

- Căn cứ vào hình thức sở hữu: Có điểm đến thuộc sở hữu nhà nước, có điểm đến thuộc sở hữu tư nhân

- Căn cứ vào địa hình: Có điểm đến ở vùng biển hay vùng núi

- Căn cứ vào giá trị tài nguyên du lịch: Có điểm đến có giá trị tài nguyên du lịch tự nhiên hoặc nhân văn

- Căn cứ vào vị trí quy hoạch: Điểm đến thuộc trung tâm du lịch của vùng hay những điểm đến phụ cận

- Một cách phân loại phổ biến thường được áp dụng, đó là dựa vào phạm vi và quy mô địa lý, bao gồm:

+ Điểm đến cấp quốc tế: Khu vực bao gồm nhiều hoặc một số quốc gia

(ASEAN, Đông Dương…)

Trang 20

+ Điểm đến cấp quốc gia: Lào, Việt Nam, Thái Lan, Campuchia… + Điểm đến cấp vùng: Bắc, Trung, Nam…

+ Điểm đến cấp địa phương hoặc đơn vị hành chính cá biệt: Thủ đô

Viêng Chăn, Văng Viêng, Luang Pra Bang…

1.1.2 Cơ sở lý luận về quản lý điểm đến du lịch

1.1.2.1 Những mục tiêu chính của quản lý điểm đến du lịch

- Phát triển một hệ thống thông tin du lịch năng động về điểm đến

Phát triển một hệ thống thông tin du lịch là vô cùng cần thiết nhằm tăng cường thông tin giữa các cơ quan công quyền, giữa các tổ chức công và tư, giữa chính quyền và nhân dân địa phương, giữa các tổ chức có trách nhiệm và

du khách tới điểm đến Tổ chức quản lý điểm đến cũng cần có trách nhiệm thu

thập thông tin của chính điểm đến du lịch và của cả thị trường bên ngoài trong

cấp qua nhiều phương thức khác nhau, ví dụ: Tờ rơi, quy tắc ứng xử và thuyết

minh Các thông tin này có thể có tại các trung tâm truy cập thông tin, các

điểm thu hút du khách và các công trình công cộng, chỗ ở của du khách…

Trên thực tế, mọi tổ chức điểm đến là “bên môi giới thông tin”, tổ chức điểm đến thu thập thông tin về: Các nguồn tài nguyên, các sản phẩm và dịch

vụ du lịch cho khách hàng tiềm năng hoặc khách du lịch, các cơ hội thị trường… Việc quản lý thông tin tốt là một yêu cầu cần thiết Điều này có

nghĩa là việc áp dụng một phương pháp thích hợp cho việc thu thập, lưu trữ

và phổ biến thông tin về điểm đến

Trang 21

- Xây đựng nên hình ảnh của một khu vực, một quốc gia như là một điểm đến du lịch

Để được biết đến rộng rãi trên trường quốc tế với những hình ảnh tích cực, một điều mà bất cứ một khu vực hay quốc gia nào cũng quan tâm là tạo dựng hình ảnh cũng như tăng cường công tác quảng bá xúc tiến, giới thiệu hình ảnh của khu vực, quốc gia ra ngoài trong một nỗ lực định vị điểm đến

Trong thời đại ngày nay, việc tạo dựng hình ảnh của khu vực, của quốc gia luôn được các nước cân nhắc kỹ lưỡng và đầu tư triển khai với sự hỗ trợ của các công nghệ tiên tiến hiện đại nhất một trong những yếu tố được đặc biệt

quan tâm khi tạo dựng hình ảnh là sự độc đáo so với các nước khác, các khu vực khác cũng khai thác triệt để ưu thế và lợi thế của địa phương

Sự hiện diện văn hóa của một địa phương, một khu vực hay một đất nước chính là hình ảnh ấn tượng của địa phương, của khu vực, của quốc gia

đó trong lòng du khách Hình ảnh ấn tượng đó có thể là một công trình kiến

trúc, tác phẩm âm nhạc, thơ văn, hội họa, điêu khắc, có thể là một danh thắng thiên nhiên, một nhân vật nổi tiếng, một phong tục tập quán, một lễ hội, những sản phẩm thủ công mỹ nghệ, công nghiệp, một con vật, một loài cây, loài hoa, thậm chí là một món ăn, một loài đồ uống Mỗi quốc gia hay mỗi

vùng miền có thể có một hình ảnh đặc trưng tiêu biểu, nhưng nhìn chung, các quốc gia thường có nhiều hình ảnh mang tính đặc trưng Ví dụ: khi nhắc đến

Pháp, điều mà ai cũng nghĩ đến đó là tháp Eiffel, nói đến Nhật Bản là núi Phú

Sỹ, rượu Sa Kê, trà đạo; nói đến Hàn Quốc không thế không nhắc đến món ăn Kim Chi… Những hình ảnh về một xứ sở nào đó sẽ được người dân các xứ sở khác đón nhận, ghi nhận và lưu giữ để trở thành biểu tượng Khi có một sự tác

động nhất định, biểu tượng đó sẽ hiện diện trong đầu óc con người theo quy luật liên tưởng

Trang 22

Hình ảnh quốc gia, khu vực luôn phải gắn liền với thực tế của đất nước, khu vực đó, không thể tạo ra những hình ảnh giả tạo, che giấu sự thật trong

thời đại công nghệ thông tin và thế giới hội nhập với tính công khai minh bạch ngày càng cao Nói cách khác một hình ảnh chỉ có thể tồn tại lâu dài khi

nó phản ảnh chân thực những giá trị của địa phương hay quốc gia đó về lịch

sử, sự phát triển kinh tế xã hội, công nghệ, con người, điều kiện địa lý đặc thù, điểm đến, môi trường kinh doanh, sự vận động và năng động của quốc gia, chất lượng sống, sự sáng tạo, nhất là giá trị nhân văn

Hầu hết các khu vực, các quốc gia có tài nguyên cũng như điều kiện để phát triển du lịch đều muốn thu hút đầu tư và gia tăng lượng khách du lịch, mong muốn cộng đồng toàn cầu nhận thức tích cực về các sản phẩm do địa phương hay quốc gia đó sáng tạo Do đó, mỗi khu vực, mỗi quốc gia muốn

phát triển du lịch phải tạo dựng một hình ảnh như là thương hiệu riêng để đánh thức sự nhận biết về bản sắc riêng của mình nhất là trong thời kỳ hội nhập và cạnh tranh Một thông điệp định vị rõ ràng hay một hình ảnh tích cực

sẽ giúp khu vực đó chiếm một vị trí nhất định trong tâm trí người nước ngoài khi họ quyết định đầu tư, đi du lịch hay mua sản phẩm Đổi lại, thương hiệu

nổi tiếng cũng góp phần tạo nên hình ảnh đặc trưng cho vùng miền, khu vực, quốc gia từ đó đem lại những lực đẩy vô cùng quan trọng như: bùng nổ dự án

đầu tư nước ngoài, tăng số lượng khách du lịch, tăng hạn ngạch xuất khẩu và còn thu hút nhân tài, khơi dậy niềm tự hào trong mỗi công dân

- Tạo ra sự nhận thức tốt hơn về điểm đến trên thị trường du lịch

Kinh doanh du lịch thường đem lại nhiều lời ích đặc biệt là về lĩnh vực

kinh tế đối với một địa phương nhưng không phải cộng đồng nào cũng nhận thức được đầy đủ về điều này Việc nâng cao nhận thức về du lịch là điểm đến

du lịch có thể làm cho cộng đồng về nguồn tài nguyên của khu vực, tăng

Trang 23

cường sự hỗ trợ nói chung cho ngành du lịch và cải thiện mối quan hệ giữa khách du lịch với cộng động rộng lớn Người dân có thể trở thành đại sứ du

lịch phi chính thức cho điểm đến du lịch Từ nhận thức đó sẽ giúp phát triển ý

thức cộng đồng, nâng cao niềm tự hào của cộng đồng về nguồn tài nguyên của khu vực, tăng cường sự hỗ trợ nói chung cho ngành du lịch và cải thiện mối quan hệ giữa khách du lịch với cộng đồng rộng lớn Người dân có thể trở

thành đại sứ du lịch phi chính thức cho điểm đến du lịch Trong việc nâng cao

nhận thức về du lịch và điểm đến du lịch tổng cục du lịch Malta đã có một loạt các hoạt động khá hữu dụng Có thể kể đến như: các tờ rơi, áp phích đã

được phân phát trên khắp hòn đảo này với một phong điệp nhấn mạnh tới lợi ích kinh tế của du lịch Poster mang thông điệp “Du lịch = 350 triệu Lira Malta (đồng tiền của Malta) + 40.000 việc làm Vai trò của bạn trong ngành

du lịch là rất quan trọng” Chiến dịch đó là phần nào nỗ lực trên toàn quốc mà

do Bộ Du lịch và Tổng cục Du lịch Malta chỉ đạo để nhấn manhi tấm quan

trọng của ngành du lịch Hành động trên đã tác động không nhỏ tới điểm đến

Malta và thu hút sự chú ý của đông đáo khách du lịch quốc tế đến toàn đảo

xinh đẹp nhằm trên biển Đại Tây Dương bởi lẽ nhận thức về điểm đến du lịch không chỉ ở khách du lịch mà còn ở chính cộng đồng cư dân địa phương,

chính quyền địa phương và các nhà cung ứng của điểm đến đó

1.1.2.2 Nội dung của quản lý điểm đến du lịch

- Tạo ra một Ban quản lý (BQL) mạnh

Bất cứ điểm đến du lịch nào dù đã có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài cho đến những điểm du lịch mới được công bố cũng cần có một BQL chính thức BQL của điểm điểm đến có thể là một cơ quan có trách nhiệm

trong việc chỉ đạo các nguồn lực, phối hợp với các cơ sở du lịch địa phương, với các công ty du lịch quốc tế hay nội địa, các tổ chức có liên quan ở trong

Trang 24

và ngoài nước BQL điểm đến du lịch còn có trách nhiệm chỉ đạo các chương

trình quản lý chất lượng toàn diện nhằm hướng tới việc thu được kết quả cũng như mục tiêu đã đề ra Như vậy, vai trò cơ bản của các nhà quản lý điểm đến

du lịch sẽ là giám sát, kiểm tra hoạt động của các doanh nghiệp và cư dân địa phương Đây là một trong những lý do tạo ra mối quan hệ tương hỗ giữa bốn

nhóm đối tượng: khách du lịch, nhà cung ứng du lịch, cư dân địa phương và chính quyền địa phương

Để giúp cho công tác quản lý điểm đến du lịch được thực hiện một cách hiệu quả, yêu cầu đặt ra trước tiên đó là phải có một đội ngũ làm việc khoa học, hiệu quả, quen thuộc với địa bàn và nhiều điểm đến khác trên toàn thể giới… Các thành viên của BQL về cơ bản phải có kiến thức nền tảng về chuyên môn đồng thời có kỹ năng phân tích những diễn biến hiện có trong ngành du lịch Đó có thể là những cơ hội hoặc thách thức đặt ra cho ngành du

lịch cũng như các điểm đến du lịch mà các thành viên trong BQL cần nhận biết, xem xét, phân tích để có được những quyết định đúng đắn trong công tác quản lý Việc hoàn thiện các chương trình quản trị chất lượng toàn diện có thể

sẽ cung cấp những phương thức cho việc hỗ trợ cho việc đưa ra những quyết định chung, để công tác và liên hệ giữa các bên liên quan

- Đặt được sự cam kết giữa lĩnh vực công và lĩnh vực tư nhân

Lĩnh vực công ở đây có thể hiểu là các cơ quan quản lý, còn lĩnh vực tư nhân bao gồm các doanh nghiệp và các cá nhân tham gia vào hoạt động kinh doanh du lịch tại điểm đến Giữa lĩnh vực công và lĩnh vực tư nhân trên thực

tế cần có sự phối hợp và sự liên kết chặt chẽ vì khu vực công có trách nhiệm trong việc lập và phê duyệt các kế hoạch, dự án để thiết kế bốii cảnh cho điểm đến một cách thích hợp Cụ thể, đó là các bộ, ủy ban, tổng cục, Ban thanh tra,

Ban thư ký và các hình thức tổ chức khác nhau nhằm chỉ đạo hoạt động du

Trang 25

lịch ở điểm đến Những cơ quan và tổ chức ấy là các cơ quan chính thức về du

lịch do Nhà nước lập ra để lãnh đạo ngành trong sự chỉ đạo thống nhất của nền kinh tế quốc dân Họ đại diện cho chính quyền địa phương hoặc Trung

ương đảm bảo sự sẵn sàng thực sự để phục vụ khách du lịch trong vùng hoặc trong cả nước Hoạt động của các cơ quan đó nhằm soạn thảo và thực hiện các

phương sách của chính sách kinh tế trong lĩnh vực du lịch (nâng cao nhận thức

về du lịch cho dân tộc, xây dựng tình cảm hữu hảo đối với khách du lịch ngoại quốc, đẩy mạnh và nâng cao lòng yêu tổ quốc của nhân dân…); chăm lo

về việc giữ gìn các giá trị thiện nhiên, văn hóa và lịch sử, lãnh đạo trực tiếp việc tổ chức và kinh doanh du lịch; tổ chức tuyên truyền và quảng cáo du lịch

ở trong và ngoại nước; mở rộng và thức đẩy các mối quan hệ du lịch quốc tế; tham gia vào các tổ chức quốc tế về du lịch; mở các viện nghiên cứu để dự báo các vấn đề về du lịch,… Khu vực tư nhân với tư cách là các đơn vị kinh

tế phục vụ khách du lịch được gọi là các tổ chức kinh doanh du lịch và chăm

lo trực tiếp đến các hoạt động tiếp nhận khách Đó là các cơ quan đảm bảo về

việc di chuyển, đảm bảo việc ăn, ngủ, giải trí và hàng hóa phục vụ khách du lịch Các tổ chức du lịch kinh doanh, sản xuất và tiêu thụ các dịch vụ du lịch,

lập kế hoạch và tổng kết hoạt động kinh doanh và đơn vị trực thuộc

Vai trò của Nhà nước trong ngành du lịch đang trải qua một sự thay đổi

từ mô hình khu vực công truyền thống với những chính sách của chính phủ sang một mô hình mang tính doanh nghiệp, nhấn mạnh vào hiệu quả làm việc, thu nhập, vai trò của thị trường và quan hệ đối tác giữa khu vực công và khu vực tư nhân Quan hệ đối tác như vậy có thể bao gồm một loạt các cấp độ tham

gia khác nhau từ những giao ước không chính thức cho tới các giao ước hợp đồng bao gồm: Mối quan hệ làm việc tốt đẹp giữa hai hay nhiều đối tác; sự

phối hợp rời rạc hay điều chỉnh lẫn nhau về các chính sách và thủ tục của các

Trang 26

đối tác để đạt được mục tiêu chung; các thỏa thuận tạm thời nhằm thực hiện một nhiệm vụ, dự án cụ thể; phối hợp thường xuyên hoặc lâu dài thông qua một thỏa thuận chính thức để thực hiện một chương trình hoạt động cụ thể… Các quan hệ đối tác có thể đượchình thành nhằm vào các mục đích kinh tế xã hội và môi trường Các mối quan hệ đối tác này có thể tồn tài ở nhiều cấp độ

khác nhau Vai trò ngày càng lớn của công tác quản lý điểm đến du lịch là

nhằm hỗ trợ việc duy trì và phát triển các quan hệ đối tác, đặc biệt là tạo thuận

lợi cho việc lập kế hoạch và đưa ra việc quản lý điểm đến để đảm bảo cho du khách có thể trải nghiệm chuyến du lịch của mình một cách tốt nhất

Lợi ích của sự hợp tác này sẽ giúp tránh được sự trùng lặp, lãng phí các nguồn lực tài chính và cung cấp các kênh truyền thông tốt hơn để lập kế hoạch, quyết định và áp dụng chúng vào trong thực tế Nhằm đem lại sự hợp

lý về thời gian và tài chính cũng như xây dựng được hệ thống sản phẩm phù hợp cần có sự hợp tác cơ quan quản lý và các doanh nghiệp, cá nhân tham gia vào hoạt động du lịch Sự hợp tác này mang lại lợi nhuận cho các doanh

nghiệp, cá nhân còn cơ quan quản lý nhà nước lại có nhiều lợi thế hơn như tạo được nền kinh tế cân bằng, ổn định Như vậy, việc tạo lập sự liên kết trong

quản lý điểm đến liên quan tới lĩnh vực công và lĩnh vực tư nhân, các tổ chức phi lợi nhuận, những người dân địa phương là rất cần thiết Đây chính là một

yêu cầu trong việc phát triển du lịch bền vững

- Quản lý nhân lực

Ngành du lịch là ngành có nguồn lao động chuyên sâu và có sự tương tác với cộng đồng địa phương, là khía cạnh quan trong của trải nghiệm du lịch Lực lượng lao động du lịch được đào tạo tốt cùng những công dân được

trang bị kiến thức nhận thức được những lợi ích cùng trách nhiệm của mình là những yếu tố thúc đẩy sự phát triển du lịch và cũng là yếu tố không thể thiếu

Trang 27

của điểm đến du lịch, cần phải được quản lý phù hợp với chiến lược điểm đến

du lịch Nói cách khác, để phát triển du lịch, quản lý điểm đến cần quan tâm

đến phát triển chương trình đào taaoj cho cán bộ, lao động trong ngành du lịch và người dân địa phương để nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến

du lịch

Đồng thời, quản lý nguồn nhân lực của điểm đến du lịch cần quan tâm đến mối quan hệ giữa các bên liên quan tới hoạt động du lịch như chính quyền địa phương, khách du lịch và nhà cung ứng du lịch Những chủ thể này

có mối quan hệ tương tác với nhau rất chặt chẽ và ảnh hưởng mạnh mẽ toiwscoong tác quản lý nguồn nhân lực của điểm đến Có thể hiểu về vấn đề

này ở một khía cạnh hẹp như sau: Ví dụ, thông thường, nhà cung ứng du lịch

nào cũng quan tâm tới hiệu quả kinh doanh của mình nên bản thân họ và nhân viên của họ phải có thái độ lịch sự, thân thiện với khách du lịch nhưng với cư dân địa phương thì điều này họ có thể thực hiện hoặc không Thái độ và

những biểu hiện của họ còn phụ thuộc vào nhận thức, lợi ích mà họ nhìn thấy

từ khách du lịch và hoạt động du lịch Trong khi đó, du khách sẽ nhận thấy

một điểm đến du lịch an toàn, thân thiện khi những người mà họ tiếp xúc ở điểm đến đó tạo cho họ cảm giácan toàn và thân thiện Ngoại đội ngũ lao động

trực tiếp trong ngành du lịch ở các lĩnh vực như lữ hành, khách sạn,… thì đối tượng thường xuyên tiếp xúc với khách du lịch có thể là những người lái xe taxi, những người giữ đồ, người dân địa phương không lao động trong ngành

du lịch nhưng ở tại điểm du lịch,… Tất cả những đối tượng trên cần được đào tạo, tác động trực tiếp hay gián tiếp đến nhận thức cũng như ý thức của họ về việc cần cư xử một cách lịch sử, có văn hóa với khách du lịch vì nếu những cá nhân này gây ấn tượng tốt hay xấu có thể ảnh hưởng đến ngành du lịch của cả

địa phương mà trước hết là hoạt động du lịch của điểm đến

Trang 28

- Quản lý môi trường

Môi trường du lịch ở đây có thể hiểu theo nghĩa hẹp, đó là các vấn đề liên quan tài nguyên du lịch (tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn), các

vấn đề về cảnh quan, không khí, nguồn nước… Công tác quản lý môi trường cần quan tâm tới những tác động của khách du lịch, của dân cư sở tại và nhà cung ứng du lịch tới môi trường du lịch để có những biện pháp thích hợp cho

sự phát triển du lịch của điểm đến Chất lượng môi trường hiện nay đã trở

thành một yếu tố quan trọng để phát triển các điểm đến du lịch, thúc đẩy lượng khách tham quan và làm tăng sức cạnh tranh của một điểm đến Cụ thể,

những du khách có nhiều kinh nghiệm sẽ lựa chọn những điểm đến du lịch có môi trường trong sạch, có những yếu tố hấp dẫn du khách và đáp ứng được tốt khả năng lưu lại của du khách như dịch vụ ăn uống, dịch vụ lưu trũ và dịch vụ

bổ dung Tuy nhiên, phát triển du lịch và giữ gìn môi trường tự nhiên là hai

vấn đề có mối quan hệ phụ thuộc vào nhau nhưng lại hết sức phức tạp Du lịch

luôn đòi hỏi lợi ích tài chính cao ở những địa điểm có môi trường trong sạch

và nguyên vẹn, nhưng khi du lịch ảnh hướng tới môi trường một cách tiêu cực thì lợi ích thu được từ môi trường sẽ không được lâu dài và ổn định Chính vì

vậy hiện nay, hầu hết các điểm đến du lịch đều hướng tới mục tiêu phát triển

du lịch bền vững có nghĩa là bền vững về kinh tế, môi trường, văn hóa xã hội

Quản lý môi trường ở điểm đến du lịch cũng đặt trong hướng phát triển chung

đó

- Tạo ra sự hợp tác giữa các doanh nghiệp du lịch

Một điểm du lịch hình thành cần có những nhân tố sau: Tài nguyên du

lịch hấp dẫn, khả năng lưu lại của du khách, giao thông đi lại Có những donah

nghiệp chuyên kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống, có những doanh nghiệp lại chủ yếu hoạt động bên lĩnh vực vận chuyển… Nhu cầu của du khách lại vô

Trang 29

cùng đa dạng và phong phủ Vì vậy, để đáp ứng được những nhu cầu đó một

cách tốt nhất các doanh nghiệp du lịch cần phải có sự hợp tác với nhau Sự

hợp tác chặt chẽ giữa các doanh nghiệp du lịch sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho điểm đến Đồng thời, việc hợp tác này sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các nhà

kinh doanh riêng lẻ có thể chia sẻ thông tin, hỗ trợ lẫn nhau, giúp các doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển một cách lâu dài, ổn định

Một lý do nữa để thấy rằng các doanh nghiệp du lịch địa phương có sựhợp tác với nhau đó là tính thời vụ trong du lịch Vào thời vụ chính, lượng

khách du lịch đến đông hay cuối vụ và ngoài vụ du lịch khách du lịch tới ít, việc hợp tác giữa các doanh nghiệp du lịch sẽ tránh được hiện tượng bán phá giá hay nâng giá, hạ giá một cách tự phát theo tính toán riêng của một doanh nghiệp nào đó Chính vì vậy, việc tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp

du lịch địa phương có ý nghĩa hết sức quan trọng

- Hợp tác và phối hợp với các nhà cung ứng

Các nhà cung ứng cần có sự hợp tác và phối hợp với nhau Những nhà

cung ứng dịch vụ, hàng hóa du lịch tại địa phương hay trên những địa bàn khác luôn cần có sự liên hệ, hỗ trợ, hợp tác lẫn nhau ví dụ như doanh nghiệp

ở nơi gửi khách và nơi nhận khách Các nhà cung ứng này có nhiệm vụ quan

trọng trong nỗ lực quảng cáo những điểm đến du lịch như xúc tiến, phân phối, tạo dựng hình ảnh cho điểm đến và đương nhiên, những hoạt động đó cần có

sự hợp tác giữa các nhà cung ứng với nhau

Khách du lịch khó có thể có một ấn tượng tốt đẹp về một điểm đến nào

đó nếu như các nhà cung ứng khồn có sự hợp tác với nhau Có nghĩa là không

chỉ các doanh nghiệp địa phương phải hợp tác với nhau mà những doanh nghiệp hay cụ thể hơn là các nhà cung ứng có liên quan tới chuyển đi của du khách phải hỗ trợ nhau để đem lại những sản phẩm du lịch tốt nhất cho du

Trang 30

khách Việc hợp tác này tạo ra những hình ảnh tốt về điểm đến trong lòng du

khách và đương nhiên, những nhà cung ứng ở các địa phương khác sẽ theo đó

để hoạt động lâu dài, hiệu quả

- Phát triển sản phẩm

Điều này là rất quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững của điểm đến Một điểm đến du lịch nếu không chú trọng đến hoạt động phát triển sản

phẩm thì sẽ nhanh chóng bị rơi vào tình trạng bão hòa và suy thoái trong chu

kỳ sống của sản phẩm Các điểm đến du lịch phải đưa ra những điều kiện cơ

bản để thu hút du khách muốn tham quan và trải nghiệm, đồng thời phải trang

bị cơ sở để du khách có thể lưu lại như chỗ ở, ăn uống Đặc biệt, các điểm đến

muốn phát triển sản phẩm của mình cần chú ý đến vấn đề giao thông vận tải phục vụ cho việc tiếp cận điểm đến và trong nội vùng của điểm đến Điều

quan trọng nhất là điểm du lịch phải được cải thiện và mở rộng không ngừng phù hợp với xu hướng phát triển mới trên thị trường Đây là một yêu cầu

không thể thiếu để phát triển sản phẩm du lịch Ngoài ra, các sản phẩm du lịch

phi vật thể cần được sắp xếp một cách thuận tiện, hấp dẫn và gần gũi Việc sắp

xếp thành hành trình gồm một loạt các điểm tham quan, trải nghiệm, các sản phẩm và dịch vụ có thể được cung cấp theo chủ đề, hành trình đã được đề xuất hoặc vị trí địa lý sẽ là một thuận lợi không nhỏ cho khách du lịch trong quá trình tham quan, thẩm nhận… các giá trị vật chất, tinh thần độc đáo, khác

lạ của điểm đến du lịch

1.1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý điểm đến du lịch

- Khả năng quản lý

Quản lý điểm đến hiệu quả cho phép điểm đến du lịch tối đa hóa giá trị

du lịch cho du khách đồng thời đảm báo lợi ích của cộng đồng địa phương và phát triển du lịch bền vững Chính vì vậy, khả năng quản lý là yếu tố đầu tiên,

Trang 31

liên quan đến sự chỉ đạo và hành vi của BQL du lịch trong việc thực hiện các chương trình nhằm đạt được mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài

Công việc quản lý là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo hay khích lệ nhân viên, kiểm soát hệ thống tiêu chuẩn và thông tin Nhiệm vụ của công việc này

bao gồm: tạo tầm nhìn cao điểm đến, đào tạo nhân viên, hướng dẫn cho cư

dân địa phương, lên kế hoạch quảng bá và quản lý vấn đề nghiên cứu thịtrường nhằm đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng

- Chiến lược và chính sách

Về mặt lý thuyết, chiến lược được hiểu là những cách thức mà nhờ đó,

những mục tiêu dài hạn có thể đạt được; chính sách là chỉ ra những phương cách được vận dụng để đạt tới những mục tiêu thường niên của doanh nghiệp

Chính sách bao gồm những hướng dẫn, quy định, những phương thức được lập ra để phụ giúp cho những nỗ lực nhằm đạt tới những mục tiêu đề ra

Những chiến lược và chính sách liên quan đến điểm đến du lịch đều tuân theo cả tiêu chuẩn trong nước và quốc tế nhằm mục tiêu phát triển du lịch bền vững Phần lớn các tiêu chuẩn và chính sách đều tập trung đến hệ

thống chất lượng dịch vụ phải đảm bảo sự phát triển ngành du lịch không

mang lại nguy hại cho các bên liên quan như khách du lịch, nhà cung ứng du lịch, chính quyền địa phương, cư dân địa phương… thậm chí là cả các ngành nghề khác ở địa phương đó (ví dụ: nông nghiệp, thủ công nghiệp…) Các chiến

lược và chính sách sẽ được BQL đưa ra nhằm tập trung khai thác, giữ gìn, bảo tồn những điểm đến du lịch một cách khoa học và hiệu quả

- Phương pháp, mô hình quản lý

Một trong những yếu tố tác động tới công tác quản lý điểm đến du lịch chính là phương pháp và mô hình quản lý Có nhiều phương pháp và mô hình

quản lý khác nhau tùy theo lĩnh vực hoạt động Trong cơ sở lý luận của đề tài,

Trang 32

tác giả đưa ra hai mô hình quản lý đang được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực đặc biệt là quản lý điểm đến du lịch: Mô hình phổ biến được áp dụng trong quản lý điểm đến là Quản lý theo tiêu chuẩn châu Âu (EFQM) và mô

hình đầu tư công – quản lý tư

+ Về mô hình quản lý theo tiêu chuẩn châu Âu (EFQM)

Đầu năm 1992, mô hình này được giới thiệu và nhanh chóng áp dụng rộng rãi tại châu Âu Đây chính là cơ sở đánh giá các doanh nghiệp của giải

thưởng chất lượng châu Âu và trở thành nền tảng vững chắc đối với phần lớn các giải thưởng chất lượng trong khu vực Về cơ bản, mô hình này dựa trên

nguyên lý quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management – Quản trị

chất lượng toàn diện) để định ra các tiêu chí và các mức độ của từng tiêu chi

nhằm đánh giá trình độ quản lý của từng đơn vị Nhờ mô hình này, các nhà

quản lý sẽ biết được trình độ quản lý của mình đang ở mức độ này và xác định được các điểm hạn chế để từ đó tìm ra phương hướng phát triển tốt hơn

Mô hình này sẽ là một công cụ hiệu quả để tìm ra quyết sách ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn phù hợp để phát huy được điểm mạnh, tận dụng được những

cơ hội, đương đầu với thách thức để đạt được hiệu quả quản lý

+ Mô hình đầu tư công – quản lý tư:

Mô hình này giúp thực hiện các dự án hiệu quả nhằm thu hút, khuyến khích cạnh tranh, sáng tạo, kinh nghiệm và nguồn lực của khu vực tư nhân, qua đó nâng cấp theo tiêu chuẩn quy định, đáp ứng yêu cầu và lợi ích của người tiêu dụng

Quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của nhà đầu tư và cơ quan nhà nước được thảo luận bình đẳng, công bằng trên cơ sở hợp đồng, dự án, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa nhà đầu tư, nhà nước và người sử dụng, tạo điều kiện để nhà đầu tư thực hiện dự án, thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý

Trang 33

Nhà đầu tư chịu trách nhiệm thực hiện dự án theo tiến độ, chất lượng, yêu cầu và điều kiện thỏa thuận tại hợp đồng dự án; cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện dự án thoe điều kiện thỏa thuận

1.1.2.4 Lợi ích của công tác quản lý điểm đến du lịch

- Tạo lợi thế cạnh tranh

Hai yêu cầu rất quan trọng cho các điểm đến để đạt được một lợi thế cạnh tranh hơn các đối thủ của họ, cụ thể là:

+ Thiết lập một vị trí mạnh mẽ và độc đáo, tức là cung cấp các trải nghiệm khác biệt so với các điểm đến khác, bằng cách phát huy tính hấp dẫn của điểm đến và nguồn lực nhằm làm nổi bật đặc điểm độc đáo của nó

+ Cung cấp chất lượng tốt và giá trị vượt trội cho điểm đến, bằng cách đảm bảo rằng tất cả các dịch vụ, sản phẩm mà cách tiếp cận, tiêu dụng đều đạt tiêu chuẩn cao nhất

- Đảm bảo phát triển bền vững du lịch

Phát triển du lịch bền vững với sự quản lý thích hợp và lập kế hoạch đảm bảo rằng các điểm đến được duy trì tính toàn vẹn môi trường và các nguồn tài nguyên du lịch Những điều này đã làm cho điểm đến trở nên hấp

dẫn hoặc cũng có thể giúp tránh được những xung đột xã hội và văn hóa cũng như ngăn chặn những ảnh hưởng của du lịch đến lối sống, truyền thống và các giá trị địa phương

- Phát triển các lợi ích của du lịch

Việc chi tiêu cho du lịch và lợi ích kèm theo có thể được phát triển hơn nữa bằng cách hỗ trợ phát triển cộng đồng dựa vào sản phẩm và trải nghiệm của du khách, thúc đẩy du lịch nông thôn, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nhỏ, khám phá tiềm năng của ngành công nghiệp thủ công mỹ nghệ…

- Nâng cao hiệu quả/lợi nhuận du lịch

Trang 34

Thông qua tập trung phát triển không gian và đặt mục tiêu quảng bá, các điểm đến có thể kéo dài thời gian lưu trú trung bình của du khách, tăng chi tiêu bình quân của du khách và giảm tính thời vụ không mong muốn trong chuyến thăm của họ; tất cả điều đó góp phần vào việc khắc phục, bù đắp được chi phí đầu tư, đem lại lợi nhuận theo đầu người từ mỗi du khách

- Xây dựng một bản sắc thương hiệu mạnh và gây ấn tượng sâu sắc Việc xây dựng bản sắc thương hiệu và gây ấn tượng sâu sắc là đóng vai

trò quan trọng, là một giai đoạn nhận thức về vai trò thương hiệu đối với doanh nghiệp, sản phẩm, địa phương và quốc gia trong chiến lược phát triển kinh tế và toàn cầu hóa Thương hiệu và Sở hữu trí tuệ cũng là những chuẩn

mực của sân chơi quốc tế, vốn từng là rào cản của tiến trình gia nhập WTO

Vì vậy, hiện nay là giai đoạn ứng dụng thương hiệu một cách chuyên nghiệp, dựa trên nhận thức các thể loại thương hiệu, nhãn hiệu… trong đó

thương hiệu địa phương, và thương hiệu du lịch địa phương cũng cần được xây dựng một cách chuyên nghiệp Xây dựng thương hiệu du lịch địa phương

đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc các vấn đề: kinh tế và phi kinh tế; văn hóa địa

phương và văn hóa quốc tế; kinh tế hàng hóa và kinh tế giá trị mềm; chiến

lược, quản trị hài hòa với năng lực sáng tạo và truyền thông

Không có một chiến lược thương hiệu tách biệt cho từng lĩnh vực, ngành nghề Thương hiệu là vấn đề chủ đạo, liên ngành và đa sản phẩm, đa

lĩnh vực Rất khó để tách thương hiệu hàng hóa địa phương ra khỏi thương

hiệu du lịch địa phương

Các tổ chức quảng bá điểm đến đang ngày càng nhận ra giá trị và sức mạnh của thương hiệu điểm đến mạnh Bởi một điểm đến du lịch có thương

hiệu luôn cung cấp giá trị tuyệt vời, sự ưa chuộng của du khách đối với

Trang 35

thương hiệu gia tăng và các du khách ghé trở lại điểm đến du lịch đó một cách thường xuyên

1.2 Kinh nghiệm quản lý điểm đến du lịch và bài học vận dụng cho thủ đô Viêng Chăn

1.2.1 Kinh nghiệm nước ngoài

1.2.1.1 Kinh nghiệm về công tác quản lý điểm đến du lịch của Thái Lan

Thái Lan là một quốc gia có lợi thế về du lịch, có tài nguyên du lịch rất

đa dạng từ Bắc đến Nam và có sẵn để chứa khách du lịch Điểm đến du lịch của Thái Lan nhiều nơi có vẻ đẹp độc đáo và được Thế giới công nhận Thái

Lan nổi tiếng với cách làm du lịch chuyên nghiệp khiến du khách hào hứng

trả tiền rất “tự nguyện” khi sử dụng dịch vụ Nhiều khách đã đến Thái Lan một lần đều muốn trở lại lần thứ hai, thứ ba

Thái Lan có bộ máy quản lý nhà nước về du lịch trong Bộ Thể thao và

Du lịch và các chính sách vĩ mô được thực hiện bởi cơ quan Bộ Cơ cấu tổ

chức của Bộ theo ngành dọc đến địa phương chỉ theo vùng, đại diện vùng đặc

trách đối với nhiều tỉnh Để trở thành “thiên đường du lịch” Thái Lan có công tác quản lý điểm đến du lịch như:

- Công tác quảng bá xúc tiến du lịch

Công tác xúc tiến quảng bá phát triển du lịch được thực hiện bởi Cơ

quan du lịch Thái Lan (TAT) TAT hoạt động chuyên nghiệp gồm các đại diện vùng và các văn phòng đại diện ở nước ngoài Trong tổ chức bộ máy, TAT có

quy định rất rõ về nhân sự bao gồm số lượng và vị trí công tác của các đại diện

tại trung ương và địa phương trong mỗi văn phòng đại diện Công tác xúc tiến

quảng bá đặc biệt tại các thị trường quốc tế được ngành Du lịch Thái Lan rất

Trang 36

quan tâm và tổ chức khá đồng bộ từ việc mở văn phòng đại diện tại các thị trường trọng điểm đến hoạt động thăm dò ý kiến khách du lịch

Thông qua TAT, ngành Du lịch Thái Lan dành nguồn kinh phí khá lớn cho hoạt động xúc tiến thị trường, các văn phòng đại diện mỗi năm được cấp khoảng 0, 5 triệu USD cho hoạt động xúc tiến, vì vậy việc triển khai xúc tiến

quảng bá đến các thị trường được tiến hành khá đồng bộ

Ngoài ra để thúc đẩy hoạt động quảng bá hình ảnh quốc gia và thu hút khách du lịch, còn có sự kết hợp chặt chẽ của cơ quan du lịch Thái Lan với đại diện cơ quan ngoại giao và hãng hàng không quốc gia thông qua hoạt động quảng bá truyền thống dân tộc, sự kiện văn hóa, thể thao, đặc biệt tận

dụng vai trò trung tâm trong khu vực ASEAN

- Dịch vụ cung cấp thông tin

Dịch vụ cung cấp thông tin cho khách rất tốt Tại sân bay, các điểm du

lịch đều có Trung tâm hỗ trợ thông tin cho khách, cung cấp nhiều loại ấn

phẩm giới thiệu các sản phẩm du lịch cụ thể và đa dạng

- Xây dựng sản phẩm du lịch

Loại hình du lịch vui chơi giải trí và mua sắm được triển khai tốt với nhiều hình thức đa dạng nhằm khai thác tối đa khả năng chi tiêu của khách du

lịch Các khu du lịch trọng điểm đều có sản phẩm đặc trưng như tại Phuket là

hoạt động đánh golf; trung tâm mua sắm, ẩm thực và Fantasy show; hoạt

động thể thao mặt nước và lặn biển tại đảo Phi Phi

Tại Pattaya có Alcaza show; du lịch tắm biển, phơi nắng và nhảy dù tại đảo San Hô; các nhà hàng ăn uống đặc trưng của các quốc gia, các chương

trình ca nhạc dân tộc

- Chất lượng đội ngũ lao động và công tác đào tạo nguồn nhân lực

Nét nổi bật của lực lượng lao động ngành Du lịch Thái Lan là tính chuyên nghiệp, tinh thần thái độ phục vụ chu đáo và sự thể hiện quan tâm đến

Trang 37

vấn đề này của các đơn vị sử dụng lao động Cán bộ thuộc các cơ quan chuyên trách về du lịch sử dụng ngoại ngữ (tiếng Anh) khá thành thạo

Tại cơ sở đào tạo nguồn nhân lực du lịch (Trường Cao đẳng Du lịch quốc tế) các kỹ năng nghề và ngoại ngữ rất được chú trọng (thời lượng học nghề và yêu cầu thực hành tại cơ sở tại chỗ của Nhà trường khá cao, tiếng Anh tối thiểu 550 điểm TOEFL) để đáp ứng ngay cho nhu cầu phát triển

nhanh của ngành Du lịch Ngoài ra, việc đẩy mạnh hoạt động hợp tác quốc tế,

học tập kinh nghiệm nước ngoài trong đào tạo nguồn nhân lực du lịch đặc biệt

được quan tâm

- Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong phát triển du lịch

Để đáp ứng nhu cầu thu hút khách và đảm bảo vị trí trong thế phát triển cạnh tranh, Du lịch Thái Lan áp dụng khá nhanh chóng các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại trong các lĩnh vực hoạt động du lịch từ quy hoạch thiết kế công

trình du lịch, các công nghệ dịch vụ du lịch đến các dịch vụ hạ tầng giao thông, bưu chính viễn thông, ngân hàng… để tạo sự hài lòng cho khách du lịch

Đặc biệt là trong lĩnh vực vui chơi giải trí và mua sắm được các nhà đầu tư áp dụng triệt để nhằm tạo cảm giác cho du khách „‟bằng lòng trả tiền‟‟

của du khách

- Công tác bảo vệ môi trường du lịch

Thái Lan có quy định tiêu chuẩn chất lượng môi trường của các khu du

lịch, bãi biển và cơ sở sở lưu trú Các đơn vị chủ quản nếu vi phạm sẽ bị phạt hoặc thu hồi giấy phép

Công tác kiểm tra được thực hiện thường xuyên nên chất lượng môi

trường tại các khu du lịch khá trong sạch Cộng đồng tại các khu du lịch có ý

thức tự bảo vệ môi trường như tự thu dọn vệ sinh, tự cảnh báo cho khách du

Trang 38

lịch vào khu vực dịch vụ mà theo họ là có hàng giả, không có hiện tượng đeo

bám khách du lịch để chào bán hàng tại các khu du lịch lớn

Chính quyền tại các địa phương phát triển du lịch chú trọng đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường để phát triển bền vững như tại tỉnh Phuket có nhà

máy chế biến rác Phối hợp liên ngành để phát triển du lịch để đảm bảo du lịch

phát triển đem lại lợi ích quốc gia, hoạt dộng phối hợp giữa các ngành với

ngành Du lịch Thái Lan được triển khai khá tốt

Các Bộ, Ngành như môi trường, đầu tư, giáo dục, chính quyền địa phương đều tham gia vào hoạt động xây dựng thể chế, các quy định và cử đại diện vào các Uỷ ban liên ngành để cùng phối hợp quản lý, giám sát sự hoạt động và kịp thời có những điều chỉnh tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch Thái

Lan phát triển

1.2.1.2 Kinh nghiệm về công tác quản lý điểm đến du lịch của Việt Nam

- Kinh nghiệm về công tác quản lý Vịnh Hạ Long tỉnh Quảng Ninh Với sự quan tâm chỉ đạo của chính phủ, sự giúp đỡ của Bộ Văn hóa,

Thể thao và Du lịch và các bộ, ban, ngành của Trung ương; sự phối hợp, hỗ

trợ của UNESCO và các tổ chức quốc tế khác, tỉnh Quảng Ninh đã có những

nỗ lực với nhiều giải pháp tích cực để quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị của Di sản Vịnh Hạ Long, trong đó quyết định thành lập BQLVHL với chức năng là cơ quan chuyên môn giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị Vịnh Hạ Long của tỉnh Quảng Ninh được xem là

chiến lược hiệu quả đưa công tác quản lý di sản đi vào nề nếp, ổn định

Sau khi Vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thể giới, Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh ra quyết định thành lập BQLVHL làm cơ quan trực thuộc UBND tỉnh Quảng Ninh, có chức năng giúp UBND tỉnh Quảng Ninh quản lý nhà nước đối với Vịnh Hạ Long nhằm giữ gìn, bảo

Trang 39

tồn và phát huy giá trị Vịnh Hạ Long, mà trọng tâm là khu vực Di sản thiên nhiên thế giới đã được UNESCO công nhận, đồng thời, chịu sự quản lý, chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban

Quốc gia UNESCO của Việt Nam và các Bộ, ngành liên quan

Đối với chức năng quản trị dịch vụ trên Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh mời các tổ chức, doanh nghiệp có năng lực để quản trị các hoạt động

dịch vụ này Đơn vị quản trị phải có phương án quản trị đáp ứng được yêu cầu

đổi mới, tạo ra nhiều sản phẩm du lịch có giá trị, nâng cao các hoạt động dịch

vụ trên Vịnh Hạ Long đảm bảo tính chuyên nghiệp, đồng bộ, bền vững, hiệu

quả và tôn vinh giá trị Di sản Tuy nhiên, tỉnh Quảng Ninh nhất quán quan điểm, đây không phải là dự án, do vậy không có giao quản lý đất, mặt nước

Đề án nâng cao chất lượng khai thác dịch vụ Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long với nhượng quyền thu phí trong vòng 50 năm mà Tập đoàn Bitexco (Công ty

TNHH và Kinh doanh Xuất nhập khẩu Bình Minh) vừa đề xuất UBND tỉnh

Quảng Ninh chưa biết sẽ kết quả ra sao nhưng ít nhất Tập đoàn này đã khởi

động cho một xu hướng cả về hợp tác công tư lẫn nhượng quyền thương hiệu

Ngay sau Betixco, một doanh nghiệp đang kinh doanh hiệu quả trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Tập đoàn Tuần Châu, cũng có công văn đề nghị muốn tham

gia đấu thầu quyền quản lý khai thác Vịnh Hạ Long

- Kinh nghiệm của tỉnh Nghệ An(tiếp giáp CHDCND Lào)

Nghệ An cũng là tỉnh tiếp giáp với Lào như Sơn La Về tài nguyên

du lịch, Nghệ An có nguồn tài nguyên rất phong phú với hệ sinh thái rừng

đa dạng, nhiều thảm thực vật, hệ động vật Cấu tạo địa chất phức tạp với nhiều núi cao, vực sâu tạo cho Nghệ An có nhiều thác nước đẹp như ở Pù Mát, thác Sao Va, Ba Cảnh, Thác Đũa Nghệ An cũng có nhiều suối nước nóng do vết nứt địa tầng kiến tạo nên Tài nguyên du lịch văn hóa, lịch sử cũng rất phong phú, được thừa hưởng bề dày phát triển Tính đến năm

Trang 40

2008, Nghệ An có khoảng 1.000 di tích lịch sử đã được nhận biết, trong đó

có 131 di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia Một số di tích nổi bật có thể

kể đến như khu Kim Liên, thành cổ Nghệ An, Làng Vạc, khu Mai Hắc Đế, Đền Cuông – An Dương Vương Ngoài ra, Nghệ An còn có nguồn tài nguyên văn hóa phi vật thể tiêu biểu và phong phú với khoảng 24 lễ hội trong năm Làng nghề truyền thống ở Nghệ An cũng khá phát triển với nhiều địa điểm có thể phát triển du lịch như làng đan nứa ở Xuân Nha, làng dệt thổ cẩm của người Thái ở Quỳ Châu, làng nghề trạm đá ở Diễn Châu Với những tiềm năng to lớn đó, trong thời gian qua, Nghệ An đã có những biện pháp tích cực nhằm khai thác, phát triển tiềm năng, thu hút đông đảo

du khách

+ Về chủ trương, chính sách phát triển du lịch: Ngay từ năm 1996,

Nghệ An đã xây dựng Quy hoạch và định hướng chiến lược phát triển du lịch Nghệ An thời kỳ 1996-2010 và các chính sách liên quan nhằm thúc đẩy phát triển lĩnh vực này Cùng với quy hoạch tổng thể, các quy hoạch chi tiết một số điểm du lịch trên địa bàn như Cửa Lò, Hồ Cửa Nam, Lâm viên Núi Quyết – Bến Thủy cũng được công bố và đầu tư xây dựng

+ Về phát triển hạ tầng: Kết cấu hạ tầng các khu du lịch trọng điểm

được ưu tiên đầu tư, trong đó phải kể đến hạ tầng khu Cửa Lò với các trục giao thông chính, hệ thống điện, nước sinh hoạt, điện chiếu sáng, viễn thông, quảng trường, khu vui chơi Trên cơ sở quy hoạch rõ ràng và đầu tư

hạ tầng đồng bộ, Cửa Lò đã thu hút được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh với số vốn khá lớn, góp phần quan trọng thay đổi bộ mặt đô thị trong những năm gần đây Tương tự như Cửa Lò, các trọng điểm du lịch khác cũng được đầu tư xây dựng bằng cả nguồn vốn ngân sách và vốn đầu tư ngoài ngân sách của các nhà đầu tư

Ngày đăng: 29/10/2017, 17:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w